Trong đó, một vấn đề quan trọng, trung tâm của cuộc chiến là việc giải quyết vấn đề Đức trở thành một đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giớ
Trang 1TIỂU LUẬN
LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI
NHỮNG DIỄN BIẾN CHỦ YẾU CỦA CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH GIỮA HAI CỰC XÔ - MỸ QUA VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ĐỨC SAU NĂM 1945
Trang 2MỤC LỤC
TRANG
Chương 1: CUỘC ĐỐI ĐẦU XÔ – MĨ VÀ VIỆC CHIA
CẮT NƯỚC ĐỨC TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II
ĐẾN NĂM 1949
3
1
1.1 Khái quát về cuộc chiến tranh lạnh 3 1
1.2
Cuộc đối đầu Xô – Mĩ và việc chia cắt nước Đức
từ sau chiến tranh thế giới II đến năm 1949 3 Chương 2: CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH GIỮA HAI
CỰC XÔ-MĨ XUNG QUANH VẤN ĐỀ ĐỨC TỪ THẬP NIÊN
50 ĐẾN THẬP NIÊN 90 CỦA THẾ KỈ XX
10
2
2.1
Việc tái vũ trang lại Tây Đức và sự hình thành hai
2
2.2
Bức tường Béclin - biểu hiện cao nhất của sự đối
2
2.3
Hiệp ước về những cơ sở của quan hệ giữa Cộng hòa liên bang Đức và Cộng hòa dân chủ Đức năm 1972 12 2
2.4
Từ cuộc khủng hoảng chính trị ở Cộng hòa dân chủ Đức đến việc tái thống nhất nước Đức năm 1990 14
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Lịch sử loài người đã chứng kiến nhiều cuộc chiến tranh với rất nhiều hình thái và diễn biến, cùng với những hệ quả khác nhau đối với sự phát triển của xã hội loài người Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Liên Xô và
Mĩ, giữa hai khối Đông và Tây (1947 – 1989) là một cuộc chiến tranh khác lạ, không bởi chỉ vì cái tên của nó mà còn cả vì hình thái, diễn biến, cách đánh giá và nhận định về tác động của nó đối với cục diện thế giới Trong đó, một vấn đề quan trọng, trung tâm của cuộc chiến là việc giải quyết vấn đề Đức trở thành một đề tài thu hút được rất nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới với nhiều quan điểm, nhận định khác nhau
Sau chiến tranh thế giới II, một trong những vấn đề nổi lên hàng đầu trong quan hệ quốc tế là vấn đề nước Đức, thủ phạm chính gây nên chiến
tranh Mặc dù cùng thống nhất với nhau trong chủ trương “ tiêu diệt tận gốc
chủ nghĩa phát xít Đức ” nhưng trong quá trình thực hiện chủ trương này,
Liên Xô – Mĩ đã bộc lộ những mâu thuẫn gay gắt Với âm mưu biến Tây Đức
thành tiền đồn “ngăn chặn” các nước đi theo chủ nghĩa cộng sản do Liên Xô
đứng đầu, Mĩ và các nước Tây Âu đã ra sức thực hiện âm mưu chia cắt nước Đức, không ngừng tăng cường bánh trướng ảnh hưởng của mình tại đây Trong khi đó, Liên Xô và các nước chủ nghĩa xã hội lại muốn tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt Đức, trung lập và dân chủ hóa nước này, xóa bỏ hoàn toàn nguy cơ bị nước Đức tấn công một lần nữa như trong lịch sử hai cuộc chiến tranh thế giới Vì thế, nước Đức, sau chiến tranh thế giới thứ hai trở thành điểm nóng nhất trong quan hệ quốc tế Không ở đâu và không ở nơi nào, chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Liên Xô – Mĩ, giữa hai khối Đông
và Tây lại căng thẳng và diễn biến phức tạp như ở nước Đức Cho nên, tìm hiểu về chiến tranh lạnh thì không thể không tìm hiểu về vấn đề Đức, hay nói cách khác, thông qua vấn đề Đức, có thể thấy được những nét diễn biến chủ yếu của chiến tranh lạnh
Chính vì những lí do trên, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Những diễn biến chủ yếu của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai cực Xô – Mĩ qua việc giải quyết vấn đề Đức sau năm 1945” làm đề tài tiểu luận của mình
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CUỘC ĐỐI ĐẦU XÔ – MĨ VÀ VIỆC CHIA CẮT NƯỚC ĐỨC
TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II ĐẾN NĂM 1949
1 1 Khái quát về cuộc chiến tranh lạnh
Sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc, trong quan hệ quốc tế nảy sinh nhiêu mâu thuẫn và bất đồng mới, đặc biệt là hai siêu cường Liên Xô –
Mĩ, hai nước đứng đầu hai hệ thống xã hội đối lập nhau là TBCN và XHCN Chính những bất đồng này, cộng với môi trường quốc tế sau chiến tranh và nhu cầu bảo đảm, mở rộng lợi ích quốc gia mà mối quan hệ đồng minh giữa
Mĩ và Liên Xô trong chiến tranh thế giới II bị thay thế bằng quan hệ đối đầu căng thẳng trong một cuộc chiến tranh mới, chiến tranh lạnh
Đến ngày nay, việc định nghĩa và nêu lên những đặc trưng của chiến tranh lạnh vẫn còn là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong các học giả trên toàn thế giới Trong đó, khái niệm “chiến tranh lạnh” do Baruch, tác giả của
kế hoạch nguyên tử lực của Mỹ ở Liên Hợp Quốc đặt ra, xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ ngày 26.7.1947 được khá nhiều người đồng ý Theo đó thì cuộc chiến tranh lạnh là “chiến tranh không nổ súng, không đổ máu” nhưng “luôn ở tình trạng chiến tranh” nhằm “ngăn chặn” rồi “tiêu diệt” Liên
Xô Tuy nhiên, trong định nghĩa về chiến tranh lạnh này cũng còn nhiều vấn
đề gây tranh cãi: Cuộc “chiến tranh lạnh” giữa các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu là hình thức chiến tranh đặc biệt, trong một thời gian nhất định thể hiện sự đối đầu giữa hai siêu cường, hai khối Đông – Tây được khởi phát từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cụ thể là ngay từ 1945 và chính thức bùng nổ vào năm 1947 Đặc trưng của nó là sự liên kết bền chặt giữa các thành viên mỗi khối (Mỹ và các nước TBCN, Liên Xô và các nước XHCN) cũng như sự căng thẳng, tác động mạnh mẽ đến tất cả các mối quan hệ giữa hai phe, song chưa có chiến tranh nóng, nghĩa là chưa xảy ra đối đầu trực tiếp có vũ trang giữa hai siêu cường
Xô – Mĩ, hai khối Đông – Tây
Cuộc chiến tranh lạnh kéo dài hơn 4 thập kỉ từ năm 1947 đến 1989 Trong cuộc chiến này, cả hai bên đều ra sức chạy đua để lôi kéo đồng minh và xây dựng các tổ chức quân sự, kinh tế, chính trị của mình Từ đó hình thành
Trang 5trên thế giới hai khối kinh tế, quân sự đối lập nhau là khối kinh tế, quân sự của các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu và khối kinh tế, quân sự của các nước tư bản chủ nghĩa do Mĩ đứng đầu Hai khối này mỗi khối lại có
hệ tư tưởng riêng, có lậptrường riêng và cạnh tranh gay gắt với nhau Trong hơn 40 năm ấy, chiến tranh lạnh diễn biến hết sức phức tạp, có những lúc căng thẳng tới đỉnh điểm, song cú lúc lại hòa hoãn với sự thương lượng giữa đôi bên nhằm tránh một cuộc chiến tranh hạt nhân hủy diệt mà nếu nổ ra sẽ không có kẻ thắng người thua
Cuộc chiến tranh lạnh giữa hai siêu cường Xô và Mĩ, hai khối Đông và Tây đã chi phối hầu hết các mối quan hệ quốc tế trong thời gian này, đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với các quốc gia bị lôi vào guồng quay của
nó Tiêu biểu nhất cho việc này là nước Đức, nơi mà cuộc chiến giữa hai siêu cường Liên Xô và Mĩ, hai khối Đông và Tây luôn luôn ở trong tình trạng căng thẳng nhất, quyết liệt nhất
1.2 Cuộc đối đầu Xô – Mĩ và việc chia cắt nước Đức từ sau chiến tranh thế giới II đến năm 1949.
1.2.1 Âm mưu của Mĩ
Sau hội nghị Poxđam, lo ngại trước uy tín chính trị và ảnh hưởng của Liên Xô trên trường quốc tế ngày càng mở rộng sau chiến thắng vĩ đại của Liên Xô trước chủ nghĩa phát xít Đức và Nhật, Mĩ toan tính đề ra các kế hoạch nhằm “ngăn chặn” ảnh hưởng của Liên Xô, nhằm lôi kéo các nước dân chủ mới được thành lập vào vòng ảnh hưởng của Mĩ và nhằm sử dụng lực lượng chinh trị chống lại chủ nghĩa cộng sản ở châu Âu, trong đó có Đức để chống lại Liên Xô Mĩ coi Liên Xô là vật cản chủ yếu đối với chính sách toàn cầu của Mĩ
Từ giữa năm 1945, Mĩ đẩy mạnh tham vọng muốn chỉ duy nhất Mĩ có được những độc quyền kinh tế trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là ở Châu
Âu nói chung và nước Đức nói riêng là nơi có cơ sở kinh tế - kĩ thuật to lớn
Mĩ đã tiến hành chính sách mở cửa (Open door), trên danh nghĩa là tự do thương mại, thực chất là phục vụ cho chiến lược toàn cầu của đế quốc Mĩ Mĩ không muốn phân chia phạm vi quyền lợi với Liên Xô và cũng chẳng hề lưu tâm đến kế hoạch tái thiết đất nước và vấn đề an ninh sau chiến tranh của Liên
Trang 6Xô: Mĩ từ chối yêu cầu 10 tỉ đô la tiền bồi thường chiến tranh của Đức phải trả cho Liên Xô từ khu vực do Mĩ kiểm soát; cậy thế độc quyền vũ khí hạt nhân để ép buộc Liên Xô làm theo ý muốn của Mĩ trong các vấn đề ở Châu
Âu Khi không khuất phục được Liên Xô, Mĩ tìm cách củng cố địa vị của Mĩ
ở đây, lấy Đức làm trung tâm: Mĩ muốn trước hết là chiếm giữ các thị trường, sau đó củng cố vị thế của tư bản tư nhân trong phạm vi ảnh hưởng của mình Mọi hình thức sở hữu xã hội hóa bị bóp chết, như đã xảy ra trong khu vực chiếm đóng của Mĩ ở Đức
Chính sách đảm bảo an ninh của Liên Xô ở Đông Âu, bao gồm cả phần lãnh thổ nước Đức do Liên Xô cai quản làm cho Mĩ cảm thấy bất ổn và càng tập trung hơn vào các khu vực Mĩ quan tâm ở Tây Âu và nước Đức, nhằm hạn chế đến mức tối đa việc “mở rộng ảnh hưởng” của Liên Xô ở những khu vực này, cụ thể: Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, họ ngừng không cung cấp vật
tư cho Liên Xô và phản đối việc tháo dỡ cácc xí nghiệp của Đức ở khu vực của họ, ngăn cản việc vận chuyển các máy móc này về Liên Xô từ tháng 5/1946, trong khi việc tháo dỡ các xí nghiệp của Đức được Hiệp ước Potxđam quy định vừa là để trả bồi thường chiến tranh, vừa là nhằm xóa bỏ nền công nghiệp chiến tranh của Đức và giảm sản xuất công nghiệp Đức xuống còn 50% so với thời kì 1935 Bên cạnh đó, Mĩ còn sợ rằng một khi không còn quân đội của họ đóng ở châu Âu thì châu Âu sẽ bị Liên Xô, tức chính quyền cộng sản kiểm soát và điều đó chắc chắn sẽ là một trở ngại cho việc thực hiện chiến lược toàn cầu của Mĩ
Như vậy, dường như các nước phương Tây, đặc biệt là Mĩ vừa sợ một nước Đức hiếu chiến quá mạnh, vừa sợ sự lớn mạnh của phong trào cộng sản quốc tế do Liên Xô đứng đầu nên sau Hội nghị Potxđam họ vừa muốn làm tan
rã nước Đức vừa muốn tìm cách ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô trước hết
là ở khu vực châu Âu, từng bước xây dựng vị trí và ảnh hưởng của Mĩ ở khu vực này Vì thế, vấn đề Đức trở thành trung tâm, trọng điểm trong chiến lược của nước Mĩ vào thời điểm này
1.2.2 Chủ trương của Liên Xô trong vấn đề Đức.
Do những yếu tố như vị trí địa lý, chính trị, hoàn cảnh lịch sử, địa vị quốc tế và nhiệm vụ xây dựng lại đất nước bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh,
Trang 7nên chủ trương của Liên Xô trong vấn đề Đức sau hội nghị Potxđam là bảo đảm an ninh, đặc biệt là an ninh phía Tây đất nước, tránh nguy cơ một lần nữa phải đối đầu với chiến tranh từ hướng này Vì vậy, mục tiêu lớn nhất của Liên
Xô trong giai đoạn này là “tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa phát xít, dân chủ hóa nước Đức”, bảo đảm Đức sẽ không bao giờ có thể xâm lược Liên Xô một lần nữa Từ đó, Liên Xô chủ trương thực hiện nghiêm chỉnh những thỏa thuận đã đạt được trong hai hội nghị Ianta và Pụxđam về vấn đề Đức: Chia nước Đức thành các khu vực khác nhau do quân đồng minh chiếm đóng, đòi bồi thường chiến tranh ở mức cao, nghiêm trị tội phạm chiến tranh phát xít, thực hiện dân chủ hóa chính trị và các hoạt động trong đời sống xã hội… Bên cạnh đó, cũng cần phải tính đến “tham vọng” của Liên Xô trong việc mở rộng ảnh hưởng của mình ở Đông Đức – biến nước này thành một nước đi theo chủ nghĩa xã hội như Liên Xô, như Stalin đã nói: “Chiến tranh lần này khác với trước kia bởi bất luận ai chiếm lĩnh đất đai thì đều áp đặt chế độ của mình ở đó Không thể khác được” Chính những chủ trương này đã làm cho nước Mĩ cảm thấy lo ngại về việc “thúc đẩy chính sách bành trướng Nga Sa hoàng” ở Đức nói riêng và các Đông Âu nói chung
Như vậy, có thể khẳng định lại rằng, sau Hội nghị Pụxđam, mặc dù đã đạt được một số thỏa thuận chung trong việc giải quyết vấn đề Đức, nhưng cả
Mĩ và Liên Xô đều theo đuổi những tính toán của riêng mình Trong đó, chỉ
có Liên Xô là thực hiện tương đối đầy đủ những thỏa thuận đó, góp phần tiêu diệt hoàn toàn chủ nghĩa quân phiệt Đức, trung lập và dân chủ hóa nước này; trong khi Mĩ tìm mọi cách trì hoãn, không thực hiện những biện pháp đó cớ
để xây dựng và thiết lập địa vị của mình tại đây, âm mưu chia cắt lâu dài nước Đức, biến nước này trở thành tiền đồn “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản ở Châu Âu Chính sự khác biệt này đã làm cho nước Đức vốn chỉ tạm thời bị chia làm các vùng khác nhau do quân đồng minh kiểm soát, bỗng nhiên bị chia cắt thành hai nước Đức riêng biệt với hai chế độ chính trị xã hội hoàn toàn đối lập nhau sau chiến tranh thế giới II
Trang 81.2.3 Sự ra đời của hai nước Đức mâu thuẫn và đối lập nhau.
Sau khi phát xít Đức đầu hàng theo quy định của Hội nghị cấp cao Ianta và Hội nghị cấp cao Potxđam, bốn nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Pháp tạm thời chiếm đóng nước Đức và toàn bộ chính quyền ở Đức bị tạm thời chuyển sang tay nhà đương cục 4 nước chiếm đóng Khu vực chiếm đóng của Liên
Xô ở miền Đông nước Đức với diện tích là 107.900 km2 và dân số 17.603.578 người Khu vực chiếm đóng của Mỹ, Anh, Pháp ở miền Tây nước Đức với diện tích 248.400 km2 và dân số là 51.469.000 người Thủ đô Béclin nằm ở Đông Đức, nhưng cũng chia thành khu vực chiếm đóng của 4 nước Liên Xô, Mĩ, Anh, Phỏp Đông Bécclin do Liên Xô chiếm đóng với diện tích 407,9 km2, dân số khoảng 120 vạn người; Tây Beclin do Mĩ, Anh, Pháp chiếm đóng với diện tích 480 km2, dân số khoảng 220 vạn người
Ở Đông Đức do Liên Xô kiểm soát, các lực lượng dân chủ được sự giúp đỡ của Liên Xô đó cương quyết thi hành đầy đủ những điều đó kớ kết giữa các nước Đồng minh ở Ianta và Potxđam Các lực lượng quân sự, các tổ chức vũ trang và các tổ chức phát xít khác đều bị giải tán, hoặc bị tiêu diệt toàn bộ Bọn phát xít bị truy bắt và đem ra xử, tài sản của chúng cũng bị tịch thu Đến năm 1948 đã cơ bản hoàn thành nhiệm vụ tiêu diệt các lực lượng phát xít
Trái lại, ở khu vực chiếm đóng Tây Đức, 3 cường quốc Mĩ, Anh, Pháp dung túng, nuôi dưỡng những lực lượng quân phiệt phát xít đã ngóc đầu trở dậy.Ở khu vực Anh chiếm đóng, các tổ chức quân đội phát xít còn tồn tại dưới hình thức “nhóm sản xuất”, những “tổ công tác” Các nhóm và các tổ này đều do các sĩ quan Đức quốc xã điều khiển Ở khu vực Mĩ kiểm soát, các
tổ chức quân sự phát xít vẫn được duy trì dưới hình thức “các tổ chức thể thao” có huấn luyện viên Mĩ huấn luyện về quân sự Căn cứ hải quân Kiel vẫn còn nguyên như cũ (theo báo cáo của ngoại trưởng Liên Xô ở Hội nghị ngoại trưởng Matxcơva 10/3/1947) Hầu hết những tên phát xít tích cực trước kia và bọn tội phạm chiến tranh đã dần dần được thả ra Hoạt động của các Đảng và
Trang 9các tổ chức dân chủ bị hạn chế Những cuộc khủng bố công khai chống Đảng Cộng sản đã xảy ra ở Tây Đức Trong khi đó, chính quyền chiếm đóng của
Mĩ, Anh, Phỏp đó công khai ủng hộ các Đảng phái tư sản và địa chủ của Đức phát xít và các Đảng này dần dần nắm lấy chính quyền ở Tây Đức
Về mặt kinh tế, ở ba khu vực do Mĩ, Anh, Pháp kiểm soát, những máy móc ở các xí nghiệp quân sự không được tháo ra Các xí nghiệp sản xuất vũ khí quân sự vẫn được giữ nguyên Các công ty độc quyền được giải tán một cách giả tạo bằng cách thành lập nhiều công ty mới, đặt dưới quyền quản trị của những tay chủ công nghiệp cũ trước đây đã đứng ra tổ chức nền kinh tế chiến tranh cho Hitle
Bên cạnh đó, đi ngược lại với văn bản và tinh thần của hiệp ước Potxđam quy định về việc cần thiết phối hợp hành động chung giữa tứ cường chiếm đóng ở Đức, Mĩ và Anh đã tiến hành kí kết hiệp ước riêng rẽ nhằm hợp nhất về kinh tế giữa hai khu vực Mĩ - Anh để rồi tiến tới hợp nhất về hành chính và chính trị sau này, thực chất là quy định việc chia cắt nước Đức: Trong năm 1947, hai khu vực Mĩ, Anh đã đẩy mạnh việc xúc tiến hợp nhất về chính trị với một hiệp định mới được kí kết ngày 29/5/1947 để thành lập “Hội đồng kinh tế” hợp nhất hai khu…
Tiến thêm một bước nữa trong âm mưu chia cắt nước Đức, tháng 5/1949 Anh, Pháp, Mỹ tiến hành thành lập một hiến pháp, đưa ra dự thảo hiến pháp cho việc thành lập cộng hòa liên bang Đức Ngày 14/8/1949, ở các khu vực miền Tây đã tiến hành bầu cử Quốc Hội riêng rẽ Tháng 9/1949 chính phủ của nước Cộng hòa liên bang Đức được thành lập, đánh dấu sự ra đời của một nước Đức hoàn toàn riêng rẽ, không bao gồm phần đất phía đông do Liên
Xô kiểm soát
Trước tình hình đó, Liên Xô cũng tập hợp các tổ chức dân chủ ở Đông Đức để họp đại hội nhân dân và thông qua bản dự thảo Hiến pháp Thỏng 10/1949 nước Cộng hòa dân chủ Đức cũng được thành lập Đây được coi như
Trang 10một đòn đánh mạnh vào hệ thống chủ nghĩa tư bản thế giới, làm thất bại âm mưu ngăn chặn và thống trị thế giới của Mỹ Nước Cộng hòa dân chủ Đức ra đời là một sự kiện quan trọng, một bước tiến trong quá trình củng cố hệ thống XHCN; đồng thời cũng đánh dấu việc hình thành nên hai nước Đức riêng rẽ, đối lập nhau, cùng tồn tại ở Châu Âu
Như vậy, vấn đề Đức sau chiến tranh lạnh đã bị các cường quốc, trong
đó chủ yếu là Mĩ và Liên Xô làm cho trở nên vô cùng phức tạp, mà đỉnh cao của nó là việc xuất hiện hai nước Đức riờng ré, theo hai chế độ chính trị đối lập nhau: Cộng hòa dân chủ Đức đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, được sự hậu thuẫn của Liên Xô; Cộng hòa liên bang Đức đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, cấu kết chặt chẽ với Mĩ và các nước phương Tây Điều này tạo nên sự chia cắt lâu dài nước Đức và gây tác hại không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, chính trị của toàn nước Đức; làm ảnh hưởng nhiều đến sự nghiệp hòa bình của nước Đức nói riêng và của Châu Âu, thế giới nói chung