Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã thúc đẩy thương mại và đầu tư xuyên
biên giới, dẫn đến xu hướng dịch chuyển lao động quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ
(ILO, 2021) Tiến bộ công nghệ và tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư
(CMCN 4.0) đã ảnh hưởng đến việc tái cấu trúc thị trường lao động thế giới, tạo ra nhiều
công việc và ngành nghề mới đòi hỏi người lao động phải tái định hình kỹ năng, thay đổi
và nâng cấp mới kỹ năng, trình độ Sức ép về sự thiếu hụt lao động kỹ năng trong nước
khiến các quốc gia phải lựa chọn tăng cường thu hút lao động di cư quốc tế có kỹ năng
(Wogart & Schüller, 2011, Papademetriou & Sumption, 2013).Trên bình diện toàn cầu,
để tạo điều kiện cho lao động có kỹ năng dễ dàng di chuyển từ nước này sang nước khác,
các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mở rộng cơ hội cho di chuyển thể nhân, đặc
biệt là người lao động có kỹ năng Tại khu vực, nhiều công cụ và cơ chế để thúc đẩy
dòng dịch chuyển lao động có kỹ năng này trong nội khối Tại cấp độ quốc gia, các quốc
gia có thu nhập thấp hoặc tương đối thấp, trong đó có Việt Nam, đã dần dần quan tâm tới
việc thu hút lao động có kỹ năng bằng cách nới lỏng các rào cản đối với lao động có kỹ
năng di cư quốc tế và đồng thời thắt chặt các quy tắc nhập cảnh đối với lao động có kỹ
năng thấp (Weinar & Koppenfels, 2020) Tuy nhiên, những chính sách này phần lớn mang
tính đột xuất, thời điểm và không phải là kết quả đến từ một phân tích cẩn thận các chuyển
dòng dịch chuyển di cư quốc tế với sự quan tâm đặc biệt đối với kỹ năng cụ thể của người
lao động (Hatton & Williamson, 2002; Kugler & Rapoport, 2007; Mayda, 2005)
Trên thực tế, các nhân tố thu hút người lao động di cư khi họ có các trình độ kỹ
năng khác nhau được tìm hiểu rất ít Do đó, để phục vụ cho việc thiết kế các chính sách
cụ thể, điều quan trọng là phải xác định và có những đánh giá rõ về các nhân tố thu hút
lao động di cư quốc tế, đặc biệt là lao động có kỹ năng ở cấp độ thực nghiệm
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng đáng
kể đã tạo điều kiện để dòng chảy lao động của các nhà đầu tư và dòng lao động nước ngoài
vào Việt Nam ngày càng tăng (Crowe Vietnam, 2021) Dòng vốn đầu tư nước ngoài đã tác
động tới sự phát triển của thị trường lao động Việt Nam trên khía cạnh thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu lao động từ các ngành thâm dụng lao động phổ thông sang các ngành sử dụng
nhiều lao động kỹ năng cao hơn Mặc dù, Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào, năng
suất lao động vẫn thấp hơn các nước trong khu vực (ADB, 2020) Hiện nay, sự thiếu hụt
lao động kỹ năng đang ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ FDI của Việt Nam và hạn chế
triển vọng tạo việc làm Lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam được kỳ vọng là sẽ
cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội,
thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh; tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các nhà
đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; tạo môi trường cạnh tranh giữa lao động Việt Nam với
lao động nước ngoài; góp phần chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực tại chỗ theo
tương tác thẩm thấu (Nguyễn Thị Thu Hương & Nguyễn Thị Bích Thúy, 2015) Tuy nhiên,
việc xác định các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng mà thị trường lao động
Việt Nam thực sự cần để bù đắp cho những thiếu hụt về kỹ năng mà lao động Việt Nam
chưa đáp ứng được cũng như phát huy những nhân tố này để thu hút và giữ chân lao động
nước ngoài có kỹ năng cả về khía cạnh việc làm lẫn đào tạo tại chỗ chưa thực sự được
nghiên cứu sâu sắc Mặc dù tính cấp thiết về chủ đề nghiên cứu là vô cùng rõ ràng, các nghiên cứu xoay quanh việc thu hút lao động di cư nước ngoài còn rất hạn chế tại Việt Nam Các nghiên cứu về cho tới thời điểm hiện tại phần lớn là các nghiên cứu định tính (Nguyễn Bình Giang, 2010; Nghiên cứu của Viện KHLĐXH, 2014; Nguyễn Thị Hoài Hương, 2014; Nguyễn Bá Ngọc, 2016; Nguyễn Thị Thu Hương & Nguyễn Thị Bích Thúy,
2015 & Nguyễn Hồng Anh, 2017), trong khi các nghiên cứu định lượng và phân tích thực nghiệm lại hoàn toàn chưa được triển khai Nguyên nhân của sự thiếu hụt này phần lớn xuất phát từ sự thiếu hụt dữ liệu về lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Do đó, Luận án “Nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng
vào Việt Nam” sẽ tiến hành phân tích các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam và phân tích xem liệu sự dịch chuyển tự do có ảnh hưởng đến sự đan xen kỹ năng của các luồng di cư liên quan đến công việc và liệu việc nới lỏng các biện pháp quản
lý với việc di cư của lao động kỹ năng cao có hiệu quả hay không Từ kết quả nghiên cứu
đó, luận án đưa ra các giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở hệ thống hoá và vận dụng cơ sở lý luận về lao động
di cư quốc tế, Luận án phân tích, đánh giá các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 Từ đó, Luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường thu hút lao động có kỹ năng là người nước ngoài vào Việt Nam Mục tiêu cụ thể: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết và đề xuất
mô hình nghiên cứu về các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế vào một quốc gia đang phát triển (hoặc có mức thu nhập trung bình thấp) như Việt Nam Đánh giá thực trạng các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam, giai đoạn 2016-2020 Phân tích và đánh giá các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam, giai đoạn 2016-2020 Đề xuất quan điểm và giải pháp tăng cường thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
3 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
3.1 Câu hỏi nghiên cứu: (1) Những nhân tố nào được xác định là nhân tố hút lao
động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam? (2) Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn 2016-2020 như thế nào? Dịch bệnh Covid-19 có ảnh hưởng như thế nào tới số lượng và cơ cấu lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam? (3) Đặc điểm các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn
2016-2020 là như thế nào? (4) Vai trò của các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam? (5) Giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam trong giai đoạn phục hồi kinh tế - xã hội hậu Covid-19 là như thế nào? Dựa trên các kết quả nghiên cứu, Luận án đã tiến hành kiểm định các nhân tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam ở câu hỏi 1 và thực hiện nghiên cứu khám phá với các câu hỏi 2 đến 5
3.2 Giả thuyết nghiên cứu
H1a Sự gia tăng số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
H1b Sự gia tăng tỷ lệ thiếu hụt lao động qua đào tạo và nhóm lao động có kỹ năng
là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Trang 2H1c Sự cải thiện chất lượng môi trường thể chế và các điều kiện thu hút lao động
nước ngoài có kỹ năng là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
H2 Số lượng vốn FDI vào Việt Nam và mức độ hội nhập quốc tế, chất lượng môi
trường thể chế là những nhân tố có tác động mạnh trong dài hạn tới việc thu hút lao động
nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
H3 Các nhân tố phản ánh đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương là
yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
H3a Sự gia tăng thu nhập trung bình tại các địa phương là yếu tố hút lao động
nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
H3b Sự gia tăng tỷ lệ lao động trẻ của địa phương tại các địa phương là yếu tố hút
lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
H3c Sự gia tăng số lượng lao động kỹ thuật, lao động làm lãnh đạo tại các địa
phương là yếu tố hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: lý luận và thực tiễn về các nhân tố thu hút lao động
nước ngoài có kỹ năng vào một quốc gia Trong đó chỉ rõ nội hàm các nhân tố thu hút
lao động nước ngoài có kỹ năng vào một quốc gia và thực tiễn các nhân tố thu hút lao
động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung: Các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào một quốc
gia có thể chia thành nhóm các nhân tố ở cấp độ vĩ mô, vi mô và trung gian (meso) Luận
án tập trung nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt
Nam ở các cấp độ vĩ mô gồm số lượng vốn FDI và mức độ hội nhập quốc tế; hiện trạng
sử dụng và nhu cầu với lao động có kỹ năng; chất lượng môi trường thể chế và các điều
kiện thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam Luận án không đặt vấn đề
nghiên cứu sâu các nhân tố sử dụng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam ở cấp
độ trung gian và vi mô liên quan đến nhu cầu của doanh nghiệp; hiệu quả làm việc của
nhân lực nước ngoài; lợi ích của doanh nghiệp khi sử dụng lao động nước ngoài
Khách thể nghiên cứu: Lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam hợp pháp theo quy
định của pháp luật; các nhà hoạch định chính sách và người sử dụng lao động nước ngoài
Thời gian nghiên cứu: Các số liệu thống kê của Luận án được tập hợp trong giai đoạn 2016-2020
Không gian nghiên cứu: Số liệu sử dụng để phân tích mô hình thực nghiệm của 63
tỉnh/thành phố trên cả nước Địa điểm tiến hành khảo sát và thu số liệu thông qua phỏng vấn
được lựa chọn gồm 5 tỉnh/thành phố tập trung nhiều lao động nước ngoài đến Việt Nam
nhất: Hà Nội, Bắc Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai (chiếm 69%
tổng số lao động động nước ngoài tại Việt Nam)
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Quy trình nghiên cứu: gồm 05 bước
5.2 Thiết kế nghiên cứu
Luận án sẽ được hiện theo nghiên cứu khám phá kết hợp giải thích các nhân tố
trong thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam theo hướng nghiên cứu
khám phá, kết hợp cả hai phương pháp định tính và định lượng, xem xét các nhân tố ở
các cấp độ vĩ mô, vi mô và trung gian (meso), trong đó tập trung chủ yếu ở cấp độ vĩ mô
- Phương pháp định tính
+ Phương pháp thu thập và xử lý thông tin thứ cấp: Rà soát tài liệu thứ cấp sẵn có dựa trên kết quả phân tích các thông tin và tài liệu thứ cấp của các Bộ, ngành, các nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước có liên quan tới đối tượng nghiên cứu và nội dung nghiên cứu của luận án
+ Phương pháp thu thập và xử lý thông tin sơ cấp thông qua bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu nhằm kiểm tra lại các kết luận đưa ra trong mô hình phân tích thực nghiệm, tìm hiểu nguyên nhân của những đánh giá, nhận xét và bản chất thực tế của các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
- Phương pháp định lượng: Khảo sát lao động nước ngoài đang làm việc tại 5 tỉnh tập trung nhiều lao động nước ngoài có kỹ năng theo số liệu của Bộ LĐTBXH (Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh) Số phiếu phát ra 350 phiếu,
số phiếu thu về đảm bảo chất lượng là 308 phiếu, gấp 3 lần mẫu tối thiểu
6 Đóng góp chính của Luận án
Những đóng góp về mặt học thuật, lý luận: nghiên cứu này cung cấp một phân tích thực nghiệm định lượng để đánh giá vai trò của các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có
kỹ năng vào Việt Nam Nghiên cứu thực nghiệm xây dựng một cơ sở mô hình lý thuyết để tiến hành nghiên cứu các nhân tố hút lao động di cư quốc tế có kỹ năng vào một nước đang phát triển như Việt Nam vẫn còn là “khoảng trống” do đây là hiện tượng đang nổi lên trong bối cảnh của các nền kinh tế mới nổi chịu ảnh hưởng của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế Bên cạnh đó, hạn chế về dữ liệu là rào cản lớn nhất đối với các nhà nghiên cứu Điểm mới đầu tiên của nghiên cứu là bù đắp “khoảng trống” này bằng cách sử dụng dữ liệu lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam được thu thập theo bốn vị trí việc làm được pháp luật cho phép Điểm mới tiếp theo là nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam - một quốc gia gửi lao động với điều kiện đặc thù về kinh tế, xã hội và văn hóa của một quốc gia đang phát triển theo định hướng thị trường Nghiên cứu này có đóng góp quan trọng về mặt lý thuyết bằng việc mở rộng và điều chỉnh các khung lý thuyết trong các nghiên cứu trước đây để phù hợp hơn với khu vực các nước đang phát triển Nghiên cứu đã mở rộng mô hình nhập cư quốc tế do Gross & Schmitt (2003) phát triển ở khía cạnh: (i) ý tưởng chính của việc phát triển mô hình lý thuyết đánh giá vai trò của các nhân tố hút lao động di cư quốc tế là sự khác biệt trong phân phối thu nhập cho lao động di cư quốc tế có kỹ năng được tạo ra từ các đặc trưng về kinh tế, văn hóa và xã hội của quốc gia xuất cư và quốc gia nhập cư và sự khác biệt này chỉ diễn ra ở nhóm di cư có kỹ năng Theo đó, nghiên cứu đã nhấn mạnh sự khác biệt về tầm quan trọng của các nhân tố hút tới từng nhóm vị trí việc làm của lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam; (ii) sẽ có những loại chi phí di cư như phí bảo hiểm liên quan đến phân nhóm văn hóa ở quốc gia nhập cư tồn tại và phụ thuộc vào kỹ năng, chi phí di chuyển và chi phí liên quan tới các chính sách thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế Điểm mới nữa của nghiên cứu là sử dụng dữ liệu theo các địa phương để đánh giá đặc trưng của từng địa phương trong thu hút lao động nước ngoài
có kỹ năng tới các vùng miền khác nhau Bên cạnh đó, nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh mới khi Việt Nam chủ động hội nhập quốc tế và trong giai đoạn phục hồi kinh tế
xã hội sau đại dịch Covid-19 Việc thực hiện nghiên cứu trong một bối cảnh toàn cầu nhiều rủi ro sẽ góp phần cung cấp các khuyến nghị chính sách mang tính cấp thiết
Trang 3Những phát hiện, đề xuất mới rút ra được từ kết quả nghiên cứu của luận án: Thực
nghiệm chỉ ra (i) ba nhân tố: số lượng vốn FDI và mức độ hội nhập quốc tế, hiện trạng
sử dụng và nhu cầu với lao động có kỹ năng, chất lượng môi trường thể chế và các điều
kiện hấp dẫn lao động nước ngoài có kỹ năng có ý nghĩa thu hút lao động nước ngoài có
kỹ năng vào Việt Nam; (ii) các đặc trưng kinh tế và xã hội của các địa phương có tác
động hút lao động nước ngoài vào Việt Nam; (iii) cần đẩy mạnh phát triển quy hoạch
vùng và liên kết vùng để tăng cực sự thu hút lao động di cư, đặc biệt chú trọng ở 3 vùng
Trung du và miền núi Bắc Bộ; Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung và Đông Nam
Bộ; (iv) bối cảnh phục hồi kinh tế hậu Covid-19 đòi hỏi các chính sách thu hút lao động
người nước có kỹ năng cần điều chỉnh trên phương diện đảm bảo thích ứng cao trong
điều kiện có nhiều thay đổi về tính chất và phương thức làm việc để đáp ứng tốt hơn với
xu hướng làm việc từ xa Từ những phát hiện mới của nghiên cứu, nghiên cứu đã đưa ra
các khuyến nghị thiết thực cho quá trình thiết kế chính sách thu hút lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam phục vụ cho mục tiêu vĩ mô về phát triển kinh tế
7 Hạn chế của Luận án
Lượng mẫu quan sát điều tra phiếu dựa trên mẫu thuận tiện, chưa bao quát hết lao
động nước ngoài vào Việt Nam tại tất cả các ngành nghề Do đó, các kết quả nghiên cứu
dừng lại ở nghiên cứu điển hình Việc khảo sát không thực hiện được trực tiếp mà thông
qua cơ quản lý lao động ở địa phương và BQLKCN nên các câu hỏi cần tối giản, chắt
lọc Vì vậy, các thông tin khảo sát còn hạn chế chỉ báo và thang đo Theo đó, một số kết
luận về vai trò của nhân tố hút lao động nước ngoài vào Việt Nam mới dựa trên kết quả
định tính thay vì có thể kiểm định bằng kết quả định lượng ở một nghiên cứu đầy đủ hơn
về cả thang đo và mẫu nghiên cứu
8 Kết cấu của Luận án
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc
tế vào một quốc gia
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng
di cư quốc tế vào một quốc gia
Chương 3: Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam và đặc điểm
các nhân tố thu hút ở cấp độ vĩ mô
Chương 4: Phân tích thực nghiệm phân tích các nhân tố thu hút lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam
Chương 5: Quan điểm và giải pháp thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ THU HÚT LAO ĐỘNG CÓ KỸ
NĂNG DI CƯ QUỐC TẾ VÀO MỘT QUỐC GIA
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu về lao động có kỹ năng di cư quốc tế
Các nghiên cứu về lao động có kỹ năng di cư quốc tế chủ yếu nghiên cứu về dòng
dịch chuyển, các xu hướng dịch chuyển, động lực di cư và dự báo Các tài liệu này đặc
biệt quan tâm đến vấn đề chảy máu chất xám của lao động có kỹ năng di cư quốc tế
Ngoài các tài liệu về đánh giá quá trình chảy máu chất xám, các nghiên cứu có xu hướng
tập trung vào tác động đến các nước bắt nguồn quá trình di cư Có rất ít nghiên cứu về
lao động di cư quốc tế đối với các trình độ kỹ năng khác nhau và một số chỉ tập trung vào nhóm có kỹ năng Các nghiên cứu về sự tự lựa chọn của người nhập cư nghiên cứu về những người có kỹ năng trong di cư quốc tế và di cư nội địa Các nghiên cứu hiện có thường thảo luận về các yếu tố quyết định dòng di cư quốc tế giữa các quốc gia hoặc các yếu tố quyết định sự phân bố theo không gian của dòng người di cư quốc
tế tới một quốc gia cụ thể Một mặt, các nghiên cứu tập trung vào các yếu tố quyết định đến sự di cư của lực lượng lao động mà không có sự phân biệt theo trình độ kỹ năng của người di cư Mặt khác, các nghiên cứu khác tập trung vào các chuyên gia có
kỹ năng và coi đây là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển kinh tế Các học giả này thường nghiên cứu về việc di cư tạm thời ở các quốc gia, các chính sách nhập cư
có liên quan hỗ trợ sự dịch chuyển này cũng như khu vực doanh nghiệp và các tập đoàn xuyên quốc gia
Các nghiên cứu chưa thực sự chuyên sâu do các học giả gặp khó khăn liên quan tới vấn đề số liệu Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm về di cư đều dựa trên các quan sát về lượng lao động nhập cư ở nước tiếp nhận, do đó tập trung nhiều hơn vào mức
độ tổng thể của hiện tượng hoặc tác động thuần hơn là vào các thay đổi liên quan đến khoảng thời gian di cư Lý do của việc thiếu các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề này là sự khan hiếm chung của dữ liệu về dòng lao động di cư quốc tế theo kỹ năng
cụ thể
Những nghiên cứu về lao động nước ngoài tại Việt Nam rất hạn chế và phần lớn tiếp cận ở góc độ quản lý nhà nước, chủ yếu tập trung làm rõ vấn đề thực trạng lao động nước ngoài tại Việt Nam và tại một số vùng Những nghiên cứu về lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam được phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh
tế quốc tế Tuy không nghiên cứu chuyên biệt về lao động di cư có kỹ năng nhưng đã bắt đầu đề cập đến nhóm lao động đặc thù này, đặc biệt là những nghiên cứu về dịch chuyển lao động có kỹ năng trong ASEAN theo các MRAs từ các nước ASEAN vào Việt Nam và ngược lại
1.2 Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế ở cấp
độ vĩ mô
Quá trình ra quyết định di cư của các cá nhân là lao động kỹ năng rất phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố “hút - đẩy” Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra những yếu tố “hút” giúp đẩy mạnh dòng dịch chuyển lao động quốc tế có kỹ năng (UNCTAD, 2012) đó là các điều kiện tạo thuận lợi cho các quốc gia phát triển lực lượng lao động có kỹ năng; những điều kiện bất lợi tại quê nhà; các điều kiện về chi phí di chuyển tương đối thấp đối với người lao động có kỹ năng thấp, mạng lưới di cư giúp người di cư dễ dàng hơn trong tiếp cận thông tin về thị trường lao động tại quốc gia nhập
cư, thị trường mở hơn, điều kiện di chuyển thuận lợi hơn và khả năng tiếp cận giao thông tốt hơn; các chính sách dành cho người lao động di cư có chọn lọc để thu hút nhân tài từ bên ngoài được ban hành tại một số nước phát triển
Đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, các nghiên cứu đều chỉ ra các nhân tố thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế từ nước này đến một quốc gia ở cấp
độ vĩ mô bao gồm đầu tư nước ngoài và hội nhập quốc tế, nhu cầu sử dụng lao động có
kỹ năng và môi trường thể chế và các điều kiện thu hút lao động kỹ năng di cư quốc tế
Trang 41.3 Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu chỉ tiếp cận ở từng vấn đề riêng lẻ, chưa mang tính tổng thể Các
nghiên cứu trong nước chưa nhìn nhận vấn đề di chuyển lao động nước ngoài ở Việt Nam
dưới giác độ kinh tế quốc tế với sự ràng buộc của các thỏa thuận và cam kết quốc tế Từ
tổng quan các công trình nghiên cứu, Luận án rút ra những khoảng trống nghiên cứu sau:
Thứ nhất, mặc dù đã có nghiên cứu đánh giá về các nhân tố thu hút lao động di cư
quốc tế đến các nước đang phát triển, tuy nhiên chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào tập
trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới dòng di cư lao động có kỹ năng tới các
nước đang phát triển như Việt Nam Các nghiên cứu về vấn đề này ở các nước phát triển
cũng khá hạn chế do số liệu về lao động di cư có kỹ năng không được đầy đủ
Thứ hai, các khung mô hình lý thuyết xây dựng trong các nghiên cứu trước đây
còn gặp phải một số hạn chế như các mô hình lý thuyết này được xây dựng nhằm đánh
giá tác động của các nhân tố hút tới lao động di cư quốc tế tại quốc gia phát triển Việc
sử dụng các mô hình này dành cho nhóm các nước đang phát triển với các điều kiện về
kinh tế, chính trị và xã hội khác biệt có thể là không phù hợp Vì thế, yêu cầu cấp thiết
về việc kế thừa các ý tưởng của các học giả trước đây để xây dựng một khung lý thuyết
toàn diện và phù hợp hơn với việc đánh giá tầm quan trọng của các nhân tố hút lao động
di cư quốc tế, đặc biệt là nhóm di cư có kỹ năng và trình độ tới Việt Nam là vô cùng quan
trọng Bên cạnh đó, khung lý thuyết được xây dựng trước đây còn khá đơn giản khi tập
trung vào một khía cạnh nhất định trong khi khi chưa cung cấp một phân tích đa chiều
và toàn diện về việc đánh giá tác động của các nhân tố khác nhau tới quyết định của nhóm
lao động kỹ năng di cư quốc tế
Thứ ba, các nghiên cứu thực nghiệm chưa phân tích đánh giá đồng thời vai trò của
yếu tố nội tại liên quan các đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội của từng địa phương khu
vực trong một quốc gia, hay mức độ mở cửa hội nhập quốc tế và những điều kiện về mặt
môi trường thể chế chính sách Đây đều được xem là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng
tới dòng di cư của lao động nhập cư quốc tế, đặc biệt là nhóm có kỹ năng và trình độ Chưa
có các phân tích thực nghiệm đánh giá về thực trạng thu hút lao động di cư quốc tế có kỹ
năng tại từng địa phương cũng như đánh giá các yếu tố tác động tới việc thu hút dòng di
cư lao động quốc tế có kỹ năng, tập trung vào các đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội và các
chính sách quốc tế, môi trường chất lượng thể chế từng từng địa phương trong việc hấp
dẫn nhóm lao động này Điều này cho thấy khoảng trống các nghiên cứu phân tích thực
tiễn với các thông tin cập nhật về quy mô cả về số lượng và chất lượng của lao động nước
ngoài có kỹ năng vào Việt Nam, sự vận hành của các nhân tố thu hút các dòng di chuyển
chủ yếu lao động nước ngoài có kỹ năng, theo vị trí việc làm, nhận diện trình độ kỹ năng
của lao động người nước ngoài, đánh giá hiệu quả của các nhân tố hút lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam bao gồm các nhân tố liên quan đến hội nhập quốc tế và đầu tư,
nhu cầu sử dụng lao động có kỹ năng và chất lượng môi trường thể chế
Thứ tư, tổng quan nghiên cứu cho thấy khoảng trống về bối cảnh mới như tác động
của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, đầu tư xuyên biên giới và CMCN 4.0 đối với một
quốc gia phát triển như Việt Nam trong việc thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào
làm việc Đặc biệt, mới đây, đại dịch Covid là cú sốc mạnh tới kinh tế - xã hội toàn cầu
nói chung, tới di chuyển lao động giữa các quốc gia nói riêng
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN TỐ THU HÚT LAO ĐỘNG
CÓ KỸ NĂNG DI CƯ QUỐC TẾ VÀO MỘT QUỐC GIA 2.1 Một số khái niệm
Lao động di cư quốc tế là các cá nhân di chuyển khỏi nơi cư trú của quốc gia này đến một quốc gia khác vì mục đích việc làm trong một khoảng thời gian nhất định Lao động kỹ năng di cư quốc tế để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc
có hưởng lương tại một quốc gia nơi người đó không phải là công dân và người này sở hữu kỹ năng chuyên môn chuyên biệt do quá trình làm việc thực tế hoặc đào tạo theo hệ thống giáo dục của từng quốc gia nơi họ được đào tạo và cấp bằng cấp và chứng chỉ/hoặc
cả hai Kỹ năng ở đây được hiểu bao gồm kỹ năng thực hiện công việc và trình độ bằng cấp Các quốc gia thiết lập các khung đánh giá kỹ năng của người lao động và khung công nhận kỹ năng nghề giữa các quốc gia để người lao động có kỹ năng bằng những bằng cấp
có được ở quốc gia mình cũng như kinh nghiệm sẽ đáp ứng tiêu chuẩn ở quốc gia khác Lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam là người mang quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam đáp ứng các yêu cầu về độ tuổi, năng lực hành vi dân sự, sức khỏe; không vi phạm pháp luật; và có giấy phép lao động và có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, kinh nghiệm làm việc Khi so sánh với khung trình độ quốc gia Việt Nam và khung trình độ quốc tế như ISCO, AQRF thì lao động nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam hợp pháp là lao động có kỹ năng
2.2 Sự phát triển các dòng dịch chuyển và đặc điểm của lao động kỹ năng di cư quốc tế
Trong những năm 1980, các nhà khoa học xã hội đã quan sát thấy sự di chuyển ngày càng tăng của dòng lao động kỹ năng di cư giữa các nước phát triển Hiện nay trên thế giới đang tồn tại bốn dòng dich chuyển lao động bao gồm dòng di cư Nam - Bắc, Bắc
- Bắc, Bắc - Nam và Nam - Nam Trong đó, hơn một nửa số người di cư có kỹ năng di chuyển theo dòng Nam - Bắc từ các quốc gia đang phát triển tới các quốc gia phát triển
và Bắc sang Bắc (UNCTAD 2012) Sự di cư của lao động có kỹ năng di cư quốc tế trở nên trôi chảy hơn bởi các thỏa thuận thương mại và các công cụ hợp tác song phương hoặc đa phương (Pellerin, 2017)
Các động lực chính thu hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế là thu nhập cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn, có triển vọng nghề nghiệp ở nước sở tại, chính sách đối với lao động di cư quốc tế của nước sở tại, tình hình kinh tế và chính trị, chi phí di cư, ngôn ngữ tương đồng Trong đó, các yếu tố như mức sống, chất lượng trường học, dịch vụ y tế, cơ
sở hạ tầng và sự hiện diện của một mạng lưới đồng hương, đồng nghiệp được thiết lập tốt được coi là quan trọng nhất (Papademetriou & cộng sự, 2008) Đặc biệt lao động có kỹ năng
di cư quốc tế mong muốn cơ hội phát triển chuyên môn và tiếp cận với công nghệ tiên tiến hơn Thông qua đó họ có thể sử dụng các kỹ năng của mình và học hỏi những điều mới
2.3 Tổng quan các lý thuyết về di cư lao động quốc tế
Các lý thuyết di cư được phân tích theo ba cấp độ là cấp độ vĩ mô, vi mô và trung gian (meso) Theo đó, các lý thuyết ở cấp độ vi mô tập trung vào các quyết định di cư của từng cá nhân, trong khi các lý thuyết ở cấp độ vĩ mô xem xét các xu hướng di cư tổng
Trang 5thể và giải thích các xu hướng này ở cấp độ vĩ mô Cấp độ meso nằm giữa cấp độ vi mô
và vĩ mô giúp giải thích nguyên nhân và sự tiếp tục của quá trình di cư (Faist, 2000)
Bảng 2.2 Phân loại các lý thuyết về di cư theo cấp độ nghiên cứu
Nguyên nhân di cư Nguyên nhân di cư, tính liên tục
của dòng di cư
Nguyên nhân di cư, tính liên tục của dòng di cư
Giá trị cá nhân, mong muốn, kỳ
vọng (cải thiện mức sống, thu
nhập…)
Cộng đồng, mạng lưới xã hội (các ràng buộc xã hội )
Cấu trúc tiềm năng của nền kinh tế ở cấp độ vĩ mô (cấu trúc của nền kinh tế như sự khác nhau trong thu nhập và cơ hội việc làm)
Các lý thuyết chính:
Các nhân tố hút - đẩy của Lee
Lý thuyết vi mô Tân cổ điển
Lý thuyết Mô hình hành vi
Lý thuyết Hệ thống xã hội
Các lý thuyết chính:
Lý thuyết Vốn xã hội
Lý thuyết Thể chế
Lý thuyết Mạng lưới
Mô hình nhân quả tích lũy
Lý thuyết Kinh tế mới về lao động
di cư
Các lý thuyết chính:
Lý thuyết vĩ mô Tân cổ điển về
di cư
Hệ thống di cư
Lý thuyết về Thị trường lao động kép
Lý thuyết Hệ thống thế giới Dịch chuyển lao động
Nguồn: Faist, 2000
Cho mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả chia sẻ và đồng thuận với những phát
hiện của Massey và cộng sự (1994) trong nghiên cứu của mình về tính chất đặc thù của các
lý thuyết có liên quan đến di cư lao động quốc tế và cần phải cân nhắc xem xét các lý thuyết
này trong sự phân tích tổng hợp và đặt chúng trong bối cảnh mà lý thuyết đó được đưa ra
Việc tổng quan và rà soát các lý thuyết di cư được phân tích theo cả ba cấp độ vĩ mô, vi mô
và trung gian để xem xét chọn lọc các nhân tố thu hút di cư lao động quốc tế nói chung và
di cư lao động có kỹ năng nói riêng Các lý thuyết liên quan đến việc tiếp tục di cư cũng
được xem xét rà soát trong tổng quan lý thuyết về di cư quốc tế Với cách tiếp cận như vậy,
tác giả đã tiến hành tổng quan các lý thuyết về di cư chính, tổng hợp và phân tích những vấn
đề cốt lõi của các lý thuyết trong mối quan hệ của chúng với điều kiện kinh tế chính trị - xã
hội để nhận diện các nhân tố, những hàm ý có liên quan đến các nhân tố thúc đẩy của quá
trình di cư quốc tế nói chung và di cư là lao động có kỹ năng nói riêng
Tổng quan các lý thuyết về di cư lao động quốc tế ở cấp độ vĩ mô chỉ ra rằng lý
thuyết Tân cổ điển đã giải thích di cư diễn ra do sự khác biệt về địa lý trong cung và cầu
lao động Lý thuyết thị trường lao động phân khúc (Priore, 1979) giải thích di cư là kết
quả tạm thời của nhân tố “hút”, cụ thể ở đây được xét đến là nhu cầu lớn về cấu trúc lao
động tại các nước phát triển Lý thuyết Tân cổ điển về di cư phát triển các quan điểm có
liên quan đến tính chọn lọc của di cư Không thể phủ nhận tầm quan trọng của chênh lệch
mức lương kỳ vọng, khả năng của từng cá nhân và nhóm di cư cũng được cho là phụ
thuộc đồng thời vào hai yếu tố: chi phí – rủi ro từ việc di cư và những đặc điểm vốn nhân
lực của từng cá nhân Điều này khiến cho việc chọn lọc di cư cũng phụ thuộc vào cấu
trúc cụ thể và phân khúc của thị trường lao động Từ đó giúp xác định cơ hội tìm kiếm
việc làm cũng như là đưa ra các chính sách đối với lao động di cư quốc tế Sự kết hợp
của các yếu tố trên có thể giúp giải thích tính động và không đồng nhất, đặc trưng dòng
dịch chuyển lao động trong thực tế Các lý thuyết khác về di cư đã được phát triển và giải thích hiện tượng di cư quốc tế theo các cách riêng
Quá trình nghiên cứu, xem xét các nhân tố liên quan đến di cư lao động nói chung và
di cư của lao động có kỹ năng nói riêng cần đặt trong bối cảnh cụ thể (kinh tế, nhân khẩu học, yếu tố văn hóa xã hội, thể chế, thị trường lao động, chất lượng nguồn nhân lực, yếu tố chính trị và các yếu tố khác) của cả quốc gia xuất cư và quốc gia nhập cư trên bình diện quốc gia, khu vực và toàn cầu So sánh và đối chiếu các lý thuyết có thể thấy rằng các lý thuyết
về di cư có thể kết hợp với nhau một cách hợp lý Các quyết định di cư của cá nhân được đưa ra trong bối cảnh xã hội cụ thể phản hồi lại môi trường cấu trúc kinh tế và xã hội đó
và ảnh hưởng đến các lựa chọn di cư trong tương lai (Massey & cộng sự, 1993) Hình 2.1 dưới đây cho thấy các liên kết giữa những lý thuyết di cư lao động khác nhau và tổng hợp chúng thành một bức tranh hoàn chỉnh
Hình 2.1: Khung lựa chọn ra quyết định di cư của lao động di cư quốc tế
Nguồn: Hagen-Zanker (2008)
Lao động di cư đưa ra quyết đinh di cư trong bối cảnh môi trường xã hội cụ thể,
và gia đình của họ có thể có những ảnh hưởng nhất định tới quyết định đó Do đó, quyết định di cư nên được xem xét ở cấp độ hộ gia đình Quyết định di cư đòi hỏi phải tính toán
so sánh cụ thể giữa chi phí và lợi ích của việc di cư Hay nói một cách khác, di cư nói chung là một chiến lược tối ưu hóa của các cá nhân hoặc gia đình thực hiện các tính toán chi phí - lợi ích (Hein de Haas, 2015) Rất nhiều các yếu tố có thể ảnh hưởng tới chi phí
và lợi ích của việc di cư
Ở cấp độ vi mô, chênh lệch thu nhập và nghèo đói là hai nhân tố hút và đẩy đổi với những người lao động di cư tiềm năng Ở cấp độ trung gian, di cư cũng có nhiều khả năng xảy ra nếu các tổ chức di cư đã được thiết lập hoặc nếu mạng lưới di cư đã có sẵn cho người di cư tiềm năng Ở cấp độ vĩ mô, nhu cầu về lao động và chính sách đối với lao động
di cư quốc tế là những nhân tố quyết định ảnh hưởng tới lựa chọn di cư Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế và các dòng FDI có thể ảnh hưởng tới các dòng di cư theo nhiều cách
từ giảm chi phí vận chuyển đến thay đổi triển vọng công việc trên phạm vi toàn cầu Trên cơ sở tổng quan lý thuyết, tổng quan các công trình nghiên cứu và xem xét kinh nghiệm các quốc gia về các nhân tố hút và đẩy được thảo luận ở những phần trước ảnh hưởng tới quyết định di cư của lao động kỹ năng, tác giả đã tổng hợp các nhân tố trình bày trong hình 2.2 dưới đây Với phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sẽ tập trung vào nghiên
Trang 6cứu các nhân tố hút ở cấp độ vĩ mô Tuy nhiên, một số nhân tố ở cấp độ vi mô và Meso ảnh
hưởng lớn đến quyết định của người lao động di cư cũng được tác giả xem xét thông qua
khảo sát đối với nhóm lao động này
Hình 2.2 Tóm tắt mô hình các nhân tố hút-đẩy ảnh hưởng tới quyết định di cư
của lao động di cư quốc tế có kỹ năng ở cấp độ vĩ mô, vi mô và trung gian (meso)
Nguồn: NCS Tổng hợp
2.4 Khung lý thuyết nghiên cứu đề xuất mô hình cho Luận án
Tổng quan các lý thuyết về di cư chỉ ra rằng quá trình ra quyết định di cư của lao động
có kỹ năng rất phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu tố “hút - đẩy” Đằng sau mỗi
quyết định di cư của họ chứa đựng một sự tương tác phức tạp giữa các nhân tố ở cả ba cấp độ
cấp độ vĩ mô, meso và vi mô
Các lý thuyết ở cấp độ vĩ mô, người di cư là các cá thể với các hành động hợp lý,
cá nhân đưa ra quyết định di cư trên cơ sở các tính toán chi phí và lợi ích Giả thuyết rằng
cá nhân được tự do đưa ra quyết định và thông tin hoàn hảo, cá nhân được kỳ vọng là sẽ
di cư đến nơi họ có thể có được năng suất lao động cao nhất, đồng nghĩa với, họ có khả
năng kiếm được mức lương cao nhất Các lý thuyết ở cấp độ vi mô tập trung vào các yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định di cư của từng cá nhân Các lý thuyết này nghiên cứu phân
tích cách cá nhân được coi là người di cư tiềm năng cân nhắc các chi phí và lợi ích khác
nhau của việc di cư Chi phí có thể bao gồm chi phí vật chất và tinh thần được đầu tư vào
việc di chuyển và hòa nhập tại địa điểm sống mới Trong khi, lợi ích có thể bao gồm mức
lương cao hơn, điều kiện sống an toàn hơn Với phạm vi nghiên cứu của Luận án, tác giả
cho rằng các luồng di cư được quan sát thấy là kết quả của quyết định di chuyển của các
cá nhân đến quốc gia nhập cư Ngoài ra, các ràng buộc chính sách do các quốc gia nhập
cư đối với việc di cư cũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng tới quyết định di cư Tuy
nhiên, kết luận này tùy thuộc vào mỗi quốc gia Trường hợp của Pháp trong nghiên cứu
của Gross & Schmitt (2012) chỉ ra rằng sự nới lỏng chính sách di cư tự do là nhân tố cốt
lõi nhưng không phải là nhân tố duy nhất Các mô hình về dòng di cư thường nắm bắt
các lực lượng này trong khuôn khổ thúc đẩy và thu hút đối với lao động di cư (Clark &
cộng sự, 2007; Hatton & Williamson, 2002) Mặc dù các khuyến khích đối với lao động
di cư có thể bị ảnh hưởng bởi sự tồn tại của một số yếu tố ở các quốc gia nhập cư, tác giả
sẽ tiến hành nghiên cứu tập trung vào các khuyến khích/ưu đãi của thị trường lao động ở
quốc gia nhập cư Điểm khởi đầu của tác giả là đánh giá các khuyến khích/ưu đãi cụ thể
cho từng nhóm kỹ năng và tính di động quốc tế tự do hơn có khả năng ảnh hưởng khác
nhau đến các khuyến khích này Trong phạm vi của Luận án, đặc trưng kỹ năng, trình độ
được quyết định bởi dữ liệu là các phân loại của các loại hình, vị trí công việc tương ứng
với trình độ học vấn khác nhau Do đó, các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư có thể giống nhau ở các cấp độ kỹ năng, độ co giãn hoặc thậm chí các dấu hiệu của các yếu tố này có thể khác nhau Trong phạm vi của Luận án, hai yếu tố được nhấn mạnh đến gồm:
sự khác biệt trong các yếu tố văn hóa, xã hội ở quốc gia sở tại và phân bổ tiền lương tương đối cho mỗi nhóm kỹ năng ở quốc gia xuất cư và quốc gia nhập cư Dưới đây, tác giả phát triển ngắn gọn một khung phân tích mô hình thực nghiệm bao gồm cả hai yếu
tố phù hợp với dữ liệu được sử dụng trong Luận án trong Hình 2.3 dưới đây
Phụ A: Mô hình cơ sở lý thuyết
Phụ B: Mô hình áp dụng thực nghiệm
Hình 2.3 Tóm tắt mô hình của các nhân tố hút ảnh hưởngtới quyết định di cư của lao động di cư quốc tế có kỹ năng ở cấp độ vĩ mô
Nguồn: NCS đề xuất
Tiến hành xem xét một cá nhân thuộc nhóm lao động có kỹ năng si đang có ý định
di cư đến đất nước d Tổng lợi ích thu được từ việc di cư được đo bằng công thức
() là mức lương ở nước xuất cư (nhập cư) Nếu chi phí di
chuyển được biểu thị bằng CP() thì xác suất di cư của một cá nhân thuộc loại kỹ năng
có thể được tính như sau: , Xác suất này phụ thuộc tỷ
Trang 7lệ thuận vào sự chênh lệch giữa tiền lương ở nước nhập cư so với ở nước xuất cư, và tỷ lệ
nghịch vào chi phí di cư Ngược lại, mức lương của người lao động này phần lớn phụ thuộc
vào sự phân bổ tiền lương ở hai quốc gia này (Borjas, 1987), cũng như mức lương phụ mà
những người di cư có kỹ năng cụ thể có thể được hưởng Thực tế là mức lương có thể khác
nhau trong một nhóm kỹ năng có thể do sự khác biệt về khả năng (Gibbons & Katz, 1992),
hoặc từ các công việc có mức lương thưởng khác nhau giữa các ngành và doanh nghiệp
Trong luận án, tác giả sử dụng khả năng của người lao động được phản ánh ở các vị trí
nghề nghiệp khác nhau Do đó, tác giả đã giả định rằng mức lương của một cá nhân trong
nhóm kỹ năng ở quốc gia nhập cư phụ thuộc vào phân phối thu nhập cho loại kỹ năng
này (với trung bình và phương sai ) và mức lương đặt ra liên quan đến các
yếu tố kinh tế, văn hóa và xã hội ở quốc gia nhập cư Như vậy, mức lương này
được viết như sau:
, , (1)
Ở quốc gia xuất cư, thu nhập cho cùng một loại kỹ năng chỉ phụ thuộc vào các yếu
tố này và được mô tả như sau:
, (2)
Do đó, quyết định di cư đến một quốc gia như Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào
việc so sánh thu nhập trung bình ở quốc gia xuất cư và quốc gia nhập cư mà còn phụ
thuộc vào sự khác biệt trong nhóm kỹ năng của người di cư Trong nghiên cứu của
mình, tác giả đã dựa theo kết quả nghiên cứu của Borjas (1987) và nghiên cứu của Clark
& cộng sự (2007) Trong đó sự phân tán tương đối về thu nhập tại quốc gia xuất cư và
quốc gia nhập cư có thể dẫn đến sự thiên vị về lựa chọn đối với các nhóm lao động di
cư quốc tế Tuy nhiên, trong luận án, việc phân phối tiền lương là cho một nhóm kỹ
năng nhất định chứ không phải cho tất cả các cá nhân Do đó, giả định rằng đối với tầng
lớp kỹ năng si, các đặc điểm khác giống nhau, thì mức độ chênh lệch về tiền lương ở
nước xuất cư là thấp so với mức lương ở nước nhập cư, mà trong nghiên cứu này là
Việt Nam Điều này có nghĩa là lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam phải thấy
thu nhập và mức lương tại Việt Nam là tương đối thu hút, trong khi những người lao
động ít có động cơ di cư vào Việt Nam trong cùng một lớp kỹ năng phải thấy mức lương
và thu nhập này ở Việt Nam là tương đối kém thu hút Điều ngược lại tồn tại khi sự
khác biệt ở nước xuất xứ cao so với nước Việt Nam, dẫn đến sự thiên vị trong lựa chọn
của lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam Sự thay đổi trong phân bổ tiền
lương và các tác động dẫn đến dòng người di cư cho thấy xu hướng cụ thể của sự thiên
vị này Ví dụ, giả sử rằng phương sai trong phân phối tiền lương của Việt Nam không
chỉ lớn hơn mà còn tăng lên tương đối so với giá nhà Sự thay đổi này dẫn đến sự thiên
vị mạnh mẽ hơn đối với lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam, dẫn đến khả
năng trung bình của người nhập cư cao hơn trong nhóm kỹ năng đó
Ở xem xét tiếp theo, tác giả giả định rằng chi phí di cư là một nhân tố quan trọng
ảnh hưởng tới quyết định di cư Theo đó, phí bảo hiểm liên quan đến phân nhóm văn
hóa ở quốc gia nhập cư tồn tại và phụ thuộc vào kỹ năng Tác giả đặc biệt quan tâm đến
mối liên hệ giữa mức phí bảo hiểm có thể có này và các điều kiện mà nhóm yếu tố văn
hóa, xã hội đóng vai trò lớn hơn đối với những người di cư có kỹ năng và thấp hơn là
đối với những người có kỹ năng cao Để làm như vậy, tác giả mở rộng mô hình Gross
& Schmitt (2003) cho các nhóm kỹ năng Do đó, tác giả đưa ra một giả định về sự tồn tại của hai thị trường lao động mà người di cư có thể làm việc: thị trường lao động phụ dựa vào kiến thức hoặc ngôn ngữ văn hóa cụ thể của người di cư và thị trường lao động
ẩn danh nhưng không cụ thể về văn hóa Mức lương ở nước đến, , phụ thuộc vào
kỹ năng và nó có thể nhận hai giá trị: , tiền lương trong thị trường lao động phụ bất kỳ, , tiền lương trên thị trường lao động có đặc trưng cụ thể về văn hóa và xã hội Trong luận án, tác giả đưa ra giả định dựa trên kết quả nghiên cứu của Gross và Schmitt (2012) Thứ nhất, không phân biệt loại kỹ năng, các yếu tố phản ánh đặc trưng văn hóa và xã hội không thể có tác động quá lớn tới việc thiết lập mức lương Thứ hai, mức trả lương khác biệt trên thị trường lao động chú trọng vào từng nhóm đặc trưng văn hóa và xã hội là khó duy trì đối với các tầng lớp lao động có kỹ năng cao hơn so với lao động phổ thông Khi mức lương ngày càng tăng với các trình độ kỹ năng trong thị trường lao động không có đặc trưng văn hóa và xã hội cụ thể hơn là họ ở thị trường lao động được phân biệt bởi các đặc trưng này Ví dụ, điều này có thể là do lao động
kỹ năng cao có nhiều cơ hội hơn trong thị trường lao động vô danh hơn là trong thị trường dành riêng cho các nhóm đặc trưng văn hóa xã hội Hàm ý rằng, lên đến cấp độ
kỹ năng cao hơn, ̅, những người di cư có kỹ năng tương đối thấp sẽ kiếm được một khoản phí bảo hiểm dương, , trong thị trường lao động cụ thể về sắc tộc và văn hóa, điều này sẽ là động lực cho họ di cư tập trung tại quốc gia nhập cư, trong khi những người lao động với kỹ năng cao, ≥ ̅, thì sẽ không có động cơ này
Ngoài ra, chi phí di chuyển cũng là một loại chi phi quan trọng Bên cạnh các chi phí tiền tệ thông thường của việc di cư liên quan đến khoảng cách, các chính sách nhập
cư quy định việc nhập cư của người lao động nước ngoài cũng ảnh hưởng đến xác suất
di cư Tác giả sẽ xây dựng mô hình thay đổi từ hạn chế sang tự do di cư để giảm các rào cản, chi phí di cư (bao gồm cả chi phí vật chất và chi phí cơ hội) Sự thay đổi này có tác động tích cực trực tiếp đến dòng người di cư Tuy nhiên, do tiền lương tăng theo kỹ năng, việc di chuyển tự do hơn đương nhiên có tác động tích cực mạnh mẽ hơn đến dòng người
di cư có kỹ năng thấp hơn là đối với dòng người di cư có kỹ năng cao nếu chi phí di cư không phụ thuộc vào kỹ năng (Clark & cộng sự, 2002)
Mô tả trên đây liên quan đến xác suất di cư của một cá nhân đến một quốc gia cụ thể và cần được điều chỉnh cho phù hợp với khuôn khổ tổng hợp hơn của dòng di cư Số lượng cá nhân thuộc một nhóm kỹ năng, , quyết định di cư từ một quốc gia nhập
cư một điểm đến nhất định là tích số của xác suất cá thể, , và quy mô của dân số liên quan, , sao cho:
, ,!, , , " $ (3) Tác giả kỳ vọng rằng ảnh hưởng của sẽ là tích cực, và ảnh hưởng của sẽ là tiêu cực Ngược lại, ảnh hưởng của với ! là không xác định vì nó phụ thuộc vào sự sai khác trong lựa chọn mẫu nghiên cứu cho từng nhóm kỹ năng Điều này là sự khách quan vì nó phụ thuộc đặc trưng của dữ liệu đặc thù và thực trạng thu hút lao động kỹ năng của từng địa phương tại Việt Nam Ngoài ra, sẽ có tác động tích cực tới
Trang 8quyết định di cư ở nhóm lao động với cấp độ kỹ năng thấp hơn, và sẽ có tác động
tiêu cực nhưng với biên độ tác động là khác nhau đối với các nhóm trình độ và kỹ năng
Ngoài ra, sẽ còn những nhân tố khác, ", phản ánh các đặc trưng về văn hóa, xã hội,
thể chế và kinh tế của của quốc gia nhập cư, tác động tới xác xuất đưa ra quyết định di
cư của người lao động di cư quốc tế
Phần lớn các nghiên cứu cho rằng các yếu tố phi kinh tế rất quan trọng ảnh hưởng
đến quyết định di cư Các ảnh hưởng này được thể hiện bằng mức bù tiền lương của lao
động di cư quốc tế % Một ảnh hưởng quan trọng đến % là số lượng người di cư trước đây
đến từ quốc gia xuất cư và đang sống ở quốc gia nhập cư - gọi là mạng lưới đồng hương,
đồng nghiệp hay hiệu ứng bạn bè và người thân Tác động của quan hệ xã hội đối với việc
di cư đã được nghiên cứu rộng rãi nhưng không nên coi chúng là một chỉ số thay thế cho
mô hình kinh tế của di cư Xét hai cách hiểu về khía cạnh kinh tế của mạng lưới đồng hương,
đồng nghiệp hay hiệu ứng bạn bè và người thân Cách hiểu thứ nhất là nó làm tăng “trợ
giúp” cho lao động di cư tới quốc gia nhập cư, có lẽ cũng làm giảm tổn thất “giá trị dân tộc”
có thể phát sinh trong quá trình di cư Cách hiểu thứ hai là mạng lưới đồng hương, đồng
nghiệp hay hiệu ứng bạn bè và người thân làm giảm chi phí di cư trực tiếp, ngụ ý mức độ cá
nhân trong giảm mạng lưới đồng hương, đồng nghiệp hay hiệu ứng bạn bè và người
thân có thể giảm tác động của các cản trở đối với lao động di cư tiềm năng bằng cách cung
cấp khả năng tiếp cận các khoản vay hoặc các trợ cấp ban đầu khi tới quốc gia nhập cư
Đặc điểm chính của quyết định di cư là có sự ảnh hưởng của các chính sách hạn chế
nhập cư vào các quốc gia nhập cư Các chính sách này có thể chia thành hai loại: hạn ngạch
hạn chế số lượng hoặc chính sách lựa chọn người nhập cư theo các đặc điểm nhất định (có
hoặc không giới hạn số lượng) Cả hai loại này đều có thể làm tăng chi phí nhập cư Với loại
thứ nhất, cạnh tranh để được cấp thị thực làm tăng chi phí Với loại thứ hai, chi phí nhập cư
là những chi phí liên quan đến việc kết hợp các đặc điểm liên quan Hai yếu tố chính của
chính sách nhập cư là đoàn tụ gia đình và lựa chọn theo kỹ năng
Ở đây, chi phí di cư cố định c đã được sửa đổi (bây giờ được ký hiệu là )
để bao gồm các chi phí do chính sách nhập cư áp đặt và giả sư bổ sung & phản ánh việc
giảm chi phí nhập cư liên quan đến các đặc điểm cá nhân Nếu cá nhân có họ hàng gần
tại điểm đến thì giá trị của & sẽ tăng Nếu chính sách nhập cư tập trung vào lựa chọn kỹ
năng thì & sẽ là một hàm thể hiện cấp độ kỹ năng của cá nhân Do đó, tỷ lệ di cư sẽ phụ
thuộc vào trình độ kỹ năng trung bình độc lập với các tác động thông qua thu nhập ở
quốc gia xuất cư và quốc gia nhập cư
Trong bối cảnh chi phí di cư cao - vì các chính sách áp đặt hoặc vì lí do khác -
những người có ý định di cư từ các nước nghèo có thể bị trình độ phát triển của quốc gia
xuất cư Đối với ngưỡng chi phí c^ nhất định (cố định và chuẩn hóa thích hợp), tỷ lệ dân
số bị cản trở là:
Do đó, thu nhập trung bình càng cao và độ lệch chuẩn thu nhập càng thấp thì tỷ lệ
người có ý định di cư nhưng bị cản lại vì trình độ phát triển càng nhỏ
Như vậy, mô hình lý thuyết được xây dựng trọng phần lý thuyết này hàm ý rằng
việc lao động di cư quốc tế vào một quốc gia ở từng nhóm kỹ năng sẽ phụ thuộc vào xác
suất, Xác suất này sẽ phụ thuộc vào những đặc trưng kinh tế, thể chế, văn hóa và xã hội của quốc gia nhập cư trong việc thu hút lao động di cư quốc tế, đặc biệt là lao động
có kỹ năng, và sự khác biệt trong phân phối thu nhập, hay các vấn đề liên quan tới chi phí nhập cư
2.5 Kinh nghiệm vận dụng các nhân tố thu hút lao động trong chính sách thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng
Luận án tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới như của Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc trong chính sách thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng có vận dụng các nhân tố hút lao động có kỹ năng di cư quốc tế để cung cấp bài học
có thể tham khảo cho Việt Nam
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI CÓ KỸ NĂNG VÀO VIỆT NAM
VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC NHÂN TỐ HÚT Ở CẤP ĐỘ VĨ MÔ 3.1 Thực trạng lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Lao động nước ngoài vào Việt Nam tăng dần và sẽ tiếp tục tăng mạnh trong thời gian tới Lao động nước ngoài có kỹ năng vào làm việc tại Việt Nam chủ yếu đảm nhận
vị trí chuyên gia Vị trí lao động kỹ thuật có xu hướng giảm do trình độ lực lượng lao động của Việt Nam có thể dần dần thay thế nhóm lao động này Vị trí nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia là người nước ngoài tăng lên do các hoạt động đầu tư ngày càng tăng Lao động kỹ năng di cư vào Việt Nam tập trung chủ yếu tại hai vùng là Đồng Bằng Sông Hồng và Đông Nam Bộ Các nước có nhiều lao động nước ngoài đến Việt Nam hiện là các nước có lượng đầu tư lớn nhất ở Việt Nam đó Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan
3.2 Đặc điểm các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
3.2.1 Nhân tố về đầu tư trực tiếp nước ngoài và hội nhập quốc tế của Việt Nam
Quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Nam đã tạo nhiều cơ hội và kênh cho lao động nước ngoài vào Việt Nam Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn thu hút FDI Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực là một trong những rào cản Việt Nam đang phải đối mặt khi thu hút và hấp thụ các nguồn FDI chất lượng Đây đồng thời cũng là nhân tố để Việt Nam thu hút nguồn lao động có kỹ năng từ bên ngoài
3.2.2 Nhân tố về thực trạng về sử dụng và nhu cầu với lao động có kỹ năng
Những dự báo hiện nay về thị trường lao động Việt Nam cho thấy xu hướng việc làm cho thấy giai đoạn 2025-2030 sẽ thiếu hụt lực lương lao động có kỹ năng trong một
số ngành nghề, đặc biệt những ngành nghề ứng dụng khoa học công nghệ
3.2.3 Nhân tố về chất lượng môi trường thể chế và các điều kiện thu hút lao động nước ngoài
Môi trường thể chế ở Việt Nam tương đối hoàn thiện và bao quát toàn bộ quá trình
di cư của người lao động nước ngoài, xác định rõ đối tượng là lao động nước ngoài vào Việt Nam phải là có kỹ năng và định hướng trong chính sách là cần thu hút nhóm đối tượng này Rà soát chính sách và bổ máy tổ chức thực hiện đối với lao động nước ngoài
có kỹ năng vào Việt Nam có thể thấy hiện nay chúng ta mới dừng ở quản lý chứ chưa thực sự thu hút và tạo ưu đãi đặc biệt
Trang 9CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ THU HÚT
LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI CÓ KỸ NĂNG VÀO VIỆT NAM
4.1 Mô hình phân tích thực nghiệm các nhân tố thu hút lao động nước ngoài có kỹ
năng vào Việt Nam
Mô hình lý thuyết phân tích thực nghiệm của luận án được dựa trên mô hình lý
thuyết mở rộng trên cơ sở các nghiên cứu về mô hình di cư của Clark & cộng sự (2007);
Hatton & Williamson (2002) và Gross & Schimitt (2002) Trong mô hình lý thuyết đã
xây dựng trước đó, tác giả nhấn mạnh rằng việc lao động di cư quốc tế vào một quốc gia
ở từng nhóm kỹ năng sẽ phụ thuộc vào các việc so sánh đặc trưng của nơi đến (bao gồm
cả thu nhập và sự khác biệt liên quan tới lao động di cư có kỹ năng) và chi phí của việc
di cư Các vấn đề này bị tác động bởi các yếu tố liên quan tới những đặc trưng kinh tế,
thể chế, văn hóa và xã hội của quốc gia nhập cư trong việc thu hút lao động di cư quốc
tế, đặc biệt là lao động có kỹ năng, và sự khác biệt trong phân phối thu nhập, hay các vấn
đề liên quan tới chi phí nhập cư Mô hình lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của mức độ
hội nhập quốc tế hay độ mở của của nền kinh tế, thể chế kinh tế xã hội, và các đặc trưng
của địa phương tại Việt Nam Trong quá trình xây dựng mô hình tác giả đã điều chỉnh và
sử dụng các thước đo phù hợp và cố gắng đưa vào mô hình nhiều nhân tố dựa trên dữ
liệu có sẵn Nỗ lực này nhằm cung cấp một phân tích đầy đủ về các nhân tố ảnh hưởng
tới dòng di cư của lao động quốc tế, đặc biệt là nhóm lao động có kỹ năng tới Việt Nam
Mô hình thực nghiệm được xây dựng như sau:
1,2 4+ 3671,2+ 3891,2+ 3:;1,2+ 3<=>1,2+ 3?@1,2+ 3ABC1,2+
3DC1,2+ 3E=F1,2+ 3G=F1,2+ 364H;1,2+ 3669;1,2+ 368C91,2+ I1,2, (4)
Mô hình được sử dụng trong Luận án sau khi đã loại bỏ các biến được mô tả như sau: 1,2 4+ 36=F1,2+ 3891,2+ 3:9;1,2+ 3<F1,2+ I1,2, (5)
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng một mô hình phụ, tập trung hơn vào các nhân tố hút phản ánh đặc điểm kinh tế vùng liên quan tới thu hút lao động nước ngoài để đánh giá bổ sung các nhân tố ảnh hưởng tới lao động nước ngoài vào Việt Nam Phân tích bổ sung này sẽ góp phần giúp đánh giá một cách toàn diện hơn nữa về các nhân tố hút tác động tới lao động nước ngoài vào Việt Nam Đối với bốn vị trí việc làm của lao động nước ngoài vào Việt Nam, tác giả sử dụng mô hình dành cho bốn vị trí việc làm này như sau: J1,2 46+ 366=F1,2+ 38691,2+ 3:69;1,2+ 3<6F1,2+ I1,2, (6)
K1,2 48+ 368=F1,2+ 38891,2+ 3:89;1,2+ 3<8F1,2+ I1,2, (7)
K1,2 4:+ 36:=F1,2+ 38:91,2+ 3::9;1,2+ 3<:F1,2+ I1,2, (8)
"L1,2 4<+ 36<=F1,2+ 38<91,2+ 3:<9;1,2+ 3<<F1,2+ I1,2, (9)
Bên cạnh mô hình phân tích ở trên, tác giả cũng tiến hành xây dựng thêm mô hình bao gồm các yếu tố khác trong phân tích đánh giá vai trò của chúng tới bốn vị trí việc làm của lao động nước ngoài vào Việt Nam như sau: 1,2 4+ M671,2+ M89N1,2+ M:BC1,2+ M<O1,2+ M?C11,2+ MAC21,2+ MDF1,2+ I1,2, (10)
Đối với bốn vị trí việc làm của lao động nước ngoài vào Việt Nam, tác giả sử dụng mô hình dành cho bốn vị trí việc làm này như sau: J1,2 46+ R6671,2+ R869N1,2+ R:6BC1,2+ R<6O1,2+ R?6C11,2+ RA6C21,2+ RD6F1,2+ I1,2 (11)
K1,2 48+ R6871,2+ R889N1,2+ R:8BC1,2+ R<8O1,2+ R?8C11,2+ RA8C21,2+ RD8F1,2+ I1,2 (12)
J1,2 4:+ R6671,2+ R8:9N1,2+ R::BC1,2+ R<:O1,2+ R?:C11,2+ RA:C21,2+ RD:F1,2+ I1,2 (13)
"L1,2 4<+ R6<71,2+ R8<9N1,2+ R:<BC1,2+ R<<O1,2+ R?<C11,2+ RA<C21,2+ RD<F1,2+ I1,2 (14)
Bảng 4.1 Tóm tắt thông tin các biến sử dụng trong mô hình
Biến phụ
1,2
Log của số lượng lao động nước ngoài có
kỹ năng vào các tỉnh thành của Việt Nam LĐTBXH Bộ 223 5,61 1,89 0,00 9,96
J 1,2 Log của số lượng lao động nước ngoài
có kỹ năng làm việc tại vị trí quản lý tại các tỉnh thành của Việt Nam
Bộ LĐTBXH 118 3,71 1,96 0,00 7,91
K1,2 Log của số lượng lao động nước ngoài có
kỹ năng làm việc tại vị trí giám đốc điều hành tại các tỉnh thành của Việt Nam
Bộ LĐTBXH 115 3,45 1,93 0,00 7,37
K1,2 Log của số lượng lao động nước ngoài
có kỹ năng làm việc tại vị trí chuyên gia tại các tỉnh thành của Việt Nam
Bộ LĐTBXH 125 5,10 2,04 0,00 9,63
"L 1,2 Log của số lượng lao động nước ngoài
có kỹ năng làm việc tại vị trí lao động
kỹ thuật tại các tỉnh thành của Việt Nam
Bộ LĐTBXH 123 4,55 1,82 0,00 8,44
Biến độc lập Mô tả biến Nguồn dữ liệu count mean sd min max
=F 1,2 Log của số lượng vốn FDI chảy vào các tỉnh thành của Việt Nam
GSO 223 3,52 2,11 0,00 8,30
9 1,2 Log của số lượng lao động thất nghiệp tại các tỉnh thành của Việt Nam GSO 223 0,62 0,60 -1,47 2,24
9; 1,2 Log của tỷ lệ dân số thuộc khu vực thành thị tại các tỉnh thành của Việt Nam GSO 223 3,23 0,51 2,28 4,47
7 1,2 Log của mức thu nhập bình quân tại các tỉnh thành của Việt Nam GSO 223 8,06 0,58 0,74 8,91
BC 1,2 Log của số lượng lao động trẻ từ 15-24 tuổi tại các tỉnh thành của Việt Nam GSO 223 13,48 0,58 10,88 15,37
O 1,2 Log của tổng số dân số tại các tỉnh thành của Việt Nam GSO 223 14,02 0,58 12,64 16,04
C1 1,2 Log của tổng số lao động làm lãnh đạo GSO 223 8,72 1,17 1,20 16,07
C1 1,2 Log của tổng số lao động làm lao động
kỹ thuật GSO 223 9,84 2,53 -4,20 13,04 PCI Chỉ số PCI đo lường năng lượng cạnh
tranh cấp tỉnh 223 62,93 3,58 52,99 75,09
Nguồn: Tính toán của NCS
Trang 10Bảng 4.2 Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình
LDC LFDI LU LUR LW LYE LPOP LPOP LSE1 LSE2
1
=F 0,809 *** 1
9 -0,0662 -0,132 1 0,0159 -0,0833 1
9; 0,233 ** 0,285 *** 0,0159 1 0,0159
7 0,721 *** 0,664 *** -0,0833 0,619 *** 1 -0,0833
BC 0,578 *** 0,547 *** -0,0496 0,202 * 0,463 *** -0,0496 1
O 0,559 *** 0,496 *** -0,0633 0,242 ** 0,477 *** -0,0633 0,989 *** 1
C1 0,195 * 0,164 * -0,108 0,195 * 0,192 * -0,108 0,326 *** 0,341 *** 1
C2 0,0412 0,172 * 0,192 * 0,414 *** 0,256 ** 0,192 * 0,351 *** 0,357 *** 0,0286 1
PCI 0,233 ** 0,104 0,00559 0,334 *** 0,404 *** 0,00559 0,215 ** 0,240 ** 0,0374 0,160
Nguồn: Tính toán của NCS
Bên cạnh việc sử dụng mô hình hiệu ứng cố định và hiệu ứng thay đổi để đánh giá
tác động của các nhân tố hút ảnh hưởng tới lao động nước ngoài vào Việt Nam, tác giả
cũng tham khảo thêm các nghiên cứu trước đó của Beck & Katz (1995) và Canh & cộng
sự (2019) đối với dữ liệu mảng có sự phụ thuộc giữa các nhóm, và sử dụng mô hình sai
số chuẩn đã hiệu chỉnh (PCSE) Ngoài ra, tác giả áp dụng phương pháp Bình phương nhỏ
nhất tổng quát khả thi (FGLS) để giải quyết vấn đề phương sai sai số thay đổi (Sweet &
Eterovic, 2019) được trình bày trong phương trình 5-10 từ đó giúp tác giả xác nhận tính
chính xác của các kết quả trong luận án Các mô hình này được đánh giá là phù hợp đối
với dữ liệu mảng về 63 tỉnh trong giai đoạn 2015-2020 Ngoài ra, để xem xét tác động
ngắn hạn và dài hạn, luận án áp dụng mô hình ARDL (Autoregressive Distributed Lag)
được phát triển bởi Pesaran & Smith (1995) Trong mô hình này, tác động cố định dạng
động (DFE) được sử dụng vì mô hình có thể xử lý các vấn đề liên quan tới sự tồn tại của
hiệu ứng cố định thời gian và cố định quốc gia (Pesaran & cộng sự, 1999)
4.2 Kết quả từ mô hình phân tích thực nghiệm
Đối với lao động nước ngoài có kỹ năng vào Việt Nam
Trong điều kiện ước lượng mô hình ảnh hưởng cố định và ảnh hưởng ngẫu nhiên
dành cho mô hình ước lượng các nhân tố ảnh hưởng tới lao động di cư quốc tế nói chung
tới Việt Nam, số lượng vốn FDI là nhân tố hút quan trọng trong việc tác động tới quyết
định của lao động nước ngoài vào Việt Nam với kết quả hệ số ước lượng dương và đều
có ý nghĩa thống kê Kết quả tương tự được ghi nhận đối với môi trường thể chế cũng
được ghi nhận là có tác động lên lao động nước ngoài vào Việt Nam Ngược lại, kết quả
ước lượng tác động của các biến độc lập khác, bao gồm: số lượng thất nghiệp và tỷ lệ
người dân sống tại khu vực thành thị, trong mô hình xây dựng lên lao động nước ngoài
vào Việt Nam không mang ý nghĩa thống kê
Khi tiến hành ước lượng mô hình các nhân tố hút tác động tới lao động nước ngoài
vào Việt Nam theo vùng, kết quả thu được cho thấy FDI có tác động lên lao động nước
ngoài vào Việt Nam tại cả 6 vùng Trong đó, tác động lên vùng Đồng bằng sông Hồng là
lớn nhất Điều đó có nghĩa rằng, khi dòng vốn FDI gia tăng thì LDC tăng nhiều nhất tại
vùng này Biến môi trường thể chế cũng cho thấy vai trò quan trọng của mình nhưng biến
này chỉ có ý nghĩa thống kê tại hai vùng
Trong mô hình ước lượng đánh giá tác động của sự thay đổi trong môi trường thể chế, kết quả thu được cho thấy tác động của FDI lên lao động nước ngoài vào Việt Nam trong môi trường thể chế đều có ý nghĩa thống kê và dương Kết quả ước lượng ghi nhận tác động của FDI lên lao động nước ngoài vào Việt Nam trong môi trường chi phí không chính thức là nhỏ nhất Khi môi trường thể chế thay đổi, tác động của các biến độc lập về số lượng thất nghiệp, tỷ lệ người dân sống tại khu vực thành thị và chất lượng thể chế lên lao động nước ngoài vào Việt Nam hầu hết đều không có ý nghĩa thống
kê Kết quả mô hình liên quan tới vai trò của FDI (đại diện cho mức độ hội nhập quốc tế tại các địa phương) là tương đồng với các kết quả nghiên cứu trước đây như Lindsay và Findlay (2010) Sự gia tăng của toàn cầu hóa tạo ra các mô hình mới về đầu tư quốc tế và trao đổi kỹ năng Mặc dù những xu hướng này ban đầu có thể mang lại lợi ích cho các nước phát triển, nhưng vẫn tồn tại những ví dụ sẵn sàng về các nước đang phát triển tham gia và hưởng lợi từ thương mại dịch vụ quốc tế (Findlay and Warren, 2000)
Trong mô hình đánh giá các nhân tố bổ sung có thể tác động tới lao động nước ngoài vào Việt Nam được tác giả xây dựng, các vấn đề về thể chế và tác động của các nhân tố tới quyết định của người lao động nhập cư quốc tế theo mẫu phụ của từng vùng của Việt Nam đã được tiến hành xem xét Trong đó, đối với các vấn đề về thể chế, kết quả biến thu nhập trung bình tại các tỉnh tác động lên quyết định của người lao động di
cư quốc tế được xem xét 5 khía cạnh khác nhau phản ánh chất lượng của môi trường thể chế ở từng địa phương thu được giá trị riêng và có ý nghĩa thống kê trong cả 6 mô hình Tác động của thu nhập trung bình tại các tỉnh lên lao động nước ngoài vào Việt Nam trong mô hình xem xét ảnh hưởng của chính sách đào tạo lao động tốt là lớn nhất (1.739) Điều này có nghĩa rằng, khi xem xét hiệu quả của chính sách đào tạo lao động tốt, thu nhập trung bình tại các tỉnh tăng thì lao động nước ngoài vào Việt Nam tăng nhiều hơn so với các môi trường còn lại Các biến độc lập còn lại trong bảng tác động lên lao động nước ngoài vào Việt Nam hầu hết đều không có ý nghĩa thống kê Kết quả sử dụng mô hình kiểm định sai số chuẩn đa hiệu chỉnh (PCSE) cho thấy biến số lượng vốn FDI tác động lên lao động nước ngoài vào Việt Nam đều có ý nghĩa thống kê tại 1% và có kết quả dương gần tương tự nhau Kết quả kiểm định thu được thông qua mô hình bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) chỉ ra rằng khi có tác động của các vấn đề thể chế, ảnh hưởng của FDI lên lao động nước ngoài vào Việt Nam là dương vào có ý nghĩa thống kê tại 1% Tương tự, khi môi trường thể chế thay đổi, chất lượng thể chế cũng ảnh hưởng dương lên lao động nước ngoài vào Việt Nam Tuy nhiên, ảnh hưởng của chất lượng thể chế là nhỏ hơn so với ảnh hưởng của FDI (kết quả kiểm định chỉ có ý nghĩa thống kê tại 5%) Bên cạnh các vai trò của FDI, các kết quả liên quan tới các nhân tố thuộc nhóm nhân khẩu học cũng khá tương đồng với các nghiên cứu trước đây như mật độ dân số, như kết quả của Lutz và Skirbekk (2005) tại Châu Âu, hoặc lực lương lao động có kỹ năng như Kent (2011) và Makekoff (2013) Các kết quả của mô hình khác nhau sử dụng trong Luận án được đánh giá là khá thống nhất với các nghiên cứu khác, đặc biệt là trong nghiên cứu của Gross và Schmitt (2012) khi đánh giá các yếu tố tác động tới di cư quốc tế có kỹ năng tới Pháp
Trong ước lượng đánh giá và phân biệt tác động của các nhân tố hút trong ngắn hạn và dài hạn tới lao động nước ngoài vào Việt Nam, yếu tố FDI và chất lượng môi trường thể chế
... TÍCH CÁC NHÂN TỐ THU HÚTLAO ĐỘNG NƯỚC NGỒI CĨ KỸ NĂNG VÀO VIỆT NAM
4.1 Mơ hình phân tích thực nghiệm nhân tố thu hút lao động nước ngồi có kỹ
năng vào. .. cư, mà nghiên cứu
Việt Nam Điều có nghĩa lao động nước ngồi có kỹ vào Việt Nam phải thấy
thu nhập mức lương Việt Nam tương đối thu hút, người lao
động có động di cư vào Việt. .. MÔ 3.1 Thực trạng lao động nước ngồi có kỹ vào Việt Nam
Lao động nước vào Việt Nam tăng dần tiếp tục tăng mạnh thời gian tới Lao động nước ngồi có kỹ vào làm việc Việt Nam chủ yếu