1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ HÓA CHẤT TRONG NUÔI CÁ TRA THÂM CANH VÀ TÌM HIỂU KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRA THỊT TRONG AO ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

22 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi cá tra thâm canh và tìm hiểu kỹ thuật nuôi cá tra thịt trong ao đất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trường học Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Nguồn lợi Thủy sản
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 240,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN CHỦ ĐỀ KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC VÀ HÓA CHẤT TRONG NUÔI CÁ TRA THÂM CANH VÀ TÌM HIỂU KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRA THỊT TRONG AO ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONGỞ nước ta, trong những năm gần đây, cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus Sauvage, 1878) là loài cá nước ngọt được nuôi và xuất khẩu nhiều nhất so với các đối tượng thủy sản nước ngọt khác bởi giá trị dinh dưỡng và lợi ích kinh tế mà nó mang lại, chiếm một phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Cá tra có khả năng sống tốt trong điều kiện ao tù nước đọng, nhiều hàm lượng chất hữu cơ, oxy hòa tan thấp. Cá tra là loài ăn tạp (Khoa và Huong, 1993; Rainboth, 1996). Cá nuôi trong ao sử dụng được các loại thức ăn khác nhau như cá tạp, cua ốc, thức ăn viên, cám, tấm, rau muống... Thức ăn có nguồn gốc động vật hoặc hàm lượng đạm cao sẽ giúp cá lớn nhanh (Dương Nhựt Long, 2004). Cá tra còn là một món ăn quen thuộc trong bữa cơm hằng ngày của nhiều gia đình. Không chỉ chứa nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe (Omega3, 6, 9, DHA và EPA, vitamin E,…), loại nguyên liệu này còn được chế biến thành nhiều món ăn đa dạng và độc đáo nên được khá nhiều người ưa chuộng. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có truyền thống nuôi cá tra trong ao đất từ rất lâu đời, nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, với hệ thống sông ngòi chằn chịt, có 2 dòng sông chảy qua là sông Tiền và sông Hậu với chiều dài mỗi sông khoảng 220km khá thuận lợi cho hoạt động nuôi cá tra trên các ao ven sông, trên cồn (dễ dàng trong hoạt động lấy nước), bên cạnh đó kỹ thuật nuôi không quá khó nên nghề nuôi cá tra khu vực này phát triển mạnh, đóng góp đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước. Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2020, tổng diện tích thả nuôi cá tra của ĐBSCL ước đạt 5.700 ha và tổng sản lượng thu hoạch ước đạt 1,56 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,54 tỷ USD (VASEP, 2020). Các tỉnh Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp là những vùng nuôi lớn nhất cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm hơn 75% tổng sản lượng cá tra cả nước. Tuy nhiên trong quá trình nuôi cá tra, người dân thường sử dụng nhiều loại hóa chất và thuốc kháng sinh để đảm bảo chất lượng nước và phòng trị bệnh cho cá mà ít khi tìm hiểu rõ các tác dụng của chúng, đa số pha chế liều lượng theo cảm tính dẫn đến hậu quả tồn dư hóa chất và thuốc kháng sinh trong ao nuôi cũng như là sản phẩm thủy sản, gây ra các tác động xấu đến kinh tế và sức khỏe. Chính vì thế chúng ta cần phải trang bị cho mình những hiểu biết cần thiết về các loại thuốc, hóa chất được sử dụng trong nuôi cá tra thâm canh và kỹ thuật nuôi cá tra trong ao đất ở ĐBSCL, nhằm hạn chế các ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường, đồng thời đạt được hiệu quả cao nhất trong nuôi trồng mà vẫn đảm bảo tính bền vững. Từ những lý do trên em xin chọn đề tài: “Khảo sát khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi cá tra thâm canh và tìm hiểu kỹ thuật nuôi cá tra thịt trong ao đất ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” để nghiên cứu.

Trang 1

CHỦ ĐỀ: KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC

VÀ HÓA CHẤT TRONG NUÔI CÁ TRA THÂM CANH

VÀ TÌM HIỂU KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRA THỊT TRONG AO ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Trang 2

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ SỬ DỤNG THUỐC VÀ HÓA CHẤT TRONG NUÔI CÁ TRA 3

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 4

CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRA THỊT TRONG AO ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 6

2.1 Thiết kế ao 6

2.2 Chuẩn bị ao nuôi 8

2.3 Thả giống 9

2.4 Cho ăn 10

2.5 Chăm sóc 11

2.6 Phòng trị bệnh 12

2.7 Quản lý môi trường nuôi 14

2.8 Thu hoạch 14

KẾT LUẬN 16

Trang 3

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1: Ao nuôi cá tra với hệ thống lưới bao quanh 6

Hình 2: Ống cống cấp nước 7

Hình 3: Sơ đồ mặt chiếu đứng hệ thống thoát chất thải từ đáy ao 7

Hình 4: Ao nuôi cá tra với sàng cho ăn dọc theo chiều dài ao 8

Hình 5: Thu hoạch cá tra nuôi

15

Trang 4

là loài ăn tạp (Khoa và Huong, 1993; Rainboth, 1996) Cá nuôi trong ao sử dụng đượccác loại thức ăn khác nhau như cá tạp, cua ốc, thức ăn viên, cám, tấm, rau muống Thức ăn có nguồn gốc động vật hoặc hàm lượng đạm cao sẽ giúp cá lớn nhanh (DươngNhựt Long, 2004).Cá tra còn là một món ăn quen thuộc trong bữa cơm hằng ngày củanhiều gia đình Không chỉ chứa nhiều dưỡng chất tốt cho sức khỏe (Omega-3, 6, 9,DHA và EPA, vitamin E,…), loại nguyên liệu này còn được chế biến thành nhiều món

ăn đa dạng và độc đáo nên được khá nhiều người ưa chuộng Đồng bằng sông CửuLong (ĐBSCL) có truyền thống nuôi cá tra trong ao đất từ rất lâu đời, nhờ điều kiện tựnhiên thuận lợi, với hệ thống sông ngòi chằn chịt, có 2 dòng sông chảy qua là sôngTiền và sông Hậu với chiều dài mỗi sông khoảng 220km khá thuận lợi cho hoạt độngnuôi cá tra trên các ao ven sông, trên cồn (dễ dàng trong hoạt động lấy nước), bên cạnh

đó kỹ thuật nuôi không quá khó nên nghề nuôi cá tra khu vực này phát triển mạnh,đóng góp đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước Theo báo cáo củaTổng cục Thủy sản, năm 2020, tổng diện tích thả nuôi cá tra của ĐBSCL ước đạt 5.700

ha và tổng sản lượng thu hoạch ước đạt 1,56 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,54 tỷUSD (VASEP, 2020) Các tỉnh Cần Thơ, An Giang và Đồng Tháp là những vùng nuôilớn nhất cá tra ở Đồng bằng sông Cửu Long, chiếm hơn 75% tổng sản lượng cá tra cảnước Tuy nhiên trong quá trình nuôi cá tra, người dân thường sử dụng nhiều loại hóachất và thuốc kháng sinh để đảm bảo chất lượng nước và phòng trị bệnh cho cá mà ítkhi tìm hiểu rõ các tác dụng của chúng, đa số pha chế liều lượng theo cảm tính dẫn đếnhậu quả tồn dư hóa chất và thuốc kháng sinh trong ao nuôi cũng như là sản phẩm thủysản, gây ra các tác động xấu đến kinh tế và sức khỏe Chính vì thế chúng ta cần phải

Trang 5

trang bị cho mình những hiểu biết cần thiết về các loại thuốc, hóa chất được sử dụngtrong nuôi cá tra thâm canh và kỹ thuật nuôi cá tra trong ao đất ở ĐBSCL, nhằm hạnchế các ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường, đồng thời đạt được hiệu quả cao nhấttrong nuôi trồng mà vẫn đảm bảo tính bền vững

Từ những lý do trên em xin chọn đề tài: “Khảo sát khảo sát tình hình sử dụng thuốc và hoá chất trong nuôi cá tra thâm canh và tìm hiểu kỹ thuật nuôi cá tra thịt trong

ao đất ở đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam” để nghiên cứu

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

VỀ SỬ DỤNG THUỐC VÀ HÓA CHẤT TRONG NUÔI CÁ TRA

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cá tra là loài ăn tạp, rất nhanh lớn và dễ nuôi, trong điều kiện nuôi thâm canh chỉ4-5 tháng là cá đạt được trọng lượng từ 1,0-1,2 kg và người nuôi có thể thu hoạch đểxuất bán ra thị trường với lợi nhuận cao Chính vì những lý do này nên nghề nuôi cá trarất phát triển không chỉ ở Việt Nam mà còn rất nhiều nước trên thế giới, điển hình nhưcác quốc gia đang nuôi cá tra có sản lượng lớn là Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, TrungQuốc (VASEP, 2020) Tuy nhiên, khi nghề nuôi được thâm canh hóa với mật độ ngàycàng cao, diện tích nuôi được mở rộng, môi trường ô nhiễm kèm theo biến đổi khí hậungày càng phức tạp, tình hình dịch bệnh diễn ra thường xuyên, khó kiểm soát và ngườinuôi phải sử dụng rất nhiều loại thuốc hóa chất để trị bệnh cho cá cũng như cải tạo môitrường nuôi (Tổng cục Thủy sản, 2016) Các loại hóa chất thông dụng nhất được dùngbao gồm thuốc trừ sâu (thuốc diệt ký sinh trùng, thuốc diệt cá), chất khử trùng, thuốckháng sinh, chất chống bám bẩn, thuốc gây mê và thuốc diệt cỏ Những tác động tiềm

ẩn của việc sử dụng hóa chất đối với các hệ sinh thái tự nhiên hoang dã và sức khỏecon người đã làm tăng thêm nhận thức về sự cần thiết phải hoạt động hành nghề cótrách nhiệm (Cabello và cộng sự, 2013; Cole và cộng sự, 2008; Rico và cộng sự, 2012).Chính vì lẽ đó trên thế giới đã có nhiều tác giả thực hiện các đề tài nghiên cứu về sửdụng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản nói chung và ngành nuôi cá tra nóiriêng

Năm 2005, theo Faruk MAR và cộng sự thì ở Bangladesh, các loại thuốc và hóachất truyền thống được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản ở nước này là vôi,rotenone, phân bón vô cơ và hữu cơ khác nhau, muối, dipterex, chất kháng khuẩn, kalipermanganate, đồng sunfat, formalin, sumithion, melathion,… nhưng vì không đạtđược hiệu quả cao như các loại thuốc và hóa chất thương mại như Malachite green,chất khử trùng, kháng sinh (oxytetracycline, hlorotetracycline, amoxicillin,cotrimoxazole, sulphadiazine, azithromysin), thuốc OTC,… nên người dân ngày càng

Trang 7

tỏ ra ít quan tâm đến các loại thuốc truyền thống để kiểm soát dịch bệnh, phát triển chấtlượng nước, thúc đẩy tăng trưởng,… (Shyamal K P và cộng sự, 2021)

Tốc độ phát triển nuôi trồng thủy sản thường nhanh hơn so với việc xây dựng cácquy định về hóa chất nuôi trồng thủy sản (Rico et al 2012) Cuộc khảo sát của Rico vàcông sự, năm 2013 đã nhấn mạnh một thực tế là một loạt các loại hóa chất và thuốcnuôi trồng thủy sản khác nhau được sử dụng trong nuôi cá tra ở Châu Á Đối chiếuthông tin về việc áp dụng hóa chất và thuốc nuôi trồng thủy sản từ ba mươi hai trangtrại cá tra (85% trong số đó không được xác nhận bởi các kế hoạch của bên thứ 3, vàvới phần lớn sản xuất cá cho thị trường quốc tế) Họ báo cáo rằng 100%, 78%, 44%,41% và 38% các trang trại sử dụng kháng sinh, chất khử trùng, ký sinh trùng, phụ giathức ăn chăn nuôi (bao gồm cả chiết xuất thực vật) và chế phẩm sinh học tương ứng(Rico và cộng sự, 2013)

Các bệnh đáng quan tâm trong nuôi cá tra chủ yếu là các bệnh do vi khuẩn gây ra

Trong số đó vi khuẩn Edwardsiella ictaluri gây bệnh ở cá tra (Hawke 1979, Hawke et

al 1981) là đáng lo ngại nhất và dùng kháng sinh là phương pháp điều trị chính củabệnh này (Crumlish, pers.com, 2013)

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Năm 2014, Rico và Van den Brink xác định các khu vực nuôi cá tra ở ĐBSCL làđiểm nóng tiềm ẩn gây ô nhiễm môi trường do sử dụng rộng rãi các loại thuốc thú y và

xả nước thải không được xử lý sâu, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải theo dõi vàđánh giá thêm tác động sinh thái của các loại kháng sinh dùng trong nuôi trồng thủysản với các dòng chảy bị ảnh hưởng bởi nước thải khi nuôi cá tra Đồng thời họ đã ghinhận 30 loại hóa chất khác nhau được sử dụng trong nuôi cá tra ở Việt Nam Chúngbao gồm 7 chất khử trùng, 19 loại kháng sinh và 3 loại thuốc trừ sâu Trong số 19 loạikháng sinh được báo cáo, ít nhất 8 loại được liệt kê là "cực kì quan trọng đối với sứckhỏe con người" bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2011) (ví dụ: amoxicillin,ampicillin, enrofloxacin *, ciprofolaxin *, colistin, apramycin, gentamycin, kanamycin,levofloxacin và rifampicin)

Trang 8

Danh sách này cũng bao gồm những chất khác được phân loại là "rất quan trọng đốivới sức khỏe con người" (ví dụ:., timethoprim, oxytetracycline, sulfadiazine,doxycycline, thiamphenicol và những chất khác)

Theo Andrieu et al., năm 2015, các cuộc khảo sát và nghiên cứu trước đó của họ

đã dẫn đến việc enrofloxacin và ciprofloxacin bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sảnViệt Nam (VMARD, 2012) do nhiều thị trường quốc tế từ chối liên quan đến các cảnhbáo an toàn thực phẩm, và do đó dự kiến việc sử dụng chúng đã giảm đáng kể

Đối với dư lượng hóa chất trong cá thu hoạch, Việt Nam đã có chương trình giámsát quốc gia đối với một số dư lượng có hại trong các sản phẩm nuôi trồng thủy sản(xuất khẩu) từ năm 2000 (VASEP, 2012)

Đề tài nghiên cứu xác định loại hóa chất và thuốc được sử dụng trong các ao nuôi

cá tra thâm canh ở tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam, do Lê Minh Long và cộng sự thực hiệnnăm 2015 thông qua việc thu thập thông tin về sử dụng thuốc và hóa chất của 30 hộnuôi cá tra ở huyện Châu Thành Kết quả nghiên cứu cho thấy có 17 loại hóa chất được

sử dụng để xử lý môi trường ao nuôi, 19 sản phẩm thuốc dùng để phòng và trị bệnh cho

cá, 18 loại chất bổ sung chất dinh dưỡng và chế phẩm sinh học được sử dụng trong một

vụ nuôi Trong đó có Enrofloxacine là kháng sinh cấm sử dụng được sử dụng phổ biến(70% số hộ khảo sát sử dụng) và 10 loại kháng sinh hạn chế sử dụng trong nuôi trồngthủy sản theo TT 03/2012/BNNPTNT như amoxicilin, trimethoprime, ciprofloxacin,oxytetracycline, florfenicol, cũng được sử dụng rộng rãi Nguồn gốc và liều lượng sửdụng thuốc chưa được kiểm soát chặt chẽ và thường được sử dụng liều

lượng cao hơn so với hướng dẫn dựa vào kinh nghiệm của cá nhân người nuôi

Năm 2019, Nguyễn Công Tráng và Nguyễn Thị Hằng cũng đã thực hiện khảo sát

sử dụng thuốc hóa chất trong nuôi cá tra giống ở huyện Châu Phú, tỉnh An Giang vàcho kết quả Vitamin B12, Yucca và Iodine là các sản phẩm được sử dụng phổ biến nhất(chiếm tỷ lệ lần lượt là 97,5%, 87,5% và 72,5%) Kháng sinh được các hộ nuôi sử dụng

để điều trị bệnh cho cá chủ yếu dựa theo kinh nghiệm và hiệu quả điều trị từ các hộ lân

Trang 9

cận mà không tuân theo quy định với các loại như Amoxillin, Enrofloxacin, Doxycillin

và Ciprofloxacin với tỷ lệ sử dụng lần lượt là 42,5%, 27,5%, 20% và 15%

CHƯƠNG 2: KỸ THUẬT NUÔI CÁ TRA THỊT TRONG AO ĐẤT Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

2.1 Thiết kế ao

Ao nuôi cá tra xây dựng đúng kỹ thuật giúp môi trường nước ổn định, chăm sóc,quản lý cá thuận tiện, cá phát triển tốt, ít bệnh, hạn chế ô nhiễm khu vực nuôi (Lê ThịMinh Nguyệt và cộng sự, 2011)

Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diệntích từ 500m2 trở lên Với những vùng thường bị ngập lũ, bờ ao phải được gia cố chắcchắn và phải thiết kế lưới bao quanh ao (Dương Nhựt Long, 2003) Bờ ao phải cao hơn mực nước cao nhất trong năm (Vũ Đình Liệu, 2004)

Hình 1: Ao nuôi cá tra với hệ thống lưới bao quanh (Dương Nhựt Long,

2003)

Trang 10

Cần thiết kế cống cấp và tháo nước với kích cỡ thích hợp để chủ động cấp thoátnước dễ dàng cho ao Cống cấp nước nên đặt cao hơn đáy ao, cống thoát nước nên đặtphía bờ ao thấp nhất để dễ tháo cạn nước Đáy ao bằng phẳng và hơi nghiêng về phíacống thoát (Vũ Đình Liệu, 2004) Tùy theo cơ cấu đất ở vùng nuôi, độ sâu của ao nuôi

có thể thiết kế dao động từ 1,8 - 2,4 m Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dàigấp 3 – 4 chiều ngang Ao nuôi cá tra với hệ thống lưới bao quanh Xung quanh ao phảithông thoáng, không có cây cối rậm rạp Trường hợp ao nuôi nằm trong vườn, cần phảichặc bỏ các cây xung quanh bờ ao để ao được thoáng Trong ao nuôi cá tra nên thiết kếmột hay nhiều nơi cho cá ăn, đó là các sàng cho cá ăn (Hình 4) Việc này sẽ giúp íchcho việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn Sàng ăn có thể được thiết kế bằngtre, tràm hay bằng các loại gỗ tạp khác (Dương Nhựt Long, 2003)

Hình 2: Ống cống cấp nước (Dương Nhựt Long, 2003)

Hình 3: Sơ đồ mặt chiếu đứng hệ thống thoát chất thải từ đáy ao (Dương Nhựt Long, 2003)

Trang 11

Hình 4: Ao nuôi cá tra với sàng cho ăn dọc theo chiều dài ao (Dương Nhựt

Long, 2003) 2.2 Chuẩn bị ao nuôi

Trước khi thả cá ao cần được chuẩn bị kỹ theo các bước sau:

- Xả cạn nước ao, bắt hết cá trong ao, lấp mọi hang hốc, lỗ mội, thu gom và dọnsạch rác, rong rêu dưới đáy ao Nạo vét bùn đáy ao, chỉ để lại một lớp bùn dày từ 0,2 –0,3 m Tu sửa cống rãnh, bờ ao và mái ao (Nguyễn Thị Hồng, 2014)

- Dùng vôi sống (CaO) hoặc vôi tôi (Ca(OH)2) rải khắp đáy ao và cả trên bờ ao đểdiệt tạp và loại trừ mầm bệnh, liều lượng 10 – 15 kg/100 m2 ao Ngoài ra, có thể dùngdây thuốc cá hoặc Saponin để diệt tạp Với dây thuốc cá thì dùng với liều lượng 1,5 – 2kg/1000 m2 ao; với Saponin thì tùy theo hướng dẫn của mỗi nhà sản xuất, nhưng thôngthường dùng với liều lượng 1,5 – 2 kg/1000 m2 ao Sau khi bón vôi xong, phơi nắng ao

từ 4 – 5 ngày (Nguyễn Thị Hồng, 2014) Sau cùng cho nước từ từ vào ao qua cống cóchắc lưới lọc để ngăn cá dữ và địch hại lọt vào ao (Phạm Văn Khánh, 2004), với mựcnước ban đầu là 1,8 – 2,4 m (Dương Nhựt Long, 2003)

Trang 12

- Đối với ao ít thay nước, sử dụng chế phẩm vi sinh thì phải sục khí đáy ao hoặcquạt nước (Nguyễn Thị Hồng, 2014)

2.3 Thả giống

- Mùa vụ: Ở miền Nam, cá tra được thả nuôi quanh năm Cần tuân thủ các quy

định, khuyến cáo của cơ quan chức năng ở địa phương về mùa vụ, thời điểm thả cá(Huỳnh Thị Minh Hằng và cộng sự, 2011)

- Thời điểm: Theo Huỳnh Thị Minh Hằng và cộng sự, năm 2011, thì sau khi cấp

vào ao 5-7 ngày, nước có màu xanh lá non, môi trường ổn định và đạt các chỉ tiêu: + pH: 7,0-8,5

+ Oxy hòa tan: > 5,0mg/l

- Mật độ thả: mật độ cá thả 5 con/m2 Kích cỡ cá 15 – 20 g/con (1 kg từ 60 - 150con) (Đỗ Đoàn Hiệp, 2005)

- Chọn cá giống: cá giống khỏe mạnh, không bệnh tật, không dị hình, không khô

mình mất nhớt, không xây xát (Đỗ Đoàn Hiệp, 2005) Cá có màu sắc tươi sáng, lưngxanh đen, bụng màu trắng bạc, các sọc dọc theo phần thân phải rõ ràng Cá nhanhnhẹn, bơi lội khỏe và chạy thành đàn (Dương Nhựt Long, 2003)

- Vận chuyển và thả giống: cá tra có thể vận chuyển theo 2 cách (Dương Nhựt

Trang 13

+ Vận chuyển lúc trời mát, tốt nhất là vào sáng sớm hay chiều mát Ngâm baochứa cá trong ao khoảng 15 phút sau đó mới mở bao, cho nước ao vào bao để cá tự bơi

cá ăn cũng dễ dàng, ít tốn công lao động cho khâu chế biến thức ăn và cho cá ăn (VũĐình Liệu, 2004) - Cũng theo Vũ Đình Liệu, năm 2004, nếu dùng TACN, cung cấpcho cá như sau:

+ Trong 2 tháng đầu mới thả nuôi, cho cá ăn loại thức ăn có hàm lượng đạm 28 30%

-+ Các tháng tiếp theo giảm dần hàm lượng đạm trong thức ăn xuống 25 - 26% + Hai tháng cuối cùng sử dụng thức ăn có hàm lượng đạm 20 - 22%

- Theo Lê Như Xuân, năm 2000, thức ăn TCB có thể dùng nhiều loại thức ăn cósẵn ở địa phương để nuôi cá như: cám, bột bắp, hèm rượu, tấm, phế phẩm của các nhàmáy đông lạnh tôm, cá Có thể sử dụng công thức sau:

Trang 14

+ Ngày cho ăn 2 lần, thức ăn cần đặt trong sàng để dễ kiểm tra mức độ ăn mồi của

+ Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần, sáng từ 6-10 giờ, chiều từ 16-18 giờ Khẩu phần thức

ăn TCB 5-7% trọng lượng thân, thức ăn viên công nghiệp (TACN) 2-2,5% (Vũ ĐìnhLiệu, 2004)

+ Khi sử dụng thức ăn viên công nghiệp phải chú ý đến chất lượng và vệ sinh antoàn thực phẩm Thức ăn không được nhiễm Salmonella, nấm mốc độc (Aspergillusflavus), độc tố (Aflatoxin) Nguyên liệu chế biến thức ăn TCB có nguồn gốc động vậtnhư cá tạp phải tươi, không bị ươn thối; bột cá còn mới có mùi thơm đặc trưng, khôngpha lẫn tạp chất; cá tạp khô không bị sâu mọt, không bị nhiễm Salmonella Các nguyênliệu khác dùng để phối chế thức ăn cũng không bị sâu mọt, không nhiễm nấm mốc gâybệnh Tất cả các loại thức ăn không được chứa các kháng sinh đã bị cấm hoặc hạn chế

sử dụng Không cho cá ăn thức ăn để quá hạn sử dụng, thức ăn kém chất lượng hoặcthức ăn đã bị ôi thiu, nhiễm nấm mốc Vệ sinh sạch sẽ thường xuyên hàng ngày nơichế biến thức ăn và các thiết bị, dụng cụ chế biến thức ăn Theo dõi mức độ ăn của cá

để điều chỉnh tăng giảm cho phù hợp (Vũ Đình Liệu, 2004)

2.5 Chăm sóc

Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh tăng giảm cho phù hợp Khi bắt đầu cho

ăn vì cá đói nên tập trung để giành ăn Khi ăn đủ no cá sẽ tản ra xa, không gom lại nữa(Phạm Văn Khánh, 2004) Giai đoạn 100-500g/con (cá con): dùng thức ăn có tỷ lệprotein 26-28% Lượng thức ăn trong ngày bằng 4-6% trọng lượng đàn cá Giai đoạn cá

Ngày đăng: 29/12/2022, 10:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w