1.3 Nh ững công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể TQM 23 1.4 Khái quát k ết quả nghiên cứu của các công trình
Trang 1H ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
QU¶N Lý §µO T¹O ë C¸C TR¦êNG CAO §¼NG
THUéC TËP §OµN §IÖN LùC VIÖT NAM THEO TIÕP CËN
QU¶N Lý CHÊT L¦îNG TæNG THÓ (TQM)
HÀ N ỘI - 2019
Trang 2H ỌC VIỆN CHÍNH TRỊ
QU¶N Lý §µO T¹O ë C¸C TR¦êNG CAO §¼NG
THUéC TËP §OµN §IÖN LùC VIÖT NAM THEO TIÕP CËN
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi viết trong luận án này là do s ự tìm hiểu và nghiên cứu của bản thân tôi Mọi
k ết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác
n ếu có đều có trích dẫn nguồn gốc cụ thể Các số liệu và
k ết quả nêu trong luận án này chưa được ai công bố trong
b ất kỳ công trình nào
Nguy ễn Huy Dũng
Trang 41.3 Nh ững công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý đào tạo ở các
trường cao đẳng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) 23 1.4 Khái quát k ết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã
công b ố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết 29
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở CÁC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN
nghề theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) 70
Chương 3 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở
CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG THUỘC TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ
3.1 Khái quát về các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện
3.3 Th ực trạng hoạt động đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc
Trang 53.4 Th ực trạng về quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc
T ập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất
3.5 Thực trạng các yếu tố tác động đến hoạt động quản lý đào
t ạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo ti ếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) 111 3.6 Đánh giá chung về thực trạng quản lý đào tạo ở các
trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo
ti ếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) 113
Chương 4 CÁC BIỆN PHÁP VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở CÁC
TRƯỜNG CAO ĐẲNG THUỘC TẬP ĐOÀN ĐIỆN
4.1 H ệ thống các biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao
đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo tiếp cận
4.2 M ối quan hệ giữa các biện pháp trong quản lý đào tạo ở
các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam 144 4.3 Kh ảo nghiệm và thử nghiệm các biện pháp quản lý đào tạo
ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam
theo ti ếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) 145
Trang 6DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT Ch ữ viết đầy đủ Ch ữ viết tắt
1 Cán bộ quản lý CBQL
2 Cơ sở vật chất CSVC
3 Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN
4 Giáo dục và đào tạo GD&ĐT
5 Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) TQM
Trang 7DANH M ỤC CÁC BẢNG
3.1 Đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên ở các trường cao đẳng
3.2 Kết quả xét tuyển 3 năm gần đây của trường cao đẳng
3.3 Kết quả xét tuyển 3 năm gần đây của trường cao đẳng
3.4 Kết quả xét tuyển 3 năm gần đây của trường cao đẳng
3.5 Kết quả đánh giá của sinh viên về tỉ trọng lý thuyết và thực
hành ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam 84 3.6 Kết quả đánh giá của sinh viên về mục tiêu, nội dung
chương trình đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập
3.7 Kết quả đánh giá về hoạt động giảng dạy của giảng viên ở
các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam
3.8 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên thực
trạng công tác phối hợp các hoạt động đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện nay 87 3.9 Kết quả đánh giá cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở
các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam
3.10 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về chất
lượng nghiên cứu khoa học, kiểm tra chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam 89 3.11 Kết quả đánh giá chất lượng đào tạo sinh viên tốt nghiệp 91 3.12 Kết quả đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên
về tầm quan trọng và mức độ thực hiện các nội dung quản
lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực
3.13 Kết quả đánh giá của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên
thực hiện về nội dung quản lý đào tạo ở các trường cao
3.14 Đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về kết quả xây
dựng kế hoạch chiến lược, chính sách chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam 97 3.15 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về công
tác tuyển sinh ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện
Trang 83.16 Kết quả đánh giá về tổ chức tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và
bồi dưỡng của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam hiện nay 100 3.17 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về xây
dựng chương trình đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc
3.18 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về cơ sở
vật chất ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực
3.19 Kết quả tổ chức hoạt động đào tạo của cán bộ quản lý và
giảng viên ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực
3.20 Kết quả kiểm tra đánh giá về hoạt động học tập của sinh viên ở
các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam 105 3.21 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý và giảng viên về sinh
viên tốt nghiệp ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện
3.22 Kết quả đánh giá xây dựng môi trường văn hóa chất
lượng ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực
3.23 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về hoạt
động nghiên cứu khoa học, kiểm tra chất lượng đào tạo ở
các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam
3.24 Kết quả kiểm tra của cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên
về đánh giá quá trình quản lý đào tạo ở các trường cao
3.25 Kết quả đánh giá của cán bộ quản lý tham gia về các yếu
tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng
4.1 Tổng hợp ý kiến về tính cần thiết của các biện pháp 147
4.3 Tính tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của
4.6 Phân bố (tần suất, tần suất tích lũy) về điểm của nhóm đối
Trang 9DANH M ỤC CÁC SƠ ĐỒ
DANH M ỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 4.1 Biểu đồ tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi
của các biện pháp 150
2 4.2 Phân bố tần suất (f) 158
3 4.3 Phân bố tần suất (f) 159
1 1.1 Mô hình TQM Theo Business Edge 52
2 1.2 Chu trình quản lý của Deming 53
3 1.3 Vòng quản lý Ishikawa 54
4 1.4 Cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng 54
5 1.5 Sự thay đổi vị trí người học theo quản lý chất lượng
6 1.6 Tổ chức đào tạo của Tập đoàn Điện lực Việt nam
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài luận án
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế phát triển của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, giáo dục nghề nghiệp ngày càng được quan tâm đúng mức, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề được coi là chìa khóa để cạnh tranh thành công của mỗi quốc gia, mỗi nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu và rộng vào kinh tế thế giới, mặc dù vậy nguồn nhân lực nước ta còn nhiều hạn chế như số lượng đông nhưng chất lượng thấp, cơ cấu nhân lực bất hợp lý giữa các ngành nghề, vùng kinh tế Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam còn thấp và có khoảng cách khá lớn so với các nước phát triển trong khu vực Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao, trong đó có nhân lực cho ngành Điện lực Vấn đề then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế chính là nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Do vậy, không chỉ có Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới đang đầu tư phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo nhằm phát triển nguồn lao động có trình độ, kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp bao gồm:
Đội ngũ công nhân trưởng thành về chính trị, có tinh thần kỷ luật, kỹ năng
nghề nghiệp cao, có trình độ làm chủ khoa học - kỹ thuật - công nghệ mới Những người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng tạo, năng động; được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa, có năng lực trong sản xuất kinh doanh; có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến đáp ứng sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có khả năng tham gia điều hành nền kinh tế Vì thế, cần đào tạo một đội ngũ nhân lực đủ về số lượng, tốt về chất lượng, có cơ cấu đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, cán bộ nghiên cứu và triển khai công nghệ, cán bộ quản lý, nghiệp vụ các ngành Bên cạnh các kỹ sư; chuyên viên có chuyên môn cao thì không thể thiếu đội ngũ nhân viên; công nhân kỹ thuật lành nghề
Thực tế hiện nay, Việt Nam đã có nhiều chính sách khuyến khích nâng cao chất lượng đào tạo hướng tới đổi mới căn bản công tác đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Nguồn nhân lực Việt Nam là nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2011-2020 đã khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ” [10] Là một trong 3 đột phá chiến lược, Nghị
Trang 11quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương chỉ rõ: Đổi mới giáo dục, đào tạo cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi
mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Điều này không phải đến Đại hội XII, Đảng ta mới xác định như vậy Vấn đề là ở chỗ: Trong những năm qua, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực
hiện đúng, nay chúng ta cần nhận thức đúng hơn và thực hiện hiệu quả hơn
“…Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng…” [13]
Sau gần 30 năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục trong đó có giáo dục nghề nghiệp đã và đang phát triển, góp phần quan trọng vào đào tạo nguồn nhân lực phục
vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Với tư cách là hạt nhân của
hệ thống giáo dục nghề nghiệp, trong những năm qua, các trường cao đẳng đã đạt được những kết quả trên các lĩnh vực: Quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng;
số lượng tuyển sinh tăng; phát triển đội ngũ giảng viên; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và phương pháp đánh giá; kỹ năng nghề của sinh viên được nâng lên; nâng cao chất lượng công tác quản lý và nâng cao năng lực cán bộ quản lý trong các trường cao đẳng; sinh viên ra trường có việc làm cao, từng bước đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động trong nước và hội nhập quốc tế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, các trường cao đẳng ở nước ta vẫn còn hạn chế, đó là: Chất lượng đào của trường cao đẳng chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động; kỹ năng nghề, năng lực nghề nghiệp của lao động Việt Nam vẫn còn khoảng cách lớn so với các nước phát triển trên thế giới và trong khu vực, hạn chế lớn nhất là ngoại ngữ, kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, khả năng làm việc theo tổ, nhóm, kỹ năng khởi nghiệp; công tác quản lý đào tạo trong các trường cao đẳng hiện nay phần lớn vẫn nặng theo mô hình quản lý truyền thống; các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo còn bất cập; giảng viên dạy còn thiếu về
số lượng, hạn chế về chất lượng; chưa thiết lập được mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với các trường
Hiện nay, vấn đề chất lượng đào tạo nguồn nhân lực công nghệ điện chất lượng cao trong công nghiệp Điện lực, cụ thể ở Tập đoàn Điện lực Việt nam (EVN) vừa có tính thời sự, vừa có tính chiến lược Đảng ta đã xác định: “Phát triển năng lượng phải đi trước
Trang 12một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an toàn năng lượng quốc gia” Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngành Điện lực phải đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 15% đến 17% trên năm, trong khi GDP (Gross Domestic Product) tăng từ 8% đến 8,5% trên năm, đội ngũ nhân viên kỹ thuật ngành Điện lực là lực lượng đông đảo nhất, trực tiếp lao động sản xuất và kinh doanh trên các lĩnh vực hoạt động của ngành Điện lực, từ Bắc chí Nam và cả những công trình mà Tập đoàn Điện lực Việt nam đang đầu tư ở nước ngoài
Mục tiêu phát triển của Tập đoàn Điện lực Việt nam từ năm 2015 và tầm nhìn 2020: Tốc độ tăng nhu cầu điện bình quân là 10-12%/năm Nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ nhân viên kỹ thuật ngành công nghiệp Điện lực như thế nào để có thể đáp ứng được yêu cầu của ngành Điện lực nói chung và Tập đoàn Điện lực Việt nam nói riêng, là đòi hỏi bức thiết đặt ra
Đánh giá chất lượng đào tạo một cách khách quan thì đội ngũ nhân viên kỹ thuật ngành công nghiệp Điện lực vẫn chưa đáp ứng đầy đủ và thỏa mãn yêu cầu để
thực hiện nhiệm vụ phát triển của ngành Điện lực Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến
chất lượng đào tạo không đạt chất lượng cao: Chương trình đào tạo và mô hình đào tạo thiếu tính đồng bộ và thống nhất, thiếu tính chuẩn mực và quy phạm, thiếu tính gắn kết và bổ sung giữa đào tạo trong nhà trường với đào tạo tại chỗ, nhà trường thiếu đội ngũ giảng viên giỏi và trang thiết bị giảng dạy và học tập hiện đại, các công ty sử dụng lao động không chú trọng bố trí vị trí làm việc thích ứng với ngành nghề mà lao động đã được đào tạo, dẫn tới năng suất lao động không cao
Một trong những nguyên nhân dẫn đến những yếu kém, bất cập nói trên ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam là công tác quản lý đào tạo trong các trường còn chưa được quan tâm đúng mức, nhất là chưa đề xuất và thực hiện được các biện pháp có cơ sở khoa học để góp phần từng bước nâng cao chất lượng đào tạo cho phù hợp với định hướng phát triển của các cơ sở đào tạo nói chung, trường cao đẳng Điện lực nói riêng trở thành nhiệm vụ quan trọng và cần thiết trong công tác đào tạo
Trong các mô hình của hệ thống quản lý đào tạo thì mô hình quản lý chất lượng
tổng thể - TQM (Total Quality Management) là mô hình được quan tâm nhất hiện nay Đây là mô hình có nhiều nét tương thích và gần gũi với định hướng đào tạo ở các trường cao đẳng Tuy nhiên, xung quanh việc vận dụng mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM) vào quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam, nhiều vấn đề chưa được làm rõ với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ nhân viên kỹ thuật ngành công nghiệp Điện lực hiện nay Vì
Trang 13vậy, đề tài: ”Quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt
Nam theo ti ếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)”, mà nghiên cứu sinh lựa chọn
không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn mà còn có tính thời sự và chiến lược
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*M ục đích
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng nghề, đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập
đoàn Điện lực Việt Nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), góp phần
đảm bảo và từng bước nâng cao hiệu quả đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam đáp ứng nhu cầu xã hội
*Nhi ệm vụ nghiên cứu
Luận giải cơ sở lý luận về quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng nghề theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện
lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Tiến hành khảo nghiệm, tính cần thiết, tính khả thi và thử nghiệm một số biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
* Khách th ể nghiên cứu
Hoạt động đào tạo ở các trường cao đẳng nghề
* Đối tượng nghiên cứu
Quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
* Ph ạm vi nghiên cứu của luận án
Ph ạm vi về nội dung: Nghiên cứu biện pháp quản lý đào tạo ở các trường
cao đẳng nghề thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Ph ạm vi về khách thể khảo sát: Căn cứ vào đối tượng, khách thể nghiên cứu,
luận án tập trung khảo sát đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giảng viên, sinh viên ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam Cán bộ lãnh đạo, quản lý ở một số các doanh nghiệp, đơn vị trong ngành Điện lực
Trang 14Ph ạm vi về thời gian: Các số liệu sử dụng phục vụ việc nghiên cứu của
luận án được khảo sát, điều tra, tổng hợp được giới hạn từ năm 2015 đến nay
* Gi ả thuyết khoa học
Hiện nay, đào tạo nghề ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam đang xây dựng mô hình quản lý chất lượng đào tạo đã đạt được một số kết quả nhất định, tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, bất cập: Quản lý đầu vào thiếu hệ thống và chưa bám sát vào yêu cầu của thực tiễn sản xuất; quản lý quá trình đào tạo chưa khoa học, phương thức đào tạo chưa phù hợp; quản lý đầu ra chưa theo chuẩn, người tốt nghiệp chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của các đơn vị sử
dụng lao động Nếu tìm ra các biện pháp quản lý đào tạo nghề một cách khoa học, phù hợp thực tiễn; thực hiện các biện pháp một cách đồng bộ, từ quản lý các yếu tố đầu vào, quản lý quá trình đào tạo, quản lý các yếu tố đầu ra từng bước cải tiến chất lượng đào tạo phù hợp với thực tiễn và đặc thù ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam trong bối cảnh hiện nay thì sẽ đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp và nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động nói chung
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước về đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập
đoàn Điện lực Việt nam và các quan điểm tiếp cận sau:
* Ti ếp cận hệ thống – cấu trúc
Quá trình giáo dục và đào tạo là một hệ thống trong đó có sự tương tác giữa các thành tố như: Mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, môi trường giáo dục Theo quan điểm hệ thống, nghiên cứu quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể phải được đặt trong mối quan hệ với mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo
và cách thức tổ chức đào tạo ở các trường cao đẳng nghề
* Ti ếp cận lịch sử, xã hội
Quản lý giáo dục và đào tạo nói chung và quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể nói riêng luôn gắn với lịch sử, văn hóa của từng quốc gia, vùng miền và phù hợp với sự phát triển của thời đại Do vậy, trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, xã hội, quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng
Trang 15tổng thể đòi hỏi có sự tương thích với xã hội về mục đích, nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức Quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể không tách rời với các yêu cầu đòi hỏi của
xã hội trong từng thời kỳ và xu thế đổi mới trong giáo dục
* Ti ếp cận thực tiễn
Thực tiễn là nguồn gốc, là động lực, là mục tiêu, là tiêu chuẩn để đánh giá kết quả của mọi hoạt động Những yêu cầu của thực tiễn giáo dục đào tạo sẽ là những tiêu chí cụ thể để đánh giá chất lượng đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam Bởi vậy, khi nghiên cứu quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản
lý chất lượng tổng thể phải dựa trên cơ sở thực tiễn về đối tượng, địa bàn nghiên
cứu, điều kiện thực hiện cụ thể nhằm làm sáng tỏ thực trạng quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam hiện nay
4.2 Phương pháp nghiên cứu
* Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp các công trình nghiên cứu về đào tạo nghề, về quản lý đào tạo nghề và quản lý chất lượng đào tạo ở trong nước
* Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra:
Sử dụng bảng hỏi các đối tượng là cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên ở
Trang 16các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam để thu thập các thông tin nhằm xác định thực trạng đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam
và thực trạng quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam hiện nay
Phương pháp quan sát:
Quan sát các biểu của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên trong quá trình đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề, qua đó có thêm thông tin đánh giá thực trạng đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam và thực trạng quản
lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam hiện nay, từ đó đề
xuất các biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực
Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Khái quát những kết quả thực tế đạt được của quá trình đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam trong những năm
gần đây; nghiên cứu báo cáo tổng kết của các nhà trường, báo cáo phân tích chất lượng đào tạo, báo cáo tổng kết của các cơ sở sử dụng sản phẩm đào tạo để làm rõ
và phong phú hơn thực trạng về quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam hiện nay
Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Thu thập, phân tích các sản phẩm minh
chứng kết quả hoạt động đào tạo và quản lý đào tạo của cán bộ quản lý, giảng viên
và sinh viên Từ sản phẩm đối chiếu với mục tiêu đã xác định, làm cơ sở xác định đào tạo và quản lý đào tạo
Phương pháp chuyên gia: Tham khảo ý kiến của các cán bộ quản lý và các
chuyên gia đóng góp về cơ sở lý luận của luận án và kiểm chứng mức độ khả thi, cấp thiết và phương hướng thực hiện các biện pháp được đề xuất trong luận án, để
có thêm thông tin tin cậy, đảm bảo tính khách quan cho các kết quả nghiên cứu
Phương pháp khảo nghiệm: Tiến hành khảo nghiệm các biện pháp đã đề xuất
nhằm kiểm chứng tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp, từ đó hoàn thiện các biện pháp đã đề xuất cho phù hợp với thực tiễn
Phương pháp thử nghiệm: Đề tài tiến hành thử nghiệm một số biện pháp đã
đề xuất để có thêm cơ sở khẳng định hơn thêm một lần nữa tính khả thi của các biện pháp đó trong thực tiễn
* Phương pháp hỗ trợ
Sử dụng toán thống kê và phần mềm Excel và SPSS 20.0 để xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra thực trạng đào tạo ở các trường cao đẳng
Trang 17thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam và thực trạng quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam, được trình bày dưới dạng: Bảng số liệu, biểu đồ Giúp khẳng định tính chính xác và độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu
5 Nh ững đóng góp mới của luận án
Góp phần vào cách tiếp cận mới trong vận dụng lý luận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) vào quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam
Khảo cứu, đánh giá thực trạng, đưa ra một số nhận định về thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo và những vấn đề đặt ra cần giải quyết trong quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), góp phần đảm
bảo và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam
6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án
Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực
tiễn cho các cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các trường, áp dụng hệ thống các
biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), đảm bảo và từng bước nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo ở các trường Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy, học tập ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam, trường cao đẳng nghề
7 K ết cấu của luận án
Luận án kết cấu gồm: Phần mở đầu; phần nội dung (gồm 4 chương; 16 tiết); kết luận và khuyến nghị; danh mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án; danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 18Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Các công trình nghiên c ứu về đào tạo nghề ở các trường cao đẳng
1.1.1 Nghiên c ứu trên thế giới
Những năm cuối thế kỷ XX và đầu những năm của thế kỷ XXI, trên thế giới xuất hiện phong trào canh tân giáo dục, đổi mới giáo dục với mục đích nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở mọi cấp học và bậc học Nhiều quốc gia trên thế giới coi giáo dục và đào tạo là con đường, là chiếc chìa khóa thành công trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, là quốc sách được ưu tiên hàng đầu trên mỗi quốc gia
John Dewey (1859) đưa ra một luận điểm khá quan trọng: Mục đích của giáo dục nhà trường là đảm bảo quá trình giáo dục liên tục bằng cách tổ chức các hoạt động tích cực của người học, xu hướng học tập từ cuộc sống và chủ động tạo dựng nên điều kiện sống chính là sản phẩm tốt nhất từ hoạt động giáo dục nhà trường Trong “Lý thuyết về nền sư phạm” ông đã đề cập đến khái niệm “Giáo dục”, các thành tố căn bản của chương trình dạy học, phương pháp dạy học, vị trí của người giáo viên Ông đã đưa ra các lý thuyết và nguyên tắc giáo dục: Giáo dục là cuộc sống, nhà trường là xã hội, lấy người học làm trung tâm Đó là những quan điểm quản lý đào tạo khá cởi mở, hiện đại và tiến bộ cần được phát huy [21]
Tác giả Tyler (1949) [100] cho rằng: Chương trình đào tạo phải bao gồm 4 thành tố cơ bản của nó, gồm có: Mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp
và qui trình đào tạo và cách đánh giá kết quả đào tạo Như vậy, quan niệm về
chương trình đào tạo không đơn giản là cách định nghĩa mà nó thể hiện rất rõ quan điểm về đào tạo Chương trình đào tạo được hiểu là bản kế hoạch được trình bày một cách có hệ thống toàn bộ hoạt động đào tạo với thời gian xác định trong đó mô
tả mục tiêu (chuẩn đầu ra), nội dung, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học, cách thức đánh giá kết quả đào tạo;
Theo nghiên cứu của Sindicatos Y.Ormación (1975) [60] thì đào tạo nghề là:
M ột là hoạt động giáo dục định hướng nhằm cung cấp các kiến thức và kỹ
năng cần thiết để thực hiện một việc cụ thể của một nghề Đồng thời, nó hoạt động như
một hình thức bổ sung cho các loại hình đào tạo giáo dục của con người, không chỉ với
tư cách là công nhân, mà còn với tư cách là công dân
Hai là hoạt động gắn với các quá trình chuyển giao công nghệ, đổi mới và
phát triển doanh nghiệp Cách truyền tải các kiến thức và kỹ năng chuyển giao cho
Trang 19công nhân, thông qua đó, các doanh nghiệp trang bị những kiến thức cơ bản là cơ sở xây dựng các qui trình công nghệ, phục vụ quá trình đổi mới công nghệ và phát triển doanh nghiệp; đào tạo nghề là một chiến lược trở thành công cụ cần thiết cho quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Ba là hoạt động đào tạo xuất phát từ thực tế nhu cầu nâng cao chất lượng lao
động, với mục tiêu để tăng năng xuất lao động, tăng khả năng cạnh tranh
Sindicatos Y Ormación (1975) cũng cho rằng: Khái niệm về đào tạo nghề và ứng dụng thực tế của nó đã thay đổi trong suốt quá trình tiến triển của lịch sử Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh nó với giáo dục thường xuyên, mặc dù đã có sự thay đổi hình thức, đào tạo nghề vẫn duy trì một mối liên kết chặt chẽ với lao động
Khi thị trường lao động, công nghệ và cách tổ chức công việc (thay đổi mô hình tổ chức sản xuất), sản phẩm thay đổi thì đào tạo nghề phải thực hiện phương thức đào tạo cập nhật và bổ sung cả về lý thuyết và thực hành Do đó, đào tạo nghề theo định hướng hiện nay không phải là để đào tạo cho các ứng viên của một vài công việc cụ thể; ngược lại, cố gắng nâng cao năng lực và khả năng rộng hơn, cho phép người lao động có thể hoạt động trong nhiều tình huống làm việc, ví dụ như có
thể hoạt động trong một nghề; cụm nghề nghiệp và thị trường lao động nói chung
Trong quá khứ, việc đào tạo nghề thường được thực hiện trong một khoảng thời gian giới hạn trước khi bước vào làm nghề Ngày nay, việc đào tạo nghề trở thành một quá trình liên tục trong suốt cuộc đời của người lao động và được thực hiện theo nhiều hình thức khác nhau, có thể đào tạo chính quy và không chính qui
Tác giả Simon McGrath (2012) với nghiên cứu “Giáo dục và đào tạo nghề cho
sự phát triển: Chính sách cần thiết cho lý thuyết” đã cho rằng, việc phát triển phải lấy con người làm trung tâm và điều này tác động đến hệ thống giáo dục và đào tạo nghề Năm công cụ chính được sử dụng trên toàn cầu bao gồm: Cải cách cơ quan quản lý; khung chương trình đào tạo; hệ thống đảm bảo chất lượng; cơ chế tài trợ mới và đảm bảo tính tự chủ của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập Bài viết đã đưa ra các chính sách phát triển lấy con người làm trung tâm trong đào tạo nghề [98]
Tổ chức Giáo dục-Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) là
tổ chức quốc tế lớn nhất dành sự quan tâm, sâu sắc đến giáo dục, đào tạo, hiệu quả
và chất lượng của giáo dục và đào tạo Các nghiên cứu, cẩm nang hướng dẫn, chương trình hợp tác, dự án phát triển của UNESCO khá nhiều, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống, chất lượng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo, năm 2013, UNESCO xuất bản cuốn “UNESCO Handbook on
Trang 20Education Policy Analysis and Programming” (Cẩm nang phân tích chính sách và
kế hoạch hóa giáo dục) Theo UNESCO, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề dường như quá rộng lớn và phức tạp nếu muốn phân tích nó Cẩm nang này của UNESCO
đề xuất một phương pháp hệ thống và cấu trúc hóa nhằm hỗ trợ việc phân tích các chính sách giáo dục và đào tạo cũng như kế hoạch hóa lĩnh vực này để tăng cường khả năng tiếp cận, nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý, giải quyết các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực đối với mọi cấp trình độ cũng như loại hình giáo dục, đào tạo của mỗi quốc gia Cung cấp khung lý thuyết cho việc phân tích chính sách,
hoạch định kế hoạch, khuyến khích sự đối thoại chính sách giữa các cơ quan chính
phủ với các đối tác phát triển; từ đó đưa ra các hướng dẫn từng bước phân tích chính sách và hoạch định chương trình giáo dục và đào tạo [101]
Từ các quan điểm qua một số nghiên cứu về đào tạo ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp nói chung và các trường cao đẳng nghề nói riêng ở nước ngoài cho chúng ta những gợi ý quan trọng trong việc lựa chọn những kinh nghiệm góp phần định hình trong nghiên cứu về đào tạo của trường cao đẳng ở nước ta, nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thị trường lao động
1.1.2 Nghiên c ứu ở Việt nam
Năm 2005, tác giả Nguyễn Hồng Minh thực hiện đề tài nghiên cứu cấp Bộ
"Nghiên cứu xây dựng chương trình khung đào tạo cao đẳng nghề" Tác giả đã hệ thống hóa các lý luận như: Danh mục nghề đào tạo; chương trình đào tạo nghề; chương trình cao đẳng nghề; chương trình khung; cơ sở xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề Tác giả còn phân tích kinh nghiệm xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề của các nước như Nhật Bản, Thái Lan, Singapore Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa
ra các phương pháp và nội dung xây dựng chương trình khung cao đẳng nghề và thử nghiệm áp dụng vào một nghề cụ thể Trong đó, tác giả đã phân tích các phương pháp xây dựng như phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra, khảo sát, phương pháp phân tích nghề theo phương pháp DACUM; phương pháp phát triển nội dung theo phân tích chức năng Căn cứ vào các phương pháp, tác giả đã đưa ra chương trình khung cao đẳng nghề bao gồm: Mục tiêu đào tạo và các mục tiêu thực hiện; khung thời gian đào tạo; nội dung, thời lượng đào tạo của các môn học/mô đun trong chương trình khung cao đẳng nghề; khối lượng kiến thức, kỹ năng của chương trình khung cao đẳng nghề; tỷ lệ kiến thức lý thuyết và thực hành kết hợp trong chương trình khung cao đẳng nghề; các hoạt động giáo dục khác trong chương trình; hướng dẫn sử dụng, tổ chức xây dựng và thực hiện [43]
Trang 21Tác giả Đoàn Đức Tiến "Nghiên cứu chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật trong công nghiệp điện lực Việt Nam" [60] đã tập trung nghiên cứu về chất lượng của những người lao động trong ngành điện lực ở Việt Nam Từ lý luận chung về chất lượng đào tạo, luận án đã đưa ra quan điểm về chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật công nghiệp điện lực và các tiêu chí phản ánh chất lượng công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu ngành công nghiệp điện lực, thể hiện trên các mặt sau: (a) Qua đào tạo chuẩn
từ trường đào tạo nghề công nghiệp điện lực, có trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng tay nghề đạt chuẩn bậc thợ; (b) Tác phong công nghiệp; tuyệt đối chấp hành kỷ luật lao động, quy trình, qui phạm nghiêm ngặt của ngành công nghiệp điện lực; (c) Có sức khoẻ tốt đáp ứng yêu cầu môi trường lao động đặc thù ngành điện lực; (d) Thấu
hiểu, thực thi truyền thống và văn hóa doanh nghiệp, đạo đức, lối sống lành mạnh; (e)
Có khả năng thích ứng, làm việc độc lập và phối hợp đồng đội trong lao động Luận án
đã giới thiệu một số mô hình và lựa chọn mô hình Donald L.Kirkpatrick để áp dụng xây dựng mô hình đánh giá chất lượng chương trình đào tạo công nghiệp điện lực là đánh giá chu trình đào tạo từ chất lượng đầu vào đến kết quả đầu ra và hiệu quả sau đào
tạo Tác giả đã đưa ra các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật công nghiệp điện lực gồm: Mục tiêu, chiến lược đào tạo gắn với mục tiêu phát triển doanh nghiệp; Mô hình quản lý và đào tạo phát triển phù hợp, đồng bộ; Thể chế hóa công tác đào tạo công nhân kỹ thuật; Chuẩn hóa đội ngũ lãnh đạo, quản lý, giáo viên; Cơ chế đầu tư, thu hút đầu tư tài chính Kết hợp phân tích thực tiễn và nghiên cứu đào tạo công nhân kỹ thuật của một số quốc gia, luận án đã kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật đáp ứng yêu cầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước trong đó có công nghiệp điện lực
Đề tài cấp Bộ của Tổng cục Dạy nghề theo quyết định số 192/QĐ-TCDN, ngày 25 tháng 9 năm 2009 đã “Nghiên cứu đề xuất xây dựng chương trình khung trình độ cao đẳng và trung cấp” Đây là một đề tài đã chuẩn hóa được các chương trình khung cho công tác đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật hệ dài hạn (2 năm trình độ trung cấp, 03 năm trình độ cao đẳng)
Tác giả Nguyễn Đức Trí với giáo dục nghề nghiệp một số vấn đề lý luận và
thực tiễn (2010) đã nêu quan điểm về chất lượng giáo dục nghề nghiệp, đó là đích tới luôn thay đổi và luôn có tính lịch sử; là mức độ đáp ứng các mục tiêu giáo dục nghề nghiệp, bao gồm mục tiêu hệ thống và mục tiêu nhân cách trong sự đa dạng, phức tạp và thường xuyên thay đổi hơn nhiều so với giáo dục phổ thông Từ đó, cụ thể hóa chất lượng giáo dục theo quan niệm tương đối gồm chất lượng bên trong và
chất lượng bên ngoài [69]
Trang 22Bộ tài liệu gồm 11 chuyên đề, trong đó có chuyên đề quản lý quá trình đào tạo nghề của Nguyễn Đức Trí và chuyên đề quản lý chất lượng đào tạo đối với trường đào
tạo nghề của Trần Khánh Đức nêu ra quan điểm về chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ảnh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể Hiện nay, khái niệm về chất lượng đào tạo được dùng chung cho cả hai quan niệm: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối Chất lượng tuyệt đối được phản ánh qua các sản phẩm, cơ sở đào tạo có
những thuộc tính, đặc tính đạt các chuẩn mực cao học sinh giỏi, xuất xắc, các trường chuyên, khóa đào tạo chất lượng cao Chất lượng tương đối phản ánh mức độ đáp ứng của một sản phẩm, một dịch vụ đào tạo nào đó đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội và của người sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đào tạo đó [16][70]
Như vậy, về lý luận chỉ đạo cũng như thực tiễn nghiên cứu vấn đề đào tạo, ở nhà trường đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ, các bài báo khoa học nghiên cứu về đào tạo, cho sinh viên dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau một cách đa dạng, phong phú và đi vào chiều sâu Đặc biệt có các cuộc hội thảo khoa học, các diễn đàn trao đổi về vấn đề này được diễn ra tại thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh cũng như một số tỉnh thành khác Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy cả về lý luận và thực tiễn, vấn đề quản
lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc EVN trong nhiều năm qua chưa nhận được
sự quan tâm đầy đủ, các biện pháp quản lý đào tạo chưa cập nhật, chưa bảo đảm tính khách quan, chưa thực sự phù hợp với tình hình hiện thực khách quan ở các trường, của đối tượng sinh viên đang đào tạo ở mỗi trường và do đó chưa có hiệu quả cao trong tổ chức quản lý đào tạo
1.2 Các công trình nghiên c ứu về quản lý đào tạo nghề ở các trường cao đẳng
1.2.1 Nghiên c ứu trên thế giới
Hoa Kỳ được coi là một trong những nước có nền giáo dục và đào tạo phát triển nhất thế giới, trong hệ thống giáo dục, đào tạo nghề của Mỹ, dạy nghề được
bắt đầu từ bậc trung học hoặc sau tốt nghiệp trung học mang tính hướng nghiệp; giáo dục đào tạo tại Mỹ đã tiến hành được một chặng đường dài, trong thời gian đầu, chủ yếu tập trung vào các ngành ô tô, cơ khí, thợ hàn…Mất một thời gian dài
để loại bỏ sự kỳ thị nghề nghiệp cho rằng, công nhân là tầng lớp thấp hơn trong xã hội Nền kinh tế toàn cầu nói chung đã dẫn đến cạnh tranh hơn trên diện rộng, nhu
Trang 23cầu các nhân viên có tay nghề cao, thị trường lao động kỹ thuật đã trở lên chuyên biệt hơn; điều đó đã tác động đến chính sách của chính phủ Mỹ, đầu tư thêm tiền vào các tổ chức giáo dục đào tạo nghề; các trường và cơ sở đào tạo nghề được khuyến khích phát triển Hầu hết các trường cao đẳng cộng đồng tại Hoa kỳ đều tham gia đào tạo nghề cung cấp công nhân kỹ thuật, một số tiểu bang còn có viện công nghệ đào tạo giáo viên dạy nghề [56]
Từ khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, giáo dục nghề nghiệp đã trải qua một quá trình điều chỉnh sửa đổi, cải cách, hoàn thiện và phát triển
vững chắc Năm 1996,“Luật dạy nghề” đầu tiên được chính thức thực hiện, đưa ra cơ
sở pháp lý để bảo vệ phát triển và hoàn chỉnh dạy nghề “Quyết định tăng cải cách giáo dục và quảng bá chất lượng giáo dục” của Hội đồng Nhà nước năm 1999 nhấn mạnh tới hệ thống giáo dục áp dụng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, kinh phí cho giáo dục nghề nghiệp được bố trí thông qua nhiều nguồn khác nhau: Ngân sách của chính phủ, quĩ tự lập của các xí nghiệp, quĩ tài trợ, tiền quyên góp, vốn vay không lãi, phí tự nguyện do học viên đóng góp…Nhà nước quy định bắt buộc dùng 1.5% số tiền phải trả cho công nhân trong xí nghiệp vào việc huấn luyện công nhân Có được thành tựu hiện nay là nhờ sự phát triển vượt bậc của các cụm công nghiệp, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã trưởng thành và thành các Công ty, Tổng công ty, Tập đoàn lớn vươn tầm quốc tế Một trong những nhân tố thúc đẩy đó là
sự thành công về chiến lược đào tạo nghề, đào tạo công nhân kỹ thuật có chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhân lực của các ngành, nghề công nghiệp [56]
Tại Nhật Bản, coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất nước
từ đầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: Đào tạo những thế hệ mới có tính năng động, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và xu thế cạnh tranh-hợp tác toàn cầu Luật Dạy nghề (Vocational Tranining Law) được ban hành năm 1958, được chỉnh sửa vào năm 1978, hướng vào thiết lập và duy trì hệ thống huấn luyện nghề nghiệp, bao gồm hệ thống “Đào tạo nghề công” mang tính hướng nghiệp và “Đào tạo nghề được cấp phép” là giáo dục và huấn luyện nghề cho từng nhóm công nhân trong hãng xưởng, do các Công ty đảm nhiệm và được chính quyền công nhận là dạy nghề Các hình thức huấn luyện nghề gồm: “Đào tạo nghề cơ bản” cho giới trẻ mới
ra trường; “Dạy tái phát triển khả năng nghề nghiệp” chủ yếu cho những công nhân không có việc làm; và “Nâng cao tay nghề” cho công nhân đang làm việc trong các
Trang 24hãng xưởng Những thay đổi về cấu trúc kinh tế xã hội, sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ đã tác động đến nhiều lĩnh vực và nội dung huấn luyện làm mở
rộng khung đào tạo nghề truyền thống Kết quả là đến năm 1985, Luật Dạy nghề được chỉnh sửa và đổi tên thành Luật khuyến khích phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development Promotion Law) và cụm từ “Phát triển nguồn nhân lực” được dùng để chỉ quan niệm mới về dạy nghề Hiện nay, Nhật Bản thực hiện phát triển nguồn nhân lực theo một hệ thống huấn luyện suốt đời [56]
Na Uy được xem là quốc gia sở hữu nhiều mô hình đào tạo nghề tiên tiến trên thế giới, lại giàu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống đào tạo nghề, chính
vì vậy trong nhiều năm qua chất lượng đào tạo nghề tại quốc gia này liên tục tăng cao, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập và phát triển [56]
Hệ thống giáo dục-đào tạo nghề của Na Uy đang sử dụng mô hình 2+2, tức
là 2 năm học ở trường và 2 năm học thực tế tại nhà máy hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên theo hướng linh hoạt hơn, việc thực tập không nhất thiết phải là 2 năm cuối cùng mà do doanh nghiệp và nhà trường lập kế hoạch đan xen trong quá trình 4 năm
học Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như "Mô hình 1+ 3" (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), "Mô hình 0+ 4" (cả 4 năm đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả cao trong công tác đạo tạo nghề tại quốc gia này Theo thống kê, hiện có gần 90% thanh niên Na Uy vào học trường nghề (trường trung học-Secondary School) khi bước qua 15-16 tuổi Sau khi học nghề xong, học sinh có thể tiếp tục học đại học (với việc học bổ sung một số môn khoa
học chung như toán,vật lý, địa lý )
Giáo dục đào tạo của Hàn Quốc là một nước có hoàn cảnh lịch sử khá đặc biệt, nhưng đã biết vươn lên từ một nước rất nghèo về tài nguyên thiên nhiên, GDP/đầu người 90.9 đô-la năm 1962 trở thành một quốc gia có nền kinh tế hùng hậu đứng thứ 11 trên thế giới với GDP/đầu người đạt 22.029 đô la năm 2005 Bí quyết của Hàn quốc là dựa vào phát triển nguồn nhân lực trong một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế Giáo dục là nhân tố chủ yếu để nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực và chính sách về giáo dục luôn được xây dựng phù hợp
với đòi hỏi của nền kinh tế Chính phủ Hàn Quốc đưa ra một chiến lược tham gia toàn diện vào quá trình toàn cầu hóa vào giữa thập kỷ 1990, mà quan trọng nhất là
hệ thống giáo dục phải được cải thiện triệt để, để đào tạo một số lượng đủ những công dân trẻ, sáng tạo và dám làm, những nhà lãnh đạo tương lai của đất nước
Trang 25Trong bản báo cáo của Chính phủ về giáo dục mang tên “Hình ảnh Hàn Quốc trong Thế kỷ XXI” đã khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo phải hướng tới mục tiêu bồi dưỡng tính sáng tạo, tinh thần kỷ luật tự giác, tính cạnh tranh, phát triển khả năng
và nhân cách bảo vệ, phát huy sức mạnh, ý chí dân tộc, năng lực trí tuệ của người Hàn Quốc lên những trình độ cao nhất, đưa Hàn Quốc trở thành một quốc gia có vai trò chủ chốt trong các vấn đề của thế giới” Trong những năm gần đây, tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo ở Hàn Quốc luôn ở mức 18-20% Hướng tới tương lai, đó là mục tiêu của nền giáo dục Hàn Quốc hiện đại Cùng với sự phát triển kinh
tế, người dân Hàn Quốc đang cố gắng tạo ra những điều kiện tốt nhất có thể cho
việc đào tạo thế hệ trẻ [56]
Singapore ngay từ khi mới thành lập đã đề ra chính sách phát triển giáo dục, đào tạo với chủ trương là xây dựng nền giáo dục mang nét đặc trưng của dân tộc Chính phủ Singapore luôn coi việc khai thác và sử dụng nguồn lực là nội dung quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế Nguyên Thủ tướng Lý Quang Diệu đã nói: “Biến tài năng trời phú của một dân tộc thành kỹ năng chuyên môn là nhân tố trọng đại quyết định thành tựu phát triển đất nước” Vào thập kỷ 1980, ngân sách dành cho giáo dục của Singapore mỗi năm tăng trung bình khoảng 30% Mức chi cho giáo dục và đào tạo chỉ đứng thứ hai sau ngân sách quốc phòng, đã vượt các nước phát triển như Mỹ, Nhật Bản v.v… Vào thập niên 1990; việc không ngừng tăng cường đầu tư cho con người, tích cực thúc đẩy cải cách và điều chỉnh giáo dục chính là nhân tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế Singapore phát triển nhanh chóng [56]
Chính phủ Liên bang Nga cũng như chính phủ các nước cộng hòa trong Liên bang đã chú ý phát triển nhiều hình thức đào tạo nghề khác nhau Trước hết, chú trọng cung cấp những kiến thức cơ bản về nghề nông cho học sinh trung
học năm cuối phổ thông, gọi là hình thức đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp, tại các trường cao đẳng chuyên nghiệp Sinh viên có nhu cầu học nghề phải làm đơn nhập học theo Quy chế đào tạo chung của nhà nước Những người được tuyển thường là học sinh đã tốt nghiệp phổ thông Sau khi được tuyển vào học, các em
sẽ được học nghề từ 1 đến 3 năm tùy thuộc vào trình độ học vấn phổ thông của mình Có hai hình thức đào tạo: Chính quy (ban ngày) và không chính quy (ban đêm) Trong hệ thống đào tạo chuyên nghiệp sơ cấp cho nông dân có 280 ngành nghề khác nhau, từ kỹ năng nuôi trồng sản phẩm nông nghiệp, tới thương mại,
dịch vụ, kỹ thuật, giao thông trong nông nghiệp v.v…[55]
Trang 26Qua một số ví dụ điển hình có thể thấy một điều khá chung ở các nước, đó là, học đi đôi với hành Nếu là học sinh, có thể vừa học văn hóa, kết hợp học nghề, nếu là
học nghề họ được học lý thuyết, kết hợp trên thực hành, được cấp chứng chỉ mới được hành nghề Điều này lý giải vì sao, chất lượng, trình độ và đạo đức của người công nhân các nước luôn ở bậc cao với các quan niệm và cách tiếp cận khác nhau
Một là, kinh nghiệm các nước phụ thuộc vào trình độ quản lý nhà nước
Do vậy cần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong việc lập kế hoạch, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra và giám sát sự phát triển của hệ thống
Hai là, quản lý đào tạo phải gắn với việc làm và tạo việc làm bền vững, đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động, gắn với định hướng phát triển kinh tế xã hội của quốc gia theo từng thời kỳ Để thực hiện được mục tiêu này, chúng ta cần học tập kinh nghiệm về việc phối hợp, liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo nghề, thực hành tại doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, nhu cầu của doanh nghiệp; từ đó, chất lượng đào tạo đáp ứng được yêu cầu và giải quyết việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp Trong giai đoạn chuyển dịch, chuyển đổi cơ cấu kinh
tế, cần chú trọng đào tạo nghề kỹ thuật cao; đồng thời, cần nghiên cứu sửa đổi chính sách, trọng tâm là Luật lao động, Luật giáo dục nghề nghiệp cho phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế và thị trường lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
Ba là, tiến hành phân luồng học sinh sớm, định hướng nghề nghiệp sớm để đảm bảo số lượng lao động kỹ thuật tương ứng với cơ cấu nguồn lao động Các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo nên tham khảo các nước về việc: Thiết kế các chương trình đào tạo ở cấp phổ thông; định hướng ngành nghề đào tạo; phân loại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng tách bạch rõ ràng trong đào tạo những người lao động có kỹ năng để lao động trực tiếp và những người lao động có khả năng nghiên cứu
Bốn là, cần coi trọng xây dựng và phát triển chính sách về việc làm phù hợp
trong điều kiện mới; đẩy mạnh đào tạo nghề cho các lực lượng lao động, chú trọng nâng cao kỹ năng nghề Bên cạnh đó, cũng cần tập trung đào tạo lao động có trình độ chuyên môn cao ở một số ngành nghề mũi nhọn, có lợi thế cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, phù hợp với nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
Năm là, có chiến lược tổng thể về phát triển nguồn nhân lực và mỗi bộ, ngành
đều có kế hoạch phát triển riêng; khuyến khích đầu tư nghiên cứu và phát triển ở các doanh nghiệp, đặc biệt ở các doanh nghiệp tư nhân; thành lập các cơ quan chuyên trách
Trang 27về nghiên cứu và cố vấn các chính sách về phát triển nguồn nhân lực Chế độ lương, thưởng và việc thuê các chuyên gia quốc tế đến làm việc nhằm nâng cao năng lực cho các chuyên gia bản địa; giáo dục đặc biệt cần có các điều luật và sự trợ giúp mang tính pháp lý đối với các cấp học và các lớp học giáo dục đặc biệt
Sáu là, huy động mọi nguồn lực để phát triển đào tạo nghề Việt Nam cần cử các chuyên gia giỏi trong lĩnh vực giáo dục và các ngành chuyên môn trong đào tạo nghề để tham gia xây dựng chương trình đào tạo nghề; cử các chuyên gia đến các nước phát triển để thu thập thông tin và kinh nghiệm về các môn học liên quan đến
kỹ thuật nhằm xây dựng được chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên dạy nghề đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nghề Trong quá trình đào tạo giảng viên dạy nghề, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có nhu cầu bồi dưỡng, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên dạy nghề cần liên kết với các trường đại học có trình độ tiên tiến và kinh nghiệm
1.2.2 Nghiên c ứu ở Việt Nam
Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 tại Điều 33 quy định: “Giáo dục nghề nghiệp bao gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề với đào tạo nghề trình độ sơ
cấp, trung cấp và cao đẳng” và “Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh” [51]
Tác giả Trần Khánh Đức cho rằng, các bộ, các địa phương cũng quản lý các trường đại học, cao đẳng phải phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo xây dựng quy chế
quản lý trường đại học, cao đẳng, thực hiện phân cấp quản lý mạnh đối với địa phương
và các cơ sở giáo dục nhất là đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và đại học, nâng cao tính tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội của đơn vị, đẩy mạnh cải cách hành chính trong toàn bộ hệ thống quản lý giáo dục [17, tr.216]
Tác giả Trần Kiểm cho mục tiêu giáo dục do xã hội đặt ra cho nhà trường và được mọi người thừa nhận Điều này đặt ra yêu cầu phải xác định chuẩn đo đạc mức
độ đạt được mục tiêu thông qua các chuẩn đánh giá đầu vào (trình độ sinh viên đầu vào, cơ sở vật chất thiết bị dạy học ), chuẩn đánh giá quá trình (quá trình giáo dục
và quá trình dạy học), chuẩn đánh giá đầu ra (kết quả hạnh kiểm, thi cử, lên lớp…) cũng như chuẩn đánh giá hoạt động quản lý Như vậy, tất cả các mặt từ hoạt động giáo dục trong nhà trường, các điều kiện đảm bảo cho trường vận hành tốt đến việc điều tiết các tác động từ bên ngoài (ví dụ xã hội hóa giáo dục ), việc quản lý nhà
Trang 28trường… Đều đạt chuẩn theo Bộ quy định Việc xem xét nhà trường hiệu quả phải trên cơ sở mục tiêu giáo dục, phải xuất phát từ nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của người học Hiệu quả nhà trường phụ thuộc vào quá trình giáo dục và quản lý giáo
dục trong nhà trường là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục, hiệu quả giáo dục, không thể nói đến hiệu quả nhà trường mà bỏ qua yếu tố quản lý [32, tr.19]
Tác giả Trần Văn Long trong công trình nghiên cứu “Quản lý đào tạo trong các trường cao đẳng du lịch đáp ứng nhu cầu nhân lực” cho rằng, quản lý theo kết
quả là mô hình quản lý đại diện cho một quá trình thay đổi lớn trong một tổ chức để
cơ cấu lại, sắp xếp lại các giá trị nội bộ, văn hóa, chính sách, chiến lược và thực hành, nó bao gồm cả việc thiết kế và xác định nhằm vào kết quả bên ngoài có ý nghĩa phát triển xã hội [35]
Tác giả Nguyễn Lan Phương nghiên cứu “Quản lý chất lượng đào tạo tại các trường đại học tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể” đã phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận của mô hình quản lý đào tạo
chất lượng trong các trường đại học Việt Nam, trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn của Việt Nam, tác giả đã đề xuất giải pháp mô hình quản lý đào tạo chất lượng ở các trường đại học nước ta, trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc, thực tiễn, chất lượng, hiệu quả và kế thừa, kiến nghị và tập trung vào bốn vấn đề, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học và cung cấp tài chính [50]
Qua nghiên cứu những quan điểm về quản lý đào tạo của các nước trên thế giới và các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học ở Việt Nam, cho thấy
những nét khái quát về đặc trưng, nhiệm vụ, phạm trù, chức năng của vấn đề quản
lý đào tạo sinh viên là rất cần thiết
1.3 Nh ững công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
1.3.1 Nghiên c ứu trên thế giới
Quản lý chất lượng tổng thể là một phương thức quản lý kinh doanh chiến lược nhằm gắn kết nhận thức về chất lượng cho tất cả thành viên tổ chức, xâm nhập, lan tỏa trong tất cả các qui trình tổ chức Quản lý chất lượng tổng thể (TQM) đã được
sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, cũng như các chương trình nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học kĩ thuật, trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và giáo dục đào tạo
Trang 29Các tác giả W Edwards (1982) De Cosmo et Al (1991), Sherr và Lozier (1991), Bonser (1992), cho rằng, các đơn vị giáo dục có thể chuyển hướng theo TQM giống như các đơn vị kinh doanh Sự thích nghi của TQM trong giáo dục là
cập đến TQM trong lĩnh vực này và chỉ ra sự khác biệt về TQM trong GD&ĐT so với trong sản xuất, kinh doanh John WestBurnham, đã tổng hợp nhiều vấn đề quan trọng về TQM trong cuốn: “Managing quality in schools” [88] Trong đó, ông đã đưa
ra những quan điểm của mình về việc vận dụng TQM vào giáo dục, đồng thời chỉ ra các phương pháp vận dụng các nội dung quản lý chất lượng trong sản xuất vào đổi
mới quản lý chất lượng trong giáo dục cho các nhà trường
Thành công của quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp đã làm thay đổi
cả nền kinh tế Nhật Bản Thông qua quá trình triển khai quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp, Nhật Bản đã phát triển các tư tưởng của quản lý chất lượng và
tạo nên một văn hóa cải tiến liên tục Matsushita Konosuke (2000) đã trình bày mô hình TQM theo “Kiểu Nhật”: Kiểm soát chất lượng toàn công ty Trong mô hình đó
“Tinh thần đồng đội” được đặc biệt đề cao Theo ông, “Tinh thần đồng đội” được thể hiện ví như sự hợp lực của các thành viên trong đội bóng đá [91]
Hai tác giả Davies và Ellison nghiên cứu các tiêu chí đánh giá hệ thống chất lượng Châu Âu với mô hình đánh giá chất lượng của Hoa Kỳ Trong tác phẩm
“Educational Admistration” (2001), Hoy W.K và Miskel C.G đã đề cập đến nguồn gốc, khái niệm, triết lý, mô hình quản lý chất lượng [81] Trong 6 tiêu chí của Giải thưởng chất lượng quốc gia Malcolm Baldridge là danh mục về chất lượng dưới góc
độ TQM làm cơ sở đánh giá chất lượng tổ chức
Đó là 6 tiêu chí: 1) Lãnh đạo; 2) Xây dựng kế hoạch chiến lược; 3) Chú trọng khách hàng và thị trường; 4) Thông tin và phân tích; 5) Chú trọng nguồn nhân lực; 6) Quá trình quản lý
Sallis Edward, một nhà nghiên cứu người Anh đã xem xét các vấn đề về TQM trong bối cảnh giáo dục nước Anh trong tác phẩm “Total quality management
Trang 30in education” Cuốn sách được phân chia thành 16 nội dung lớn, trong đó tập trung vào những nội dung cốt lõi của TQM và ứng dụng TQM vào trong giáo dục, nổi bật
là các vấn đề: Tổ chức theo quan điểm TQM, sự lãnh đạo trong TQM, các công cụ
sử dụng trong TQM Cũng trong tác phẩm này, Sallis đã chỉ ra sản phẩm của giáo dục, chất lượng dịch vụ giáo dục, khách hàng của giáo dục [84]
Marmar Mukhopadhyay (2006) với tác phẩm “Total Quality Management
in Education” [93] đã đề cập đến các vấn đề như: Chất lượng trong giáo dục; áp dụng TQM trong giáo dục; tiếp cận hệ thống và phân tích vi mô hoạt động của tổ
chức giáo dục như một công cụ của TQM; khách hàng những người được hưởng
lợi trong giáo dục; sự tham gia của các thành viên và xây dựng đội/nhóm; phát triển nguồn nhân lực cho một tổ chức chất lượng; lãnh đạo trong xây dựng một
tổ chức chất lượng; hoạch định chiến lược phát triển TQM; thực thi TQM trong một tổ chức Ông chứng minh rằng TQM có thể áp dụng trong tổ chức giáo dục
vì nó phù hợp với sự tự nguyện thay đổi để hình thành văn hóa chất lượng, hỗ trợ cho một tổ chức biết học hỏi để thêm linh hoạt và thuận lợi
Như vậy, có thể nhận thấy, TQM nói chung, TQM trong giáo dục nói riêng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và nhà quản lý trên thế giới Vận dụng TQM vào lĩnh vực của đời sống được nhiều công trình nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, trong đó nghiên cứu về việc vận dụng TQM vào quản lý giáo dục rất được chú ý Bằng việc đưa ra các quan điểm và phương pháp vận dụng TQM vào quản lý chất lượng giáo dục, các nghiên cứu đã chứng tỏ TQM là một hướng đi mới mẻ đầy tiềm năng cho các cơ sở giáo dục nói chung và trường cao đẳng nói riêng trong việc
thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của xã hội
1.3.2 Nghiên c ứu ở Việt Nam
“Quản lý giáo dục và đào tạo” do tập thể Trường Cán bộ quản lý Giáo dục & Đào tạo biên soạn, đã khẳng định việc cải tiến công tác quản lý Giáo dục & Đào tạo được thực hiện nhằm mục đích đảm bảo chất lượng đào tạo, đảm bảo nhu cầu về số lượng, và cơ cấu ngành nghề đào tạo nhằm ổn định và phát triển nhà trường đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội Điều đó đòi hỏi người làm công tác quản lý Giáo
dục & Đào tạo ở từng nhà trường cũng như từng địa bàn phải nắm vững phương pháp
luận, các phương pháp cụ thể trong cách thức tổ chức sư phạm, quản lý nhà trường để
có nhận thức đúng đắn mà tìm hướng đi, cách làm phù hợp cho mình, hướng đến việc đào tạo đáp ứng được nhu cầu của xã hội Chương trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp nhà nước: “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ
Trang 31công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của Viện nghiên cứu con người, đã nghiên cứu ở tầm
vĩ mô bao quát nhiều vấn đề về phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa Với cách tiếp cận hệ thống, vấn đề đào tạo nhân
lực được đặt hệ thống các mối quan hệ với đầu vào là giáo dục phổ thông và đặc điểm con người Việt Nam, đầu ra là đội ngũ lao động kỹ thuật phục vụ cho phát triển kinh
tế xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa dưới tác động của tiến bộ khoa học công nghệ, bối cảnh của thời đại và xu thế của Giáo dục & Đào tạo trên thế giới Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải được cải tổ, chuẩn hóa và hiện đại hóa theo các mô hình tiên tiến và phải thích ứng một cách linh hoạt,
chủ động với cơ chế thị trường để chuẩn bị cho tiến trình hội nhập quốc tế và đủ sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập [73]
Một số nghiên cứu và luận án gần đây của Đại học quốc gia Hà Nội và những bài báo của các chuyên gia Viện Khoa học giáo dục Việt Nam cũng xem xét vấn đề các
mô hình quản lý, quản lý chất lượng trong công tác đào tạo của các trường Đại học, Học viện, các cơ sở giáo dục, đó là: Luận án của Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn Ly Qua tình hình nghiên cứu, có thể nhận thấy vài đặc điểm chung như sau:
Nhóm giải pháp quản lý chất lượng đầu vào; nhóm giải pháp quản lý quá trình đào tạo; nhóm giải pháp quản lý quá trình thực tập; nhóm giải pháp quản lý đầu ra; xác định rõ sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu phát triển trường; đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý; xây dựng mới chương trình đào tạo; tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đảm bảo chất lượng đào tạo; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra đào tạo [27][40]
Năm 2002, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục đã có đề tài “Nghiên cứu cơ
sở lí luận và thực tiễn đảm bảo chất lượng đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp (khối ngành kĩ thuật)” do Trần Khánh Đức làm chủ nhiệm đề tài đã hệ thống được cơ sở lí luận và thực tiễn đưa ra quan niệm khá đầy đủ về chất lượng đào tạo
và đảm bảo chất lượng đào tạo, các tiêu chí và phương pháp đánh giá chất lượng đào tạo so sánh những mô hình quản lý chất lượng đào tạo đang được các nước phát triển đang vận dụng hiện nay [15]
Quản lý đào tạo ở các trường dạy nghề đã có nhiều công trình được các nhà khoa học trên thế giới triển khai một cách hiệu quả trong thực tiễn đào tạo, song các công trình nghiên cứu ở Việt Nam thì lại chưa nhiều và chưa có hệ thống Hơn nữa, hầu hết các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến một số vấn đề quản lý đào tạo
mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện và chưa hình thành được lý luận về quản lý đào tạo nghề một cách có hệ thống trên từng mặt và ở các bình diện khác nhau, từ
Trang 32phạm vi vĩ mô của cả nước cho đến của cả doanh nghiệp Trong đó, cũng chưa có công trình nào đề cập đến quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực việt Nam đáp ứng nhu cầu tiếp cận chất lượng một cách hệ thống trong bối
cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế của ngành Điện lực Việt Nam Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã nghiên cứu, kế thừa, đối chiếu nhiều luận điểm, số liệu từ các công trình nghiên cứu trên
Tác giả Nguyễn Lộc đã đi sâu phân tích TQM từ khái niệm, tên gọi, nội dung đến sự cần thiết và cơ hội vận dụng vào các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở nước ta [37]
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã phân tích các khái niệm cơ bản liên quan đến môi trường văn hóa của nhà trường, về định nghĩa, nội dung quản lý có tầm quan trọng hàng đầu đối với TQM [38][39]
Tác giả Trần Khánh Đức [18] có nhiều nghiên cứu về quản lý chất lượng Giáo dục & Đào tạo Năm 2004, sách chuyên khảo “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM” đã phản ánh những kết quả nghiên cứu cơ bản về lý luận và
thực tiễn việc vận dụng quan điểm, chuẩn mực, quy trình ISO &TQM trong quản lý và
kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực (đại học/cao đẳng/trung cấp chuyên nghiệp)
Năm 2010, tác phẩm “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI”, giới thiệu bộ ISO 9000 và các nguyên tắc quản lý chất lượng; chu trình quản lý chất lượng; các mô hình quản lý chất lượng gồm: Kiểm tra chất lượng - sự phù hợp, mô hình kiểm tra chất lượng toàn diện, mô hình TQM; bảo đảm chất lượng và các mô hình quản lý chất lượng giáo dục theo ISO và TQM; đánh giá và kiểm định chất lượng [19]
Tác giả Trần Kiểm cũng giới thiệu khái quát về TQM như một tiếp cận quản lý
và đưa ra nhiều mô hình quản lý, tác giả đi sâu vào nội dung quản lý tiếp cận dựa vào nhà trường Đây là những mô hình quản lý theo cơ chế tự chủ của các cơ sở đào tạo:
Tự chủ nhân sự, tự chủ tài chính và tự chủ về chương trình [32]
Còn theo tác giả Đặng Quốc Bảo, quản lý chất lượng tổng thể (TQM) ngày nay được nhiều nhà trường Việt Nam quan tâm và ứng dụng vào xây dựng, phát triển nhà trường theo sứ mệnh của nhà trường trước đời sống kinh tế văn hóa địa phương [3]
Các tác giả đã phân tích và chọn lọc một số tiếp cận có thể vận dụng vào trong quản lý chất lượng đào tạo như: Tiếp cận hệ thống, tiếp cận văn hóa tổ chức, tiếp cận quản lý chất lượng theo ISO, tiếp cận theo quản lý chất lượng tổng thể (TQM), tiếp cận các yếu tố tạo thành chất lượng đối với một cơ sở giáo dục (theo
mô hình CIPO) Các tiếp cận này sẽ là cơ sở khoa học giúp cho các nhà quản lý
Trang 33Giáo dục nâng cao trình độ và năng lực của mình để ứng dụng một cách năng động trong quản lý chất lượng tại các cơ sở Giáo dục & Đào tạo Bên cạnh đó, một
số luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục đã nghiên cứu vận dụng TQM trong Giáo dục & Đào tạo
Tác giả Hoàng Thị Minh Phương đã đề cập đến các khái niệm TQM, khả năng áp dụng quản lý chất lượng tổng thể (TQM) để đổi mới quản lý hệ thống trường Đại học sư phạm kĩ thuật nước ta, đưa ra các giải pháp đổi mới quản lý nhà trường theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) [48]
Tác giả Nguyễn Văn Ly đề cập mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM),
áp dụng trong đào tạo và quản lý chất lượng đào tạo Tác giả đưa ra hệ thống các giải pháp triển khai hệ thống quản lý chất lượng [40]
Tác giả Lê Đức Ánh đã nêu các quan niệm về nhà trường phổ thông dân lập, quan niệm của UNESCO về các yếu tố ảnh hưởng chất lượng dạy học của nhà trường, đưa ra các thủ thuật quản lý dạy học của Hiệu trưởng theo quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Tuy vậy, hệ thống tiêu chí để đánh giá chất lượng hoạt động quản lý của Hiệu trưởng, tự quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên, tự quản lý hoạt động học của học sinh chưa được cụ thể, rõ ràng và đầy đủ để có khả năng ứng dụng trong thực tiễn; các biện pháp đề xuất còn chung chung, chưa thể hiện rõ hàm lượng của việc vận dụng quản lý chất lượng tổng thể (TQM) trong quá trình quản lý chất lượng dạy học [2]
Các tác giả Nguyễn Trung Kiên, Lê Đình Sơn đề cập đến khái niệm, nguyên tắc và đưa ra các giải pháp triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) [33][55]
Ngoài ra phải kể đến nhiều bài báo trên các Tạp chí khoa học, các tham luận khoa học trong các Hội thảo khoa học Quốc gia và Quốc tế những năm gần đây cũng đã chú trọng đến vấn đề đổi mới quản lý nhà trường, quản lý quá trình đào tạo theo các tiếp cận mới về quản lý chất lượng Một số bài của các tác giả:
Nguyễn Lộc (2010): “TQM hay là quản lý chất lượng toàn thể”,Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 54-03/2010; Nguyễn Tiến Đạt (2010): “Phát triển văn hóa chất lượng trong giáo dục và đào tạo”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 52-01/2010 Các bài báo, các tham luận khoa học đều đề cập đến triết lý và những đặc điểm cơ bản của
mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM) và trình bày một cách chung nhất về việc vận dụng quản lý chất lượng tổng thể (TQM) vào trong quản lý nhà trường, đồng thời nêu sự cần thiết phải tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) trong đổi mới quản
lý nhà trường, quản lý chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay
Trang 34Trong công trình nghiên cứu của Trần Thị Thanh Phương: “Quản lý trường đại học điện lực theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” đã nghiên cứu các luận
cứ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng đối với chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao theo tiếp cận TQM có sự tương thích và phù hợp yêu cầu quản lý chất lượng chương trình cử nhân chất lượng cao, từ đó xây dựng hệ thống quản lý chương trình đào tạo, đề xuất một số biện pháp vận dụng đặc trưng của TQM vào
quản lý chất lượng tại trường Đại học đại học điện lực [49]
Theo tác giả Đặng Việt Xô [75] với “Quản lý đào tạo ở Trường Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)” đã đề cập đến “Tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)”, khi đó nhà quản lý đào tạo nhìn nhận đối tượng quản lý như một chỉnh thể, các thành tố trong quá trình quản lý đào tạo gắn bó hữu cơ, tương tác lẫn nhau nên quản lý cũng cần có cái nhìn biện chứng, chất lượng ở đây
là chất lượng tổng thể, có chăng các thành tố chủ đạo trong đào tạo sẽ cần được đầu tư, coi trọng cải tiến đúng mức nhằm đạt được chất lượng những mục tiêu
Quản lý chất lượng tổng thể là phương thức quản lý chất lượng cao, hướng tới việc thường xuyên nâng cao chất lượng, mỗi người trong tổ chức đều thấm nhuần các giá trị văn hóa chất lượng cao Vì vậy, quản lý chất luợng tổng thể là phương thức quản lý chất lượng thích hợp nhất trong quản lý nhà trường ngày nay Các nghiên cứu của các học giả trong và ngoài nước về lĩnh vực quản lý chất lượng giáo dục và đặc biệt là giáo dục nghề chính là tư liệu cần thiết để tham khảo trong quá trình tìm kiếm cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng từ đó
đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo phù hợp với các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực việt Nam
Vấn đề vận dụng quản lý chất lượng tổng thể (TQM) trong Giáo dục & Đào tạo, ở nước ngoài đã được quan tâm từ hơn 20 năm nay trên cả phương diện lý luận
và thực tiễn Tuy nhiên, ở nước ta, đây là vấn đề còn đang rất mới mẻ, nhất là đối
với việc quản lý đào tạo của các nhà trường theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), trong đó có các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực việt Nam
1.4 Khái quát k ết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công
b ố và những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết
1.4.1 Khái quát k ết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu trên thế giới có liên quan đề tài luận án
Qua các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới có thể rút ra một số nhận xét dưới đây:
M ột là, quản lý đào tạo ở nước ngoài đều hướng tới đáp ứng yêu cầu đào tạo ngu ồn nhân lực chất lượng trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa học công
Trang 35ngh ệ hiện đại thế giới đã làm cho hoạt động quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng
gắn chặt chẽ hơn với khoa học và sản xuất Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đòi hỏi các trường cao đẳng phải cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực ngày càng nhiều về số lượng và ngày càng cao về chất lượng Các nghiên cứu về quản lý đào tạo của các trường cao đẳng trên thế giới đều nhằm hướng tới cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực đời sống xã hội Các quan niệm
về quản lý đào tạo đều hướng tới chất lượng đào tạo sinh viên với những phẩm
chất, năng lực cụ thể, đều nhằm hướng tới chất lượng người học với tư cách là nhân vật trung tâm, sản phẩm của quá trình đào tạo ở các trường cao đẳng để đáp ứng sự phát triển của xã hội
Hai là, các nghiên c ứu về quản lý đào tạo ở nước ngoài cung cấp một cách nhìn toàn diện về chất lượng đào tạo các khái niệm về chất lượng đào tạo đều
hướng vào chất lượng đào tạo những sinh viên, nhưng đều đặt chất lượng sinh viên với các thành tố khác của quản lý đào tạo như là những nhân tố hợp thành của chất
lượng đào tạo Ở các trường cao đẳng phải có nguồn lực sư phạm, khoa học, có đội
ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường với các thiết bị tốt nhất trong đào tạo
Ba là, tính hi ện đại, chính xác, mềm dẻo, hiệu quả của các công trình nghiên
c ứu về quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng trên thế giới
Quản lý đào tạo của các công trình nghiên cứu giáo dục trên thế giới đều xem chất lượng và quản lý chất lượng đào tạo như là một quá trình công nghệ đặc biệt, cần phải chú ý đầy đủ các yếu tố: Đầu vào, quá trình đào tạo, đầu ra, phương pháp quản lý, hiệu quả kinh tế xã hội
Tính hiện đại, của các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo đã áp dụng thành tựu của các khoa học có liên quan vào thực tiễn hoạt động quản lý và được kiểm tra bằng phương pháp khoa học Tính cụ thể, của các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo thể hiện ở tính khách quan của đánh giá chất lượng đào tạo với các cấp độ như thanh tra chất lượng; kiểm định chất lượng; đánh giá chất lượng; chính sách chất lượng;
kế hoạch chất lượng; kết hợp cả về mặt định lượng và định tính trong đánh giá quản lý đào tạo cũng như quản lý chất lượng đào tạo
Tính mềm dẻo các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo thể hiện ở các vấn
đề của quản lý đào tạo luôn lấy thực tiễn kinh tế xã hội luôn thăm dò nhu cầu của khách hàng, của xã hội để cải tiến áp dụng mô hình quản lý hiện đại, đảm bảo chất lượng giáo dục với các chính sách và chiến lược phù hợp
Trang 36Tính hiệu quả của các công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo thể hiện ở sự tối ưu hóa các hoạt động quản lý Vấn đề này thể hiện ở việc tính toán xác lập các điều kiện, các dữ liệu, phát hiện kịp thời tình hình, điều chỉnh nhanh chóng các sai sót, lệch lạc, bảo đảm tiết kiệm nhất về thời gian, sức lực để có thể bảo đảm được chất lượng đào tạo với kết quả tốt nhất
Các đề tài nghiên cứu khoa học trên thế giới đã cung cấp cơ sở lý luận khoa học và thực tiễn cho việc xác định các chủ trương, biện pháp quản lý đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo; ở các trường cao đẳng của nước ta trong giai đoạn hiện nay
1.4.2 Khái quát kế t quả các công trình nghiên cứ u trong
n ướ c có liên quan đề tài luậ n án
Từ các nghiên cứu về quản lý đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể nói riêng, có thể rút ra một số nhận xét:
Một là, các vấn đề lý luận về đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường đại học
và cao đẳng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), đã đáp ứng được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý đào tạo ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở các luận
điểm khoa học được thừa nhận, tác giả sẽ tập trung kế thừa và phát triển tính mới về các vấn đề: Đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực việt Nam Luận án sẽ bổ sung, làm phong phú thêm cơ sở lý luận về quản lý đào tạo như: Nghiên cứu hệ thống các vấn đề lý luận về khái niệm đào tạo và quản lý đào tạo; trình bày các nội dung đào tạo và quản lý đào tạo; tầm quan trọng của việc quản lý đào tạo; các biện pháp, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo
Hai là, các công trình nghiên cứu trong nước đã có cách tiếp cận mới về đào
t ạo và quản lý đào tạo được thể hiện thông qua sản phẩm đầu ra của một quá trình đào tạo, đó là năng lực của người đã tham gia quá trình đào tạo đáp ứng mục tiêu đề
ra c ủa nhà trường và xã hội Các công trình nghiên cứu trong nước đã tiếp cận, kế thừa
kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học trên thế giới, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể và thực tiễn đào tạo ở các trường ở nước ta hiện nay Các quan niệm đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo đã xác định; chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể
1.4.2 Nh ững vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết
Trang 37Qua tổng quan các công trình nghiên cứu vấn đề quản lý đào tạo ở các trường đại học và cao đẳng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) của các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam, tác giả rút ra một số kết luận cơ bản như sau:
Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh vai trò của đào tạo, đề cao tầm quan trọng của quản lý đào tạo cho sinh viên, coi đây là nội dung nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo hiện nay Ở mọi thời kỳ lịch sử, đào tạo luôn được coi trọng trong đời sống xã hội Tuy nhiên, ngoài những chuẩn mực đào tạo chung, thì
ở mỗi thời kỳ lịch sử khác nhau, môi trường điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau đào
tạo có sự biểu hiện cụ thể không giống nhau
Một số tác giả đi sâu nghiên cứu làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản của đào tạo, quản lý đào tạo nghề nghiệp cũng như khẳng định vị trí vai trò công tác quản lý đào tạo cho thế hệ trẻ, nhất là cho học sinh, sinh viên ở các trường Đã có những công trình chuyên khảo, đề tài nghiên cứu với các khía cạnh khác nhau về quản lý đào tạo Nhưng chưa chỉ ra con đường, biện pháp để quản lý đào tạo nghề nghiệp cho sinh viên
Về quản lý đào tạo cho sinh viên nói chung, đã có một số tác giả trên thế giới, trong nước đã có công trình luận án tiến sĩ nghiên cứu Tuy nhiên, quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam là vấn đề chưa được nghiên cứu một cách có
hệ thống, cơ bản Do vậy, cần có những công trình nghiên cứu về vấn đề này, nhằm đáp ứng thực tiễn đào tạo đội ngũ nhân viên kỹ thuật điện trong điều kiện xã hội hiện nay
Thông qua tổng quan vấn đề nghiên cứu đã đặt ra những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết các vấn đề chủ yếu như sau:
Th ứ nhất, làm rõ lý luận về quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập
đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)?
Thứ hai, xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung quản lý đào tạo ở các trường cao
đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM)
Thứ ba, điều tra, khảo sát, phác họa bức tranh thực trạng về quản lý đào tạo ở
các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM), từ đó làm cơ sở, nền tảng thực tiễn để đề xuất các biện pháp đào tạo và quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) một cách có hiệu quả
Th ứ tư, đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng thuộc
Tập đoàn Điện lực Việt nam theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) sao cho phù hợp và đạt hiệu quả phù hợp với đặc điểm từng trường, địa phương
Trang 38Có thể nói, những kết quả nghiên cứu tìm kiếm và nhiều vấn đề còn chưa giải quyết của các nhà khoa học nước ngoài và trong nước làm chỗ dựa quan trọng
để tác giả luận án xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn các quan điểm đổi mới về
quản lý đào tạo để làm sáng tỏ các nội dung trên
K ết luận chương 1
Từ tổng quan các công trình nghiên cứu các tác giả trên thế giới và ở Việt Nam về đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề và quản lý chất lượng đào tạo theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) ở các trường cao đẳng đã trình bày một cách
tổng quan về tình hình nghiên cứu về đào tạo nghề, quản lý đào tạo nghề và sự vận
dụng quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (TQM) vào trong lĩnh vực Giáo dục & Đào tạo ở trong và ngoài nước Nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề quan tâm hàng đầu, là nhiệm vụ số 1 của các trường cao đẳng nghề hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu các mô hình đánh giá chất lượng đào tạo, luận án đã lựa chọn được mô hình quản lý chất lượng tổng thể cùng các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo tại các trường cao đẳng Những tiêu chí này phù hợp để đánh giá chuẩn xác về chất lượng đào tạo
Việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước đã thu được những thành tựu
to lớn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước một phần nhờ vào việc phát triển hệ thống đào tạo dạy nghề, chiến lược, chính sách giáo dục đào tạo nghề đúng hướng cũng đã được luận án luận giải khá kỹ lưỡng Trên cơ sở phân tích những nét tương đồng và khác biệt, luận án đã đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong định hướng phát triển hệ thống đào tạo nghề, nâng cao
chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu cho xã hội
Quản lý đào tạo ở các trường cao đẳng theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể (TQM) nói riêng là một vấn đề khá mới mẻ, gặp nhiều khó khăn do tính đa dạng
và phạm vi rộng lớn của các hoạt động giáo dục ở phạm vi quốc gia và phạm vi cơ
sở đào tạo, luôn đòi hỏi tính đổi mới nhằm tương xứng trình độ phát triển khoa học, công nghệ - kỹ thuật đã và đang tiến nhanh như vũ bão, qua đó tạo ra sản phẩm, nguồn nhân lực chất lượng đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Cùng với quá trình chuẩn hóa giáo dục, việc triển khai hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng là một giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng đào tạo ở các trường cao đẳng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Trang 39Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGH Ề THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ (TQM) 2.1 Nh ững vấn đề lý luận về đào tạo ở các trường cao đẳng nghề
2.1.1 Các khái ni ệm liên quan
* Đào tạo
Đào tạo thường gắn với giáo dục, nhưng hai phạm trù vẫn có một số sự khác nhau tương đối Giáo dục được hiểu là các hoạt động và tác động hướng vào sự phát triển và rèn luyện năng lực (bao gồm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…) và phẩm chất (niềm tin, tư cách, đạo đức…) ở con người để có thể phát triển nhân cách đầy đủ nhất và trở nên có giá trị tích cực đối với xã hội Hay nói cách khác, giáo dục còn là quá trình khơi gợi các tiềm năng sẵn có trong mỗi con người, góp phần nâng cao các năng lực và phẩm chất cá nhân của cả thầy và trò theo hướng hoàn thiện hơn, đáp ứng các yêu cầu tồn tại và phát triển trong xã hội loài người đương đại
Th ứ nhất, theo từ điển Tiếng Việt, “Đào tạo được hiểu là việc: Làm cho trở
thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định” [25]
Th ứ hai, “Đào tạo là quá trình trang bị kiến thức nhất định về mặt chuyên môn, nghiệp
vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định” [12.tr.56]
Thứ ba, từ góc nhìn của các nhà giáo dục và đào tạo Việt Nam, khái niệm
tương đối đầy đủ là: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng và kỹ sảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết” [58]
Theo Edwin B.Flippo định nghĩa: Đào tạo là hành động tăng cường kiến thức
và kỹ năng của một nhân viên để thực hiện một công việc cụ thể [1]
Theo Michael J Jucius có quan điểm rằng: Đào tạo được sử dụng để chỉ quy trình mà theo đó năng khiếu, kỹ năng và khả năng của nhân viên để thực hiện các công việc cụ thể được tăng lên [1]
Hay nói cách khác, đào tạo là việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay
kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định
Giáo dục và đào tạo có điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức kỹ năng để phát triển năng lực của người lao động Tuy nhiên, trong giáo dục nhằm vào những năng lực rộng lớn còn đào tạo lại nhằm vào những năng
Trang 40lực cụ thể để người lao động đảm nhận công việc xác định, thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Kết quả đạt được là một trình độ học vấn nghiệp vụ, chuyên môn nhất định như: Tiến sĩ, Thạc sỹ, Kỹ sư, Trung cấp, Công nhân kỹ thuật…Đào tạo có nhiều hình thức (nhiều dạng) như đào tạo chính quy, tại chức, đào tạo lại, đào tạo chuyên sâu, đào tạo từ xa, đào tạo ngắn hạn, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ (nâng bậc lương đối với nhân viên kỹ thuật), bồi huấn nghiệp vụ hàng năm (bồi huấn giữ bậc hàng năm)
Quá trình chuy ển giao năng lực nghề nghiệp được thực hiện trong hoạt động cùng nhau c ủa thầy và trò, trong một môi trường dạy học xác định Xét từ góc độ
này, quá trình đào tạo gồm các thành tố chính sau:
Mục tiêu và nội dung, chương trình đào tạo (đối tượng, thời gian, mục tiêu, nội dung, phương pháp, đánh giá kết quả học tập )
Hoạt động giảng dạy của giảng viên
Hoạt động học của học sinh/sinh viên
Hoạt động giám sát, đánh giá kết quả học tập
Môi trường đào tạo (môi trường vật chất, tinh thần và môi trường văn hóa)
Từ những phân tích nêu trên có thể cho rằng:
Đào tạo là: Quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ
trong một thời gian nhất định nhằm đạt được kết quả đào tạo theo mục đích, lĩnh
h ội kinh nghiệm, nghiệp vụ chuyên môn, nâng cao năng lực cá nhân và đáp ứng nhu c ầu thực tế của tổ chức xã hội
* Đào tạo nghề
Tổ chức ILO định nghĩa: Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp được giao [87]
Luật Dạy nghề ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006 quy định: “Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo
việc làm sau khi hoàn thành khóa học”
Đào tạo nghề là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái
độ cần thiết cho người học để thực hiện công việc có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề Gồm đào tạo ban đầu, đào tạo lại, đào tạo nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến công việc chuyên môn hóa [72]