2 ĐỀ TÀI VACCINE BỆNH DẠI MỤC LỤC I TỔNG QUAN 5 1 Lịch sử bệnh dại 5 2 Lịch sử vaccine dại 5 II BỆNH DẠI 6 1 Khái niệm 6 2 Phân loại 6 3 Nguồn bệnh 7 4 Dấu hiệu và triệu chứng 7 4 1 Ở người 7 4 2 Ở ch.
Trang 2MỤC LỤC
I TỔNG QUAN 5
1 Lịch sử bệnh dại: 5
2 Lịch sử vaccine dại: 5
II BỆNH DẠI 6
1 Khái niệm 6
2 Phân loại 6
3 Nguồn bệnh 7
4 Dấu hiệu và triệu chứng 7
4.1 Ở người 7
4.2 Ở chó 7
4.2.1 Thể điên 7
4.2.2 Thể bại liệt 8
III VIRUS BỆNH DẠI 8
1 Cấu trúc và đặc điểm của virus dại 8
2 Phân loại virus dại 9
3 Con đường lây nhiễm 10
4 Quá trình xâm nhập 10
5 Đặc điểm kháng nguyên 11
Trang 3IV Vaccine bệnh dại 12
1 Tác nhân sinh kháng thể 12
1.1 Đáp ứng miễn dịch dịch thể: 12
1.2 Đáp ứng miễn dịch tế bào: 13
2 Đặc điểm kháng thể 13
3 Phản ứng với các tác nhân lý hóa: 13
4 Phân loại 14
5 Cơ chế phòng bệnh bệnh dại bằng vaccin 14
6 Phòng ngừa bệnh 14
6.1 Trước khi tiếp xúc với bệnh dại 14
6.2 Sau khi tiếp xúc 15
V KẾT LUẬN: 16
VI TÀI LIỆU THAM KHẢO: 16
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hiện nay, cả nước có hơn 7,7 triệu con chó nuôi và hơn 3,8 triệu hộ nuôi chó Tuy nhiên, sô chó được tiêm phòng vắc-xin dại chỉ đạt hơn 2,9 triệu con, chiếm tỷ lệ 41% tổng đàn Tình trạng chó thả rông vẫn còn diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương
Các chuyên gia của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cảnh báo, qua theo dõi bệnh dại trong nhiều năm, điểm đáng lưu ý là 15 - 20% ca bệnh tử vong do nạn nhân tự ý điều trị bằng thuôc nam, chỉ đến khi phát bệnh mới đưa đến cơ sở y tế nên không thể cứu chữa Vì thế, người dân không được chủ quan khi bị chó, mèo cắn hoặc có vết xước, rách da khi chơi đùa, tiếp xúc với các loài động vật này
Tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương, mỗi năm, bệnh viện ghi nhận khoảng hơn 10 ca bị chó dại cắn, nhưng không tiêm dự phòng vaccine mà lại tìm thầy lang để điều trị và được tư vấn
là không phải bị dại Những ca bệnh này khi đến bệnh viện thì đã lên cơn dại và không thể cứu chữa
NDĐT - Ông Đặng Quang Tấn, Phó Cục trưởng Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế) cho biết, bệnh dại ở Việt Nam có chiều hướng tăng cao trở lại, với sô ca tử vong năm sau cao hơn năm trước Nếu như năm 2016 cả nước có 91 ca tử vong do bệnh dại (tăng 17% so với năm 2015
và tăng 38% so với năm 2014) thì riêng chín tháng năm 2017 đã có 57 ca tử vong do bệnh dại (năm 2017)
Mặt khác, dù chó đã được tiêm vaccine, nhưng khi cắn người vẫn không thể khẳng định là
vô hại và người bị chó cắn vẫn phải đi tiêm vaccine Vì thế, vaccine dại cho người vẫn đang được quan tâm phát triển và sử dụng ở châu Á
Xuất phát từng lý do trên đây nên chúng tôi quyết định tìm hiểu về vaccine phòng ngừa bệnh dại
Trang 5I TỔNG QUAN
1 Lịch sử bệnh dại:
Từ hàng nghìn năm TCN, những người thầy thuôc cổ phương đông đã viết về một căn bệnh tương tự bệnh dại – bệnh sợ nước, sợ gió (Hydrophobia) mà người và chó mắc phải Bệnh dại cũng đã được người da đỏ, người Slavơ, người Ả Rập và người Do Thái cổ biết tới trong
y văn
Bệnh dại gây ra khoảng 17.400 người chết trên toàn thế giới trong năm 2015 Hơn 95% sô người chết vì bệnh dại xảy ra ở Châu Phi và Châu Á Khoảng 40% trường hợp tử vong xảy
ra ở trẻ em dưới 15 tuổi Bệnh dại có ở hơn 150 quôc gia và có mặt trên tất cả các châu lục, trừ Nam Cực Nhiều hơn 3 tỷ người sông ở các khu vực trên thế giới có bệnh dại Một sô quôc gia, bao gồm Úc và Nhật Bản, cũng như phần lớn Tây Âu, không có bệnh dại ở chó Nhiều hòn đảo ở Thái Bình Dương hoàn toàn không có bệnh dại Bệnh này được xếp vào loại bệnh nhiệt đới bị lãng quên
2 Lịch sử vaccine dại:
Vaccine bệnh dại là một loại vaccine sử dụng để ngăn ngừa bệnh dại Có một sô loại vaccine
có sẵn an toàn và hiệu quả Vaccine có thể được sử dụng để ngăn ngừa bệnh dại trước và trong một khoảng thời gian sau khi tiếp xúc với virus dại từ chó hoặc dơi cắn Khả năng miễn dịch phát triển lâu dài sau khi được tiêm chủng đầy đủ Vaccine được tiêm qua da hoặc cơ Sau khi tiêm chủng tiếp xúc thường được sử dụng cùng với immunoglobulin bệnh dại Những người có nguy cơ phơi nhiễm cao được khuyến cáo nên chủng ngừa trước Vaccine có hiệu quả ở người và các động vật khác Chủng ngừa cho chó rất hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự lây lan bệnh dại sang người
Vaccine bệnh dại có thể sử dụng an toàn ở mọi lứa tuổi Khoảng 35 đến 45 phần trăm sô người sau một thời gian ngắn có đỏ và đau tại chỗ tiêm Khoảng 5 đến 15 phần trăm có thể
bị sôt,đau đầu hoặc buồn nôn Không chông chỉ định trường hợp sau khi đã phơi nhiễm bệnh dại Hầu hết các vaccine không chứa thimerosal Vaccine chế từ mô thần kinh được sử dụng
ở một sô nước, chủ yếu ở châu Á và châu Mỹ Latin, nhưng kém hiệu quả hơn và có tác dụng
Trang 6phụ lớn hơn Do đó, việc sử dụng loại vaccine này không được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến nghị
Vaccine bệnh dại đầu tiên được giới thiệu vào năm 1885, và tiếp theo là một phiên bản cải tiến vào năm 1908 Hàng triệu người trên toàn cầu đã được chủng ngừa và ước tính đã cứu hơn 250.000 người mỗi năm Nó nằm trong Danh sách các loại thuôc thiết yếu của Tổ chức
Y tế Thế giới, các loại thuôc hiệu quả và an toàn nhất cần thiết trong một hệ thông y tế Chi phí thị trường ở các nước đang phát triển từ 44 đến 78 USD cho một đợt điều trị tính đến năm 2014 Tại Hoa Kỳ, một vaccine dại trị giá hơn 750 USD
II BỆNH DẠI
1 Khái niệm
Bệnh dại là bệnh do virus dại (rabies virus) gây nên Bệnh dại có thể gặp ở tất cả động vật có
vú Đây là một bệnh truyền nhiễm virus cấp tính của hệ thần kinh trung ương dẫn đến tử vong chắc chắn Bệnh dại do lyssavirus gây ra, bao gồm virus dại và virus lyssa dơi của
Úc Bệnh lây truyền chủ yếu do các chất tiết bị nhiễm, thường do vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại khác, kể cả con người Nước dãi của động vật bị dại cũng có thể truyền bệnh dại nếu tiếp xúc với mắt, miệng hoặc mũi Chó là động vật bị dại phổ biến nhất Hơn 99% các trường hợp mắc bệnh dại ở các quôc gia là do bị chó dại cắn Ở châu Mỹ, dơi cắn là nguồn lây nhiễm bệnh dại phổ biến nhất ở người và ít hơn 5% trường hợp là do chó Loài gặm nhấm rất hiếm khi bị nhiễm bệnh dại Bệnh này chỉ có thể được chẩn đoán sau khi bắt đầu có các triệu chứng
3 Phân loại
Có 2 dạng dịch bệnh dại:
• Bệnh dại từ động vật nuôi như chó mèo: trên thế giới có khoảng 35.000 - 50.000 ca bệnh dại ở người, chủ yếu ở các nước đang phát triển, phần lớn là do chó dại cắn
• Bệnh dại tự nhiên: Là bệnh do động vật hoang dại truyền Các nước Âu Mỹ có chương trình kiểm soát bệnh dại ở động vật nuôi hiệu quả nên rất ít gặp bệnh dại do chó cắn
Trang 74 Nguồn bệnh
Bệnh dại là bệnh viêm não tủy cấp tính do vi rút, lây truyền từ động vật sang người chủ yếu qua vết cắn của động vật mắc bệnh Bệnh thường lưu hành ở các nước thuộc khu vực châu Á
và châu Phi
Tại Việt Nam, bệnh dại lưu hành ở nhiều địa phương với nguồn truyền bệnh chính là chó Bệnh lây truyền chủ yếu qua vết cắn hoặc vết cào, liếm của động vật bị dại lên trên da bị tổn thương
5 Dấu hiệu và triệu chứng
5.1 Ở người
Khoảng thời gian từ khi đã nhiễm trùng và các triệu chứng đầu tiên (thời gian ủ bệnh) thường là 1 đến 3 tháng ở người Khoảng thời gian này có thể ngắn khoảng 4 ngày hoặc dài hơn 6 năm, tùy thuộc vào vị trí và mức độ nghiêm trọng của vết thương và lượng vaccine đưa vào Các triệu chứng ban đầu của bệnh dại thường không đặc hiệu như sôt và nhức đầu Khi bệnh dại tiến triển và gây viêm não và màng não, các triệu chứng có thể bao gồm tê liệt nhẹ hoặc một phần, lo lắng, mất ngủ, lú lẫn, kích động, hành vi bất thường, hoang tưởng, kinh hoàng và ảo giác Người bệnh cũng có thể sợ nước
Các triệu chứng cuôi cùng tiến triển thành mê sảng và hôn mê Tử vong thường xảy ra từ 2 đến 10 ngày sau khi có triệu chứng đầu tiên Khả năng sông sót của người bệnh hầu như không có khi các triệu chứng đã xuất hiện, ngay cả khi được chăm sóc đặc biệt
5.2 Ở chó
5.2.1 Thể điên
Sau thời gian ủ bệnh chó lên cơn điên dữ dội: mắt đỏ ngầu, chảy dãi như bọt xà bông quanh mép, không còn cảm giác, lao vào mọi người kể cả chủ nó và các con vật khác để cắn xé Thời kỳ này chó bỏ ăn hoặc nhai nuôt tất cả vật gì mà nó gặp trên đường đi Chó sủa có tiếng khàn khàn hoặc rú lên từng hồi ghê rợn khác hẳn với trạng thái bình thường Vài ngày sau đó chó bỏ nhà đi hoặc rúc vào bờ bụi, xó tôi và chết trong trạng thái gầy rạc, kiệt sức, bại liệt vơí những vết thương rớm máu trên thân thể do tự cắn xé Bệnh tiến triển trong vòng
2-5 ngày chó suy kiệt rồi chết
Trang 85.2.2 Thể bại liệt
Đầu tiên chó thể hiện các trạng thái bất thường: ngơ ngác, bồn chồn, đi lại, ăn ít hoặc bỏ ăn Sau đó chó lặng lẽ chui vào một xó tôi nằm im, do đó gọi là thể dại im lặng hoặc thể dại câm, khác hẳn với thể điên cuồng Vài ngày sau, chó bị liệt chân, liệt hàm, không thể há mồm ra được nhưng nước dãi vẫn chảy quanh mép như bọt xà phòng Sau khi phát bệnh từ 3 -5 ngày, chó chết trong trạng thái bại liệt hoàn toàn Thể này rất nguy hiểm vì người ta không nghĩ đến bệnh dại và mấy ngày đầu chó có thể cắn chủ nhà khi đến chăm sóc nó Thể bại liệt chiếm 20 - 30% sô chó bị bệnh dại
III VIRUS BỆNH DẠI
1 Cấu trúc và đặc điểm của virus dại
Virus Rhabdo là những tiểu thể hình viên đạn, kích thước lớn khoảng 75 x 180 nm Virus có màng lipoprotein bọc ngoài, trên bề mặt có các gai dài 10 nm, nhô ra tạo bề mặt lồi lõm đều đặn Các peplomer (gai) gồm các trimer của glycoprotein virus Bên trong màng bọc là ribonuleocapsid Bộ gen là 1 sợi đơn RNA thẳng không phân đoạn cực tính âm, trọng lượng phân tử 4,6 triệu, 12kb Các virion chứa RNA polymerase phụ thuộc RNA Thành phần cấu tạo hóa học của virus gồm có 4% RNA, 67% protein, 26% lipit và 3% carbohydrate
ARN một sợi âm có hình dáng lượn sóng, bao quanh có lớp capsid và lớp envelop chứa protein Chiều dài của hạt vừa dao động trong khoảng 140-300 nm, đường kính khoảng 70
nm
Trang 96 Phân loại virus dại
Họ Rhabdoviridae gồm hơn 200 loại virus phân bô rộng rãi trong thiên nhiên, nhiễm cho động vật có xương sông và động vật không xương sông và thực vật Nhiều côn trùng bị nhiễm rhabo nhưng không có virus dại Họ Rhabdoviridae gây nhiễm cho động vật có vú, kể
cả người được chia làm 2 giông: giông Vesiculovirus gây viêm miệng có mụn nước và giông Lyssavirus với khoảng 80 virus khác nhau
Dựa vào tính chất sinh học, virus dại được chia thành hai loại:
• Virus dại "đường phô" hay còn gọi là virus dại hoang dại: là các dòng virus mới được phân lập trực tiếp từ con vật bị nhiễm Các dòng virus này cho thời kỳ ủ bệnh dài và thay đổi (21-60 ngày ở loài chó), tạo thể vùi trong bào tương, khả năng gây bệnh cao
• Virus dại cô định: Là dòng virus đã được cấy truyền liên tiếp trong não thỏ; qua hơn
50 lần cấy truyền Virus cô định (virus đột biến) nhân lên rất nhanh và thời kỳ ủ bệnh rất ngắn chỉ còn khoảng 4-6 ngày, gây bệnh cảnh dại bại liệt cho động vật nhưng mất khả năng gây bệnh cho người, được xử lý để sản xuất vaccine phòng bệnh
Trang 107 Con đường lây nhiễm
Virus dại chủ yếu lây truyền qua các vết cắn, vết liếm vào vết thương của người hoặc một sô động vật khác của động vật mắc bệnh dại Trong một sô ít trường hợp, bệnh có thể lây truyền qua đường hô hấp hoặc do ghép giác mạc Nhiễm bệnh dại từ người qua người rất hiếm gặp Chỉ ghi nhận được trường hợp mắc bệnh dại do truyền qua ghép giác mạc: giác mạc người cho bị chết vì bệnh của hệ thần kinh trung ương không rõ nguyên nhân và người nhận chết vì bệnh dại sau 50-80 ngày Về mặt lý thuyết, bệnh dại có thể khởi đầu từ nước bọt bệnh nhân sang người tiếp xúc, nhưng trên thực tế chưa bao giờ ghi nhận được cách truyền bệnh này
8 Quá trình xâm nhập
Glycoprotein với các cấu trúc "gai" bề mặt đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiếp cận
và tương tác với tế bào chủ Sau khi gắn được với bề mặt tế bào, virus xâm nhập nhờ các
"bọng" được hình thành từ lớp màng tế bào chủ bao bọc lấy virus để đưa virus vào tế bào chất (pinocytosis) Lớp màng bao của virus hợp nhất với màng của các bào quan dẫn đến quá trình giải phóng lõi virus trong nguyên sinh chất của tế bào (quá trình cởi áo virus) Sau khi được giải phóng, RNA của virus bắt đầu quá trình tổng hợp các mRNA (bước khởi đầu cho quá trình nhân lên trong tế bào chủ) Polymerase của virus tiến hành sao mã phần leader sequence và mRNA của các loại protein Quá trình giải mã để tổng hợp các protein của virus được tiến hành tại các ribosome của tế bào quá trình lắp ráp, phức hợp N-P-L gói lấy RNA virus hình chủ (các glycoproteiin được hoàn thiện tại các ty thể và mạng lưới golgi nội bào) Tỷ lệ đoạn trình tự lãnh đạo (leader strand) và protein N là "công tắc" điều khiển quá trình nhân lên của virus Khi "công tắc" này được bật, bộ gene của virus bắt đầu được sao
mã (bước khởi đầu là tạo bản sao của toàn bộ các gene, các "stop-codon" và "nonstop-codon" được bỏ qua)
Polymerase của virus tác động từ một ví trí đơn tại đầu 3' và bắt đầu cho quá trình tổng hợp mạch dương Các mạch dương trở thành khuôn cho quá trình tổng hợp toàn bộ bộ gene Trong thành "lõi" virus và protein M (matrix protein) hình thành lớp bao xung quanh lõi Tiếp theo, Cấu trúc M-RNP kết hợp với glycoprotein tạo các virion hoàn chỉnh Các virion
Trang 11thoát ra khỏi màng tế bào chủ (đặc biệt là khả năng thoát khỏi màng các tế bào thần kinh thuộc hệ thần kinh trung ương (central nervous system; CNS) Trong các tuyến nước bọt (salivary glands), các virion thoát khỏi màng tế bào vào các túi tuyến (acinar lumen)
Virus nhân lên ở bào tương, các virion nẩy chồi từ màng bào tương tế bào ký sinh chủ Virus dại tấn công vào các thụ thể acethylcholin trên bề mặt tế bào qua các gai glycoprotein Polymerase RNA của virion sao chép bộ gen sợi đơn RNA thành 5 loại RNA thông tin (mRNA) Bộ gen RNA nằm trong ribonucleoprotein (RNP), được protein N bao quanh chứa các gen sao chép Các mRNA mã hóa cho 5 protein của virion: nucleocapsit (N), protein của polymerase (L,P), chất đệm (M) và glycoprotein (G) RNP của bộ gen làm khuôn mẫu cho RNA sợi dương bổ sung, tạo ra các RNA con cháu có cực tính âm Các protein virus đóng vai trò như polymerase cho virus nhân lên vào sao chép Sự dịch mã cần thiết cho virus nhân lên, đặc biệt là cho protein N và P, RNA mới được nhân lên kết hợp với transcriptase
và nucleprotein của virus để tạo lõi RNP trong bào tương Các hạt virus có được màng bao bọc trong lúc nẩy chồi qua màng bào tương Protein đệm của virus tạo 1 lớp ở mặt ngoài và tạo các gai virus
9 Đặc điểm kháng nguyên
Virus dại có một kiểu kháng nguyên duy nhất Tuy nhiên, các dòng virus phân lập từ các loài khác nhau ở các vùng địa lý khác nhau có các epitop trên nucleoprotein và glycoprotein khác nhau Dùng kháng thể đơn dòng hoặc trình tự nucleotid đặc hiệu để xác định những epitop khác nhau Ở Mỹ, đã tìm thấy 5 biến thể kháng nguyên trong động vật sông trên cạn và 8 biến thể khác trong loài dơi
Dùng kháng thể đơn dòng kháng glycoprotein virus để chọn các đột biến không độc của virus dại Vị trí amino acid 333 của glycoprotein mang tính độc đóng vai trò quan trọng trong sinh bệnh học bệnh dại và gây hòa màng tế bào nhiễm virus Các gai virus chứa glycoprotein, tạo kháng thể trung hòa ở động vật Kháng huyết thanh kháng nucleocapsit giúp chẩn đoán bệnh dại bằng phản ứng miễn dịch huỳnh quang