Luận Văn: Kiểm soát lạm phát tại Việt Nam thông qua chính sách tiền tệ 2
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
VÀ LẠM PHÁT TRONG NỀN KINH TẾ
1.1 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ:
1.1.1 Khái Niệm Chính Sách Tiền Tệ:
Chính sách lưu thông tiền tệ hay chính sách tiền tệ là phương pháp mà chính phủ, Ngân hàng Trung ương, hay chuyên gia tiền tệ dùng để quản lý cung tiền, hay kinh doanh trên thị trường ngoại hối Học thuyết tiền tệ đưa ra cái nhìn sâu sắc về chính sách tiền tệ tối ưu được lập ra như thế nào
Phân Loại Chính Sách Tiền Tệ:
Chính sách tiền tệ thường là chính sách mở rộng, hoặc là chính sách thắt chặt, một chính sách mở rộng làm gia tăng tổng cung tiền trong nền kinh tế, và một chính sách thắt chặt làm giảm tổng cung tiền Theo truyền thống chính sách mở rộng được dùng
để chống nạn thất nghiệp trong tình trạng suy thoái bằng cách hạ thấp lãi suất, trong khi chính sách thắt chặt nhằm mục tiêu tăng lãi suất để chống lạm phát (hoặc làm nguội nền kinh tế quá nóng khác) Chính sách tiền tệ có thể được đối chiếu để phân biệt với chính sách tài khóa, chính sách tài khóa thì có liên quan tới vay mượn, chi tiêu của Chính phủ và thuế phải đóng
Chính sách tiền tệ dựa trên mối quan hệ giữa lãi suất trong một nền kinh tế, tại mức lãi suất đó người ta có thể mượn được tiền, và tổng cung tiền Chính sách tiền tệ sử dụng những công cụ đa dạng để kiểm soát một hay cả hai nhân tố đó để chi phối những tác động như sự phát triển của nền kinh tế, lạm phát, tỷ lệ trao đổi với các loại tiền tệ khác và nạn thất nghiệp Tiền tệ ở nơi dưới mức phát hành độc quyền hoặc ở nơi có hệ thống được quy định phát hành tiền tệ thông qua Ngân hàng thì bị ràng buộc bởi Ngân hàng Trung ương, chuyên gia tiền tệ có khả năng để thay đổi cung tiền và
do đó tác động tới lãi suất (để đạt được mục tiêu của chính sách) Căn nguyên của chính sách tiền tệ được bắt nguồn từ cuối thế kỷ 19, lúc đó nó được sử dụng để duy trì bản vị vàng
Một chính sách được ám chỉ là thắt chặt nếu nó làm giảm quy mô cung tiền hoặc gia tăng lãi suất Một chính sách mở rộng làm gia tăng quy mô cung tiền, hoặc làm giảm lãi suất Chính sách tiền tệ trong tương lai được coi là thích hợp nếu chuyên gia tiền tệ
Trang 2ở Trung ương quy định lãi suất dự định dùng nó để khuyến khích phát triển kinh tế, trung lập nếu dự định không dùng nó để khuyến khích phát triển kinh tế hay chống lạm phát, hoặc là chặt nếu dự định dùng nó để giảm lạm phát
1.1.2 Các Công Cụ Của Chính Sách Tiền Tệ:
Gồm có sáu công cụ sau:
- Công cụ tái cấp vốn: là hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng Trung ương đối với các Ngân hàng Thương mại Khi cấp một khoản tín dụng cho Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Trung ương đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng Thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ
- Công cụ tỷ lệ dự trữ bắt buộc: là tỷ lệ giữa số lượng phương tiện cần vô hiệu hóa trên tổng số tiền gửi huy động, nhằm điều chỉnh khả năng thanh toán (cho vay) của các Ngân hàng Thương mại
- Công cụ nghiệp vụ thị trường mở: là hoạt động Ngân hàng Trung ương mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ của các Ngân hàng Thương mại, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các Ngân hàng Thương mại dẫn đến làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ
- Công cụ lãi suất tín dụng: đây được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông, mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất Nó là một công cụ rất lợi hại Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của Ngân hàng Trung ương nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định
- Công cụ hạn mức tín dụng: là một công cụ can thiệp trực tiếp mang tính hành chính của Ngân hàng Trung ương để khống chế mức tăng khối lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng Hạn mức tín dụng là mức dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương buộc các Ngân hàng thương mại phải chấp hành khi cấp tín dụng cho nền kinh tế
- Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Nó vừa phản ánh sức mua của đồng nội tệ, vừa là biểu hiên quan hệ cung cầu ngoại hối Tỷ giá hối đoái là công cụ, là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, tác động mạnh đến xuất nhập khẩu và hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước Chính sách tỷ giá tác động một cách nhạy bén đến tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu hàng hóa, tình trạng tài chính, tiện tệ, cán cân thanh toán quốc tế, thu hút vốn dầu tư, dự trữ
Trang 3của đất nước Về thực chất tỷ giá không phải là công cụ của chính sách tiền tệ vì tỷ giá không làm thay đổi lượng tiền tệ trong lưu thông Tuy nhiên ở nhiều nước, đặc biệt là các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi coi tỷ giá là công cụ hỗ trợ quan trọng cho chính sách tiền tệ
Phương Thức Tác Động Của Các Công Cụ:
- Thay đổi lãi suất chiết khấu:
Chính sách tiền tệ có thể được thực hiện đầy đủ bằng cách thay đổi quy mô cơ sở tiền
tệ Nó trực tiếp thay đổi tổng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế Cơ quan hữu trách về tiền tệ có thể thay đổi lãi suất mà mình cho các ngân hàng vay, thông qua đó điều chỉnh lượng tiền cơ sở Ngân hàng Trung Ương sẽ mua/bán trái phiếu đổi ra được ngoại tệ mạnh Khi Ngân hàng Trung Ương chi tiêu/thu thập lượng ngoại tệ mạnh này, nó làm thay đổi lượng tiền tệ trong nền kinh tế, do đó thay đổi cơ sở tiền
tệ Khi lượng tiền cơ sở thay đổi, thì lượng cung tiền cũng thay đổi theo
Việc thắt chặt cung tiền có thể gián tiếp đạt được bằng cách gia tăng lãi suất danh nghĩa Những nhà chức trách tiền tệ ở các quốc gia khác nhau có các mức độ kiểm soát lãi suất khác nhau ở các nền kinh tế Tại Mỹ, Cục Dự trữ Liên bang có thể quy định tỷ lệ chiết khấu, cũng như đạt được tỷ lệ Quỹ Liên bang mong đợi bằng các hoạt động thị trường mở Tỷ lệ này có tác động đáng kể đến lãi suất thị trường khác, nhưng không phải là mối quan hệ lý tưởng Các hoạt động thị trường mở của Mỹ là một phần tương đối nhỏ của tổng khối lượng trên thị trường trái phiếu
Ở các quốc gia khác, nhà chức trách tiền tệ có thể ủy nhiệm lãi suất cụ thể đối với nợ, các tài khoản tiết kiệm hoặc các tài sản tài chính khác Bằng cách gia tăng lãi suất có kiểm soát, một nhà chức trách tiền tệ có thể thu nhỏ cung tiền, bởi vì lãi suất cao hơn khuyến khích tiết kiệm và hạn chế vay mượn Cả hai tác động này làm giảm đi quy
mô của cung tiền
- Thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc:
Những nhà chức trách tiền tệ áp dụng điều chỉnh kiểm soát lên trên các Ngân hàng Các cơ quan hữu trách về tiền tệ thường quy định các Ngân hàng phải gửi một phần tài sản tại chỗ mình Khi cần triển khai chính sách tiền tệ, cơ quan hữu trách về tiền tệ
có thể thay đổi quy định về mức gửi tài sản đó Nếu mức gửi tăng lên như khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, thì lượng tiền mà các Ngân hàng còn nắm giữ sẽ giảm đi Do đó, tiền cơ sở giảm đi,và lượng cung tiền trên thị trường cũng giảm đi
Trang 4Công cụ mang tính chất hành chính này ngày nay ít được sử dụng ở các nền kinh tế thị trường phát triển
- Tiến hành các nghiệp vụ thị trường mở:
Cơ quan hữu trách tiền tệ khi mua vào các loại công trái và giấy tờ có giá khác của Nhà nước đã làm tăng lượng tiền cơ sở Hoặc khi bán ra các giấy tờ có giá đó sẽ làm giảm lượng tiền cơ sở Qua đó, cơ quan hữu trách tiền tệ có thể điều chỉnh được lượng cung tiền
1.1.3 Hiệu Quả Của Chính Sách Tiền Tệ:
Chính sách tiền tệ nhắm vào hai mục tiêu là lãi suất và lượng cung tiền Thông thường, không thể thực hiện đồng thời hai mục tiêu này Chỉ để điều tiết chu kỳ kinh
tế ở tình trạng bình thường, thì mục tiêu lãi suất được lựa chọn Còn khi kinh tế quá nóng hay kinh tế quá lạnh, chính sách tiền tệ sẽ nhằm vào mục tiêu trực tiếp hơn, đó
là lượng cung tiền
Các nhà kinh tế học tranh luận về các thước đo cung tiền có liên quan Cung tiền
“hẹp” hay M1 là tiền tệ trong lưu hành và tiền tệ trong chi trả và các tài khoản tiết kiệm dễ dàng tiếp cận Thước đo cung tiền “rộng hơn” như là M2 và M3 bao gồm tiền
ký quỹ trong một khoảng thời gian và thậm chí là tiền trên thị trường cũng như là các quỹ Các nhà kinh tế học tranh luận những điểm tốt hơn trong việc thực hiện đầy đủ
và hiệu quả chính sách tiền tệ nhưng có một điều hiển nhiên Ở nhiều mức độ, chính sách tiền tệ có một ảnh hưởng rất lớn Ở các quốc gia như Cộng hòa Nga, Ba Lan hay Brazil là các nước mà nhà in phải chạy hết tốc lực để chi trả cho các hoạt động của Chính phủ, cung tiền mở rộng nhanh chóng và tiền tệ nhanh chóng trở nên vô giá trị
so với hàng hóa và dịch vụ mà nó có thể mua được Kết quả là lạm phát ở mức rất cao hay “lạm phát thái quá” Với tỷ lệ lạm phát 30-40% mỗi tháng, người dân mua sản phẩm có giá cao ngay khi họ nhận được tiền lương bằng tiền và những khoản dựa trên thu nhập cố định làm cho đầu tư của họ biểu hiện sự vô giá trị
Ở mức độ khác, chính sách tiền tệ giới hạn đã cho thấy hiệu quả của nó với ảnh hưởng đáng kể Đức, nơi có kinh nghiệm và không bao giờ quên được về lạm phát thái quá trong suốt thời kì cộng hòa Weimar, đã duy trì một chế độ tiền tệ rất vững chắc và đưa đến kết quả là lạm phát ở mức độ thấp Khi chủ tịch Paul Vocker của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tác động kìm hãm tiền tệ trong suốt thời kì lạm phát cao những năm 1980, kết quả là suy sụp trong nền kinh tế và giảm mạnh lạm phát Ngân hàng Canada, do John Crow lãnh đạo, đã nhắm tới mục tiêu lạm phát 0-3% đầu những năm 1990 và rút
Trang 5ngắn hoạt động của nền kinh tế chẳng hạn như một khu vực như Canada thậm chí đã trải qua tỷ lệ lạm phát âm trong vài tháng vào thời gian đầu từ những năm 1930 đến nay
Không có nhiều tranh cãi, sự quyết định về thời gian và tác động sau cùng của chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế thì không rõ ràng Các Ngân hàng Trung ương tạo ra tác động đến nền kinh tế thông qua tiền tệ đã định sẵn Trong bất kỳ trường hợp nào,
sự sáng suốt trong chính sách tiền tệ là rất quan trọng đối với nhà đầu tư Tiền có sẵn
và tín dụng là những cân nhắc then chốt cho giá cả của một sự đầu tư
1.2 TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT:
1.2.1 Định Nghĩa Lạm Phát:
Trong kinh tế học, lạm phát là sự gia tăng giá cả của hàng hóa và dịch vụ thông thường của một nền kinh tế nhất định trong một khoảng thời gian Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Nó cũng liên quan tới sự gia tăng giá cả của một vài nhóm hàng hóa hay dịch vụ cụ thể Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thị trường toàn cầu Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô Ở cả hai trường hợp, lạm phát được đo lường như là một tỷ
lệ phần trăm thay đổi của chỉ số giá
Xu hướng chủ yếu của các nhà kinh tế học đa phần là đồng tình tỷ lệ lạm phát cao bị gây ra bởi tỷ lệ gia tăng của cung tiền cao Quan điểm về các yếu tố xác định tỷ lệ vừa phải của lạm phát, đặc biệt là trong thời gian ngắn, bị thay đổi nhiều: sự thay đổi của lạm phát đôi khi phần lớn được cho là những thay đổi trong những thay đổi thực của nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ hay là những sự thay đổi bất thường trong những nguồn hàng cung cấp có giá trị (ví dụ như những thay đổi làm khan hiếm), và đôi khi
là những thay đổi trong nguồn cung hay nhu cầu đối với tiền Giữa thế kỉ 20, có hai trường phái đã bất đồng gay gắt về nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát (ở mức độ vừa phải): các “nhà tiền tệ” đã tranh cãi rằng cung tiền có ảnh hưởng lớn đến tất cả các nhân tố khác trong việc xác định lạm phát, trong khi đó, những người theo thuyết kinh tế của Keynes đã phản đối rằng nhu cầu thực tế thì luôn quan trọng hơn những thay đổi trong cung tiền
Trang 61.2.2 Các Nguyên Nhân Gây Ra Lạm Phát:
Trong một thời gian dài lạm phát thường được giả thiết là một hiện tượng tiền tệ trong khi trong khoảng thời gian ngắn và vừa nó bị tác động bởi khả năng co giãn của tiền lương, giá cả và tỷ lệ lãi tức có liên quan Câu hỏi là liệu những tác động trong ngắn hạn sau cùng có đủ để trở thành chủ đề trọng tâm của cuộc chiến giữa những nhà tiền
tệ và những người theo trường phái Keynes hay không? Trong giá cả và tiền lương dùng để kiểm tra lưu thông tiền tệ đã kịp thời điều chỉnh để làm cho những nhân tố hành vi đơn thuần khác nằm trên đường xu hướng thông thường Theo quan điểm của những người theo trường phái Keynes, giá cả và tiền lương điều chỉnh ở những tỷ lệ khác nhau, và những khác nhau này có ảnh hưởng đối với đầu ra thực trong dài hạn trở thành quan điểm của nhiều người trong nền kinh tế
Nhiều lịch sử kinh tế liên quan tới câu hỏi là cái gì đã gây ra lạm phát và ảnh hưởng của nó tới cái gì Có rất nhiều quan điểm của các trường phái khác nhau cho rằng cái
gì gây ra lạm phát Hầu hết có thể chia thành hai mảng khái quát: giả thuyết về chất lượng của lạm phát và giả thuyết về khối lượng của lạm phát Rất nhiều giả thuyết về lạm phát kết hợp cả hai Giả thuyết về chất lượng của lạm phát dựa vào mong đợi của người mua chấp nhận loại tiền tệ có thể chuyển đổi thành lượng tiền tệ đủ để vào thời gian sau người mua có thể mua được hàng hóa mong muốn Giả thuyết về số lượng lạm phát dựa vào cân bằng lượng cung tiền, tốc độ và những trao đổi của nó Adam Smith và David Hume đưa ra giả thuyết về số lượng của lạm phát đối với tiền, và giả thuyết về chất lượng của lạm phát đối với sản lượng
Có ba kiểu lạm phát chính, mà theo Robert J Gordon gọi là “mô hình tam giác”
- Lạm phát do cầu kéo: lạm phát xảy ra bởi những gia tăng trong tổng số cầu, do những gia tăng trong chi tiêu của cá nhân và chính phủ, v.v Kinh tế học Keynes cho rằng nếu tổng cầu cao hơn tổng cung ở mức toàn dụng lao động, thì sẽ sinh ra lạm phát Điều này có thể giải thích qua sơ đồ AD-AS Đường AD dịch sang phải trong khi đường AS giữ nguyên sẽ khiến cho mức giá và sản lượng cùng tăng Trong khi
đó, chủ nghĩa tiền tệ giải thích rằng do tổng cầu cao hơn tổng cung, người ta có cầu về tiền mặt cao hơn, dẫn tới cung tiền phải tăng lên để đáp ứng Do đó có lạm phát
- Lạm phát do chi phí đẩy: hiện nay được gọi là “lạm phát do cú sốc nguồn cung”, bị gây ra bởi những suy giảm trong tổng số cung ví dụ như do gia tăng giá cả đầu vào Lấy ví dụ một sự suy giảm bất chợt trong cung dầu, sẽ làm gia tăng giá dầu Với những nhà sản xuất thì dầu có thể là một phần trong chi phí của họ có thể chuyển nó cho những người tiêu dùng theo cách tăng giá
Trang 7- Lạm phát gắn liền: được kết luận bởi những khả năng có thể xảy ra tương ứng, thường được liên kết với “giá cả/tiền lương gia tăng dần” bởi vì nó liên quan đến những người công nhân cố gắng gia tăng tiền lương của họ so với giá cả (tiền lương ròng có thể gia tăng trên tỷ lệ CPI để thu được CPI sau thuế) và sau đó những người chủ chuyển những chi phí cao hơn vào khách hàng ở mức giá cao hơn như là một phần của “vòng luẩn quẩn” Lạm phát gắn liền phản ánh những sự kiện trong quá khứ
và do đó có thể được xem như tàn tích của lạm phát
Trọng tâm lớn nhất của thuyết cầu kéo đối với cung tiền: sự gia tăng khối lượng tiền trong lưu thông tiền tệ có mối quan hệ với khả năng cung ứng của nền kinh tế (sản lượng tiềm năng) có thể gây ra lạm phát Điều này rõ ràng nhất khi Chính phủ chi tiêu tài chính trong cơn khủng hoảng, ví dụ như nội chiến, bằng cách in tiền một cách quá đáng, thường sẽ dẫn đến siêu lạm phát, là tình trạng mà giá cả ở nơi đó có thể gấp đôi trong một tháng hoặc ít hơn Một nguyên nhân khác có thể là do sự suy giảm nhanh chóng đối với cầu tiền, như đã xảy ra ở châu Âu trong thời kì dịch bệnh ảm đạm Cung tiền cũng được xem như đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định mức
độ vừa phải của lạm phát, mặc dù có những quan điểm khác nhau đối với việc cho rằng nó quan trọng như thế nào Ví dụ, các nhà kinh tế học tin tưởng rằng có mối liện
hệ rất chặt chẽ; ngược lại, những nhà kinh tế học theo trường phái Keynes nhấn mạnh rằng sử dụng tập hợp cầu trong nền kinh tế thay vì cung tiền để xác định lạm phát Có nghĩa là đối với những người theo trường phái Keynes thì cung tiền chỉ là một yếu tố quyết định nằm trong tập hợp cầu Một số nhà kinh tế thì lại coi đó là một cách tiếp cận bịp bợm Họ không đồng ý với ý niệm là các Ngân hàng Trung ương kiểm soát lượng cung tiền, họ biện luận rằng các Ngân hàng Trung ương có rất ít khả năng kiểm soát bởi vì lượng cung tiền phỏng lại lượng cầu tín dụng mà các Ngân hàng Thương mại phát hành Đây là thuyết tiền tệ nội sinh Những người theo học thuyết kinh tế Keynes ủng hộ một cách mạnh mẽ từ những năm xa xôi 1960, học thuyết này ngày nay đã trở thành trọng điểm của những người chủ trương luật Taylor Nhưng lập trường này không được những trường đại học chấp nhận Cho vay giúp ngân hàng tạo
ra tiền Nhưng tập hợp khối lượng những khoản vay này giảm bớt khi mà tỷ lệ lãi thực gia tăng Do đó, nó gần giống như là những Ngân hàng Trung ương chi phối cung tiền bằng cách tạo ra tiền rẻ hơn hoặc mắc hơn, và do đó gia tăng hay giảm bớt số lượng tiền
Trang 8Có những nguyên nhân gây ra lạm phát khác:
- Lạm phát do xuất khẩu: Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung,
hoặc sản phẩm được huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng
- Lạm phát do nhập khẩu: Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải
nhập khẩu Khi giá nhập khẩu tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường hợp OPEC quyết định tăng giá dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên
- Lạm phát tiền tệ: Cung tiền tăng (chẳng hạn do Ngân Hàng Trung ương mua ngoại
tệ vào để giữ cho đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do Ngân hàng Trung ương mua công trái theo yêu cầu của Nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là nguyên nhân gây ra lạm phát
- Lạm phát đẻ ra lạm phát: Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý sẽ
cho rằng tới đây giá cả hàng hóa sẽ còn tăng, nên đẩy mạnh tiêu dùng hiện tại Tổng cầu trở nên cao hơn tổng cung, gây ra lạm phát
cứ hàng hóa nào cho sẵn có thể gia tăng trong suốt thời gian với những lợi thế vốn có không sớm thì muộn sẽ tạo ra được lợi tức Sự ảnh hưởng này có khuynh hướng giữ thế chủ động của nền kinh tế trong một thời gian ngắn bằng cách khuyến khích chi tiêu và vay mượn, và trong thời gian dài sẽ khuyến khích đầu tư Mặc dù, lạm phát
Trang 9cao có khuynh hướng giảm bớt thông tin chính yếu về lâu dài bằng cách gây thiệt hại cho việc khuyến khích để tiết kiệm, và để giảm thiểu chi tiêu lâu dài một cách hiệu quả bằng cách tạo ra sản phẩm mắc hơn Giảm phát, ngược lại, dẫn đến một sự khuyến khích để tiết kiệm nhiều hơn và khuyến khích chi tiêu ngắn hạn ít hơn làm chậm lại sự phát triển tiềm tàng của nền kinh tế
Lạm phát cũng được coi là một áp lực rủi ro tiềm tàng đưa ra sự khuyến khích sử dụng tiết kiệm để đầu tư, thay vì tạo ra sức mua cho những khoản tiết kiệm này để giảm dần lạm phát Trong đầu tư, những rủi ro lạm phát thường làm cho các nhà đầu
tư nhận lấy nhiều rủi ro hệ thống hơn, để mà thu được lợi nhuận ở ngay vào lúc lạm phát có thể xảy ra sắp tới Lạm phát cũng được sử dụng như là một chỉ số để điều chỉnh chi phí sinh hoạt và như là một cơ hội cho một số trái phiếu Thực ra mà nói, lạm phát là tỷ lệ mà tại đó những giao dịch của nền kinh tế được chiết khấu trở về trước
Lạm phát cũng đưa đến cho các Ngân hàng Trung ương khả năng lèo lái, bởi vì công
cụ quan trọng nhất để kiểm soát cung tiền và tốc độ tiền là đưa ra tỷ lệ lãi suất thấp nhất cho nền kinh tế - đó là tỷ lệ chiết khấu mà các ngân hàng có thể vay mượn từ Ngân hàng Trung ương Từ khi vay mượn ở mức lãi suất âm bị vô hiệu thì một tỷ lệ lạm phát tuyệt đối sẽ đem đến “lý lẽ bào chữa” cho các giám đốc Ngân hàng Trung ương để kích thích nền kinh tế Bởi vì Chính phủ kiểm soát các Ngân hàng Trung ương nên thường cũng có những áp lực về mặt chính trị để gia tăng cung tiền chi trả cho những dịch vụ của Chính phủ, điều này làm gia tăng ảnh hưởng trong việc gây ra lạm phát và giảm đi lượng tiền ròng của Chính phủ trong những hợp đồng khế ước và
nợ đã được thương lượng trong thời gian trước
Tuy nhiên, nói chung, những tỷ lệ lạm phát trên số lượng danh nghĩa đã quy định để
tự do hóa tiền tệ, và khuyến khích đầu tư, đặc biệt bởi vì theo lý thuyết kinh tế hiện tại, lạm phát sinh ra những khả năng lạm phát trong tương lai
1.2.3.2 Hiệu ứng tiêu cực:
1.2.3.2.1 Lạm phát dự kiến:
- Thương mại quốc tế: Nếu như tỷ lệ lạm phát cao hơn, một tỷ lệ hối đoái cố định sẽ
bị hủy hoại làm suy yếu cấn đối thương mại
- Chi phí đi lại: Bởi vì lạm phát làm suy yếu giá trị của tiền mặt, nó giống như một thứ thuế đánh vào người giữ tiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với tỷ lệ lạm phát nên lạm phát làm cho người ta có khuynh hướng giữ ít tiền mặt hơn trong
Trang 10suốt thời gian lạm phát Điều này áp đặt những chi phí thực, ví dụ như thường xuyên
đi đến ngân hàng hơn (Thuật ngữ có sự ám chỉ hài hước cho chi phí thay thế da giày
bị mòn không dùng được nữa khi đi đến ngân hàng thường xuyên)
- Chi phí thực đơn: Các công ty phải thay đổi giá cả của họ thường xuyên hơn, áp đặt chi phí, ví dụ như các nhà hàng phải in lại thực đơn của họ
- Giá cả có liên quan không chính xác: Các công ty không thể điều chỉnh giá đồng thời Nếu có lạm phát cao hơn, các công ty không thể điều chỉnh giá của họ quá thấp hơn mức giá ở các công ty khác đã điều chỉnh Điều này sẽ làm sai đi các quyết định kinh tế, bởi vì những giá cả có liên quan sẽ không phản ánh được sự khan hiếm của các hàng hóa khác có liên quan
- Siêu lạm phát: Nếu lạm phát hoàn toàn mất kiểm soát (theo cách hướng dẫn trên) nó
có thể rất cản trở những hoạt động thông thường của nền kinh tế, tổn hại đến khả năng cung cấp
- Sự sợ hãi xếp hạng (còn được gọi là ảnh hưởng tài chính) có liên quan tới thuế lạm phát Theo lạm phát trở về trước, càng ngày càng nhiều người nhận ra bộ luật thuế có những khía cạnh nào đó thật khó giải quyết Ví dụ như những người đóng thuế xếp theo thu nhập, tức là đồng đôla thu nhập tiếp theo sẽ bị đánh thuế ở tỷ lệ cao hơn đồng đôla trước, có khuynh hướng bị sai lệch Thực ra mà nói, Chính phủ thừa nhận lạm phát đã đẩy người dân qua những ngưỡng này để cho phép gia tăng thuế bởi vì sức mua thực ngang nhau đang bị đánh thuế ở tỷ lệ cao hơn
Như đã đề cập, một số nhà kinh tế học xem lạm phát ở mức vừa phải như là lợi tức, một số nhà điều hành kinh doanh xem lạm phát nhẹ như là “bơm mỡ vào bánh xe thương mại” Một số nhà kinh tế học tán thành việc giảm lạm phát tới zero như là một mục tiêu chính sách tiền tệ - đặc biệt vào cuối những năm 1990 ở cuối giai đoạn giảm lạm phát, khi mà chính sách được xem là trong giới hạn kiểm soát, và một vài người tán thành giảm phát thay vì lạm phát
1.2.3.2.2 Lạm phát không dự kiến:
Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lập trên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người đi vay được hưởng lợi còn người cho vay bị thiệt hại, khi lạm phát thấp hơn dự kiến người cho vay sẽ được lợi còn người đi vay chịu thiệt hại Lạm phát không dự kiến thường ở mức cao hoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn
Trang 11Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của các tác động tiêu cực của lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây ra là không đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mức vừa phải Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việc phân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và do vậy Chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ LẠM PHÁT TRONG MỘT NỀN KINH TẾ:
Tiền lương và giá cả sẽ bắt đầu gia tăng ở tốc độ nhanh hơn nếu chính sách tiền tệ khuyến khích đủ tổng cầu để thúc đẩy mở rộng thị trường lao động và thị trường vốn vượt qua khỏi công suất trong dài hạn của họ Trên thực tế, một chính sách tiền tệ liên tục cố gắng để giữ cho tỷ lệ thực thấp trong ngắn hạn cuối cùng sẽ đưa đến lạm phát cao hơn và lãi suất danh nghĩa cao hơn mà không có sự gia tăng lâu dài của sản lượng hay giảm bớt nạn thất nghiệp Như đã nói từ trước, trong dài hạn, chính sách tiền tệ không thể quyết định sản lượng và việc làm Nói cách khác, trong khi có một sự cân bằng các yếu tố khác nhau để được sự kết hợp tốt nhất giữa lạm phát cao hơn và nạn thất nghiệp thấp hơn trong ngắn hạn thì sự cân bằng kết hợp này lại mất đi trong dài hạn
Chính sách cũng trực tiếp ảnh hưởng đến lạm phát thông qua những mong chờ của người dân về lạm phát trong tương lai Ví dụ, giả định rằng nhân viên Cục Điều tra Liên bang nới lỏng chính sách tiền tệ Nếu người tiêu dùng và thương gia nghĩ rằng sẽ
có lạm phát cao hơn trong tương lai, họ sẽ yêu cầu sự tăng thêm nhiều hơn trong tiền lương và giá cả Bản thân điều đó sẽ làm gia tăng lạm phát mà không có những thay đổi lớn trong việc làm và sản lượng
Nó có thể sẽ mất một thời gian khá dài để tác dụng của chính sách tiền tệ tác động đến nền kinh tế và lạm phát Và những chậm trễ cũng có thể biến đổi rất nhiều Ví dụ, tác động nghiêm trọng lên sản lượng có thể diễn ra ở một nơi nào đó từ ba tháng tới hai năm Và ảnh hưởng của lạm phát có khuynh hướng kéo theo sự chậm trễ lâu hơn, có thể một tới ba năm, hay là lâu hơn nữa
Công việc của nhân viên quản lý sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu chính sách tiền tệ có những tác động nhanh và chắc chắn Những nhà làm chính sách có thể quy định chính sách, quan sát ảnh hưởng của nó, và sau đó điều chỉnh sắp đặt cho đến khi họ loại trừ được bất cứ sự không nhất quán nào giữa phát triển của nền kinh tế và mục tiêu
Trang 12Nhưng với những sự chậm trễ lâu dài kết hợp với những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, nhân viên quản lý phải cố gắng để đoán trước những ảnh hưởng trong các tác động của chính sách vào tương lai lâu dài Để thấy được tại sao, giả định rằng nhân viên quản lý chờ đợi để thay đổi quan điểm chính sách của họ cho tới khi họ thực sự thấy rằng có sự gia tăng trong lạm phát Điều đó có nghĩa là sức đẩy mang tính chất lạm phát đã mở rộng rồi, nên nhiệm vụ giảm lạm phát sẽ khó khăn hơn và tốn chi phí hơn trong khoảng thời gian công việc bị tổn thất Không có gì đáng ngạc nhiên, lường trước những tác động của chính sách trong tương lai là một việc làm khó khăn
Dự kiến mục tiêu lạm phát như là một chiến lược cho phép chính sách tiền tệ mở ra câu hỏi điều hành quan trọng là liệu những chính sách hiện tại có phù hợp với mục tiêu lạm phát lâu dài hay không và sẽ xác định như thế nào Một khả năng đáng chú ý
là Ngân hàng Trung ương có thể nhắm tới mục tiêu là khu vực kinh tế tư nhân hiện tại
dự báo được lạm phát, hoặc là những nhà dự báo chuyên nghiệp dự báo rõ ràng hoặc
là sẽ dự báo chính xác trong giá cả tài sản Chúng tôi dùng kết quả của tình trạng thực
tế và cái duy nhất trong cân bằng cho những mong đợi vừa phải khi Ngân hàng Trung ương sử dụng dự báo của khu vực kinh tế tư nhân như là bản chỉ dẫn cho những hành động của chính sách Trong một mẫu hình năng động kết hợp cả những điều chỉnh giá
cả không linh hoạt và cú sốc đối với tập hợp cầu và tập hợp cung, chúng tôi cho rằng mục tiêu dự báo lạm phát chính xác thì mâu thuẫn, tiêu biểu là mâu thuẫn với tình trạng thực tế của trạng thái thăng bằng đối với những mong đợi hợp lý, và những chính sách đó gần chính xác với mục tiêu dự báo lạm phát thích hợp có những đặc tính không mong muốn Chúng tôi cũng thấy rằng những nền kinh tế có luật mà chính sách dựa trên cơ sở dự báo phổ biến hơn thì đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi tính không xác định của những thăng bằng trong mong đợi hợp lý Chúng tôi kết luận rằng, mặc
dù những dự báo trong khu vực kinh tế tư nhân có thể chứa đựng thông tin hữu ích cho Ngân hàng Trung ương, nhưng cuối cùng thì những nhà chức trách tiền tệ phải dựa trên một mẫu hình theo cấu trúc rõ ràng của nền kinh tế để dẫn đường cho những quyết định trong chính sách của họ
Trang 131.4 KINH NGHIỆM ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ NHẰM KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI:
1.4.1 Trung Quốc:
1.4.1.1 Môi trường chính trị:
Trong thời gian Hồ Cẩm Đào nhậm chức Chủ tịch nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, có thể thấy sự xuất hiện sự tranh đua của tập thể lãnh đạo, nó có khả năng trở thành lời cam kết rộng rãi để cải cách nền kinh tế liên tục và sự hòa hợp liên tục với nền kinh tế thế giới Việc cải cách kinh
tế đã mang đến sự phát triển mạnh mẽ và những lợi ích rõ ràng Tập thể lãnh đạo cũng công nhận rằng nền kinh tế cần phải duy trì sự phát triển tương đối nhanh chóng để ngăn ngừa tình trạng thất nghiệp lan tỏa và tình trạng chia rẽ xã hội có thể xảy ra
So sánh với triển vọng của nền kinh tế, xuất hiện để đưa ra lời hướng dẫn hợp lý có thể dự báo được, những kết cấu mang tính chính trị trong tương lai khó đánh giá hơn Cấu trúc mang tính chính trị và thuộc cơ quan tổ chức của Chính phủ ở mức độ thấp hơn đang trở nên nổi bật hơn với việc phân phối lại nguồn tài nguyên chịu tác động của hệ thống thuế đôi và hệ thống phân phối thu nhập Trong khi tập thể lãnh đạo nghi ngờ Hồ Cẩm Đào nhậm chức có thể ảnh hưởng tới cấu trúc chính trị, nhà cầm quyền
sẽ tập trung vào Đảng Cộng sản Cũng như những quốc gia khác, những cá nhân và những cơ quan tổ chức sẽ tiếp tục theo đuổi để gia tăng quyền lực của họ, nhưng hiện nay tập thể lãnh đạo đang trong tình trạng có thể đang được duy trì và chỉ đạo sự quá
độ lên “nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”
1.4.1.2 Những phát triển trong chính sách kinh tế vĩ mô:
Từ hai tới ba năm trở về trước, tốc độ cải cách trong việc quản lý kinh tế vĩ mô đã gia tăng Chính quyền Trung Ương hoạt động vững chắc từ việc can thiệp trực tiếp và quản lý định lượng đối với nền kinh tế vĩ mô cho đến sự tín nhiệm lớn hơn đối với công cụ chính sách tài chính và chính sách tiền tệ được sử dụng trong nền kinh tế thị trường Sự quản lý trực tiếp của chính quyền Trung ương đối với nền kinh tế thông qua kế hoạch đầu ra và ổn định giá cả gần như biến mất trong cải cách kinh tế Hơn thế nữa, những nhà cầm quyền tài chính đã từ chối khi phân quyền tài chính từ Trung ương đến các địa phương vào những năm 1980 Do đó, chính quyền Trung ương đã được gia tăng thúc đẩy để dựa vào kiểm soát trực tiếp cho vay ngân hàng thông qua
kế hoạch tín dụng, để tác động đến toàn thể sự phát triển và lạm phát Tuy nhiên, sau các cải cách to lớn suy giảm bởi phiên họp toàn thể lần thứ ba của Ban Chấp hành
Trang 14Trung ương Đảng thứ mười bốn vào năm 1994, tốc độ quản trị cải cách kinh tế vĩ mô
đã gia tăng Hiện nay Chính phủ tận dụng các công cụ tiền tệ như phát hành trái phiếu
để tài trợ cho thâm hụt ngân sách; những hoạt động thị trường mở và những thủ tục
dự trữ tiền ký quỹ để quản lý khả năng thanh khỏan quá mức của Ngân hàng; và lãi suất linh hoạt trong thị trường tín dụng liên ngân hàng để cung cấp một thị trường lớn hơn lèo lái cấu trúc lãi suất Gần đây, những nhà chính sách tiền tệ đã điều hành thành công sự phát triển vừa phải và giảm bớt lạm phát từ những mức độ không thể xác định trong năm 1993 và năm 1994 Vào năm 1996, lạm phát đã được hạ xuống 6% và tăng trưởng thực chỉ dưới 10% Những kết quả này đạt được nhờ sử dụng các công cụ tiền
tệ, kiểm soát phân phối tín dụng đối với đầu tư quốc gia và kiểm soát hành chính đối với một số giá cả Trước đây, những nhà cầm quyền chỉ thành công trong việc giảm lạm phát bằng cách thắt chặt dữ dội tín dụng và tăng trưởng
Thiếu hụt trong tiến triển giải quyết khó khăn của các doanh nghiệp quốc doanh yếu kém thúc ép cải cách quản trị kinh tế vĩ mô nhanh hơn và hạn chế lợi ích có hiệu quả Chính quyền Trung ương miễn cưỡng từ bỏ kiểm soát lãi suất để Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc hoàn toàn độc lập, chủ yếu là bởi vì lo lắng cho tác động tiêu cực của lãi suất cao hơn để các doanh nghiệp quốc doanh có thể tồn tại Bất luận thế nào, lãi suất cao hơn sẽ không cần thiết để ngăn giữ nhu cầu của các doanh nghiệp quốc doanh về tín dụng Nhiều doanh nghiệp không bị bắt buộc chịu trách nhiệm cho các quyết định vay mượn của họ, mặc dù điều này thay đổi và hiện nay nhiều doanh nghiệp hơn bị đẩy tới phá sản Cho đến khi lãi suất có thể được sử dụng để kiểm soát nhu cầu tín dụng và nhiều ngân hàng có thể quyết định cho vay hoàn toàn dựa trên cơ
sở thương mại, những nhà thẩm quyền về tiền tệ sẽ giữ lại một số tín dụng định lượng
để đạt được những mục tiêu về tiền tệ và kiểm soát lạm phát Sự cải cách chậm chạp của các doanh nghiệp quốc doanh cũng đang ngăn cản cải cách hệ thống ngân hàng Các Ngân hàng Nhà nước không thể hoạt động hoàn toàn dựa trên cơ sở thương mại cho đến khi tìm được các phương pháp giảm bớt và cuối cùng là loại trừ ùn đống nghiêm trọng đối với các khoản nợ không hiệu quả Nợ xấu đang tăng lên vì nhiều doanh nghiệp quốc doanh hơn chịu đựng những thua lỗ và tình hình này sẽ không gia tăng cho tới khi những mức độ khác nhau mà Chính phủ sử sụng tác động mạnh mẽ hơn để thúc đẩy tốc độ cải cách của các doanh nghiệp quốc doanh
Việc củng cố hơn nữa khả năng chứa đựng của hệ thống thuế chính quyền Trung ương sẽ làm cho chính sách tài chính hoạt động có hiệu quả hơn Điều này sẽ cho phép phát sinh thu nhập nhiều hơn và phân chia thu nhập công bằng hơn, cung cấp tất
Trang 15cả mức độ chính phủ với sự gia tăng khả năng sản xuất để tài trợ cho chính sách phúc lợi xã hội Nó cũng giúp cho hệ thống ngân hàng gần như một số trách nhiệm tài chính, như là trợ cấp các doanh nghiệp quốc doanh, các dự án cơ sở hạ tầng và nông nghiệp, và làm cho sự cân bằng giữa chính sách tài chính và chính sách tiền tệ hiệu quả hơn trong quản lý toàn bộ kinh tế vĩ mô
1.4.2 Thái Lan:
1.4.2.1 Quyết định của Ủy ban chính sách tiền tệ vào ngày 27 tháng 2 năm 2008:
Bà Duangmanee Vongpradhip, Phó thống đốc ngân hàng Thái Lan, nhóm chính sách tiền tệ, thông báo rằng hôm nay ủy ban chính sách tiền tệ đã gặp gỡ để quyết định sự phát triển và những khuynh hướng của nền kinh tế gần nhất, quyết định quan điểm chính sách tiền tệ thích hợp Những vấn đề đã thảo luận như sau:
- Nhu cầu nội địa đã tăng nhanh, bao gồm cả trong tiêu dùng và đầu tư, trong khi xuất khẩu mở rộng một cách nhanh chóng Thêm vào đó, sự phát triển trong lĩnh vực tư nhân nói riêng và cộng thêm kế hoạch của Chính phủ đối với các tác nhân khuyến khích tài chính sẽ khuyến khích sự hồi phục liên tục trong nhu cầu nội địa đang tăng nhanh, giúp giảm nhẹ ảnh hưởng từ rủi ro của việc giảm tốc độ tăng trưởng trong xuất khẩu, căn cứ vào biểu hiện của tình trạng suy thoái ở Mỹ
- Lạm phát hàng đầu đã điều chỉnh theo hướng đi lên và đã có thể tiếp tục tăng nhanh
ở tương lai gần kết quả là lượng dầu trên thế giới và giá cả hàng hóa cao hơn Tuy nhiên, việc đánh giá cao đồng bath Thái hiện nay có thể giúp làm giảm áp lực lạm phát từ giá cả hàng hóa trên thế giới đến một mức nào đó
Ủy ban chính sách tiền tệ cho rằng đà phát triển toàn diện của nền kinh tế Thái đã phát triển tương xứng với sự hồi phục nhu cầu nội địa, ở một chừng mực nào đó là kết quả của chính sách tiền tệ điều chỉnh thích hợp trong khoảng thời gian đầu Lạm phát hàng đầu đã giữ nguyên ở mức độ cao, nhưng được mong chờ giảm nhẹ trong thời gian tới Cùng lúc đó, lạm phát hạt nhân được mong chờ giữ nguyên trong giới hạn phạm vi mục tiêu liên tục tám quý tiếp theo Tuy nhiên, rủi ro đã giữ nguyên để sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới có thể thành ra yếu kém hơn mong đợi, tác động đến nền kinh tế Thái và những mong đợi lạm phát sắp tới Bởi vậy, tình hình này sẽ cần được giám sát chặt chẽ Trong khi chờ đợi, ủy ban chính sách tiền tệ đã quyết định giữ chính sách lãi suất ở mức 3.25% mỗi năm
Trang 161.4.2.2 Sự phát triển cơ cấu chính sách tiền tệ ở Thái Lan:
Sự phát triển cơ cấu chính sách tiền tệ ở Thái Lan có thể được chia thành 3 giai đoạn:
1 Chế độ ổn định tỷ giá hối đoái (Chiến tranh thế giới thứ hai – tháng 6/1997): Đầu tiên chế độ này đã được thông qua sau chiến tranh thế giới thứ hai Ban đầu giá trị của đồng bath đã được ổn định dựa vào ngoại tệ mạnh/vàng hoặc dựa vào một rổ tiền tệ Chế độ rổ tiền tệ được thông qua từ tháng 11 năm 1984 cho đến tháng 6 năm 1997 Trong suốt thời gian này, Quỹ trao đổi ngang bằng đã thông báo và ủng hộ giá trị đồng bath so với đôla Mỹ mỗi ngày, đây là điều mà thước đo tiền tệ và tài chính được thiết kế chủ yếu để giữ nó trong ranh giới hệ thống ổn định tỷ giá hối đoái
2 Chế độ mục tiêu tiền tệ (tháng 6/1997 – tháng 5/2000): Sau khi thông qua hệ thống
tỷ giá thả nổi vào ngày 2 tháng 6 năm 1997, Thái Lan đã nhận được sự giúp đỡ về tài chính từ phía IMF Trong suốt chương trình của IMF, chế độ mục tiêu tiền tệ đã được thông qua Trong chế độ này, ngân hàng đã đặt mục tiêu cung tiền nội địa sử dụng phương pháp lập chương trình tài chính để bảo đảm tính ổn định của kinh tế vĩ mô cũng như đạt được mục tiêu cuối cùng là tăng trưởng và ổn định giá cả có thể đạt được Ngân hàng đã lập ra những mục tiêu tiện tệ cơ bản mỗi ngày và mỗi quý, dựa trên quản lý khả năng thanh khoản đã được thiết lập Việc quản lý khả năng thanh khoản mỗi ngày về cơ bản đã được tập trung để bảo đảm dựa vào tính không ổn định quá thể của lãi suất và tính thanh khoản trong hệ thống tài chính
3 Chế độ mục tiêu lạm phát (tháng 5/2000 đến nay): Sau chương trình của IMF, ngân hàng đã thực hiện tái nhận định ở phạm vi rộng cả trong quốc nội và môi trường bên ngoài và đã kết luận rằng mục tiêu cung tiền có thể sẽ kém hiệu quả hơn mục tiêu lạm phát Nguyên nhân chính của thay đổi này là do mối quan hệ giữa cung tiền và tăng trưởng đầu ra đang trở nên kém ổn định hơn, đặc biệt là trong giai đoạn sau cơn khủng hoảng nghiêm trọng và tình trạng không chắc chắn trong mở rộng tín dụng cũng như sự thay đổi nhanh chóng trong lĩnh vực tài chính ở Thái Lan Ngân hàng đã thông báo thông qua mục tiêu lạm phát vào tháng 5/2000
Ngân hàng đã quyết định để mở đầu mục tiêu lạm phát trong khuôn khổ pháp luật hiện hành, nhờ đó mà ban chính sách tiền tệ (MPB) lần đầu tiên đã được bổ nhiệm vào ngày 5 tháng 4 năm 2000 và được trao quyền quyết định chính sách tiền tệ bởi thống đốc Ban lãnh đạo, với 9 thành viên, bao gồm các chuyên gia chuyên biệt bên ngoài và nhà lãnh đạo cao nhất của ngân hàng Ban chính sách tiền tệ có quyền để đưa
ra chỉ thị chính sách tiền tệ với ổn định giá cả như là mục tiêu quan trọng hơn bất cứ nhận định nào khác, và cũng để cải tiến khuôn khổ mục tiêu lạm phát phù hợp với nền
Trang 17kinh tế Thái Trong tương lai, sửa đổi bổ sung được đề xuất với Đạo luật ngân hàng Thái Lan sẽ giúp cho ban chính sách tiền tệ địa vị hợp pháp chính thức và sự độclập hoạt động của MPB trong cách quản lý chính sách tiền tệ
Với sự thay đổi thống đốc ngân hàng Thái Lan vào ngày 30 tháng 5 năm 2001, gần đây ngân hàng đã bổ nhiệm ủy ban chính sách tiền tệ (MPC) để thay thế ban chính sách tiền tệ vào ngày 9 tháng 7 năm 2001 Ủy ban chính sách tiền tệ hiện nay gồm có
ba công chức thâm niên từ ngân hàng Thái Lan và bốn chuyên gia chuyên biệt từ bên ngoài
Trang 18CHƯƠNG II TÌNH HÌNH LẠM PHÁT VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TẠI VIỆT NAM NHẰM MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 2003 TỚI NAY: 2.1.1 Các Nguyên Nhân Dẫn Đến Lạm Phát Ở Việt Nam:
Báo cáo của ADB đã cho thấy lạm phát ở Việt Nam đang có xu hướng tăng cao trong những năm gần đây Lạm phát trung bình chung năm 2005 là 8,3%, 2006 là 7,5% và 7,3% tại thời điểm năm 2007 là 12.6% Chỉ số tăng giá tiêu dùng hai tháng đầu năm
2008 lên đến 6.02%, đã đi được 2/3 so với chỉ tiêu Quốc hội đề ra, trong khi vẫn còn
10 tháng ở phía trước Điều này đã gây xôn xao dư luận trong thời gian gần đây Có rất nhiều ý kiến khác nhau từ phía các chuyên gia về tình hình lạm phát của Việt Nam nhưng nhìn chung có thể tổng hợp từ một số các nguyên nhân sau:
1 Ảnh hưởng của giá thế giới đến Việt Nam:
Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới nên ảnh hưởng từ giá thế giới đến Việt Nam cũng nhanh và rất rõ nét Việt Nam đang nhập khẩu nhiều nguyên liệu đầu vào cho sản xuất như 100% xăng dầu, 70% nguyên liệu dệt may, nhiều vật tư
cơ bản khác như phôi thép, phân bón Đây là những mặt hàng tăng giá mạnh trong thời gian qua Trong điều kiện nước ta phụ thuộc rất lớn vào nhập khẩu (nhập khẩu chiếm 90%GDP) giá nguyên liệu nhập tăng làm tăng giá trị thị trường trong nước
2 Tăng giá của lương thực, thực phẩm:
Theo Tổng cục Thống kê dẫn đầu về tốc độ tăng giá trong 2 tháng đầu năm là nhóm hàng lương thực, thực phẩm (tăng 11.56%), kế đó là dịch vụ ăn uống (tăng 10.21%), lương thực (tăng 6.71%)
Tình trạng dịch bệnh gia súc, gia cầm và vàng lùn (lúa) nghiêm trọng, cộng với thời tiết không thuận lợi, trong khi việc nhập khẩu các mặt hàng này bị hạn chế, đã làm giảm mạnh nguồn cung lương thực, thực phẩm, đẩy giá lương thực thực phẩm tăng cao Và thêm cái rét lịch sử đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng: tính đến ngày 18/2 toàn
Trang 19Miền Bắc có 146.000 ha lúa bị ảnh hưởng nặng, trong đó có 10 ha phải gieo trồng lại, cùng 63.000 vật nuôi bị chết do rét Tổng thiệt hại ước tính khoảng 400 tỷ đồng
Mức giá lương thực - thực phẩm ở Việt Nam thường cao hơn và không ổn định hơn
so với các nước khác, mức tăng lương thực thực phẩm luôn ở mức cao hơn mức tăng giá tổng thể của CPI
Trong khi đó, lương thực - thực phẩm chiếm tỷ lệ đến 42,8% trong rổ hàng hóa tính CPI của Việt Nam Theo phân tích của các chuyên gia ADB, trong các nguyên nhân gây lạm phát thì sự tăng giá của nhóm lương thực thực phẩm là nhân tố chính
3 Chi tiêu Chính phủ vào đầu tư công không hiệu quả:
Nguyên nhân đầu tiên được các chuyên gia trường đại học Harvard (Mỹ) đưa ra trong bản nghiên cứu đề cập đến là do nhịp độ tăng chi tiêu của Nhà nước Tổng chi tiêu của Nhà nước trong năm 2006 là 321 nghìn tỷ đồng, tăng 221,8 nghìn tỷ đồng (hay 45%) so với năm 2004
Như vậy, tốc độ tăng chi tiêu hàng năm của Nhà nước trong giai đoạn 2004 - 2006 là 20,3% năm (tương đương với tốc độ tăng truởng bán lẻ)
Cũng trong giai đoạn trên, thu ngân sách tăng chủ yếu không phải từ nguồn thu nội địa mà là từ dầu mỏ, nợ và viện trợ nước ngoài Thu nội địa trong năm 2004 chỉ đạt
119 nghìn tỷ, và trong năm 2006 là 190 nghìn tỷ, tăng có 71 nghìn tỷ Trong khi đó chỉ tiêu của Nhà nước tăng 131 nghìn tỷ, từ 190 lên tới 321 nghìn tỷ, tức là gần gấp đôi mức tăng thu nội địa
Khi chi tiêu của Nhà nước tăng hơn nhiều so với các nguồn thu ngoài dầu mỏ thì những khoản chi tiêu này sẽ làm tăng tổng cầu Thế nhưng nếu các khoản chi tiêu này lại không được sử dụng một cách hiệu quả, chỉ đóng góp nhỏ cho sản lượng (tức là không làm cho tổng cung tăng một cách tương ứng) thì tất yếu sẽ dẫn tới lạm phát
Xu thế bội chi ngân sách do hàng trăm ngàn tỷ đồng đã bị tiêu phí vào các dự án thiếu cân nhắc để xây dựng cơ sở hạ tầng, kích thích xuất khẩu hoặc bù lỗ nhập khẩu Theo
số liệu thống kê, tỷ trọng tài sản cố định và đầu tư tài chính của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) lớn hơn nhiều so với các thành phần kinh tế khác, trong khi chỉ số phát
Trang 20triển tổng sản phẩm của các DNNN lại thấp hơn của các thành phần kinh tế khác Số việc làm tạo ra trên một đơn vị vốn đầu tư từ khối DNNN cũng thấp hơn Điều đó chứng tỏ hiệu quả đầu tư của DNNN còn thấp.Theo số liệu mới gần đây cả nước có khoảng 1,500 DNNN trong đócó khoảng 600 DN làm ăn từ hoà vốn đến lỗ
4 Bội thực ngoại tệ:
Một nhân tố không thể không nhắc đến trong các yếu tố gây ra lạm phát cao ở Việt Nam trong thời gian qua đó là nhân tố tiền tệ Nguồn vốn từ nước ngoài được thu hút quá nhiều vào Việt Nam một quốc gia đang được nhận định là “ngôi sao đang lên” Nguồn vốn này được tiếp nhận đã tạo ra sự bùng nổ chóng mặt về tiêu dùng, xây dựng, đầu cơ đất đai và chứng khoán
Giáo sư Kenichi Ohno, chuyên gia Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) trong khảo sát về bùng nổ nguồn vốn và lạm phát ở Việt Nam ước tính, có ít nhất 15 tỷ USD đã
đổ vào Việt Nam trong năm 2007 từ các nguồn: dịch vụ (du lịch) 4,6 tỷ USD; vốn FDI giải ngân 2,2 tỷ USD; vốn vay ODA 1,8 tỷ USD, cổ phiếu và trái phiếu 2,5 tỷ USD Và đây là nguyên nhân chính gây nên tình trạng lạm phát ở Việt Nam
Thêm vào đó hầu hết lượng vốn đầu tư gián tiếp tại nước ngoài hiện đang được đổ vào chứng khoán và bất động sản là hai lĩnh vực không tạo ra sản lượng hàng hóa thực hoặc nếu có thì cũng rất lâu Nói cách khác những nhà đầu tư trên thị trưởng chứng khoán và bất động sản đang “đầu tư lẫn nhau” với kỳ vọng kiếm lời cao, khác hẳn với cách đầu tư lâu dài tạo ra giá trị hàng hóa thực dựa trên công nghệ, thị trường,
kỹ năng quản trị… của dòng vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp Hàng ít - tiền nhiều và lạm phát là tất yếu
5 Yếu kém trong công tác dự báo của Chính phủ:
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 2-2008 một trong những nguyên nhân gây nên lạm phát đã được Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Vũ Văn Ninh nhìn nhận là “có yếu kém trong dự báo”
Về khả năng dự báo lạm phát, rõ ràng chúng ta gặp nhiều khó khăn vì chúng ta thiếu thông tin về hiện trạng của nền kinh tế, dữ liệu về tình hình kinh tế còn nhiều sai sót
và chúng ta không dự báo được một cách chính xác tương đối đường đi của nền kinh
Trang 21tế cũng như tác động của các chính sách đến nền kinh tế Chúng ta không có những thông tin kinh tế kịp thời về hiện trạng nền kinh tế (quí 2, thậm chí quí 3 mới có số liệu quí 1), và không đủ dữ liệu để thiết lập các mô hình dự đoán phức tạp Cộng thêm tính bất ổn quá cao của một nền kinh tế mới nổi, chúng ta không thể dự đoán chính xác những gì sẽ diễn ra Và kết quả là hiệu quả của chính sách tiền tệ lên nền kinh tế
là hoàn toàn nằm ngoài kiểm soát của người áp dụng nó Thủ tướng Nguyễn Tấn
Dũng cũng đã nói rõ: “Nếu điều hành chính sách tiền tệ tốt hơn có thể kiềm chế lạm
phát ở mức thấp hơn” Điều này cho thấy người đứng đầu Chính phủ không thể đưa
ra quyết sách đúng khi cơ sở dữ liệu của quốc sách lại “có yếu kém” trong dự báo Nói cách nào đó, một vị tướng tổng tư lệnh mặt trận không thể xuất quân ra trận và chắc chắn thắng nếu những thông tin từ Ban tham mưu tác chiến lại không đáng tin cậy
6 Nguyên nhân tiền tệ:
Tốc độ tăng cung tiền tại Việt Nam từ năm 2003 đến nay liên tục duy trì trên dưới 25% mỗi năm và tín dụng nội địa cũng tăng trên 35% Trong khi nhập khẩu tăng đột biến trong mấy năm trở lại đây để đáp ứng lượng cầu nội địa tăng thì đối với một số hàng hóa như khách sạn, văn phòng, điện, lao động có kỹ năng (những hàng hóa đươc sản xuất trong nước) không thể tăng tương ứng Kết quả là giá của những hàng hóa này phải tăng theo tốc độ tăng cung tiền
Trong khoảng thời gian hai năm 2005-2006 GDP của Việt Nam tăng tổng là 17%, trong đó M2 (tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng) tăng tới 73%, tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối tháng 6 năm 2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110% Các chuyên gia trường Đại Học Harvard cho rằng Chính phủ Việt Nam đã tăng cung tiền nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong một thời gian dài Cụ thể cung tiền ở Việt Nam tăng mạnh trong năm 2007 là do vốn nước ngoài chảy vào tăng đột biến, từ đó buộc Ngân hàng Nhà nước phải đóng vai trò người mua ngoại tệ cuối cùng và đưa thêm tiền đồng vào lưu thông Tuy nhiên khi sự mất cân đối giữa tốc độ tăng cung tiền và tốc độ tăng trưởng GDP lớn thì sức ép lạm phát bắt đầu xuất hiện và sự mất cân đối này đã dãn rộng ra trong vòng ba năm qua và khiến cho lạm phát bùng phát lên con số 12.6% năm 2007
Trang 227 Yếu kém trong công tác điều hành vĩ mô của Chính phủ:
Đây cũng là ý kiến củaTiến sĩ Phạm Tất Thắng, Nguyên giám đốc Trung Tâm Thông Tin- Bộ Công Thương Ông cho rằng lạm phát trong thời gian qua là hậu quả của quá trình điều hành một nền kinh tế thiếu sự đồng bộ phối hợp giữa các ngành và một số quyết định đưa ra không đúng thời điểm Minh họa cho điều này là việc Ngân hàng Nhà nước buộc các Ngân hàng Thương mại mua 20.300 tỷ tín phiếu, điều này đã gây
“sốc’ ảnh hưởng đến thị trường, dòng tiền bị chặn lại Ngay sau đó Ngân hàng Nhà nước lại bơm ra 39.000 tỷ đồng điều này khiến sự vận động của dòng tiền thành bất thường, gây hiệu ứng tiêu cực Các biện pháp tức thời này đã gây ra hiệu ứng chạy đua lãi suất vì khan hiếm tiền mặt
Đồng tình với Tiến sĩ Phạm Tất Thắng, Tiến sĩ Nguyễn Văn Lai, Phó vụ trưởng Vụ chiến lược Phát triển – NHNN đã chỉ ra lạm phát ở Việt Nam có thể tìm thấy nguyên nhân rất lớn từ công tác điều hành vĩ mô Theo ông Lai do không xác định đúng và đầy đủ nguyên nhân nên Việt Nam đã lạm dụng nhiều biện pháp tình thế, không cơ bản để chống lạm phát Chẳng hạn giữa năm 2007 Bộ Tài Chính đã hy sinh khoảng
1000 tỷ đồng ngân sách để giảm thuế đối với hàng trăm mặt hàng nhưng “lạm phát
vẫn hoàn lạm phát” Đến cuối 2007 khi giá tiêu dùng vẫn tăng thì lại “lôi” rổ hàng
hóa tính CPI ra điều chỉnh lại tỷ trọng
Trong năm qua đã có những chỉ trích nhất định từ phía giới truyền thông và giới chuyên gia, dù là gay gắt hay nhẹ nhàng, dù là ngầm ý hay công khai, đối với việc
“lúng túng” của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát cung tiền, hay trong phản ứng với lạm phát Việc uy tín của Ngân hàng Nhà nước không được củng cố trong năm qua, kết hợp với việc báo đài hàng ngày hàng giờ liên tục nhắc tới vấn đề lạm phát, thì không tránh khỏi việc người dân sẽ kỳ vọng lạm phát sẽ tiếp tục cao, và khó kiểm soát Điều này hoàn toàn không có lợi cho việc áp dụng chính sách tiền tệ để khống chế lạm phát
2.1.2 Đặc Điểm Nền Kinh Tế Việt Nam:
Cung tiền đồng trở nên khan hiếm, các Ngân hàng nói họ đang rất cần vốn để bảo đảm dự trữ bắt buộc, để chuẩn bị mua tín phiếu bắt buộc và nếu điều chỉnh lãi suất thấp vốn sẽ không chảy vào két ngân hàng như mong đợi Ngân hàng thiếu tiền mặt! Chuyện tưởng chừng như vô lý ấy nhưng lại đang diễn ra không chỉ trong tháng 2 vừa
Trang 23qua mà trước đó đã bắt đầu vào cuối năm 2007 Vậy chuyện gì đã thực sự diễn ra trong thời gian qua?
- Về tăng trưởng tín dụng:
Chỉ tiêu tăng tín dụng của Ngân hàng Nhà nước cho hệ thống Ngân hàng năm 2007 từ 17-21% so với cuối năm 2006 Nhưng con số này đã trở thành một thách thức không thể đạt được của hệ thống Ngân hàng vì tốc độ tăng trưởng tín dụng thực tế năm 2007 thật sự gây bất ngờ là 53.9% Sự đột biến này cũng thể hiện rõ trong tương quan những năm gần đây Cụ thể: năm 2000 tăng trưởng tín dụng là 38.1%, năm 2001 là 21.4%, năm 2002 là 22.2%, năm 2003 là 28.4%, năm 2004 là 41.5%, năm 2005 là 19.25% và 2006 là 21.4% Thực tế cho thấy tăng trưởng tín dụng cao đã kéo theo lạm phát cao như năm 2004 lạm phát tăng lên cao hơn so với các năm trước đạt con số 9.5%, và với tốc độ năm 2007 thì con số lạm phát là 12.63%
Những năm trước, luồng vốn tín dụng chủ yếu đổ vào các ngành quan trọng trong sự phát triển kinh tế như hạ tầng, công nghiệp, thương mai, dịch vụ… Tuy nhiên trong năm 2007 đã có sự chuyển dịch đáng kể vốn sang các lĩnh vực khác như: đầu tư kinh doanh chứng khoán, bất động sản, vàng và cho vay tiêu dùng Dư nợ cho vay bất động sản của Thành phố Hồ Chí Minh từ chỗ chỉ 2-3%/ tổng dư nợ cho vay nay lên khoảng 10%/ tổng dư nợ; của Thành phố Hà Nội cũng đạt tới gần 8%/ tổng dư nợ Những lĩnh vực này tuy vẫn góp phần vào tăng trưởng kinh tế nhưng tiềm ẩn khá nhiều rủi ro Nguyên nhân của sự chuyển dịch luồng vốn tín dụng thì có nhiều, nhưng nguyên nhân chính vẫn là do thị trường chứng khoán phát triển mạnh tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn, nhất là vốn trung- dài hạn qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu, giảm vay vốn Ngân hàng Vì vậy, trước sức ép về lợi nhuận và cạnh tranh buộc các Ngân hàng phải mở rộng vòng tay cho vay sang các lĩnh vực khác
Nhằm thu hút thêm lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho nhu cầu cho vay vào dịp cuối năm 2007 bên cạnh các chương trình khuyến mãi dự thưởng, nhiều Ngân hàng (đặc biệt là các Ngân hàng Thương mại cổ phần) đang tiếp tục tăng lãi suất huy động tiền gửi Ngoài nguyên nhân do nhu cầu vốn của doanh nghiệp và nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng cá nhân tăng cao vào dịp cuối năm, tăng trưởng tín dụng nóng còn do các Ngân hàng chạy đua nâng tổng dư nợ cầm cố chứng khoán xuống dưới ngưỡng 3% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hạn chót 31/12/2007 Lĩnh vực tín dụng còn được các Ngân hàng tận dụng nhiều nhất là cho vay bất động sản, tiêu dùng và bổ sung vốn lưu động cho doanh nghiệp dịp cuối năm Áp lực chỉ thị
03 đã khiến hàng loạt các Ngân hàng Thương mại cổ phần như Việt Á, Á Châu,
Trang 24Phương Đông, An Bình… chạy đua nâng tổng dư nợ Mặc dù tỷ lệ cho vay chứng khoán ở mức khá cao như 24% đối với Việt Á, 18% đối với Á Châu… nhưng các Ngân hàng trên đều khẳng định rằng tỷ lệ dư nợ cho vay cầm cố chứng khoán sẽ được điều chỉnh xuống dưới ngưỡng 3% trước ngày 31/12/2007 Cuộc đua nâng tổng dư nợ
đã khiến mảng tín dụng cho vay bất động sản tăng trưởng nóng Cụ thể Á Châu cho vay mua nhà thường từ 15-20%/tổng dư nợ và hiện nay là 20%, còn Ngân hàng Xuất Nhập khẩuViệt Nam (Eximbank) là 12% Lãnh đạo của một ngân hàng đã không ngần ngại khi tuyên bố buộc phải nâng cao tổng dư nợ như một giải pháp đối phó với chỉ thị 03 của Chính phủ
Giữ tốc độ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý nằm trong chủ quan và khả năng điều hành của Ngân hàng Nhà nước.Tuy nhiên theo nhận định của Ngân hàng Thế giới (WB) cho đến nay công cụ chính để cắt giảm mức tăng trưởng tín dụng được sử dụng đến là tỷ lệ dự trữ bắt buộc
- Dự trữ bắt buộc:
Trước độ nở của tiền tệ (tăng trưởng tín dụng) và lo ngại về chất lượng các khoản vay Ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định số 1141/QĐ-NHNN ngày 30/5/2007 điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng Theo quyết định này, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng bằng VND đối với Ngân hàng Thương mại quốc doanh, Ngân hàng Thương mại cổ phần đô thị, Ngân hàng Liên doanh, Chi nhánh Ngân hàng Nước ngoài, công ty tài chính… từ 5% lên 10% (tăng gấp đôi) Riêng đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), tỷ lệ trên là 8% tính trên tổng số dư tiền gửi phải dự trữ bắt buộc Trong lần tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc này, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho rằng
“Việc tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng giống như việc Ngân hàng Nhà nước thay cái
má phanh cũ bằng một má phanh mới để có thể nhạy hơn trong việc kiểm soát độ nở của tiền tệ (tăng trưởng tín dụng)” Động thái mạnh mẽ này của Ngân hàng Nhà nước nhằm rút tiền mặt ra khỏi lưu thông, vì trước đó một lượng tiền lớn đã được bơm ra để mua vào 7 tỷ USD trong 5 tháng đầu năm Dù chia sẻ với những khó khăn của Chính phủ, 90% trong số đại diện các Ngân hàng đưa ra ý kiến đều bức xúc tăng dự trữ bắt buộc ở mức tăng quá nhanh và mạnh Đặc biệt trước một chính sách tác động mạnh đến hệ thống Ngân hàng họ phải được góp tiếng nói của mình trước đó
Như vậy trong năm 2007 Ngân hàng Nhà Nước tăng mức dự trữ bắt buộc lên gấp đôi đối với các loại tiền gửi ngân hàng, khống chế mức cho vay thế chấp chứng khoán
Trang 253%/ tổng dư nợ (Chỉ thị 03) và sau đó khống chế mức dư nợ cho vay chứng khoán theo hướng tiếp tục thắt chặt (theo mức 20% vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại, Quyết định 03) Tăng các lãi suất của Ngân hàng Thương mại (lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn , lãi suất chiết khấu), hạn chế bơm tiền mua ngoại tệ, phát hành tín phiếu Ngân hàng Nhà Nước (vào ngày 17/03/2008) bắt buộc đối với các Ngân hàng Thương mại để hút tiền về Ngân hàng Nhà nước Hiện tại cho thấy rõ ràng các Ngân hàng đang phản ứng khá mạnh mẽ với các chính sách mạnh của Nhà nước Thị trường tiền
tệ đình đốn là phản ứng mãnh liệt nhất Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam người ta chứng kiến cảnh thị trường tiền tệ “đình đốn” Sự đình đốn này bắt đầu vào cuối năm
2007 đến nay và sự “đình đốn” cả về tiền đồng lẫn ngoại tệ
Trong vòng một tuần các tập đoàn kinh tế lớn của Nhà nước đã duy chuyển vốn khoảng 7.200 tỷ đồng, làm cho các Ngân hàng Thương mại bị thiếu vốn khả dụng, đẩy lãi suất tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng lên cao Ngày 21/11/2007 lãi suất qua đêm trên thị trường liên Ngân hàng đạt mức 17%/năm Ngân hàng Nhà nước đã phải nhảy vào cuộc bơm thêm hơn 10.000 tỷ đồng vào lưu thông lãi suất mới hạ nhiệt xuống 8%/năm
Trước tết Âm lịch Ngân hàng Thương mại đã tăng cường cho vay đáng kể, và nhu cầu tiền đồng trong các Ngân hàng Thương mại chưa có dấu hiệu bớt căng thẳng thì ngày 16/1/2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 187/2008/QĐ-NHNN ngày 16/01/2008 về việc điều chỉnh dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng Theo đó, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu mở rộng diện các loại tiền gửi phải dự trữ bắt buộc bao gồm các loại tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn so với quy đinh hiện nay là áp dụng dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn
Tuy nhiên, Ngân hàng Nhà nước không điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng hoạt động trên địa bàn nông nghiệp nông thôn
Phản ứng đầu tiên từ các Ngân hàng Thương mại cho thấy, ngay sau khi nhận được thông tin về Quyết định điều chỉnh dự trữ bắt buộc, các Ngân hàng Thương mại Nhà
Trang 26nước cho biết sẽ tiết kiệm chi phí quản lý và không tăng lãi suất cho vay Đồng thời
đề nghị, Ngân hàng Nhà nước theo dõi sát các diễn biến của thị trường tiền tệ để áp dụng kịp thời các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ thích hợp nhằm ổn định thị trường tiền tệ
- Về lãi suất:
Được biết nửa đầu năm 2007 chúng ta đưa ra 105.000 tỳ đồng mua ngoại tệ dự trữ và
cả năm hút về được 90.000 tỷ đồng Từ đấy đến nay Ngân hàng Nhà nước tung ra thêm 40.000 tỷ đồng để mua USD phục vụ xuất khẩu Như vậy số tiền còn kẹt trong lưu thông phải hút về là 55.000 tỷ Thêm vào đó lạm phát năm 2007 quá cao khiến chúng ta không khỏi lo lắng về tình hình nền kinh tế hiện nay Với mục tiêu kiềm chế lạm phát và điều hòa cung cầu tiền tệ trên thị trường Ngân hàng Nhà nước làm nhiệm
vụ “trái tim”bơm và hút tiền cuả cơ thể nền kinh tế ra thông báo Ngân hàng Nhà nước
sẽ phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc bằng VND với lãi suất 7.8%/ năm đối với các tổ chức tín dụng Số cổ phiếu trên sẽ được phân bổ cho 41 tổ chức tín dụng theo quy mô, tỷ trọng huy động vốn bằng VND, trong đó có nhiều Ngân hàng Thương mại Thời điểm phát hành là 17/03/2008 Trước khó khăn khan hiếm tiền đồng thì động thái này của Chính phủ như tiếp thêm dầu vào lửa Những Ngân hàng đó không còn cách nào khác hơn giải pháp hút tiền đồng từ trong nhân dân, từ đây nảy sinh cuộc đua lãi suất giữa các Ngân hàng
Ngày 29/1/2008, lãi suất qua đêm chỉ ở mức 10,86% Một ngày sau đó, sự đột biến xuất hiện khi các mốc 20%, 25% bị đánh đổ và đỉnh điểm có lúc lên tới 27% - chưa từng có trong lịch sử tiền tệ Việt Nam Một mức lãi suất mà bản thân các Ngân hàng Thương mại cũng không ngờ đến và lúc bí quá buộc lòng ‘bấm bụng” phải vay vì không còn cách nào khác
Phía sau kỷ lục này, là áp lực khát vốn VND của một số Ngân hàng Thương mại; thậm chí trả lãi suất cao nhưng vay vốn cũng khó Cuộc đua tăng lãi suất huy động vón nội tệ thật sự nóng lên từ tháng 1/2008 và Ngân hàng Nhà nước lúc này (ngày 30/01/2008) mới thông báo điều chỉnh lãi suất chủ đạo, thực hiện từ tháng 2/2008 theo đó lãi suất cơ bản tăng từ 8.25%/ năm đến 8.75%/ năm; lãi suất tái cấp vốn tăng
từ 6.5%/ năm lên 7.5%/năm và lãi suất chiết khấu tăng từ 4,5%/năm lên 6,0%/năm Các mức lãi suất trước đó được thực hiện từ tháng 12/2005, tức là ổn định trong hơn 2 năm đến nay mới điều chỉnh tăng trước áp lực gia tăng lạm phát Đồng thời các mức lãi suất đó thực tế ít tác động đến lãi suất của các Ngân hàng Thương mại, nhưng về
Trang 27điều hành Ngân hàng Nhà nước phát đi tín hiệu tăng lãi trên thị trường tiền tệ, tạo áp lực về tâm lý tăng lãi suất trên thị trường
Tháng 2/2008 thị trường lại diễn ra cuộc đua lãi suất mới rộ hơn tháng 1/2008 Hàng loạt các Ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất huy động Cụ thể, lãi suất huy động vốn VNDkỳ hạn 12 tháng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn lên tới 9.7%/ năm tương đương 0.81%/ tháng, Techcombank lên tới 9.6%/ năm Thậm chí lãi suất huy động vốn của nhiều quỹ tín dụng nhân dân kỳ hạn 12 tháng lên tới 0.9%/ tháng hay 10.8%/ năm, có Ngân hàng buộc phải tăng lãi suất liên tiếp 2-3 lần chỉ trong một tháng
Một số Ngân hàng Thương mại bên cạnh việc tăng lãi suất còn đưa ra một số hình thức huy động vốn hấp dẫn khác như quay số dự thưởng với giá trị các giải thưởng bằng hiện vật lên tới hàng tỷ đồng, triển khai hình thức gửi tiền với lãi suất linh hoạt, khách hàng được rút tiền bất cứ lúc nào có nhu cầu nhưng được hưởng lãi suất có kỳ hạn, lãi suất lũy tiến theo số tiền gửi… Đặc biệt đánh vào tâm lý khách hàng trong điều kiện chỉ số giá tăng cao từ ngày 18/02/2008 có ngân hàng còn hình thức huy động vốn VND “Lãi suất bù lạm phát” Ngoài lãi suất thông thường khách hàng gửi tiền kỳ hạn 12 tháng được ngân hàng này cam kết bù một phần hoặc chênh lệch giữa lãi suất và tỷ lệ lạm phát thực tế nhằm đảm bảo cho khách hàng gửi tiền được hưởng lãi suất không bị thiệt hại khi lãi suất lên cao
Trước nhu cầu vay vốn của Ngân hàng và tính thanh khoản bị ảnh hưởng, ngày 15/02/2008 vài Ngân hàng phải ngừng toàn bộ các khoản cho vay “bịt” đầu ra, không giải ngân dù chỉ một đồng Có trường hợp phải dùng kế hoãn binh khất khách hàng đến rút tiền đến thứ 2 tuần tới, ngay cả trường hợp khách hàng vay vốn của ngân hàng qua thương lượng đến 1.7%/ tháng tương đương với 20.4%/năm Rất nhiều người vay
là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ than đã bị Ngân hàng chần chừ, lãi suất cho vay cao ngất ngưỡng Riêng những cá nhân, doanh nghiệp nhỏ lần đầu tiên vay vốn Ngân hàng thì nhận được lời từ chối
Trước tình hình căng thẳng về lãi suất, ngày 26-2 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu đã có công điện số 02 yêu cầu các Ngân hàng Thương mại điều chỉnh mức lãi suất huy động tiền đồng ở mức hợp lý, phù hợp với nguyên tắc không
để lãi suất âm nhưng không vượt quá 12%/ năm Tuy nhiên, nhìn về dài hạn đến cuối năm 2008 dự đoán xu hướng lãi suất sẽ tăng nếu Ngân hàng Nhà Nước bỏ trần lãi suất, để lãi suất tự điều chỉnh theo nhu cầu của các Ngân gàng Thương mại Việc đưa
Trang 28ra trần lãi suất như hiện nay chỉ là biện pháp tạm thời không phù hợp với sự vận động của cơ chế thị trường
- Về tỷ giá:
Kinh tế Mỹ suy thoái, FED liên tục cắt giảm lãi suất, đồng đôla ngày càng giảm giá so với các đồng tiền khác Cụ thể trong năm 2007 vừa qua USD đã giảm giá 14.75% so với EUR, với Yên Nhật là 14.53%, đồng baht Thái Lan là 3.96%, peso Philippines là 14.5%, đôla Singapore là 10.45% Còn ở Việt Nam, nếu căn cứ vào tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng của VND so với USD do Ngân hàng Nhà nước công bố hàng ngày thì có thể thấy, trong năm 2006, VND vẫn còn mất giá
229 đồng so với USD (tương ứng với 1,44%), còn năm 2007 hầu như đứng yên (chỉ mất giá 13 đồng, tương ứng với 0,08%)
Thế nhưng, từ đầu năm trở lại đây, câu chuyện tỷ giá đã rẽ theo hướng khác, bởi từ ngày 31/12/2007 đến ngày 20/3 vừa qua, VND đã tăng giá nhảy vọt tới 124 đồng so với USD, tương ứng với 0,77% Như vậy, trong bối cảnh nguồn ngoại tệ tiếp tục ùn
ùn đổ vào thị trường nước ta qua nhiều kênh khác nhau, cho dù với hai lần nới rộng biên độ dao động tỷ giá từ +/-0,5% lên +/-0,75% vào đầu năm và lên tiếp +/-1% kể từ ngày 10/3 vừa qua và với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước công bố ở hai thời điểm này là 16.112 đồng và 16.025 đồng, nhưng "sân chơi" của các Ngân hàng Thương mại vẫn tỏ ra quá hẹp, bởi phạm
vi "du di" chỉ là 15.991-16.233 đồng và 15.865-16.185 đồng
Ngoại tệ dư thừa, Ngân hàng từ chối mua, còn nếu mua thì lại khấu trừ mức phí khá cao Chẳng hạn, trong ngày 17/3, tỷ giá niêm yết tại SeABank là 15.858 VND/USD thì khi khách hàng đến bán 1 USD sẽ bị khấu trừ 3,9%, hay nói cách khác, tỷ giá niêm yết thực tại SeABank cùng ngày là 15.239 VND/USD (tương đương với giá bán của đồng USD trên thị trường tự do) Tương tự, một số Ngân hàng khác như DongA Bank, ACB, HDBank cũng có mức phí thu mua ngoại tệ tương tự, dao động từ 2 - 3,9% trên tỷ giá niêm yết Mặc dù thu mức phí cao nhưng không phải Ngân hàng nào cũng mua hết ngoại tệ của khách hàng Hiện giá rao bán đồng USD trên thị trường tự
do gần chạm đáy 15.000 VND/USD thấp nhất từ trước tới nay
Thực tế từ đầu năm 2007 cho vay bằng ngoại tệ của các tổ chức tín dụng luôn tăng với tốc độ cao Nguyên nhân do nhập siêu quá lớn trong khi các mặt hàng chủ chốt trên thế giới tăng mạnh, lãi suất ngoại tệ luôn thấp hơn lãi suất VND Vì thế người vay USD sẽ được lợi kép bởi tỷ giá hối đoái xuống thấp, cộng với mức lãi suất chi trả
Trang 29ngân hàng khi vay ngoại tệ cũng chỉ bằng một nửa khi vay tiền đồng Thực tế, lãi suất huy động USD hiện nay chỉ hơn 6%/năm, trong khi đó, lãi suất huy động bằng VND của hầu hết Ngân hàng đều đụng trần cho phép là 12%/năm Đây chính là điểm hấp dẫn để khách hàng chọn vay bằng USD trong bối cảnh hiện nay Nhu cầu USD tăng cao, trong khi khách hàng rút tiền gửi bằng ngoại tệ chuyển sang VND cũng không thua kém buộc các Ngân hàng phải nhanh chóng vào cuộc đua lãi suất huy động tiền gửi bằng USD Ngày 26/3, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) tăng lãi suất (LS) huy động USD từ 0,15% - 0,35%/năm Cụ thể, LS huy động USD kỳ hạn 1 tháng: 5,85%/năm; 2 tháng: 5,875%/năm; 3 tháng: 5,9%/năm; 6 tháng: 5,95%/năm; 12 tháng: 6%/năm
Một số ngân hàng cổ phần khác cũng đã điều chỉnh tăng LS USD như Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) tăng LS USD vào ngày 24/3 với mức tăng từ 0,2% - 0,3%/năm Mức LS mới áp dụng cho kỳ hạn 1 tháng là 5,6%/năm; 2 tháng: 5,8%/năm; 3 tháng: 6%/năm; 6 tháng: 6,1%/năm; 12 tháng: 6,2%/năm Ngân hàng TMCP Nam Việt (Navibank) tăng LS USD lên mức khá cao: kỳ hạn 3 tháng: 6,38% - 6,4%/năm; 6 tháng: 6,4% - 6,42%/năm; 12 tháng: 6,12% - 6,14%/năm Các ngân hàng ngoài quốc doanh (VP Bank), Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank) cũng đã tăng LS huy động USD Sau cuộc đua tăng LS huy động tiền đồng, cuộc đua tăng LS USD giữa các Ngân hàng đang diễn ra quyết liệt
Với tình hình trên, kết quả là cuối tháng 3/2008 các quan hệ vay trả bằng ngoại tệ lấn
át các quan hệ mua - bán ngoại tệ nên Ngân hàng Thương mại khó mua được ngoại tệ
để đáp ứng nhu cầu thanh toán Với quyết tâm không để VND mất giá hoặc tăng giá quá mức so với USD dự đoán trong thời gian tới tỷ giá sẽ được duy trù ổn định Tuy nhiên với tình hình vay trả như hiện nay vẫn không được cải thiện thì dự đoán tỷ giá
sẽ có những bước nhảy nằm ngoài tầm kiểm soát của các nhà hoạch định chính sách
2.1.3 Tác Động Của Lạm Phát Đến Nền Kinh Tế Việt Nam:
Gần đây ở đâu cũng nghe người ta nói đến lạm phát Từ các chuyên gia cho đến những người dân tay lấm chân bùn lâu nay không biết gì về lạm phát, giờ đây khái niệm lạm phát đã không còn xa lạ với họ nữa mà như một vấn đề được đặt ra thảo luận của mọi người, mọi lúc, mọi nơi Giá cả như con tàu đang lao nhanh khiến cho chúng ta không kịp phản ứng, hôm nay ra chợ mua giá khác, ngày mai thì giá lại khác Thật không biết đâu mà lường, điều này đã gây tâm lý bất ổn lớn đến với người dân, đặc biệt đối với những người nghèo, người lao động có thu nhập thấp, những người ăn
Trang 30lương cố định, những người về hưu… Vấn đề lạm phát quả thật nghiêm trọng, ảnh hưởng đáng kể đến đời sống và sản xuất của mọi người, tác động xấu đến nền kinh tế Trước hết lạm phát tác động đến những người nghèo, người làm công ăn lương khi
mà tốc độ tăng giá nhanh hơn tốc độ tăng lương thi thử hỏi làm sao không lo cho được Trong khi đó các mặt hàng như lương thực, thực phẩm lại đi đầu trong việc tăng giá Chỉ tính riêng 2 tháng đầu năm 2008 thì thì thực phẩm tăng 11.56%, dịch vụ ăn uống 10.21%, lương thực tăng 6.71% Số liệu thống kê năm 2007 thì ở khu vực nông thôn so với tháng 10/2006 số hộ thiếu đói tăng 44%, và số nhân khẩu thiếu đói tăng 47% Mặc dù giá tăng không phải là nguyên nhân duy nhất (bên cạnh thiên tai, dịch bệnh, cúm gia cầm, bệnh gia súc…) của tình trạng thiếu đói tăng nhanh nhưng rõ ràng đây là chắc chắn là một nhân tố làm trầm trọng thêm tình trạng này
Cũng theo số liệu thống kê tốc độ tăng trưởng ở lĩnh vực công nghiệp đã chậm lại trong quý 1 năm 2008 Công nghiệp đạt mức tăng trưởng 16.3%, thấp hơn so với cùng
kỳ năm trước 0.3 điểm phần trăm Lạm phát tác động đến mọi mặt của ngành công nghiệp Từ các doanh nghiệp sản xuất lao đao với chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng đã đội chi phí sản xuất của họ lên cao Cụ thể, trong quý 1 năm 2008 giá dầu thô tăng 64.4%, than đá tăng 51.9%, cà phê tăng 38.7%, gạo tăng 33%, cao su tăng 31.5% Giá nguyên liệu tăng làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
so với các nước trong khu vực (các nước có mức lạm phát thấp hơn) Đến các doanh nghiệp xây dựng, khi giá vật liệu xây dựng liên tục leo thang, nhăm nhe gặm nhấm gần từng đồng vốn của doanh nghiệp xây dựng, họ càng làm càng đuối sức, không còn khả năng để tiếp tục đeo đuổi công trình Những nhà thầu do không ngờ giá vật liệu lại tăng cao đến như vậy (từ trước tết đã tăng một đợt, cộng thêm giá nhân công tăng thêm 20%) nên không dám nhận thêm công trình mới nếu không có tính toán chu đáo, chỉ nhận khi thi toán trước khoảng 35% giá trị hợp đồng Không ít doanh nghiệp chấp nhận chịu phạt hợp đồng, ngậm ngùi bỏ công trình mà chạy, số khác lỡ ký hợp đồng vẫn phải tiếp tục nhưng với tâm trạng đầy lo âu Và cùng tâm trạng chung là các doanh nghiệp than, điện, đường sắt… Khi chi phí đầu vào tăng cao mà theo yêu cầu của Nhà nước từ nay đến tháng 6 các doanh nghiệp điện, nước, vận tải… không được tăng giá
Kim ngạch xuất khẩu của cả nước chỉ đạt hơn 13 tỷ USD trong quý 1 và mới bằng 22% kế hoạch Trong khi đó kim ngạch nhập khẩu quý 1 là 20.4 tỷ USD tăng 62.5%
so với cùng kỳ năm trước Tình hình này đã đẩy nhập siêu lên đến gần 7.4 tỷ USD
Trang 31bằng 56.5% so với kim ngạch xuất khẩu, mức cao nhất từ trước đến nay Như vậy lạm phát đã cản trở xuất khẩu và mất cân đối ngoại thương
Tốc độ tăng giá nhanh hơn tốc độ tăng của lãi suất tiết kiệm trong thời gian qua (lãi suất thực bị âm) Vì vậy người dân có tiền gửi ngân hàng đến kỳ đáo hạn rút tiền về không còn muốn gửi tiền vào Ngân hàng nữa Ngay cả những người không có tiền cũng đi vay tiền ngân hàng để chạy đi tìm những cơ hội đầu tư có tỷ suất sinh lợi cao hơn như thị trường chứng khoán và bất động sản dẫn đến bùng nổ tín dụng thời gian qua cao kinh khủng 53.9% Việc đầu cơ quá mức vào hai thị trường này làm xuất hiện bong bóng tài sản và đến lúc nó cũng xì hơi Nếu như cuối năm 2006 và đầu năm
2007 là thời kỳ huy hoàng của thị trường chứng khoán VN-Index đã vượt qua 1000 điểm, thị trường chứng khoán trở thành nơi huy động vốn tốt của các doanh nghiệp qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu thì năm 2008 này là một viễn cảnh ngược hoàn toàn Thị trường chứng khoán chứng kiến những chuỗi ngày ảm đạm khi mà VN-Index lao xuống mức dưới 500 điểm trong ngày 25/3/2008, nhiều doanh nghiệp phải hoãn lại thời gian IPO Thị trường bất động sản thì đóng băng nhanh đến nổi không ai ngờ sau quyết định thắt chặt tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Nhà đất tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội trước Tết sôi động thì giờ đây đìu hiu, người bán
là đa số, trong khi người mua thì còn đang chờ đợi tình hình sắp tới thế nào Nếu lượng tiền đầu tư vào bất động sản, chứng khoán hoàn toàn là tiền nhàn rỗi trong dân
cư và nhu cầu bất động sản là nhu cầu thực thì liệu có xảy ra tình trạng như hiện nay? Chỉ tiêu mà Nhà nước đặt ra là phấn đấu trong năm 2008 lạm phát sẽ nhỏ hơn 12% Thế nhưng trong quý 1 chỉ số giá tiêu dùng đã là 9.19% cao hơn cả muc tiêu tăng trưởng kinh tế Còn một chặng đường dài ba quý nữa con số này sẽ là bao nhiêu? Khó
mà có câu trả lời chính xác Con số này như chất xúc tác thêm vào tâm lý lo sợ vật giá leo thang của người tiêu dùng Người mua thì sợ lên giá còn một số người bán cũng lợi dụng cơ hội này mà lên giá thu lời Thêm vào việc báo đài hằng ngày liên tục đưa tin về lạm phát vì vậy sẽ không tránh khỏi việc người dân kỳ vọng lạm phát cao và khó kiểm soát Thực tế các chính sách kiểm soát lạm phát thời gian qua của Chính phủ đã không phát huy tác dụng tốt mà gây sốc trên thị trường làm mất lòng tin của dân chúng vào Chính phủ Việc khó dự doán về lạm phát làm cho việc dự đoán về lạm phát khó chính xác - là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng bất ổn và do vậy làm tăng chi phí giao dịch, giảm hiệu quả của nền kinh tế, làm suy yếu năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế (ngoại trừ lạm phát của nước cạnh tranh cao hơn) Nếu tình trạng này cứ tiếp tục sẽ làm giảm lòng tin của nhà đầu tư ảnh hưởng đến cơ hội
Trang 32thu hút vốn đầu tư nước ngoài Nhà đầu tư bỏ đi sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng và giảm việc làm trong trung và dài hạn
2.1.4 Những Điểm Giống Và Khác Nhau Về Vấn Đề Lạm Phát Của Việt Nam So Với Một Số Quốc Gia Trên Thế Giới:
Kinh tế thế giới năm 2007 có những bất ngờ vượt ngoài dự liệu của các nhà hoạch định chính sách Không chỉ ở Việt Nam, mà còn ở nhiều nước khác Nhưng điều kỳ lạ
là lạm phát các nước trên thế giới tuy có tăng nhưng vẫn luôn trong tầm kiểm soát, các nước trong khu vực luôn có lạm phát thấp hơn Việt Nam
2.1.4.1 Lạm phát của Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực:
Chúng ta thừa nhận rằng giá lương thực – thực phẩm và giá dầu thế giới đã tăng cao trong năm 2007 là nguyên nhân tác động gây nên lạm phát tại Việt Nam trong thời gian qua Nhưng nếu giá lương thực – thực phẩm và giá dầu lửa thế giới là nguyên nhân chính, thì các nước trong khu vực như Thái Lan và Trung Quốc, Malayxia cũng phải chịu sức ép tăng giá tương tự Tuy nhiên, trong khi tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2007 lên tới 2 chữ số, thì Trung Quốc chỉ chịu lạm phát ở mức 6,5% và Thái Lan 2,9%, Malayxia là 1.9% Vậy yếu tố nào làm nên sự khác biệt này?
Khác biệt rõ rệt nhất giữa Việt Nam với các quốc gia có lạm phát thấp hơn, như Trung Quốc và Thái Lan, đó là tốc độ tăng cung tiền Tính tới cuối tháng 6 năm 2007, lượng tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi ngân hàng ở Việt Nam đã tăng tới 21,1% so với đầu năm Con số tương ứng của Trung Quốc và Thái Lan lần lượt là 10,0% và 1,4%
Trong khoảng thời gian hai năm rưỡi, tính từ đầu năm 2005 cho đến cuối tháng 6 năm
2007, GDP của Việt Nam tăng 22%, còn mức cung tiền mặt cho lưu thông và tiền gửi ngân hàng đã tăng lên đến 110% Trong cùng giai đoạn này, GDP của Trung Quốc tăng 29%, nhưng mức cung tiền chỉ tăng 50% Chênh lệch giữa tăng GDP và tăng cung tiền của Thái Lan là hầu như không đáng kể Thêm vào đó năm 2007 theo Tổng cục Thống kê khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội theo giá thực tế là 461.9 nghìn tỷ đồng, bằng 40.4% GDP, trong đó khu vực Nhà nước chiếm 200 nghìn tỷ đồng và phần còn lại của khu vực ngoài Nhà nước và FDI Thế nhưng đáng buồn thay một đồng vốn đầu tư của khu vực Nhà nước chỉ tạo ra được 2.1 đồng GDP trong khi tỷ trọng này chiếm tới 43.3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội So với các nước trong khu
Trang 33vực tỷ lệ vốn đầu tư so với GDP chỉ vào khoảng trên dưới 25% có nghĩa là một đồng vốn đầu tư tạo ra được trên dưới 4 đồng GDP cao gấp rưỡi, gấp đôi so với việt Nam
Còn theo tính toán của các nhà kinh tế đại học Harvard cho thấy: Năm 2007 tăng trưởng kinh tế Việt Nam ước tính tăng 8.48% so với năm 2006 và chỉ số ICOR của Việt Nam năm 2007 là 40.4:8.48= 4.76/1 điều này được hiểu là tăng vốn đầu tư 4.76% thì chỉ tăng được 1% GDP, thấp xa so với Đài Loan khi họ chỉ đầu tư vốn ở mức 20% GDP nhưng lại tăng trưởng ở mức 9-10%, chỉ số ICOR Việt Nam xấp xĩ 5
là quá cao và là sự cảnh báo về tăng trưởng thiếu bền vững và thất thoát
Việt Nam tăng trưởng kinh tế thấp hơn so với Trung Quốc, nhưng tăng cung tiền lại cao hơn rất nhiều Đó chính là lý do chính để giải thích tại sao lạm phát ở Việt Nam cao hơn hẳn những nước khác Giá gạo hay giá dầu thế giới có tăng cao bao nhiêu, thì sức ép của các yếu tố này tới lạm phát ở Việt Nam, Trung Quốc và Thái Lan không thể khác nhau nhiều
2.1.4.2 So sánh lạm phát của Việt Nam và Mỹ:
Sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ là nguyên nhân chính dẫn đến việc mất giá của đồng tiền đồng thời kéo theo một loạt những hiệu ứng xấu Người dân Mỹ và những người tích trữ đôla trên thế giới không còn tin vào đồng tiền xanh dương này nữa và mong muốn đổi nó ra vàng Đây chính là cơn khủng hoảng tín dụng của nước Mỹ Giá dầu thô tăng lên gần 100 đô la một thùng vào cuối năm 2007, lạm phát đạt mức kỉ lục trong vòng 17 năm qua Cục Dự trữ Liên bang liên tục cắt giảm lãi suất song song với cung ứng tiền mặt Đây là nguyên nhân chính của lạm phát Mỹ cuối năm ngoái đầu năm nay
Trang 34- Ở Việt Nam:
Nguồn vốn FDI cũng như dòng ngoại tệ chảy vào thị trường chứng khoán trong năm
2007 đã khiến cho lượng đôla của chúng ta tăng đột biến Không thể không tạo điều kiện cho đầu tư và phát triển, Ngân hàng Nhà nước đã phải cung ra số lượng khổng lồ tiền đồng để mua hết số đôla này Đồng đôla mất giá, đồng nghĩa với việc tiền Việt lên giá Người ta lại dồn dập bán đôla để thu tiền Việt Cung tiền đồng lại phải tăng thêm để giữ tỉ giá hối đoái (VND/USD) khỏi xuống quá thấp Do đó, lạm phát ở nước
ta không gì khác là một hiện tượng tiền tệ Con số lạm phát lên đến 12.63% so với chỉ
số tăng GDP là 8.5% - nghĩa là về thực chất chúng ta tăng trưởng âm
2 Chính sách Nhà Nước áp dụng:
Đối với Mỹ, chủ trương là hi sinh lạm phát để cứu lấy tăng trưởng Trong năm qua, tăng trưởng Mỹ chỉ đạt 1.9%, thấp hơn 1% so với năm 2006 (2.9%) Tốc độ tăng trưởng thụt lùi như vậy cho thấy những báo động đỏ trong nền kinh tế Mỹ Tuy nhiên, chính sách tiền tệ của Mỹ lại không phải là thắt chặt cung tiền như nhiều người dự đoán Mỹ chủ trương duy trì đồng đô la thấp và lãi suất liên tục bị cắt giảm
Ngược lại, đối với Việt Nam, bắt đầu năm 2008, chính sách tiền tệ vốn không được áp dụng nhiều, nay lập tức phát huy sức mạnh Tiền tệ thắt chặt lập tức bằng cách Ngân hàng Trung ương tung ra hơn 20.000 tỉ dồng tín phiếu buộc các Ngân hàng Thương mại phải mua vào Điều này giúp giảm triệt để lượng cung tiền và tác động mạnh đến tình hình lạm phát Tuy nhiên, lãi suất đã và sẽ lên cao bởi vì lượng cung tiền mặt giảm xuống Vừa qua, Nhà nước đã yêu cầu mức lãi suất nhận gửi chỉ tối đa là 12%
để tránh cuộc sát phạt lãi suất giữa các Ngân hàng Thương mại Điều này đồng nghĩa với việc lãi suất cho vay sẽ rất cao Các doanh nghiệp khó có khả năng vay vốn kinh doanh Giá cả cũng chưa chắc xuống thấp được vì dù đồng tiền tăng giá vì lượng tiền lưu thông giảm xuống nhưng chi phí vốn của các doanh nghiệp sẽ đẩy giá lên (lạm phát chi phí đẩy)
2.1.4.3 So sánh lạm phát của Việt Nam và Trung Quốc:
Tỷ lệ lạm phát năm 2007 của Trung Quốc là 6,5%, cao nhất trong vòng 11 năm qua tình trạng lạm phát cao, đồng nội tệ lên giá, sự tăng trưởng nóng của tín dụng, bong bóng bất động sản Năm 2007, tốc độ lạm phát của Trung Quốc là 6,5 Chỉ trong 9 tháng đầu năm 2007, các Ngân hàng Thương mại Trung Quốc đã dành 3.360 tỷ Nhân
Trang 35dân tệ cho các khoản vay mới (khoảng 450 tỷ USD, gần bằng 16% GDP năm 2006) Năm 2007, đồng Nhân dân tệ đã tăng giá 6,9% so với USD Ngày 14/1/2008, đồng Nhân dân tệ đã đạt mức 7,2566 NDT/USD, sau khi Trung Quốc thông báo dự trữ ngoại hối vượt hơn 1.530 tỷ USD vào cuối năm 2007 Giá cả tại Trung Quốc bắt đầu tăng mạnh từ năm ngoái và sau khi đợt bão tuyết khủng khiếp vừa rồi xảy ra giá cả tiếp tục đà tăng chóng mặt Tình trạng này gần giống như những gì đang diễn ra tại Việt Nam, nếu tính từ năm 2003 đến nay thì năm 2007 là năm có con số lạm phát cao
kỷ lục, đợt rét đậm, rét hại lịch sử kéo dài ở miền Bắc và Bắc Trung bộ đã gây tổn thất lớn về vật chất cho nhân dân và tác động bất lợi đến sản xuất nông nghiệp, giá cả trong nước thì thay đổi nhanh như chong chóng Ngân hàng Nhà Nước đã tung ra một
số lượng lớn tiền đồng lớn để mua USD, tốc độ tăng trưởng tín dụng đột biến
Cả Trung Quốc và Việt Nam cùng áp dụng chính sách thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát
Cụ thể: Ngân hàng Trung ương Trung Quốc sẽ khuyến khích hoạt động mở cửa thị trường và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc của các Ngân hàng Thương mại, để Nhân dân tệ thay đổi tỷ giá linh hoạt và sử dụng tỷ lệ lãi suất để kiểm soát tình trạng lạm phát Ngày 20/12/2007, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBOC) đã thông báo, từ ngày 21/12/2007, lãi suất cơ bản tiền gửi kỳ hạn 1 năm tăng 27 điểm phần trăm lên 4,14%, trong khi lãi suất cho vay tăng 18 điểm phần trăm lên 7,47% Đây là lần tăng lãi suất thứ 6 trong năm 2007 PBOC cho rằng, mục đích chính của hành động này để nâng lãi suất tiền gửi ngắn hạn lên nhằm mục đích ngăn chặn tiền gửi của các hộ gia đình và doanh nghiệp chảy vào chứng khoán, đồng thời kìm hãm lạm phát
Về tỷ lệ dự trữ bắt buộc, PBOC đã tăng 50 điểm phần trăm lên 15% Quy định mới này có hiệu lực từ ngày 25/1/2008 Như vậy, với việc theo đuổi một chính sách tiền tệ thắt chặt, Trung Quốc đang chấp nhận sự đánh đổi việc tăng giá của đồng Nhân dân
tệ
Còn Việt Nam, thực tế thời gian qua các biện pháp thắt chặt tiền tệ được Nhà Nước đưa ra để hút bớt tiền trong lưu thông như phát hành trái phiếu bắt buộc 20.300 tỷ đồng, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên 1%, quy định trần lãi suất huy động Ngân hàng Nhà nước khẳng định trong năm 2008 sẽ điều hành tỷ giá theo hướng không để đồng Việt Nam mất giá hoặc tăng giá quá mức so với đôla Mỹ
Trang 36Chúng ta biết rằng không có một chính sách nào áp dụng tốt chung cho tất cả các nước mà tùy điều kiện cụ thể của mổi nước mà ta có chính sách khác nhau để biện pháp đó phát huy tác dụng Tuy nhiên, thực tế những gì đã diễn ra trong thời gian qua cũng khiến chúng ta phải suy ngẫm Nhà nước ta đã giải đúng bài toán lạm phát chưa khi mà mục tiêu đề ra là giảm lạm phát năm 2008 nhưng chỉ số giá tiêu dùng trong quý 1/2008 đã là 9.19%, còn một thách thức là ba quý nữa sẽ như thế nào? Các biện pháp mà Nhà nước đã đưa ra áp dụng được các chuyên gia nhận định là không đúng thời điểm và giải pháp thì sốc quá liều Qua so sánh về nguyên nhân và chính sách sách thực hiện hy vọng từ thực tế các nhà hoạch định chính sách sẽ có cách giải quyết thỏa đáng hơn
2.2 THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM:
2.2.1 Nhìn Nhân Lại Chính Sách Tiền Tệ Từ Năm 2003 Đến Nay
Giai đoạn 2003-2006 chúng ta liên tục duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định Đặc biệt trong năm 2005, GDP ước tăng 8.4% so với năm 2004, mà GDP bình quân của thời kỳ kế hoạch 2001-2005 đạt 7.5% Đây là kết quả đáng mừng Bước sang năm 2006 tuy tình hình có những biến động nhưng nhà nước vẫn làm tốt vai trò người cầm lái con tàu đất nước nên GDP trong năm đạt được 8.17%, CPI là 6.6% Do đó có thể nói trong giai đoạn này nhà nước đã làm tốt vai trò lãnh đạo của mình, chính sách tiền tệ được ban hành là phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế
Trong năm 2007 điều hành chính sách tiền tệ về cơ bản, đạt đuợc mục tiêu đặt ra, tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới có nhiều biến động, cùng với việc Việt Nam gia nhập WTO nên việc điều hành chính sách tiền tệ đã phải đối mặt với nhiều thách thức làm cho việc thực hiện mục tiêu ban đầu còn có hạn chế nhất định
Thách thức lớn nhất mà điều hành chính sách tiền tệ năm 2007 phải đối mặt, đó là dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều.Tình hình này đã có tác động làm tăng tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế (tăng M2); làm tăng cung ngoại tệ, gây sức ép làm VND lên giá; dự trữ vượt của hệ thống ngân hàng tăng mạnh - là một nhân tố thúc đẩy tín dụng tăng nhanh; dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII) có tác động thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển mạnh hơn, và một lượng vốn nhất định cuả dân cư cũng như từ hệ thống ngân hàng được đầu tư trên thị trường chứng khoán, qua đó đã làm tăng dư nợ cho vay nền kinh tế; cùng với việc gia tăng mạnh dòng vốn đầu tư nước ngoài là sự tăng giá khó lường mang tính toàn cầu của một một số mặt
Trang 37hàng, như giá dầu thô, giá lương thực, bên cạnh đó là hạn hán lũ lụt, dịch bệnh gia cầm trong nước đã có tác động mạnh đến mức mức giá tiêu dùng nói chung Trong bối cảnh trên, chính sách tiền tệ phải cùng một lúc đạt hai mục tiêu là vừa phải hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế đạt 8,5%, vừa phải kiềm chế lạm phát dưới mức tăng trưởng là cực kỳ khó khăn Giải pháp ổn định lãi suất và tỷ giá danh nghĩa hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tiền tệ không để xẩy ra sự dịch chuyển dòng vốn, nhưng lại rất khó khăn để kiểm soát khối lượng tiền trong nền kinh
tế và kiềm chế lạm phát
Chính vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã gặp khó khăn trong việc kiểm soát tổng phương tiện thanh toán, tín dụng, qua đó đã chưa kiểm soát được lạm phát theo mục tiêu đặt ra: Tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam tăng mạnh trong năm 2007 là khó tránh khỏi khi dòng vốn đầu tư nước ngoài vào nhiều như năm nay Muốn hạn chế gia tăng tổng phương tiện thanh toán, thì cần phải hạn chế sự gia tăng của dòng vốn này Tuy nhiên, hạn chế dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là vấn đề không đơn giản khi Việt Nam đã gia nhập WTO, thị trường tài chính từng bước tự do hóa Vì vậy, việc hạn chế sự gia tăng nguồn vốn nước ngoài nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước, mà đòi hỏi phải có chính sách vĩ mô đồng bộ để đảm bảo việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài có hiệu quả, giám sát chặt chẽ luồng vốn đầu tư gián tiếp, hạn chế tình trạng đầu cơ trên thị trường chứng khoán,… nhằm hạn chế những tác động bất lợi của dòng vốn này
Bên cạnh đó, việc Việt Nam gia nhập WTO tạo cơ hội thuận lợi cho hệ thống ngân hàng Việt Nam phát triển, qui mô các Ngân hàng Thương mại được mở rộng, các doanh nghiệp cũng có nhu cầu đầu tư mở rộng sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh đã gây sức ép mở rộng tín dụng tăng quá nhanh của các Ngân hàng Thương mại Sự phát triển nhanh của thị trường tín dụng cũng đã xuất hiện những dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro, như cho vay ngoại tệ tăng trưởng quá mức so với nguồn vốn; việc nới lỏng các điều kiện vay vốn của các Ngân hàng Thương mại cổ phần; các lĩnh vực cho vay bất động sản, chứng khoán đã chiếm tỷ lệ không nhỏ trong tổng dư nợ ở một số Ngân hàng Thương mại Thực tế này đòi hỏi phải tăng cường việc quản lý, giám sát rủi ro của các cơ quan quản lý tiền tệ mà trực tiếp là Ngân hàng Nhà nước, cũng như từ chính các Ngân hàng Thương mại; thêm vào đó, việc dư thừa vốn khả dụng làm giảm hiệu quả thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước và làm tăng khả năng mất cân đối kỳ hạn cho hoạt động của các Ngân hàng Thương mại: Vốn khả dụng của các