1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHĨA TƯỜNG MINH VÀ NGHĨA HÀM ẨN TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

48 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghĩa Tường Minh Và Nghĩa Hàm Ẩn Trong Truyện Cười Dân Gian Việt Nam
Tác giả Lưu Thị Huyền
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thu Nga
Trường học Trường Đại Học Thủ Đô Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học xã hội
Thể loại Luận văn tốt nghiệp cao đẳng
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 569,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Từ việc nghiên cứu và phân tích sự vi phạm phương châm hội thoại trong các truyện cười dân giân Việt Nam, khóa luận đã chỉ ra và lí giải cơ chế tạo ra nghĩa hàm ẩn t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ HÀ NỘI

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Nguyễn Thị ThuNga, người hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ em trong quá trình học tập vàthực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô khoa Khoa học xã hội, TrườngĐại học Thủ Đô Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, giúp đỡ, động viên chúng emtrong khóa học

Nhân dịp này em xin gửi tới lời cảm ơn chân thành tới những ngườithân trong gia đình, các bạn sinh viên lớp Sư phạm Ngữ Văn C2016 đã giúp

đỡ em, quan tâm khích lệ để em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Tác giả khóa luận

Lưu Thị Huyền

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận “Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩntrong truyện cười dân gian Việt Nam ” là công trình nghiên cứu củariêng tôi với sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thu Nga, trườngĐại học Thủ Đô Hà Nội Các kết quả trong khóa luận chưa từng đượccông bố ở bất kì công trình nào khác Các trích dẫn trong khóa luậnđảm bảo tính tin cậy, chính xác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2019Tác giả khóa luận

Lưu Thị Huyền

Trang 4

7 Nguồn tư liệu.

PHẦN NỘI DUNG:

1 Khái quát về nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn 4

3.2: Quan hệ với hình thức ngôn ngữ tạo nên phát ngôn 6

4 Cơ chế tạo ra những nghĩa hàm ẩn cố ý 9

4.1: Sự vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất 9

4.5: Phương châm cộng tác hội thoại của Grice và nghĩa hàm ẩn 11

Trang 5

CHƯƠNG 2:CÁC CƠ CHẾ TẠO RA NGHĨA HÀM ẨN TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM- SỰ VI PHẠM PHƯƠNG CHÂM HỘI

Các truyện cười vi phạm phương - Lợn cưới áo mới

- Giấy khổ to

- Đánh quân ngũ sắcCác truyện cười vi phạm phương - Con rắn vuông

- Ăn trộm dây thừng

- Điều kỳ lạCác truyện cười vi phạm phương - Đúng như lời

- Anh Cả Ngố “ còn gì bằng”

- Thấy mình về tôi mừngquá

Các truyện cười vi phạm phương - Cưỡi ngỗng mà về

châm về cách thức - Giàn hoa Thiên Lí sắp đổ

- Mất rồi

- Trung thần nghĩa sĩ

PHẦN KẾT LUẬN

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU:

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Ngữ dụng học là một môn học tiếp cận ngôn ngữ một cách toàn diện nênviệc tìm hiểu về bộ môn này trở thành một điều thiết yếu, cần thiết đối với aiquan tâm và tìm hiểu về tiếng Việt

Trong học phần ngữ dụng học,lý thuyết nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn

là một phần quan trọng, trong đó hội thoại là một bộ phận, hội thoại đượcdùng trong hoạt động giao tiếp Và trong giao tiếp sẽ có những cấu trúc phứctạp, có nhiều qui định mà người tham gia giao tiếp cần phải tuân thủ theo, nếukhông thì sẽ không đạt được đúng nội dung và mục đích giao tiếp

Là một trong số các thể loại đặc sắc của nền văn học Việt Nam, truyện cười

đã sử dụng các qui tắc hội thoại Truyện cười đem đến cho chúng ta nhiềucảm xúc, đặc biệt là tiếng cười, tiếng cười mua vui, tiếng cười châm biếm.Nhưng nhiều lúc chúng ta tự hỏi tại sao cười? điều gì tạo nên tiếng cười? cơchế tạo nên đó là gì? Ít người có thể trả lời được câu hỏi đó Do đó, đã cónhững công trình nghiên cứu về truyện cười , để lý giải, cung cấp kiến thức vềlĩnh vực này

Từ những điều nêu trên.Chúng tôi chọn đề tài Nghĩa tường minh và nghĩahàm ẩn trong truyện cười dân gian Việt Nam làm đề tài nghiên cứu Đi sâuvào các quy tắc hội thoại để phân tích cơ chế tạo ra tiếng cười

Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc dạy đọc hiểu các truyện cười dân gianViệt Nam trong chương trình Ngữ văn THCS

Trang 7

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU:

Truyện cười ra đời từ rất sớm, nhưng chúng ta khó có thể khẳng định chínhxác thời gian của nó, có thể nói truyện cười ra đời từ lúc con người ra đời vànhu cầu muốn trao đổi tư tưởng tình cảm bắt đầu và giao tiếp bắt đầu

Trong thời gian tìm hiểu và nghiên cứu, tôi nhận thấy và biết được có không

ít công trình nghiên cứu về truyện cười dưới góc độ của ngữ dụng học như:

1 Các công trình nghiên cứu về cấu trúc truyện cười dân gian Việt Nam:

1.1: Trịnh Sâm ,”Nghệ thuật tổ chức văn bản trong truyện cười bác

Ba Phi”, Ngôn ngữ, số 12, năm 2000.

Trong bài nghiên cứu ông đã chỉ ra được cách tổ chức cấu trúc và sử dụngdụng một số thủ pháp nghệ thuật trong Truyện cười Thông qua 56 truyện

cười bác Ba Phi Trịnh Sâm đã chỉ ra bốn cấu trúc tổ chức văn bản: Cấu trúc

tuyến tính, cấu trúc đảo trình tự, cấu trúc song hành và cấu trúc hỗn hợp Và

một số thủ pháp như:Thủ pháp tăng tiến, thủ pháp khuếch , thủ pháp chuẩn bị

ngữ cảnh.Và tác giả tập trung vào hai cấu trúc đó là cấu trúc tuyến tính và cấu trúc đảo trật tự.

1.2 Trần Hoàng, “Những sắc thái độc đáo của tiếng cười dân gian

Nam Bộ qua truyện kể BaPhi”, Ngôn ngữ, số 8, năm 2002.

Tác giả đã rút ra một số biện pháp gây cười là “ngoa dụ”, một số biện pháp

tu từ, giọng điệu mang tính khẩu ngữ người Nam Bộ, từ ngữ địa phương Có

thể nói những biện pháp mà Trần Hoàng đã chỉ ra là những biện pháp chung

và thường xuyên để tạo nên yếu tố gây cười

1.3: Bùi Khắc Viện, “Tiếng cười trong phong cách ngôn ngữ của

Bác qua tác phẩm bằng Tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 2 , năm 1980.

Ông cho rằng có hai biện pháp gây cười là chủ yếu, đó là : Ngôn ngữ học và

phi ngôn ngữ học và Ngôn ngữ học là biện pháp đặc thù để khai thác truyện

Trang 8

cười, ông còn chỉ ra nmoojt số biện pháp nghệ thuật sự dụng tạo tiếng cười

trong truyện cười dân gian là : Chơi chữ, tương phản,… Biện pháp phi ngôn ngữ học gồm các thao tác lựa chọn và sắp xếp các chi tiết.

2 Các công trình nghiên cứu hàm ý hội thoại và hiện tượng mơ hồ trong truyện cười dân gian Việt Nam:

2.1 :Nguyễn Đức Dân, ”Hiện tượng mơ hồ trong nghệ thuật gây

cười”, Người Hà Nội, số 51, năm 1987.

Ông cho rằng hiện tượng mơ hồ chẳng những được dùng trong những câu truyện cười , những nụ cười ngắn gọn, mà nó được dùng để xây dựng những câu truyện cười Những câu truyện cười Việt Nam thường được dựa trên hiệntượng mơ hồ về ngôn ngữ

2.2: Nguyễn Thị Hoàng Yến , “Hàm ý hội thoại trong các truyện cười

dân gian:Khoe của và Hai kiểu áo ”, Ngôn ngữ , số 8, năm 2002.

Tác giải khai thác tiếng cười trong các truyện này nhằm mục đích làm rõđặc tính của truyện cười, và hàm ý hội thoại là một phần không thể thiếu đểtạo nên yếu tố gây cười

Và em cũng tìm được khá nhiều các công trình khác về truyện cười nhữngmang tính biên soạn và tuyển tập như:

1 Đinh Gia Khách, NXB Giáo dục, năm 2002: “ Văn học dân gian Việt Nam’’ Nội dung chủ yếu tìm hiểu và tiếng cười trong tập truyện cười.

Tiếng cười mua vui giải trí,tiếng cười mỉa mai,phê phán, sâu cay,

2 Hoàng Tiến Tựu, NXB Giáo dục, năm 2002: “ Văn học dân gian

Việt Nam”

3 Trương Chính& Phong Châu, NXB Lao động- Xã hội năm 2006: “Tiếng

cười dân gian Việt Nam” , Với các nội dung như: Nêu khái quát về

Trang 9

truyện cười, đối tượng, biện pháp gây cười, ý nghĩa của tiếng cười trong

xã hội,…

4 Văn Tân ,NXB Văn – Sử - Địa, năm 1957“ Tiếng cười Việt Nam”: Tác

giả đã nêu ra một số biện pháp để gây cười như: Phóng đại,kịch tính, tiếulâm và cái tục,…

5 Nguyễn Hồng Phong ,NXB Văn – Sử - Địa, năm 1957: “ Truyện tiếu lâm’’ Tác giả đã chỉ ra các đặc điểm để gây cười đó là: Sự khai thác triệt

để mâu thuẫn trái tự nhiên,sự sắp đặt các mâu thuẫn trong thế tương phản

để gây cười, phương pháp nói ngoa- phóng đại, lối nói thắt nút

3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Từ việc nghiên cứu và phân tích sự vi phạm phương châm hội thoại trong các truyện cười dân giân Việt Nam, khóa luận đã chỉ ra và lí giải cơ chế tạo ra nghĩa hàm ẩn trong truyện cười

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :

4.1: Nghiên cứu lí luận về Ngữ dụng học và truyện cừi dân gian Việt Nam

4.2: Miêu tả và phân tích truyện cười có vi phạm phương châm hộithoại

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU: Nghiên cứu nghĩa tường minh và

nghĩa hàm ẩn trong truyện cười được tạo ra từ cơ chế nào? Vi phạm quy tắc phương châm hội thoại nào? Nghiên cứu trong truyện cười dân gian Việt Nam

6 PHƯƠNG PHÁP NGHÊN CỨU: Phân tích diễn ngôn,

chuyên gpia, tổng hợp, thống kê, phân tích,…

PHẦN NỘI DUNG:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI :

Trang 10

Toàn bộ phần lý thuyết, cơ sở lí luận của đề tài được dựa trên sự tham khảo

của cuốn giáo trình “Ngữ dụng học” của Đỗ Hữu Châu & Đỗ Việt

Hùng-NXB Đại học Sư Phạm, ngày 4 tháng 1 năm 2007.

1 Khái quát về nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn.

Muốn nghiên cứu về đề tài trước hết ta cần hiểu nghĩa tường minh và nghĩahàm ẩn là gì?

- Nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ đem lại được gọi là nghĩa tường

minh.

- Các nghĩa nhờ suy ý mới nắm bắt được gọi là nghĩa hàm ẩn.

VD: Người mẹ nói với con gái mình:

“Con năm nay 28 tuổi rồi đó!’’

-Phát ngôn này ngoài nghĩa tường minh người mẹ muốn nói với đứa con gáicủa mình về tuổi của cô ấy thì nghĩa hàm ẩn của bà mẹ muốn truyền đạt đến

cô ấy rằng:” Năm nay con đã 28 tuổi rồi, hãy mau lo việc lấy chồng ổn địnhgia đình đi chứ”( ở Việt Nam con gái 28 tuổi chưa lấy chồng là muộn)

2 Phân loại tổng quát nghĩa hàm ẩn.

Nghĩa hàm ẩn có 2 loại:Tiền giả định

 Hàm ngôn

*Tiền giả định là những căn cứ cần thiết để người nói tạo ra ý nghĩa

tường minh trong phát ngon của mình.

*Hàm ngôn là tất cả những nội dung có thể suy ra từ một phát ngôn cụ thể nào đó từ nghĩa tường minh cùng với tiền giả định của nó.

Trang 11

VD:”Hôm qua mẹ thấy con đã đi chơi với một người bạn nam đến 11h đêmmới về đó”

-Nghĩa tường minh:Tối hôm qua người con đã đi chơi với một bạn nam đến11h đêm

-Nghĩa hàm ẩn là:

+Tiền giả định: >Cô con gái có một cuộc hẹn vào tối hôm qua

>Đối với con gái Việt Nam đi chơi với một bạn nam vào buổi tối đến 11h đêm là không tốt

+Hàm ngôn: Người mẹ muốn nhắc nhở con gái rằng “hãy dừng lại ngay việc

đó, đừng để nó tiếp diễn lần thứ hai”

3.Tiền giả định và hàm ngôn.

Tiền giả định và hàm ngôn cùng nằm trong một phạm trù lớn hơn là phạmtrù nghĩa hàm ẩn của phát ngôn bởi chúng đều không được nói ra một cách tường minh , chúng chỉ nắm bắt nhờ thao tác suy nghĩ , Cho đến nay , phân biệt tiền giả định và hàm ngôn vẫn còn là một vấn đề lớn của ngữ dụng học

Và để phân biệt tiền giả định và hàm ngôn chúng ta cố thể dựa vào những đặc điểm sau:

3.1 Quan hệ với nghĩa tường minh:

Tiền giả định là những hiểu biết được xem là bất tát phải bàn cãi , bát tấtphải đặt ván đề, đã được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vàochúng mà người nói tạo nên các nghĩa tường minh trong phát ngôn của mình,

có thể được hiểu là tiền giả định luôn luôn đúng.(trừ những trường hợp ngườinói tạo ra một phát ngôn mà nghĩa tường minh dựa trên một tiền giả định sai,bịa đặt

Trang 12

Hàm ngôn là những hiểu biết hàm ẩn có thể suy ra từ nghĩa tường minh và tiền giả định của nghĩa tường minh

Nếu không có nghĩa tường minh và tiền giả định của nó, không thể suy

ra được nghĩa hàm ngôn thích hợp

VD: “Hôm nay lại uống trà sữa à anh?”

- Tiền giả định : Hôm qua, thậm trí là mấy ngày liên tục trước thì chàngtrai đều mời cô gái uống trà sữa

- Nghĩa tường minh: Cho đến ngày hôm nay thì chàng trai vẫn tiếp tục mời cô gái uống trà sữa

Từ tiền giả định và nghĩa tường minh trên thì cô gái muốn dẫn tới hàmngôn:

- Em không muốn đi chơi với anh nữa

- Em không muốn uống nữa

- Em sợ béo

- Uống nhiều rồi , khá nhàm chán em muốn đổi thức uống khác,…

3.2: Quan hệ với hình thức ngôn ngữ tạo nên phát ngôn.

- một phát ngôn có thể có nhiều tiền giả định nhưng chỉ có một hoặc một sốdính líu đến ( quan yếu với) nghĩa tường minh của phát ngôn

- C Kerbrat Orecchionni đưa ra định nghĩa về tiền giả định như sau: ‘’

chúng tôi xem là tiền giả định tất cả những thông tin mặc dầu không được truyền báo một cách tường minh ( tức không cấu thành đối tượng truyền báo chân chính một thông điệp) nhưng phải được tự động diễn đạt bởi tổ chức hình thức của phát ngôn nằm sẵn trong tổ chức của phát ngôn bất kể hoàn cảnh của phát ngôn như thế nào’’ Định nghĩa này nhấn mạnh một đặc điểm

: Tiền giả định nhấn mạnh một tính chất ‘’ bất tất phải bàn cãi của nó’’ phải

có quan hệ với các yếu tố ngôn ngữ đánh dấu nó

Trang 13

- tiền giả định tương đối ít lệ thuộc và ngữ cảnh , trái lại , hàm ngôn không tấtyếu phải được đánh dấu bởi các dấu hiệu ngôn ngữ, mà nó lệ thuộc sâu sắc vào ngữ cảnh.

VD: Tôi đã không đi tập gym một tháng nay rồi

+ Cơ thể tôi thấy uể oải

+ Vóc dáng tôi xấu quá

3.3: Lượng tin và tính năng động hội thoại.

- Nhiều tác giả cho rằng bởi tiền giả định là những điều ‘’bất tất phải bàn cãi

‘’ cho nên không có tính thông tin Qủa vậy, tiền giả định là những hiểu biết

mà người nói và người nghe có chung, dựa vào đó mà tạo nên ý nghĩa tườngminh và hàm ngôn, cho nên không phải là cái mới , do đó có lượng tin thấp

- Trong một văn bản như đã biết, những điều nói ở tiền ngôn được xem là tiền giả định cho những phát ngôn sau, bởi vậy thong tin mà tiền giả định cung cấp đẫ là quan yếu ở tiền ngôn , không còn có thể quan yếu đối với phátngôn đang xem xét

- Tuy nhiên , cần phân biệt khái niệm hiệu quả thông tin và lượng tin Xét trong một phát ngôn, tiền giả định không quả hiệu quả thông tin nhưng vẫn cólượng tin Lượng tin này không quan yếu đối với hiệu quả thông tin của phát ngôn đang xem xét nhưng vẫn là cần thiết để lý giải hiệu quả thông tin của phát ngôn

- Mặt khác, tiền giả định không phải bao giờ cũng có hiệu quả thông tin, Chúng ta đã nói tới các nghĩa hàm ẩn cố ý , các nghĩa hàm ẩn trong ý định truyền báo của phát ngôn Trong trường hợp hàm ẩn cố ý rời vào tiền giả địnhthì chính tiền giả định lại có hiệu quả thông tin cao hơn là nghĩa tường minh

và hàm ngôn

Trang 14

- Có lẽ điều quan trọng đối với giao tiếp là ở tính năng động hội thoại của tiền giả định , nghĩa tường minh và hàm ngôn Nói chung nghĩa tường minh

và hàm ngôn có tính năng động hội thoại cao hơn là tiền giả định , có nghĩa

là nghĩa tường minh và hàm ngôn là một giai đoạn trong hội thoại , từ giai đoạn này mà hội thoại tiến thêm bước mới

- Tiền giả định thì khác , kể cả trường hợp tiền giả định là nghĩa cố ý , có thể

là một bước để tiếp tục cuộc hội thoại Nhưng nếu tiếp tục cuộc hội thoại dựavào tiền giả định thì cuộc hội thoại sẽ giật lùi, đôi khi luẩn quẩn, thậm trí gây

ra cãi vã, làm hỏng cuộc hội thoại, cuộc hội thoại sẽ không tiến lên được

3.4: Phản ứng đối với các dạng phát ngôn:

Trừng những tiền giả định đóng vai trò nghĩa hầm ẩn cố ý( đối tượngtruyền báo chính của phát ngôn) , các tiền giả định thong thường có nhữngđặc điểm sau đây khi phát ngôn biến đổi:

Bởi tiền giả định là điều đã được xem là ‘’ bất tất phải bàn cãi’’ cho nên

nó không thể loại bỏ ngay trong cùng một phát ngôn Việc khử tiền giả địnhbằng những kết tử lập luận nghịch hướng sẽ dẫn tới sự vô nghĩa hoặc mâu thuẫn

Trang 15

Gắn bó với tính chất này là tính chất không thể nối kết phát ngôn có nghĩatường minh với tiền giả định của nó.

Đối chiếu với tiền giả định, các hàm ngôn không có các đặc điểm nói trên

4.Cơ chế tạo ra những nghĩa hàm ẩn cố ý:

Các nghĩa hàm ẩn tạo ra dựa vào tất cả các quy tắc của ngữ dụng :

- Quy tắc chiếu vật và chỉ xuất

- Quy tắc chi phối các hành động ngôn ngữ

- Quy tắc lập lập

- Quy tắc hội thoại

Muốn tạo ra được nghĩa hàm ẩn cố ý, người nói một mặt phải tôn trọng

các quy tắc này và gủa định người nghe cũng biết và tôn trọng chúng, mặt khác lại cố ý vi phạm chúng và giả định rằng người nghe cũng ý thức được chỗ vi phạm đó của mình Nghĩa hàm ẩn cố ý xuất hiện và được lí giải ở chỗ vi phạm đó.

Và chúng ta có một số trường hợp vi phạm sau đây:

4.1 Sự vi phạm quy tắc chiếu vật và chỉ xuất:

Trong Tiếng Việt của chúng ta , hệ thống các từ xưng hô trong hội thoạihết sức phong phú , tế nhị Mỗi cặp xưng hô đều tiền giả định những kiểu

Trang 16

quan hệ vị thế xã hội nhất định và việc sử dụng cặp từ xưng hô nào sẽ quyđịnh quan hệ giao tiếp cần phải giữ trong suốt cuộc hội thoại:

VD1: Cặp từ xưng hô “ bố’’/’’con’’ có tiền giả định là hai đối tượng có quan hệ gia đình Hiện nay, trong giao tiếp , giữa hai người xa lạ, chẳng cóquan hệ huyết thống , quan hệ gia đình , cũng không có gì than mật, cặp từ xưng hô bắt đầu cuộc hội thoại là ‘’ bác’’/’’tôi’’,’’bác’’/’’cháu’’,

‘’cụ’’/’’cháu’’… Bỗng nhiên đối tượng thay đổi xưng hô bằng cặp

‘’bố’’/’’con’’ Với sự thay đổi cố ý này nhân vật ngầm tỏ rằng quan hệ xa lạtrước kia nay đã thay đổi hoặc tỏ ra một cách hàm ẩn rằng:

- Tôi xem quan hệ giữa ông và tôi là con quan hệ bố con

- Tôi muốn quan hệ thân mật với ông như người nhà trong gia đình.VD2: Trong các cuộc cãi lộn giữa vợ chồng , không ít trường hợp người

vợ và người chồng chuyển từ xưng hộ ‘’anh “/ ‘’em’’ sang ‘’anh ‘’/ ‘’tôi’’ ,cuối cùng thì là ‘’mày’’/’’tao’’

VD3: Tương tự như cuộc cãi vã của anh em trong nhà thường ngày,

họ chuyển từ xưng hô “anh”/”em” sang “mày”/”tao”

Sự thay đổi cách xưng hô như vậy tỏ ra rằng có sự thay đổi trong quan

hệ giữa hai người mà không cần tuyên bố ‘’tường minh’’ nó ra

4.2 Các hành động ngôn ngữ gián tiếp.

Khi chúng ta sử dụng các hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp là biệnpháp rất có hiệu lực để truyền báo các nghĩa hàm ẩn, đặc biệt là nghĩa có

ý ngữ dụng học

VD: Người mẹ hỏi con gái của mình đi chơi về muộn vào buổi đêm:-‘’ Bây giờ là mấy giờ rồi?’’

Trang 17

Đặt câu hỏi này người mẹ rõ ràng vi phạm điều kiện chuẩn bị và điều kiện tâm lý của hành động hỏi – người mẹ đã biết giờ quá muộn vào ban đêm Trong tình thế của mình , người con gái biết ngay ý định nhắc nhở , cảnh cáocủa mẹ về việc đi chơi về muộn.

Đáp lại những câu hỏi kiểu như vậy , không phải là những câu trả lời ‘’nhơnnhơn’’ như ‘’ dạ, 12h đêm rồi mẹ ạ’’ mà phải là những phát ngôn xin lỗi , thanh minh… như: ’’ con xin lỗi ạ!”

4.3 Sự vi phạm quy tắc lập luận:

Người nói chỉ đưa ra lập luận cứ để người nghe đưa ra kết luận hoặc đưa

ra kết luận để người nghe suy ra luận cứ Không hoàn tất các bước lập luận là cách thường được dùng để tạo ra các hàm ngôn

4.4 Sự vi phạm các quy tắc hội thoại:

Trước hết chúng ta xét hai ví dụ sau:

VD1: Người anh trai hỏi bác về đứa em gái họ của mình lâu ngày không gặp:-“ em Thủy học có giỏi không ạ?”

-“ hai năm học lớp 1, ba năm học lớp 2,bốn năm học lớp 3,năm nay mớiđược lên lớp 4”

Thay vì dùng hành động hỏi đáp cho câu hỏi, thì người mẹ đã vi phạm một cách cố ý quy tắc hội thoại chi phối chức năng ở lời của các hành động

trong cặp hội thoại Phát ngôn của người mẹ ngầm trả lời cho đứa cháu trai của mình rằng “ Thủy học dốt”

VD2: Hai người bạn học sinh nói với nhau:

- “ Ê Hương! Tao vừa biết một tin động trời của con Lan này, nó ”

- “ Mày ăn gì chưa, có muốn đi ăn với tao không?”

Trang 18

Người bạn Hương đã vi phạm quy tắc hội thoại, vi phạm quy tắc tôn trọngthể diện ở chỗ vi phạm lãnh địa hội thoại , Hương đã ngắt lời người bạn củamình khi người bạn đang kể về việc xấu hổ của nhân vật Lan Và câu trảlời của Hương thì không hề liên quan đến câu chuyện đang kể

Nhưng chúng ta không thể cho rằng Hương là một người thô lỗ khi xét về

nghĩa hàm ẩn trong sự vi phạm đó: Hương muốn nhắn với người bạn của

mình rằng pải cảnh giác, việc nói xấu không nên nói to chỗ đông người, như thế là không hay và mất lịch sự, chỉ nên nói lúc chit có hai chúng ta mà thôi, để trách phiền hà.”

Qua hai ví dụ trên chúng ta tháy sự vi phạm cố ý các quy tắc điều khiểncấu trúc chức năng hội thoại,… cũng là biện pháp để truyền đạt các nghĩahàm ẩn cố ý

4.5 Phương châm cộng tác hội thoại của Grice và nghĩa hàm ẩn.

Grice cho rằng người nói có tính “xúc phạm” một hoặc một số nguyên tắc

để khai thác chúng Ông đặt tên cho cách dùng này là “sự xúc phạm” hay là

“sự khai thác” các nguyên tắc cộng thoại

Các nghĩ hàm ẩn này dựa vào tính vững chắc của phương châm cộng tác hội thoại và hoạt động theo cơ chế: Khi phát ngôn trệch ra khỏi nguyên tác nào đó thì người nghe vẫn tiếp tục lí giải nó sao cho phù hơp với sự cộng tác trong hội thoại càng nhiều càng tốt

Như vậy , bằng cách vi phạm nguyên tắc cộng tác hội thoại , người nóibuộc người nghe phải vận dụng thao tác suy ý để đạt đến một nghĩa nào

đó ,và chỉ với nghĩa được suy ra đó, người nói mới được xem là vẫn tôntrọng phương châm cộng tác

Những hàm ẩn hội thoại đặc thù là cơ sở của môt số ‘’biện pháp tu từ’’trong từ học của Aristole như:

Trang 19

Nguyên tắc về chất

Nguyên tắc về lượng

Nguyên tắc về quan hệ

Nguyên tắc về cách thức

Trang 20

Tiểu kết:

Xét về toàn bộ phần lý thuyết, cơ sở lý luận của đề tài, ta có thể thấy, cơ chế tạo ra tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam thuộc nhóm phần lý

thuyết 4.4 : Sự vi phạm qui tắc hội thoại và 4.5: Phương châm cộng tác hội

thoại của Grice và nghĩa hàm ẩn Việc sử dụng , tuân thủ các phương châm

hội thoại sẽ giúp chúng ta thàng công trong việc giao tiếp , truyền đạt , trao đổi thông tình và gửi gắn tình cảm hằng ngày Nhưng đôi khi chúng ta chúng

ta không tuân thủ các phương thức hội thoại, cố ý tại ra những hàm ẩn, mà đốiphương muốn hiểu phải suy ý mới có thể rõ được Đó là một điều vô cùng đặcbiệt và tinh tế trong ngôn ngữ Việt Nam và truyện cười dân gian cũng sử dụngkhía cạnh vi phạm phương châm hội thoại và cố ý vi phạm phương châm hội thoại để tạo nên tiếng cười mua vui, hài hước hay mỉa mai hàm ẩn cho truyện cười

Trang 21

CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ TẠO RA NGHĨA HÀM ẨN TRONG TRUYỆN CƯỜI DÂN GIAN VIỆT NAM- SỰ VI PHẠM PHƯƠNG CHÂM HỘI

THOẠI.

Để giao tiếp một cách thành công, thì chúng ta phải tuân thủ các phương châm hội thoại đề ra Nhưng trong một số trường hợp, để đạt được mục đích giao tiếp, muốn truyền đạt thì đôi khi chúng ta lại không tuân thủ theo các phương châm hội thoại Những sự vi phạm cố ý này cũng mang đến một hiệuquả giao tiếp nhất định và đem lại tiếng cười Từ việc khảo sát, phân tích cáctruyện cười dân gian Việt Nam, Khóa luận nhận thấy những truyện cười vi phạm phương châm hội thoại như sau:

1 Sự vi phạm phương châm về lượng

Phương châm về lượng yêu cầu trong quá trình đối thoại các chủ thể thamgia hoạt động giao tiếp truyền đạt lượng tin vừa đủ, không thừa cũng không thiếu Thông tin thừa, đi lệch so với đề tài trong quá trình hội thoại một cách có chủ ý sẽ phục vụ một lý do nào đó của người tham gia hội thoại Cụ thể nhất, tiếng cười trong truyện cười dân gian Việt Nam được xây dựng từ

sự không tuân thủ này

VD1:

LỢN CƯỚI ÁO MỚI

Có anh tính hay khoe của Một hôm, may được cái áo mới, liền đem ra mặc, rồi đứng hóng ở cửa, đợi có ai đi qua người ta khen.

Đứng mãi từ sáng đến chiều chả thấy ai hỏi cả, anh ta tức lắm.

Trang 22

Đang tức tối, chợt thấy một anh, tính cũng hay khoe, tất tưởi chạy đến hỏi to:

– Bác có thấy con lợn cưới của tôi chạy qua đây

không? Anh kia liền giơ ngay vạt áo ra, bảo:

– Từ lúc tôi mặc cái áo mới này, tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả!

( Nguồn: Sách giáo khoa Ngữ Văn 6 hoặc truyện cười dân gian ViệtNam)

Qua ví dụ trên ta có thể thấy, để đạt được mục dích khoe khoang chiếc áomới và con lợn cưới của mình, hai anh chàng đã vi phạm phương châm hộithoại-vi phạm phương châm về lượng, cung cấp thừa lượng thông tin Chẳng

hạn , chàng thứ nhất chỉ cần hỏi: “ Bác có thế con lợn của tôi chạy qua đây

không?’’ và người kia chỉ cần trả lời “ tôi chẳng thấy con lợn nào chạy qua đây cả” là được Nhưng hai anh chàng lại thêm thông tin mình mặc “áo mới”

và “con lợn cưới’’.

Nhìn từ góc độ nền văn hóa của Việt Nam, “con lợn cưới’’ là lợn dùng

trong đám cưới, anh chàng muốn khoe lợn cưới là khoe nhà mình có đámcưới, nhà có tin vui , có việc lớn và nhà có gia xúc để dùng trong việc gia đình

thường là những nhà khá giả “áo mới’’

Ngày xưa, để có một tấm áo mới là chỉ có trong những dịp quan trọng,những lễ hội họ mới dám mua áo mới để chuẩn bị , anh chàng này thì ngàythường được mua, và đó là điều đặc biệt, và anh chàng ấy muốn khoe với tất

cả mọi người về chiếc áo mới đó, ngay cả khi không ai hỏi về chiếc áo thì anhvẫn nói ra… Tuy nhiên ,nhờ sự dư thừa đó, ta mới phát hiện được tiếng cườiđầy ẩn ý phía sau đó

Trang 23

NÓI CÓ ĐẦU CÓ ĐUÔIMột lão nhà giàu có anh đầy tớ tính rất bộp chộp, thấy có gì nói ấy,

gặp đâu nói đó, chẳng có đầu có đuôi gì cả Lão mới gọi anh ta bảo:

-Mày ăn nói chẳng có đầu đuôi gì cả, người ta cười cả tao lẫn mày Từ

rày nói cái gì thì phải nói cho có đầu có đuôi nghe không!

Anh đầy tớ vâng vâng dạ dạ

Một hôm lão mặc quần áo sắp sửa đi chơi, đang ngồi hút thuốc thì

thấy anh đầy tớ đứng chắp tay trịnh trọng nói:

-Thưa ông, con tằm nó nhả tơ, người ta mang tơ bán cho người tàu, người

tàu đem dệt thành the rồi bán sang ta Ông đi mua the về may thành áo Hôm nay ông mặc áo ông hút thuốc Tàn thuốc nó rơi vào áo ông, và áo ông đang cháy.

Lão giật mình nhìn xuống thì áo đã cháy to bằng bàn tay rồi

( Nguồn : Tiếng cười dân gian Việt Nam)Trong văn hóa giao tiếp tiếp của người Việt Nam, thì chúng ta cần phải tôntrọng tính lịch sự trong các mối quan hệ như giữa người lớn tuổi và người nhỏ tuổi, cấp bậc, địa vị xã hội, tuổi tác,… tức là phải ăn nói lịch sự lễ phép,

có thư có gửi, có đầu, có đuôi Và điều mà ông chủ nhắc anh đầy tớ nhà mình

ăn nói với chủ với những người bề trên phải lễ phép có đầu có đuôi là hoàn toàn đúng

Nhưng Anh đầy tớ tuân thủ mệnh lệnh của ông chủ một cách cứng nhắc –nói có đầu có đuôi, chính vì như vậy anh đầy tớ đã nói ra lượng tin quá thừa

so với những gì cần nói trong tình huống lúc đó

Trang 24

Trong tình huống khẩn cấp ở trên , thì anh đầy tớ chỉ cần nói “thưa ông,

áo ông đang cháy “ là được, nhưng anh lại liệt kê hàng loạt các sự việc trước

đó mà anh đã thấy và quan sát mà anh cho là đó là cách nói có đầu có đuôi ,lễphép nà ông chủ muốn anh nói

Nếu xét về hiệu quả giao tiếp, thì anh đầy tớ đã thất bại do truyền đạt thông tin quá chậm, và xét về tuân thủ quy tắc hội thoại thì anh đầy tớ đã không tuân thủ và vi phạm quy tắc hội thoại – vi phạm phương châm về lượng, anh nói thừa lượng thông tin Nhưng chính vì sự vi phạm đó đã đemđến tiếng cười cho câu truyện

VD3:

GIẤY KHỔ TOMột nhà văn đang cặm cụi viết, vợ đến bên cạnh nói:

- Ông lấy giấy khổ to mà viết có hơn không.

Nhà văn lấy làm khoái chí cho bà vợ khen tài năng của mình, ý tứ phongphú, giấy khổ nhỏ không đủ ghi chép hết Muốn vợ nói lại cho sướng bụng anh ta hỏi:

- Mình nói vậy ý là thế

nào? Bà vợ thong thả

nói:

- Ông chẳng tính toán gì cả Giấy khổ to bỏ đi còn dùng gói hàng được,

chứ giấy khổ nhỏ bỏ đi có mà cho vào sọt rác.

( Nguồn: Truyện cười dân gian Việt Nam)

Ở trong ví dụ trên , người vợ đã vi phạm quy tắc hội thoại- vi phạm phương châm vè lượng, người vợ cung cấp không đủ, thiếu lượng thông tinnên dẫn tới việc người chồng hiểu không đúng ý của người vợ

Ngày đăng: 29/12/2022, 12:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w