A. ĐẶT VẤN ĐỀ Quan điểm về phát triển bền vững đã dần được hình thành từ thực tiễn đời sống xã hội và có tính tất yếu. Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong cả quá trình sản xuất xã hội và bắt đầu nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môi trường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xã hội. Chính vì thế năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của Liên Hiệp Quốc được tổ chức ở Riodo Gianero đã đề ra chương trình nghị sự toàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó phát triển bền vững được xác định là “Một sự phát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khả năng đáp ứng những nhu cầu thế hệ tương lai”. Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã được chú ý nhiều trong giới nghiên cứu cũng như nhà hoạch định đường lối, chính sách. Đại hội Đảng lần thứ II (1960) và lần thứ IV (1976) đã đặt ra mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, Đại hội VII của Đảng thông qua chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 19912000, nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường”. Đến Đại hội VIII, IX, X của Đảng tiếp tục được phát triển và bổ sung. Một trong những quan điểm cơ bản của Đảng về CNHHĐH thời kỳ đổi mới đó là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học”. Xây dựng CNXH ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Để thực hiện mục tiêu đó, trước hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững. Chỉ có như vậy mới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng… mục tiêu đó thể hiện sự phát triển vì con người, mọi con người đều được hưởng thành quả của phát triển. Sau 30 năm đổi mới đất nước (kể từ năm 1986) theo con đường CNHHĐH tiến nên Chủ nghĩa xã hội với những quan điểm như vậy thì nước ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận (về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội…). Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn một số hạn chế nhất định. Trước tình hình đó thì Đảng và nhà nước ta cần có những biện pháp cụ thể để thực hiện tốt hơn nữa những quan điểm, chủ trương đã đề ra, đẩy mạnh CNHHĐH đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại. Do vậy, để hiểu và nhận thức đúng đắn hơn nữa quan điểm của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước về vấn đề Phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam. Em xin trình bày tiểu luận “Phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam”. Từ đó đưa ra những thành tựu, hạn chế và giải pháp khắc phục.
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Quan điểm về phát triển bền vững đã dần được hình thành từ thực tiễn đờisống xã hội và có tính tất yếu Tư duy về phát triển bền vững manh nha trong cảquá trình sản xuất xã hội và bắt đầu nhìn nhận tầm quan trọng của bảo vệ môitrường và tiếp đó là nhận ra sự cần thiết phải giải quyết những bất ổn trong xãhội Chính vì thế năm 1992, Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triểncủa Liên Hiệp Quốc được tổ chức ở Riodo Gianero đã đề ra chương trình nghị sựtoàn cầu cho thế kỷ XXI, theo đó phát triển bền vững được xác định là “Một sựphát triển thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm hại đến khảnăng đáp ứng những nhu cầu thế hệ tương lai”
Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã được chú ý nhiều tronggiới nghiên cứu cũng như nhà hoạch định đường lối, chính sách Đại hội Đảnglần thứ II (1960) và lần thứ IV (1976) đã đặt ra mục tiêu “tiến nhanh, tiến mạnh,tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”, Đại hội VII của Đảng thông qua chiến lượcphát triển kinh tế xã hội năm 1991-2000, nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế gắnliền với tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hóa và bảo vệ môi trường”.Đến Đại hội VIII, IX, X của Đảng tiếp tục được phát triển và bổ sung Một trongnhững quan điểm cơ bản của Đảng về CNH-HĐH thời kỳ đổi mới đó là: “Pháttriển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học”
Xây dựng CNXH ở nước ta thực chất là nhằm thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Để thực hiện mục tiêu
đó, trước hết kinh tế phải phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững Chỉ có như vậymới có khả năng xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần củanhân dân, phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, rút ngắn khoảng cách chênh lệch
Trang 2giữa các vùng… mục tiêu đó thể hiện sự phát triển vì con người, mọi con ngườiđều được hưởng thành quả của phát triển
Sau 30 năm đổi mới đất nước (kể từ năm 1986) theo con đường HĐH tiến nên Chủ nghĩa xã hội với những quan điểm như vậy thì nước ta đã đạtđược những thành tựu đáng ghi nhận (về kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội…).Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được vẫn còn một số hạn chế nhất định.Trước tình hình đó thì Đảng và nhà nước ta cần có những biện pháp cụ thể đểthực hiện tốt hơn nữa những quan điểm, chủ trương đã đề ra, đẩy mạnh CNH-HĐH đưa nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại
CNH-Do vậy, để hiểu và nhận thức đúng đắn hơn nữa quan điểm của Đảngtrong thời kỳ đổi mới đất nước về vấn đề Phát triển nhanh và bền vững ở ViệtNam Em xin trình bày tiểu luận “Phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam” Từ
đó đưa ra những thành tựu, hạn chế và giải pháp khắc phục
Trang 3B NỘI DUNG
1 Một số khái niệm
* Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô tổng sản lượng (thu nhập)
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) và thường được
đo lường bằng tổng sản phẩm trong nước (GDP) hoặc tổng thu nhập trong nước(GNP)
Tốc độ tăng trưởng là chỉ tiêu đo lường mức độ tăng trưởng kinh tế củamột quốc gia Do vậy, mức độ nhanh, vừa phải hay chậm của tăng trưởng phụthuộc vào tốc độ tăng trưởng của GDP hoặc GNP
* Tăng trưởng kinh tế nhanh là tốc độ tăng GDP hoặc GNP cao.
Tiêu chí tăng trưởng cao khác nhau đối với các nhóm quốc gia khác nhau
và ứng với mỗi giai đoạn phát triển khác nhau
Đối với các nước phát triển do quy mô thu nhập lớn nên tốc độ tăngtrưởng cao thường có thể chỉ khoảng từ 4-5%/năm
Đối với nước đang phát triển chỉ tiêu trên có thể từ 7% trở lên và trongmỗi giai đoạn nhất định chỉ tiêu trên cũng có thể thay đổi
* Phát triển kinh tế là sự tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế; Là quá trìnhbiến đổi về số lượng và chất lượng của nền kinh tế; là tăng trưởng kinh tế gắnvới chuyển dịch cơ cấu kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ và nâng cao chấtlượng cuộc sống
* Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu hiện tại nhưng không làm tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau
Trang 42 Tại sao phải “phát triển nhanh và bền vững ở Việt Nam”
Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 được trình tại Đạihội XI của Đảng, khi đề cập 5 quan điểm phát triển thì quan điểm đầu tiên đượckhẳng định là: ''Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bềnvững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược'' Điều này không chỉ nói lên thái
độ dứt khoát trong sự lựa chọn mô hình phát triển kinh tể- xã hội của đất cho mộtthập niên sắp tới, mà còn cho thấy tầm quan trọng của vấn đề với tư cách là quanđiểm chỉ đạo xuyên suốt, quan trọng và nhất quán trong đường lối kinh tế củaĐảng ta Phát triển nhanh và bền vững vừa bao hàm cả chiều rộng và chiều sâu,vừa thể hiện tốc độ và chất lượng của mô hình tăng trưởng Về phạm vi, mô hìnhkinh tế này thể hiện sự gắn kết hài hoà giữa nhanh và bền vững trên nhiều lĩnhvực rộng lớn, đan xen nhau cả về kinh tế, chính tri, văn hoá, xã hội và an ninh,quốc phòng Do đó, theo một cách hiểu đơn giản, trực tiếp nhất: phát triển nhanh
và bền vững là phát triển kinh tế ổn định gắn với việc đảm bảo an sinh xã hội vàbảo vệ môi trường sinh thái, hay phát triển bền vững là quá trình thế hệ hôm nay''phát triển'' không làm phương hại đến thế hệ ngày mai Ở đây, nội hàm của pháttriển được hiểu theo nghĩa rộng, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội
Từ một nước kinh tế còn lạc hậu, điểm xuất phát thấp, vừa bước qua thời
kỳ nước nghèo và kém phát triển đề tham gia vào cộng đồng các quốc gia đangphát triển với mức thu nhập trung bình, quan điểm phát triển nhanh và bền vững
có một ý nghĩa to lớn trong hướng phát triển và hội nhập quốc tế ở Việt Namhiện nay Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại đã được nêutrong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta (bổ sung và phát triển 2011) là: ''Các nước với chế độ xã hội và trình
độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay
Trang 5gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc''2, trong bức tranh chung đó có nhiều thực tiễnsinh động, nhiều bài học kinh nghiệm, cả thành công và thất bại trong lựa chọn
mô hình tăng trưởng của các quốc gia trên thế giới Thực tiễn cho thấy là, sốđông các nước vẫn đứng ở mức những nước đang phát triển với mức thu nhậpthấp, tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng xã hội, năng xuất thấp, ô nhiễm môitrường, khai thác cạn kịết nguồn tài nguyên quốc gia, chất lượng tăng trưởng,chất lượng sống của người dân thấp, lạc hậu Một số quốc gia do điều kiện lịch
sử, có điểm xuất phát cao do đã qua thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản, tuynhiên những mâu thuẫn và bất ổn xã hội vẫn thường xuyên diễn ra Bên cạnh
đó, còn nhiều quốc gia vẫn đang loay hoay lựa chọn mô hình, chỉ có số ít nướcphát triển đạt được một số tiêu chí cơ bản về chất lượng cuộc sống, chất lượngtăng trưởng nhưng cũng đã phải trả những học phí không nhỏ để đạt được nhưngthành quả đó trong quá trình phát triển Bởi vậy, phát triển nhanh và bền vững sẽ
là mô hình nhiều quốc gia lựa chọn trong bối cảnh thế giới ngày nay, nhất lànhững nước đang phát triển
Đối với Việt Nam, phát triển nhanh và bền vững có nhiều ý nghĩa sâu sắc,thứ nhất, nước ta với điểm xuất phát thấp, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế sovới các nước trong khu vực và trên thế giới vẫn rất lớn, vì thế đòi hỏi bức thiết làphải rút ngắn khoảng cách, phải tăng trưởng nhanh Thứ hai, về mô hình chế độ
xã hội, với 8 đặc trưng khi kết thúc thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, trong đó đặc trưng bao trùm là “dân giầu, nước mạnh dân chủ, công bằng, vănminh''3 thì đòi hỏi trong từng chặng, mỗi giai đoạn phát triển phải gắn kết chặtchẽ nội dung phát triển nhanh và bền vững, đặc biệt từ khi đất nước bước vàogiai đoạn trở thành quốc gia đang phát triển với mức thu nhập trung bình Thứ
ba, những kinh nghiệm lịch sử của các nước trong quá trình phát triển đòi hỏi
Trang 6Việt Nam phải biết tận dụng lợi thế của thời đại mà lựa chọn cho mình conđường đi đúng đắn.
Trong Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011- 2020, yêu cầu xuyên suốtcủa Chiến lược chính là phát triển nhanh và bền vững, bài học là kinh nghiệmthứ hai được rút ra ở đây đã chỉ rõ: ''Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả vàtính bền vững của sự phát triển, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, giải quyết hàihoà mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng”4 Thực tế này khẳngđịnh, Việt Nam sẽ thực hiện và có đủ điều kiện để đảm bảo phát triền nhanh vàbền vững trong giai đoạn tới, để đến năm 2020 đất nước cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại, việc xác định mô hình tăng trưởng theo hướngnày không phải chỉ thể hiện ý chí quyết tâm của cả dân tộc mà còn cho thấy cơ
sở khoa học, tính khả thi trong quá trình thực hiện Yêu cầu phát triển nhanh vàbền vững đòi hỏi phải phát triển bền vững về kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô, bảođảm an ninh kinh tế Từ điểm xuất phát như hiện nay, sau 30 năm đổi mới, ViệtNam đã đạt được thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, bước phát triển mới đòihỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyên đổi mô hình tăng trưởng, coi trọngnăng suất, chất luợng và hiệu quả, sức cạnh tranh là ưu tiên hàng đầu, chú trọngphát triển kinh tế theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức Tăng trưởng kinh tếgắn liền với phát triển văn hoá, thực hiện an sinh xã hội và bảo về tài nguyên,môi trường Đây vừa là nội dung, vừa là con đường đề đảm bảo nền kinh tế nước
ta phát triền nhanh và bền vững trong thập niên thứ hai của thiên niên kỷ mới
Cần phải khẳng định rằng, phát triến nhanh và bền vững vừa là mô hìnhtăng trưởng xuyên suốt trong thời là quá độ lên chủ nghĩa xã hội vời nhiều cấp
độ khác nhau, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, tạo thành một chỉnhthể thống nhất có tính kế thừa, có sự nhất quán, có cơ sở khoa học và thực tiễn
Trang 7Về yếu tố thời đại, Việt Nam hoàn toàn có thể thực hiện được mô hình nàykhi biết tận dụng những lợi thế thời đại của những nước đi sau Cách mạng khoahọc - công nghệ đã tạo ra nhũng điều kiện để các nước đi sau nhanh chóng đingay vào hiện đại, tiếp cận những văn minh, tiến bộ của nhân loại, lựa chọnnhững thành tựu tiên tiến, phù hợp với tiềm năng của mỗi quốc gia để thúc đẩytăng trưởng, nâng cao năng xuất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế, lựachọn những công nghệ thân thiện với môi trường Bên cạnh đó, quá trình toàncầu hoá và kinh tế tri thức không chỉ gắn kết mỗi quốc gia tham gia vào quá trìnhphân công lao động quôc tế, làm cho nền kinh tế mỗi nước trở thành những mắtkhâu bổ trợ cho nhau, tạo thành nền kinh tế thế giới thống nhất, đó là cơ sởkhách quan mang tính thời đại, đảm bảo cho Việt Nam phát triển nhanh và bềnvững cho chặng đường sắp tới Về yếu tố bên trong, yếu tố nội sinh, Việt Namhoàn toàn có thể thực hiện phát triển nhanh và bền vững, trước hết do bản chấtchế độ quy đinh Suy cho cùng, mục tiêu phấn đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam
là lãnh đạo đất nước để đi đến xây dựng một xã hội dân giầu, nước mạnh, dânchủ, công bằng, văn minh Điều này đòi hỏi phải phát triển nhanh và bền vững.Thứ hai, trong suốt hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 20 năm thực hiệnCương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ởnước ta, Việt Nam liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao, đã có đủ cơ sở để tiếp tụctăng trưởng cao và bền vững Thứ ba, tiềm năng và lợi thế của đất nước cũngnhư những thành quả đã đạt được trên nhiều lĩnh vực đã tạo đà thực hiện mụctiêu này cho những chặng đường tiếp theo
Trang 83 Những thành tựu và hạn chế sau 30 năm đổi mới đất nước
3.1 Những thành tựu đạt được
3.1.1 Về Phát triển kinh tế
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng cao (phát triển nhanh) đã đạt được trong mộtthời gian tương đối dài Trong những năm qua, đã có 2 Chiến lược phát triểnkinh tế- xã hội giai đoạn 1991- 2000 và giai đoạn 2001-2010 được thực hiện, giaiđoạn trước bình quân tốc độ tăng trưởng đạt khoảng 7%, giai đoạn sau đạt bìnhquân tăng trưởng là 7,26% đưa đất nước ta lọt vào nhóm nước có tốc độ tăngtrưởng cao trên thế giới trong suốt thời gian qua Đến 2010 tổng lực kinh tế ViệtNam đã đạt 101,6 tỷ USD, bình quận GDP theo đầu người đạt 1168 USD Kinh
tế vĩ mô cơ bản ổn định, một số cân đối lớn của nền kinh tế như ngân sách nhànước, cán cân thanh toán tổng thể, nợ quốc gia và dự trữ ngoại tệ cơ bản đượcđảm bảo Vốn đầu tư toàn xã hội tăng cao, bằng khoảng 40,5 % GDP, năng lựcnhiều ngành kinh tế tăng đáng kể Cơ cấu kinh tế chuyển biến theo hướng tíchcực, tỷ trọng công nghiệp và xây dựng trong cơ cấu GDP tăng từ 36,7% năm
2000 lên 41,l% năm 2010; tỉ trọng nông, lâm, ngư nghiệp giảm từ 24,5% xuốngcòn khoảng 2/,6% và tỉ trọng dịch vụ giữ ở mức 38,3% Tỉ lệ lao động nôngnghiệp giảm từ 65,l% năm 2000 xuống 57,1% năm 2005 và còn 48,2% năm2010; tăng trưởng kinh tế năm 2011 là 5,89%, năm 2014 đạt 5,4% Nhờ tốc độtăng trưởng cao và liên tục của GDP năm 2014 đạt 120,855 triệu USD Môitrường pháp lý đã được quan tâm tạo điệu kiện cho sản xuất, kinh doanh thông
thoáng hơn, từ năm 2001 đến 7.2009, đã ban hành 133 luật, 337 nghị quyết, 46 pháp lệnh, 1141 nghị định và hàng chục nghìn các văn bản quy phạm pháp luật
khác, quan hệ sản xuất ngày càng phù hợp hơn, nền kinh tế đa sở hữu, nhiềuthành phần kinh tế đan xen có bước phát triển mạnh Khu vực kinh tế tư nhân,
Trang 9tập thể và các hộ gia đình tạo ra 45% GDP Đã hoàn thành 719 mục tiêu Thiênniên kỷ trước năm 2015 Môi trường sống được quan tâm và có bước được nânglên
Thứ hai: năng lực nội sinh của nền kinh tế có được cải thiện trên một số mặt:Vốn đầu tư tích lũy của nền kinh tế ngày càng tăng: trung bình giai đoạn1996-2000 là 117,9 tỷ đồng; 2006-2010 là 618,5 tỷ đồng; năm 2011 là 925,4 tỷđồng và năm 2012 ước đạt 989,3 tỷ đồng Trong đó vốn đầu tư của các khu vựcngoài nhà nước tăng liên tục Đây là một sự chuyển dịch tiếm bộ bởi hiệu quảkinh tế của khu vực này cao hơn nhiều so với khu vực kinh tế nhà nước
Bên cạnh đó, thu ngân sách nhà nước tăng liên tục năm 2000 thu ngânsách đạt 151,181 tỷ đồng, năm 2005 thu ngân sách đạt 228,287 tỷ đồng và năm
2010 thu ngân sách đạt 557,158 tỷ đồng, tăng 3,2 lần so với năm 2000
*Về hệ thống cơ sở hạ tầng ở Việt Nam : không ngừng được mở rộng, tạođiều kiện thuận lợi cho phát triển nền kinh tế - xã hội ngày càng tốt hơn
3.1.2 Phát triển bền vững về xã hội:
Việt Nam đa đạt được những kết quả rất đáng kể về mặt xã hội trongnhững năm đổi mới vệc làm tăng liên tục , hàng năm số việc làm tăng thêm từ1,3 – 1,5 triệu / năm; tỷ lệ thất nghiệp ở cả thành thị và nông thôn đều giảm( năm 2000 tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 6,7 %, tỷ lệ sử dụng thời gian lao động
ở nông thôn là 72,28 % thì đến năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 4,29%nông thôn là 2,3%; năm 2012 chỉ tiêu trên ước đạt là 3,25 và 1,6% )
Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tăng lên khá nhanh: năm
1990 mới chỉ đạt 118 USD/ người; năm 2010 đạt 1169 USD; năm 2012 ước đạt
1580 USD/ người
Trang 10Hoạt động xóa đói giảm nghèo được chú trọng và đạt được thành tích vượtbậc so với nhiều nước đang phát triển trên thế giới Tỷ lệ hộ nghèo tính theochuẩn quốc tế năm 1993 là 58,1% năm 2005 là 22% , đến năm 2010 chỉ còn10,6% Chỉ số phát triển con người liên tục được cải thiện và so với các nướcđang phát triển là một tiến bộ vượt bậc: năm 1985 là 0,590; năm 2005 là: 0,773;năm 2010 là 0,572.
Chênh lệch về thu nhập giữa thành thị và nông thôn nhìn chung ngày cànggiảm An sinh xã hội được chú trọng Nhiều chính sách mới như bảo hiểm thấtnghiệp, bảo hiểm y tế tự nguyện đang phát triển
3.1.3 Đối với bảo vệ môi trường: hệ thống pháp luật đối với bảo vệ môi
trường liên tục được bổ sung và sửa đổi: hoạt động trồng rừng được quan tâm phát triển nên tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 28% năm 1995 đến năm 2010 đạt 39,5% và tăng lên 40,5% năm 2011 Các tài nguyên quan trọng đang được tăng cường quản lý, bảo vệ đặc biệt là đối với bảo vệ sinh tồn đa sinh học và các khu bảo tồn thiên nhiên trên đất liền, hải đảo Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu đã được ban hành và đang được tích cực triển khai ở tất cả các địa phương , bước đầu đã có những kết quả tích cực
3.2 Những hạn chế
Tuy có đạt được những kết quả đáng kể trên nhiều lĩnh vực, thành tựuchung sau 10 năm từ 2001-2010 là to lớn và rất quan trọng, nhưng so với yêucầu phát triển nhanh và bền vững thì còn tồn tại nhiều hạn chế, yếu kém: Chấtlượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế cònthấp, chậm được cải thiện, các cân đối vĩ mô chưa thật sự vững chắc Công tácquy hoạch, kế hoạch và việc huy động, sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, kém