1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG ĐỊNH HƯỚNG học tập của học SINH dân tộc nội TRÚ HIỆN NAY

27 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Khác Biệt Giới Trong Định Hướng Học Tập Của Học Sinh Dân Tộc Nội Trú Hiện Nay
Tác giả Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Người hướng dẫn Ths. Phạm Thị Hà Thương
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Giáo dục và đào tạo
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 683,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế trong quá trình nghiên cứu về vấn đề này thì có nhiều người cócách tiếp cận khác nhau, nhưng chung quy lại thì hầu hết các công trình nghiên cứuđều có các điểm chung đó là cơ hội

Trang 1

ĐỀ TÀI:

SỰ KHÁC BIỆT GIỚI TRONG

ĐỊNH HƯỚNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

DÂN TỘC NỘI TRÚ HIỆN NAY.

(Nghiên cứu trường hợp: Trường THCS và THPT Điểu Xiểng tại Ấp Nông Doanh, Xã Xuân Định, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai).

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

Ths Phạm Thị Hà Thương

SINH VIÊN THỰC HIỆN:

1 Nguyễn Phi Hiền_31502088

2 Trần Đặng Mai Vy_31502038

3 Nguyễn Thị Lệ_31502054

4 Vương Thị Kim Ngân_31502084

5 Lê Thị Kim Tuyền_31502021

6 Phạm Thị Linh -31402123

7 Trần Minh Quốc_31404036

TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Contents

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Tổng quan tài liệu 4

2.1 Các vấn đề về giới trong giáo dục và đào tạo ở các quốc gia Châu Âu và Nam Phi 4

2.2 Sự khác biệt giới trong tiếp cận giáo dục của học sinh ở Việt Nam 8

Nét mới của đề tài 16

3.Mục tiêu nghiên cứu 16

3.1 Mục tiêu tổng quát 16

3.2 Mục tiêu cụ thể 17

4.Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 17

4.1 Đối tượng nghiên cứu 17

4.2 Khách thể nghiên cứu 17

4.3 Phạm vi nghiên cứu 17

5.Câu hỏi nghiên cứu 17

6.Giả thuyết nghiên cứu 18

7.Các phương pháp cụ thể và kỹ thuật điều tra 18

7.1 Phương pháp thu thập thông tin 18

7.2 Phương pháp xử lý thông tin 18

8.Ý nghĩa nghiên cứu 19

8.1 Ý nghĩa lý luận 19

8.2 Ý nghĩa thực tiễn 19

9.Khung phân tích 19

10.Bố cục dự kiến 20

PHẦN NỘI DUNG 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 21

1.Thao tác hóa khái niệm 21

1.1 Giới 21

1.2 Học sinh 21

1.3 Định hướng học tập 21

1.4 Trường dân tộc nội trú 22

1.5 Sự khác biệt giới trong định hướng học tập của học sinh dân tộc nội trú 22

2.Lý thuyết nghiên cứu 22

2.1 Lý thuyết chức năng 22

2.2 Lý thuyết hình thức về di động xã hội 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO 25

Trang 3

và bị phân biệt đối xử Để giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo nghiêm trọng hiện nay,Việt Nam cần thực hiện ngay các chính sách tiến bộ về quản trị nhà nước, thuế, chitiêu công, dịch vụ công, quyền lao động và thúc đẩy sự tham gia của người dân Tácđộng nghiêm trọng của nhiều dạng bất bình đẳng Bất bình đẳng kinh tế bị trầm trọnghơn bởi tình trạng nghèo về tiếng nói và cơ hội Ở Việt Nam, nhóm DTTS, nông dânquy mô nhỏ, lao động nhập cư và phụ nữ có nhiều khả năng bị nghèo hóa, không tiếpcận được các dịch vụ và quá trình ra quyết định chính trị, và bị phân biệt đối xử nhiềunhất Các nhóm dân tộc có những chênh lệch đáng kể về mức sống, trong đó nhóm dântộc Kinh và Hoa thường có mức sống cao hơn hẳn Các nhóm dân tộc khác lại có tỷ lệnghèo quá cao; họ chiếm chưa tới 15% dân số nhưng tới 70% số hộ nghèo cùng cực.Bằng chứng cũng cho thấy các nhóm DTTS có khả năng dịch chuyển xã hội thấp hơn.Trong giai đoạn 2010-2014, 49% số hộ Kinh và Hoa trong nhóm ngũ phân vị có thunhập thấp nhất chuyển lên nấc thu nhập cao hơn, trong khi chỉ có 19% hộ các nhómdân tộc khác dịch chuyển lên như vậy Các nhóm DTTS cũng có khuynh hướng dễ bịchuyển dịch đi xuống về thu nhập hơn so với nhóm Kinh và Hoa.

Bất bình đẳng về giới cũng rõ ràng Trong nhiều thế hệ, lao động nữ thường không có

kỹ năng và không qua đào tạo, chỉ giới hạn trong các công việc sử dụng nhiều laođộng và lương thấp Lao động nam có thu nhập trung bình cao hơn 33% so với laođộng nữ Nam giới cũng kiểm soát đất đai và các tài sản quý khác nhiều hơn Tình

Trang 4

trạng thiếu phụ nữ giữ vị trí lãnh đạo cao nhất trong kinh doanh và chính trị còn ít.Việc thiếu đầu tư cho giáo dục và y tế cũng như hạn chế sự tham gia dân sự và chínhtrị đối với các nhóm thiệt thòi đã tác động tiêu cực tới tương lai của các nhóm này Bấtbình đẳng về khả năng tiếp cận y tế ở Việt Nam cũng tạo rào cản đối với các nhómthiệt thòi Ví dụ, phụ nữ hộ nghèo có thai có khả năng không thăm khám trước sinhcao gấp ba lần Các hộ nghèo được bảo hiểm y tế ít hơn, khiến họ phải chi trả tự túc.

Về bảo hiểm y tế, các hộ nghèo được cấp miễn phí thẻ bảo hiểm y tế theo chính sách

hỗ trợ của chính phủ; tuy nhiên các chi phí khám chữa bệnh, vật tư y tế và thuốc nằmngoài danh mục được bảo hiểm, cùng với chi phí ăn ở và đi lại đang là gánh nặng vôcùng lớn đối với các hộ nghèo khi gặp rủi ro đau ốm và bệnh tật Năm 2012, có tới583,724 hộ gia đình ở Việt Nam bị rớt xuống nghèo hoặc nghèo sâu hơn do các chitiêu y tế Các nhóm DTTS cũng có khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế hạn chế, chủ yếu

do thu nhập thấp hơn và tình trạng phân biệt đối xử giữa nhóm dân tộc Kinh và cácnhóm DTTS Nghiên cứu cho thấy các nhóm thiệt thòi ở Việt Nam thiếu hiểu biết vềquyền của mình, thiếu khả năng tiếp cận thông tin, thiếu năng lực tham gia bầu cử vàcác quá trình ra quyết định khác Người dân thiếu thông tin và kỹ năng để hiểu các vấn

đề về thuế và ngân sách, và họ không cảm thấy mình có quyền tham gia các quá trìnhnày Phụ nữ thường không có tiếng nói trong huy động, phân bổ và chi ngân sách nhànước Người lao động nhập cư không được tham gia các quá trình lập kế hoạch ở địabàn sinh sống và làm việc, khiến họ gặp nhiều khó khăn hơn khi tiếp cận các dịch vụcăn bản và bảo trợ xã hội Tóm lại, trong khi nhóm giàu nhất và được ưu đãi nhất cókhả năng gây ảnh hưởng chính sách có lợi hơn cho họ, thì những người nghèo nhất và

bị lề hóa nghiêm trọng nhất lại không được lắng nghe, khiến họ tiếp tục bị kẹt ở đáybậc thang kinh tế, xã hội

Thật sự, vấn đề bất bình đẳng giới là vấn đề của rất nhiều quốc gia trên thế giới khôngriêng Việt Nam Vì thế trong quá trình nghiên cứu về vấn đề này thì có nhiều người cócách tiếp cận khác nhau, nhưng chung quy lại thì hầu hết các công trình nghiên cứuđều có các điểm chung đó là cơ hội tiếp cận các nguồn lực của nam cao hơn của nữ đểbật lên sự bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận một số nguồn lực của hai giới Nhưvậy, mỗi cách tiệp cận bất bình đẳng giới trong từng lĩnh vực (kinh tế, chính trị, giáodục, y tế, gia đình,…) đều thấy được giữa nam và nữ có sự khác nhau về cơ hội tiếp

Trang 5

cận trong từng lĩnh vực vừa nêu Vấn đề bất bình đẳng về cơ hội và tiếng nói trongcác lĩnh vực đặc biệt là bất bình đẳng giới ở Việt Nam chưa có nhiều thay đổi Có thểmột trong những nguyên nhân mà chúng ta dễ nhận ra trong việc Việt Nam vẫn cònkhó khăn trong vấn đề bất bình đẳng giới là do nước ta là một quốc gia đa dân tộc, sựràng buộc bởi các thiết chế chính trị khiến con người chưa thật sự tự do trong cácquyết định của mình, một phần ảnh hưởng bởi chế độ phong kiến xưa, tính gia trưởngvẫn còn tồn tại trong nhiều gia đình, sự khác biệt về cơ hội tiếp cận các nguồn lực củangười dân ở nông thôn và thành thị, của các dân tộc có sự khác biệt rõ rệt,…Vấn đềbất bình đẳng trong giáo dục Trẻ em gái, cộng đồng DTTS và nhóm nghèo nhất bị lềhóa không được hưởng dịch vụ công đầy đủ Trẻ em các hộ nghèo nhất có ít hoặckhông có cải thiện nào về kết quả học tập trong 20 năm qua Tỷ lệ nhập học trung họcphổ thông trong nhóm Kinh và Hoa là 65% trong khi đó tỉ lệ này trong nhóm DTTSchỉ có 13,7% Nghiên cứu cũng cho thấy các em gái DTTS có ít khả năng hơn hẳn các

em trai về cơ hội học tiếp bậc trung học phổ thông, cao đẳng và đại học Ở Việt Nam,những trường học dành cho những học sinh DTTS không nhiều do đó việc tiếp cậnvới giáo dục của các học sinh này đôi khi còn hạn chế Qua việc tìm hiểu thì nhómnghiên cứu chúng tôi thấy được, phần lớn việc khác biệt giới trong việc tiếp cận vớigiáo dục cấp cao như THCS, THPT, Cao đẳng, Đại học có chuyển biến về sự khác biệttăng lên qua từng cấp Từ đó nhóm nghiên cứu chúng tôi quyết định chọn một ngôitrường dạy học sinh cấp THCS và THPT, đối tượng là những học sinh dân tộc nội trú

để tìm hiểu xem sự khác biệt giới trong việc định hướng học tập, tức là định hướnghọc tiếp tục hay mục đích học tập của các học sinh này có sự khác biệt như thế nào?Biết được trường THCS và THPT dân tộc nội trú Điểu Xiểng tại huyện Xuân Lộc,tỉnh Đồng Nai được đưa vào hoạt động vào tháng 8/2012, trường này dành cho con

em đồng bào DTTS thuộc 3 huyện Xuân Lộc, Cẩm Mỹ và thị xã Long Khánh đến họctập và sinh hoạt nội trú Từ khi thành lập trường chỉ đào tạo các khối lớp 6, 7, 8, 9,đến nay trưởng đã bắt đầu tuyển sinh khối lơp 10 và tổng cộng số học sinh toàntrường đến hiện nay là 504 học sinh từ khối lớp 6 đến khối lớp 10 Ngoài ra, nhómnghiên cứu chúng tôi rất quan tâm đến việc định hướng học tập của học sinh dân tộcnội trú, bởi lẽ ngay từ các cấp học THCS và THPT thì việc định hướng học tập là điềucực kỳ quan trọng để biết được học sinh đam mê lĩnh vực gì và mục đích học tập của

Trang 6

họ ra sao để giáo dục học sinh một cách tốt nhất Đó là lý do nhóm nghiên cứu chúng

tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu: “Sự khác biệt giới trong định hướng học tập

của học sinh dân tộc nội trú hiện nay” (Nghiên cứu trường hợp: Trường THCS và THPT Điểu Xiểng tại Ấp Nông Doanh, Xã Xuân Định, Huyện Xuân Lộc, Tỉnh Đồng Nai).

2 Tổng quan tài liệu

2.1 Các vấn đề về giới trong giáo dục và đào tạo ở các quốc gia Châu Âu và Nam

Phi.

Trong phần này, nhóm nghiên cứu chúng tôi thu thập các thông tin liên quan đến giới

và giáo dục từ sách, báo cáo, công trình nghiên cứu như sách “Gender in education

and training” ngày 25/01/2017 của Viện Châu Âu về Bình đẳng Giới, Gender Equity

in South African Education 1994–2004, Perspectives from Research, Government and Unions Edited by Linda Chisholm & Jean September và báo cáo “Sex discrimination

in access to education: evaluation of the need for and effectiveness of current measures in the Member States” ngày 11/7/2011 của Katerina Mantouvalou, Inga

Pavlovaite and Pat Irving GHK

Trong sách “Gender in education and training” ngày 25/01/2017 của Viện Châu Âu

về Bình đẳng Giới đã đề cập đến giơi trong giáo dục và đào tạo Giáo dục là một chấtxúc tác cho sự thay đổi xã hội và là một điều kiện cho việc nâng cao các quyền cơ bảncủa con người Nó làm tăng khả năng nhận thức, cung cấp cho các cá nhân một khảnăng tuyệt vời để phát triển hơn nữa kiến thức và kỹ năng của họ trong suốt cuộc sốngcủa họ Nó cũng làm cho phụ nữ và nam giới được trang bị tốt hơn để đảm bảo côngviệc ổn định, được trả lương cao và do đó chống lại những rủi ro của việc loại trừ xãhội Hơn nữa, giáo dục có thể chuẩn bị tốt hơn cho các cá nhân để nhận biết và xử lýnhững vết rạn nứt khó khăn Đồng thời, các công dân được giáo dục, cả phụ nữ và namgiới đều có lợi cho toàn xã hội Họ có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế và gópphần cải thiện sức khoẻ, dinh dưỡng và giáo dục gia đình của họ Lồng ghép vấn đềbình đẳng giới trong chính sách giáo dục và đào tạo là rất quan trọng, bình đẳng trongtiếp cận giáo dục được coi là đã được trao, đó là trường hợp của đa số các nước thànhviên EU Số liệu về tỷ số giới trong xã hội và tỷ lệ việc làm và chỉ số chất lượng công

Trang 7

việc cho thấy phụ nữ vẫn có nguy cơ cao về việc loại trừ xã hội, thất nghiệp và côngviệc có chất lượng thấp ở EU Phụ nữ vẫn duy trì mức thất nghiệp ở mức trung bình sovới nam giới có trình độ học vấn tương tự Sự lựa chọn khác biệt giữa lĩnh vực nghiêncứu giữa phụ nữ và nam giới liên quan đến sự khác biệt về giới trong các mô hình giáodục ở EU-28 Tỷ lệ người dân hiện có bằng đại học đạt được là 37,9% Trong số này,42,3% phụ nữ đã đạt được trình độ đại học so với 33,6% nam giới Tuy nhiên, phụ nữ

ít được đại diện trong một số lĩnh vực nghiên cứu Các môn học về khoa học, côngnghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) thì phổ biến rộng rãi hơn ở nam giới, trong đókhoa học xã hội và các cơ sở giáo dục phổ biến hơn ở phụ nữ

Tổ chức Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) của Aross, các em trai vẫncòn ít hơn so với các em gái trong giáo dục phổ thông trung học Con trai có nhiều khảnăng mong muốn làm việc trong nghề STEM, cha mẹ có nhiều khả năng mong đợi contrai của họ chứ không phải con gái của họ để làm việc trong một lĩnh vực STEM ngay

cả khi con trai và con gái học cùng cấp Trung bình, những người đàn ông 16-65 tuổiđược khảo sát trong cuộc khảo sát năm 2012 có xu hướng cao gấp năm lần so với phụ

nữ cùng độ tuổi với nghiên cứu về kỹ sư, chế tạo và xây dựng (38% nam giới báo cáorằng họ đã nghiên cứu các môn này, so với chỉ 7% phụ nữ) và có nhiều khả năng học

về khoa học, toán học và máy tính hơn (khoảng 10% nam giới, chiếm 7% phụ nữ).Ngược lại, phụ nữ từ 16-65 tuổi có khả năng nghiên cứu về sức khoẻ và phúc lợi caogấp bốn lần đàn ông (15% phụ nữ so với 4% đàn ông), khoảng gấp ba lần có nhiều khảnăng là đã học về giáo dục và đã tham gia trong đào tạo giáo viên (9% phụ nữ và 3%nam giới) và khoảng gấp hai lần khả năng nam giới học về nhân văn, trí tuệ và nghệthuật (10% phụ nữ và 5% nam giới) Theo Mạng lưới các chuyên gia Nesse: Nhữngngười trẻ tuổi muốn khẳng định bản sắc tình dục và giới tính của họ ở giai đoạn thanhthiếu niên được các bạn đồng trang lứa lựa chọn để khẳng định giới tính về nhữngnhận dạng nam tính và nữ tính ảnh hưởng mạnh đến sự lựa chọn giáo dục Sự khácnhau về giới trong thành tích của học sinh, cũng như nhận thức rằng một số lĩnh vựcgiáo dục phù hợp hơn đối với cả phụ nữ và nam giới cần được giải quyết mới có thểđạt được sự công bằng về giới cao hơn trong kết quả giáo dục

Trang 8

Trong tài liệu Gender Equity in South African Education 1994–2004, Perspectives

from Research, Government and Unions Edited by Linda Chisholm & Jean September.

Xu hướng cho thấy phụ nữ tiếp cận với giáo dục nghề nghiệp và kỹ năng có xu hướng

ít hơn một nửa tổng số ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là vùng hạ Sahara Châu Phi vàNam Á; xu hướng này bị đảo ngược ở châu Mỹ Latinh, 2/3 phụ nữ thuộc các ngànhnghề truyền thống, 3/4 nam giới trong ngành công nghiệp kỹ thuật (Unesco 2003).Giáo dục cho con gái thường được hỗ trợ như một phần của một chiến lược rộng lớn.Những kỳ vọng về con gái thường được xây dựng trong hôn nhân Chẳng hạn, ở ĐàiLoan, các cô gái thường được đào tạo ở mức độ cho phép họ tiếp cận công việc, nhưngthu nhập của họ sau đó được sử dụng để hỗ trợ việc học hành của con trai (Greenalgh

1985, trích dẫn ở Baden & Greene 1994) Tương tự ở Ấn Độ, các chiến lược giáo dụccủa các cô gái được phát triển dựa trên thị trường hôn nhân và các định mức để địnhhình giá trị của nam giới và phụ nữ như là những người đóng góp tiềm năng(Subrahmanian 2002) Một nghiên cứu về giới tính và giáo dục ở các quốc gia độc lập

và Đông Âu cho thấy thái độ của giáo viên có xu hướng thiên về nam giới Tuy nhiên,một số chàng trai cảm thấy bị đổ lỗi và xấu hổ bởi các khía cạnh khác nhau của phongtrào cải cách về giới ở trường học Hơn nữa, cải cách giới trong các trường học đãnghiêng về con gái hơn con trai Con trai bị bỏ mặc, bỏ lại phía sau và trở thành nạnnhân của chủ nghĩa nữ quyền trong các trường học và sau đó là nạn nhân của toàn bộ

hệ thống giáo dục và về cuộc sống nói chung (ví dụ Buckingham 2000)

Ngoài ra, cá tác giả trong báo cáo “Sex discrimination in access to education:

evaluation of the need for and effectiveness of current measures in the Member States”

ngày 11/7/2011 của Katerina Mantouvalou, Inga Pavlovaite and Pat Irving GHK đã đềcập đến vấn đề phân biệt giới tính trong việc tiếp cận với giáo dục ở các quốc gia liênminh Châu Âu Phân biệt giới trong tiếp cận với giáo dục dường như là một vấn đề ởChâu Âu Bất bình đẳng giới xảy ra nhiều ở cấp tiểu học và trung học Tỷ lệ trẻ em gáikhông đi học vượt quá tỷ lệ của nam giới Các bất bình đẳng giới vẫn tồn tại, đặc biệt

là bất lợi cho nam giới, trong các chỉ số về kết quả giáo dục (những người vừa rời khỏitrường và tỷ lệ thành công giáo dục) Sự phân biệt gián tiếp trong tiếp cận trường họcchủ yếu liên quan đến học sinh nữ thuộc tôn giáo Theo người được phỏng vấn, những

sự phân biệt này chủ yếu dựa trên dân tộc thiểu số hoặc tôn giáo hơn là giới Sự phân

Trang 9

biệt gián tiếp trong việc tiếp cận các khóa học và các hoạt động giáo dục chủ yếu liênquan đến các học sinh nữ dân tộc thiểu số bị từ chối tiếp cận các khóa học hoặc cáchoạt động Trong trường hợp báo cáo với chính quyền, học sinh nữ, đặc biệt là nhữngngười thuộc các nhóm dân tộc thiểu số và tôn giáo, có nhiều khả năng bị đối xử kỳ thịhơn nam giới Dựa trên các bằng chứng đã được tổng hợp trong phần lớn các trường

hợp liên quan đến học sinh nữ, các quyết định ủng hộ bị đơn hơn là người khiếu nại.Phần lớn các sự phân biệt được cho là đã xảy ra ở các trường công (nghĩa là các trườnghọc do nhà nước tài trợ) ở các trường trung học Ở hầu hết các quốc gia thành viên,người được phỏng vấn cho rằng phân biệt đối xử về tiếp cận giáo dục không phải làvấn đề ở đất nước họ, những người được phỏng vấn được mời bày tỏ ý kiến của họ,người ta có thể đặt câu hỏi liệu mọi người dân có đủ hiểu biết về quyền của họ và sẽthực hiện chúng nếu cần thiết, đặc biệt là trong các cộng đồng thiểu số dễ bị tổnthương Vấn đề phân biệt đối xử về giới trong tiếp cận giáo dục ở Liên minh châu Âukhông phải là kết quả của việc không có luật pháp, mà là sự thiếu sót trong việc ápdụng nó Chú ý đến những cân nhắc trên, khuyến nghị với Ủy ban là thúc đẩy một sựkết hợp của các sáng kiến để lồng ghép giới trong giáo dục và thúc đẩy bình đẳng giớitrong giáo dục, tiếp cận với giáo dục ở một số nhóm người dễ bị tổn thương Cách tiếpcận như vậy sẽ yêu cầu Ủy ban châu Âu tăng cường thực thi pháp luật để nâng caonhận thức của công dân về bất bình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục đồng thời giúp

họ hiểu và khẳng định quyền của họ Như vậy, việc lựa chọn giáo dục của học sinh của

cả hai giới khi lựa chọn con đường học vấn và con đường sự nghiệp có sự khác nhau.Bất bình đẳng giới liên quan đến các yếu tố văn hoá và kinh tế xã hội, cũng như sự táitạo các khuôn mẫu giới truyền thống và không liên quan đến một quá trình phân biệtđối xử do nhà nước cung cấp Hầu hết các nước thành viên EU đều có những đảm bảo

và các quy định ngăn cấm sự phân biệt đối xử về giới trong tiếp cận với giáo dục.Cảbình đẳng giới và lồng ghép giới dường như được đặt trong chương trình nghị sự chínhtrị của hầu hết các nước thành viên EU Chính sách bình đẳng giới có hiệu lực ở 22trong số 27 quốc gia thành viên và giới được lồng ghép vào chính sách giáo dục củahầu hết các quốc gia thành viên Một phần là vì Liên minh châu Âu tích cực hỗ trợlồng ghép giới, nó hiện diện trong các chính sách giáo dục.Tuy nhiên, một số nhỏ cácquốc gia thành viên đã đưa ra các biện pháp chống phân biệt đối xử dựa trên tình dục

Trang 10

trong tiếp cận với giáo dục Vấn đề phân biệt đối xử về giới trong tiếp cận giáo dục ởLiên minh châu Âu là không đáng kể và dường như chủ yếu liên quan đến việc ápdụng pháp luật hiện hành.

Theo báo cáo của UNICEF, vào tháng 12 năm 2006, nhân dịp ki niệm 60 năm ngàythành lập cùa tổ chức này Việc loại bỏ sự phân biệt đối xử về giới và nâng cao vị thếcùa phụ nữ sẽ tạo ra một sự tác động sâu sắc và tích cực đến sự sống còn và phát triểncủa trẻ em Bà Ann M Veneman - Giám đốc điều hành UNICEF phát biểu: “Khi vị thếcùa người phụ nữ được nâng lên để có một cuộc sống đầy đù và hữu ích, trẻ em vàgiáo dục họ sẽ trở nên thịnh vượng” Theo báo cáo này, mặc dù trong những thập kỉgần đây đă có một số tiến bộ về vị thế cùa phụ nữ nhưng cuộc sống của hàng triệu “trẻ

em gái và phụ nữ vẫn bị đe dọa bởi sự phân biệt đối xử, việc bị tước quyền và nghèokhổ Hậu quả của sự phân biệt đối xử là trẻ em gái ít có cơ hội được học hơn Ở cácnước đang phát triển, gần như 1/100 trẻ em gái đi học ờ trường tiểu học sẽ không theohọc được hết cấp Trình độ học vấn, theo báo cáo, tương quan đến sự cải thiện về cácnguồn lực đầu tư cho sự sống còn và phát triền cùa trẻ em

Tóm lại, khi đề cập đến bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận giáo dục ở các quốc giatrên thế giới nói chung và các quốc gia ở Châu Âu, Nam Phi nói riêng thì dường nhưvấn đề bất bình đẳng giới này chưa được giải quyết một cách bình đẳng dù có nhiềubiện pháp bởi sự khác biệt về kinh tế, văn hóa, luật pháp, vùng miền, là nguyên nhânkhiến việc bất bình đẳng kéo dài và khó giải quyết Trong 3 tác phẩm này, tác giả đã cốgắng chỉ ra sự khác biệt rất rỏ rệt trong tiếp cận giáo dục của nam và nữ giới dân tộcthiểu số, trong đó nam giới tiếp cận với giáo dục nhiều hơn nữ giới Vậy bức tranh bấtbình đẳng giới trong tiếp cận giáo dục ở Việt Nam diễn ra như thế nào trong nhữngnăm gần đây trước bối cảnh thế giới đang đối đầu với vấn đề bất bình đẳng

2.2 Sự khác biệt giới trong tiếp cận giáo dục của học sinh ở Việt Nam.

Sự khác biệt giới trong tiếp cận giáo dục đã được các tác giả Việt Nam nhìn với nhữnglăng kính hết sức phong phú như sự khác biệt giới trong tiếp cận giáo dục là do trình

độ học vấn của cha mẹ tác động đến, kinh tế gia đình, văn hóa, vùng miền Những khíacạnh này được các tác giả nghiên cứu khá cụ thể trong từng trường hợp

Theo báo cáo quốc gia Việt Nam, tháng 8/2005 Phụ nữ và trẻ em gái được tạo điều

Trang 11

kiện bình đẳng với nam giới trong nâng cao trình độ văn hóa và trình độ học vấn Tỷ

lệ phụ nữ so với nam giới trong số người biết chữ đã tăng lên đáng kể Chênh lệch về

tỷ lệ học sinh nam – nữ trong tất cả các cấp bậc học được thu hẹp Về cơ bản, ViệtNam có thể đạt được mục tiêu xóa bỏ cách biệt giới ở các cấp học trước năm 2015 Cóbốn loại hình giáo dục không chính quy, chủ yếu dành cho người lớn, trong đó có phụ

nữ Các chương trình này đã tạo nhiều cơ hội học tập đối với phụ nữ hơn rất nhiều sovới trước Báo cáo này hướng đến mục tiêu đạt được sự bình đẳng giới nhưng vẫn còn

có nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra sự sự khác biệt giới trong tiếp cận với cáclĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực giáo dục vẫn còn là một sự khác biệt, một khoảng cáchkhá lớn

Trong tạp chí “Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con

cái – Nghiên cứu trường hợp tại xã Lộc Hòa, Nam Định” (Tạp chí Xã hội học số 2 (94), 2006) của Lê Thúy Hằng Thông qua việc đưa ra các quyết định phân bổ thời

gian và nguồn lực cho việc đi học của con, cha mẹ có thể làm tăng thêm hay giảm bớtbất bình đẳng giới về cơ hội giáo dục ngay trong gia đình họ cũng như ở ngoài xã hội.Trong các nhóm tuổi đến trường, nhóm tuổi từ 12 – 17 là nhóm đang chuẩn bị hay vừamới bước vào độ tuổi lao động tức là nhóm tuổi nhận được sự quan tâm và định hướngviệc học từ phía cha mẹ nhiều hơn do đó dự định đầu tư cho việc đi học của con trong

độ tuổi 12 -17 có thể sẽ phản ánh rõ nhất khác biệt giới trong dự định đầu tư việc học.Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn bằng bảng hỏi với

342 hộ có chủ hộ sinh sau năm 1945 đồng thời thực hiện một số cuộc phỏng vấn sâu

và thảo luận nhóm cha mẹ có con trong độ tuổi từ 12 – 17 tuổi Kết quả nghiên cứu ởLộc Hòa cho thấy phần đông trẻ em (57,2%) được cha mẹ dự định đầu tư học lên caođẳng và đại học, chỉ một số ít trẻ em (10,5%) cha mẹ dự định chỉ cho học hết lớp 12 vàvẫn còn khoảng gần 1/3 trẻ, cha mẹ chưa có dự định rõ ràng Nguyên nhân của tìnhtrạng này là do các bậc cha mẹ cho rằng hiện nay học vấn hết lớp 12 mới chỉ là đạt yêucầu tối thiểu trong quá trình tuyển dụng Việc hoàn thành các bậc học cao hơn, chẳnghạn như cao đẳng và đại học sẽ giúp con cái họ mở rộng hiểu biết, đạt được trình độchuyên môn nghề nghiệp cao và thành đạt trong cuộc sống sau này Tác giả đã tríchcác phỏng vấn như sau: “Tôi nghĩ rằng bây giờ ít ra thì cũng phải học hết lớp 12 Dù làcao đẳng, sư phạm hay đại học thì cũng phải học hết lớp 12 Chính vì vậy mà vẫn

Trang 12

muốn cố cho các cháu đi học (Nữ, trình độ 10/12, phụ xây dựng, nghèo, Phú Ốc 2,Lộc Hòa)” “Xu hướng chung của xã hội là cần học đại học Tôi nghĩ rằng xã hội saunày nó sẽ tiến lên thì mới đáp ứng được nhu cầu của xã hội này…Có học tất nhiên cónghề nghiệp chuyên môn thì thuận lợi cho con em mình Chỉ là mang lại cái cuộcsống, công ăn việc làm tốt hơn Có chuyên môn thì người ta phải trưng dụng nó nhiềuhơn (Nữ, phụ xây dựng, kinh tế trung bình, Tân An 1, Lộc Hòa)” So sánh dự định đầu

tư cho việc học của con trai so với con gái có thể thấy hiện nay con trai vẫn được cha

mẹ ưu tiên dự định đầu tư cho học lên các cấp học cao nhiều hơn con gái Tỉ lệ dự địnhđầu tư học cao đẳng và đại học cho con trai là 61,2% trong khi đó tỉ lệ này cho con gái

là 53,3% Kiểm tra mối quan hệ giữa học lực và dự định đầu tư cho việc học cho thấyrằng con có học lực càng cao thì được cha mẹ dự định đầu tư học lên cao đẳng và đạihọc càng nhiều Tỷ lệ dự định đầu tư cho con học lên cao đẳng và đại học là 38,6% đốivới con có việc học trung bình và kém tăng dần lên 57,6% đối với nhóm con có họclực khá và lên tới 68,1% đối với nhóm con có học lực giỏi Dự định của cha mẹ khôngđơn thuần là những mong muốn chủ quan mà có thể xuất phát từ khả năng học củacon Theo logic trên, việc cha mẹ dự định đầu tư học lên cao đẳng và đại học cho congái thấp hơn cho con trai có thể là do học lực con gái thấp hơn con trai chứ chưa chắc

là do cha mẹ có định kiến giới Con trai được cha mẹ quan tâm và dự định cho học caonhiều hơn so với con gái Tỷ lệ dự định đầu tư cho con có học lực giỏi học lên caođẳng và đại học ở nhóm con trai rất cao là 80% trong khi đó tỉ lệ này ở nhóm con gáichỉ 61,5% Nếu con trai học giỏi cha mẹ sẽ dự định không chỉ đầu tư cho học hết lớp

12 – bậc học tối thiểu cần thiết cho tuyển dụng, trong khi đó nếu con gái học giỏi vẫncòn 10% trường hợp không được dự định chỉ đầu tư học hết bậc học tối thiểu cần thiết

Ý kiến của các bậc cha mẹ lý giải về dự định đầu tư cho việc đi học của con chứng tỏđịnh kiến về giới vẫn còn tồn tại và ảnh hưởng đến quan niệm và các quyết định củacha mẹ Nhiều bậc cha mẹ vẫn nhìn nhận con trai là mạnh mẽ và giỏi giang, còn congái thì yếu đuối và nhút nhát Con trai được cha mẹ trong đợi là chỗ dựa vật chất vàtinh thần khi về già, trong khi đó mong mỏi lớn nhất đối với con gái là lớn lên lấyđược lấy chồng Vì thế mà ngay cả khi con gái học giỏi thì cha mẹ vẫn ít quan tâm vàchưa dành sự đầu tư ngang bằng như đối với con trai

Trang 13

Điều kiện kinh tế gia đình càng khá thì con cái được cha mẹ dự định cho học lên caođẳng và đại học càng nhiều hơn Tỷ lệ này đạt cao nhất là 79,5% ở nhóm kinh tế khágiả, sau đó giảm dần xuống 60,9% ở nhóm kinh tế trung bình và còn 36,7% ở nhómnghèo Hơn nữa, khi kinh tế khá giả, cha mẹ không dự định đầu tư cho con “chỉ họchết lớp 12”.

Học vấn của cha mẹ càng cao thì dự định cho con học cao đẳng và đại học càng nhiều

và dự định chỉ học hết lớp 12 càng ít Tỉ lệ dự định cho con học lên cao đẳng và đạihọc càng nhiều ở nhóm cha mẹ có học vấn từ lớp 10 trở lên là 63,9% trong khí đó tỉ lệnày ở nhóm cha mẹ có học vấn dưới lớp 10 chỉ đạt 50,4% Tỉ lệ dự định chỉ đầu tư chocon học hết lớp 12 trong nhóm con có cha mẹ học từ lớp 10 trở lên chiếm 5,6%, trongkhi tỉ lệ này ở nhóm con có cha mẹ học vấn dưới lớp 10 là 15%

Như vậy, tác giả đã đề cập đến sự khác biệt giới trong tiếp cận giáo dục xuất phát từtrình độ học vấn của nam và nữ nữ giới, nhưng nhìn chung chúng tôi thấy sự định kiếngiới vẫn chưa dứt khỏi trong suy nghĩ cảu bậc làm cha mẹ, cho dù con gái có học lựcgiỏi hơn con trai nhưng việc con trai tiếp tục học lên cao vẫn chiếm tỷ lệ cao hơn congái Kinh tế gia đình và trình độ học vấn của cha mẹ là một trong những yếu tố tácđộng đến việc học tiếp của con mình

Theo tạp chí “Bất bình đẳng giới về giáo dục ở Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Xã hội

học, số 1 (109), 2010) của Đỗ Thiên Kính Hiện nay, Việt Nam đã đạt được phổ cập

giáo dục tiểu học Những chính sách về cải cách giáo dục đã làm tăng cơ hội học tậpcho mọi người, theo kết quả các cuộc Điều tra mức sống dân cư (VLSS và VHLSS) từnăm 1993 – 2006 ta thấy tỉ lệ (%) đi học đúng tuổi trong phạm vi cả nước đều tăng ởmọi cấp học (trừ cấp Tiểu học) như sau: 30,1 -> 61,7 -> 72,1 -> 78,8 ở cấp Trung học

cơ sở (THCS) và 7,2 -> 28,6 -> 41,8 -> 53,9 -> ở cấp Trung học phổ thông (THPT).Điều này chứng tỏ rằng cơ hội giáo dục đang được mở rộng ở Việt Nam Đồng thời,khoảng cách chênh lệch (Dis./lần) về tỷ lệ đi học đúng tuổi ở cấp THCS và THPT giữanông thôn và thành thị cũng được thu hẹp dần như sau: 1,8 -> 1,4 -> 1,2 ->1,1 (THCS)

và 3,7 -> 2,4 ->1,6 -> 1,3 (THPT) Khoảng cách chênh lệch này chính là sự thể hiệnbất bình đẳng về cơ hội Sự giảm đi của bất bình đẳng cơ hội về giáo dục giữa nôngthôn và đô thị cho thấy nền giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã đem lại

Ngày đăng: 29/12/2022, 19:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thúy Hằng (2006) “Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học của con cái – Nghiên cứu trường hợp tại xã Lộc Hòa, Nam Định” (Tạp chí Xã hội học số 2 (94) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khác biệt giới trong dự định đầu tư của bố mẹ cho việc học củacon cái – Nghiên cứu trường hợp tại xã Lộc Hòa, Nam Định
2. Lê Ngọc Hùng (2015) “Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục ở Việt Nam” (Tạp chí Xã hội học, 14/2/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục ở Việt Nam”
5. “Gender in education and training” ngày 25/01/2017 của Viện Châu Âu về Bình đẳng Giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender in education and training”
6. Gender Equity in South African Education 1994–2004, Perspectives from Research, Government and Unions Edited by Linda Chisholm & Jean September Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gender Equity in South African Education 1994–2004, Perspectives from Research,Government and Unions
7. “Sex discrimination in access to education: evaluation of the need for and effectiveness of current measures in the Member States” ngày 11/7/2011 của Katerina Mantouvalou, Inga Pavlovaite and Pat Irving GHK Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sex discrimination in access to education: evaluation of the need for andeffectiveness of current measures in the Member States”
3. Đỗ Thiên Kính (2010), Bất bình đẳng giới về giáo dục ở Việt Nam hiện nay (Tạp chí Xã hội học, số 1 (109)) Khác
4. Luật bình đẳng giới (2010), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Báo cáo Nghiên cứu chính sách của tổ chức Oxfam (12/1/2017) Khác
9. Báo cáo của UNICEF, vào tháng 12 năm 2006, nhân dịp ki niệm 60 năm ngày thành lập cùa tổ chức này.Nguồn Internet Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm