1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghĩa MácLênin và thị trường sức lao động

15 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thị trường sức lao động
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Bài tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A MỞ ĐẦU B NỘI DUNG 1 Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghĩa Mác Lênin và thị trường sức lao động 1 1 Khái niệm sức lao động 1 2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa 1 3 Hai. taài liệu cao đẳng đại học, tài liệu luận văn, giáo trình thạc sy, tiến sỹ, tài liệu THCS Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghĩa MácLênin và thị trường sức lao động

Trang 1

MỤC LỤC

A MỞ ĐẦU

B NỘI DUNG

1 Quan niệm về hàng hóa sức lao động của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thị trường sức lao động:

1.1 Khái niệm sức lao động:

1.2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa:

1.3 Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động:

2 Thực trạng thị trường sức lao động ( thị trường lao động) ở Việt Nam hiện nay:

2.1 Mặt tích cực của thị trường lao động ở Việt Nam

2.1.1 Số lượng

2.2.2 Chất lượng

2.2.3 Cơ cấu ngành nghề

2.2.4 Trình độ học vấn

2.2 Hạn chế

2.2.1 Trình độ chuyên môn

2.2.2 Cơ cấu lao động

2.2.3 Ý thức và kỷ luật của lực lượng tham gia lao động

3 Nguyên nhân của hiện trạng thị trường sức lao động:

4 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao động (thị trường lao động) Việt Nam hiện nay:

5 Liên hệ bản thân

C KẾT LUẬN

D TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

A MỞ ĐẦU

Nguồn lao động là tài sản quý giá và to lớn của quốc gia; là một trong những điều kiện tiên quyết thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế Ngày nay, sự thịnh vượng của các quốc gia không còn chỉ dựa vào sự giàu có của nguồn tài nguyên thiên nhiên mà được xây dựng chủ yếu trên nền tảng văn minh trí tuệ của con người Tuy nhiên, việc đào tạo, phát triển và những chính sách đãi ngộ người lao động trên thế giới vẫn còn nhiều bất cập Do đó, việc đề ra những chính sách và giải pháp nhằm bình

ổn thị trường đặc biệt này luôn luôn có ý nghĩa thời sự cả về lý thuyết lẫn thực tiễn

Lý luận về loại hàng hoá đặc biệt – sức lao động, Chủ nghĩa Mác -Lênin đã có những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó, tạo tiền đề vững chắc cho việc lý giải và áp dụng vào thực tiễn xã hội những giải pháp nhằm

ổn định và phát triển thị trường của loại hàng hoá đặc biệt này cùng những vấn đề liên quan đến nó

Ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới kinh tế dưới sự lãnh đạo của Đảng, vấn đề thị trường hàng hoá sức lao động không chỉ là tiêu thức kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị Đặc biệt, đối với một đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề này lại càng trở nên bức thiết hơn bao giờ hết

Từ đó, em xin dựa trên “Lí luận về hàng hóa sức lao động” của C Mác với thị trường sức lao động (thị trường lao động) ở Việt Nam hiện nay” để làm sáng tỏ hơn về vấn đề này

Trang 3

B NỘI DUNG

1 Lý luận hàng hóa sức lao động của Chủ nghĩa Mác – Lênin 1.1 Khái niệm sức lao động

Trang 6

VD: Một người công nhân khi tham gia lao động có thu nhập 96tr/ 12 tháng thì người đó

sẽ chịu 1 lượng giá trị của HHSLĐ Tư liệu sinh hoạt cho người công nhân đó

Trang 7

1 Thực trạng thị trường sức lao động ( thị trường lao động)

1.1 Những mặt Tích cực của thị trường sức lao động (68%)

Việt Nam hiện nay đang sở hữu một thế hệ dân số vàng Năm 2021, dân số Việt Nam đạt khoảng 98,17 triệu người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động (từ 15 đến 64 tuổi) chiếm 67,7% tổng dân số Hằng năm, nước ta lại được bổ sung them khoảng hơn 1 triệu lao động mới Nguyên nhân của sự gia tang nhanh chóng về số lượng lao động ở nước ta là do tốc độ dân số cũng như hậu quả từ cuộc bùng nổ dân

số trước đây và xu hướng trẻ hóa dân số đang diễn ra Do đó mà nguồn lao động của nước ta rất dồi dào trong hiện tại và tương lai Vì vậy, lực lượng lao động Việt Nam luôn trong tình trạng có thể đáp ứng được nhu cầu cung cấp lực lao động cho doanh nghiệp trong và ngoài nước Đây

là cơ hội lớn cho sự phát triển của đất nước

Thu nhập bình quân của người lao động tăng qua các năm GDP bình quân đầu người của Việt Nam vào năm 2020 là 3,526.27 USD/người lên 3,694.02 USD/người 2021 theo số li u mới nhất từ Ngân hàng thế ệu mới nhất từ Ngân hàng thế giới.

Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng và lao động làm công việc tự sản tự tiêu trong khu vực nông nghiệp tiếp tục giảm Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng của Việt Nam giai đoạn 2019 - 2022

2022 Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý III năm 2022 là 68,7%, tăng 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 3,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước So với các nước trong khu vực và thế giới, Việt Nam có lực lượng lao động dồi dào Năm 2021 tổng dân số nước ta là 98,51 triệu người, là quốc gia đông dân xếp thứ 2 khu vực Đông Nam

Á Trong số này, 50,5 triệu người đang ở độ tuổi lao động, chiếm tới 67,7% dân số Sự gia tăng về dân số của Việt Nam kéo theo số lượng nguồn nhân lực có sự tăng trưởng mạnh Điều này cho thấy, lực lượng lao động Việt Nam luôn trong tình trạng có thể đáp ứng được nhu cầu cung cấp lực lao động cho doanh nghiệp trong và ngoài nước

Trang 8

Lao động đã qua đào tạo và có chứng chỉ ở nước ta, ở các trình độ từ sơ cấp nghề, trung cấp, cao đẳng đến đại học và sau đại học chiếm 20,92%

Khoa học và công nghệ có tác động trực tiếp đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm thay đổi quá trình tổ chức, trình độ chuyên môn và là động lực thúc đẩy người lao động không ngừng học hỏi, tự đào tạo, tự trau dồi kiến thức

Báo cáo tình hình kinh tế-xã hội quý 4 và năm 2021 của Tổng cục Thống kê cho biết năng suất lao động của toàn nền kinh tế Việt Nam theo giá hiện hành ước đạt 171,3 triệu đồng/lao động (tương đương 7.398 USD/lao động, tăng 538 USD so với năm 2020) Theo giá so sánh, năng suất lao động trong năm 2021 tăng 4,71% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2021 đạt 26,1%, cao hơn mức 25,3% của năm 2020)

2.2.3 Cơ cấu ngành nghề

Theo kết quả điều tra lao động việc làm gần nhất (năm 2020) của Tổng cục Thống kê, trong

số 53.609,6 nghìn lao động có việc làm:

- “Lao động giản đơn” với 17.884,1 nghìn người, chiếm tới 33,4%.

- “Dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng” với 9.637,7 nghìn người, chiếm 18,0%.

- “Thợ thủ công và các thợ khác có liên quan” với 7.353,9 nghìn người, chiếm 13,7%.

- “Thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị” với 7.100,4 nghìn người, chiếm 2%.

- “Các nhà lãnh đạo” với 554,2 nghìn người chiếm 1%.

- “Lực lượng quân đội, trường hợp không phân loại và không xác định” chiếm 31,9%.

Đối với nam giới:

- “Lao động giản đơn” chiếm 31,1%.

- “Thợ thủ công và thợ khác có liên quan” chiếm 19,5%.

- “Thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị” chiếm 13,7%

Trang 9

- “Dịch vụ” chiếm 13,3%.

Đối với nữ giới:

- “Lao động giản đơn” chiếm 35,9%.

- “Dịch vụ” chiếm 23,2%.

- “Thợ lắp ráp và vận hành máy móc, thiết bị” chiếm 12,7%.

2.2.4 Trình độ học vấn (CMKT)

Trình độ học vấn của nhân lực nước ta liên tục được cải thiện qua từng năm Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đã tăng hơn gấp đôi sau khoảng 20 năm, từ 10,3% (năm 2000) lên 22,8% (năm 2019).

Giai đoạn 2009 - 2019, trình độ học vấn của nguồn nhân lực Việt Nam đã được nâng cao; phân bổ lực lượng lao động theo trình độ học vấn tăng mạnh ở các nhóm trình độ cao và giảm mạnh ở các nhóm trình độ thấp Tỉ lệ người chưa biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học không ngừng giảm Số người đã tốt nghiệp bậc phổ thông tăng lên liên tục, trong đó tăng nhanh nhất (cả về quy mô và tốc độ)

Không chỉ trình độ học vấn được nâng cao, trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực Việt Nam cũng không ngừng được cải thiện Tỷ lệ dân số có chuyên môn kỹ thuật đã tăng lên đáng kể so với năm 2007, tăng 6,3 điểm phần trăm, từ 17,7% (năm 2007) lên 24% (quý

II/2020) Tỷ lệ dân số có trình độ đại học trở lên tăng mạnh nhất, từ 4,9% (năm 2007) lên 11,1% (quý II/2020) Điều này cho thấy trong những năm qua, giáo dục đại học và trên đại học của Việt Nam đã có những thay đổi lớn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của đất nước Tuy nhiên, Việt Nam cần chú trọng và nỗ lực hơn nữa trong giáo dục, đào tạo nghề để

có được nguồn nhân lực có kỹ năng tốt phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

1.1 Hạn chế thị trường sức lao động

1.1.1 Về trình độ chuyên môn

Trình độ lao động ở nước ta tương đối thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp, nông thôn, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển: Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động một số ngành dịch vụ (ngân hàng, tài chính, thông tin viễn thông, du lịch…) và công nghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp Tình trạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, cả về chiều cao, cân nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế

Trang 10

Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay luôn xảy ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động trong một số ngành dịch vụ (ngân hàng, tài chính, thông tin - viễn thông, du lịch…) và công nghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam thấp

1.1.2 Về cơ cấu

1.1.3 Về ý thức và kỷ luật của lực lượng tham gia lao động:

Trang 11

Kỷ luật lao động của người Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp Một bộ phận lớn người lao động chưa được tập huấn về

kỷ luật lao động công nghiệp Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, nông nghiệp, mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông, tùy tiện về giờ giấc và hành vi Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc

Công nhân Việt Nam ra đời ở một nước nông nghiệp lạc hậu, đa phần xuất thân từ nông dân lại làm việc trong điều kiện máy móc thô sơ, lạc hậu… nên còn mang nặng phong cách của người sản xuất nhỏ, tính kỷ luật chưa cao, tùy tiện Tác phong và thói quen của nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, manh mún khiến “kỷ luật lao động ở một số xí nghiệp, một số cơ quan, một số trường học lỏng lẻo, có người không ốm cũng giả ốm để nghỉ việc, đi chậm về sớm

Theo nhận định của đoàn thanh tra, nhiều DN chưa nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật về chính sách lao động, tiền lương và an toàn, vệ sinh lao động để thực hiện Điều đáng nói là ngay bản thân người sử dụng lao động cũng chưa có ý thức chấp hành pháp luật Tuy DN nắm được các quy định của pháp luật về lao động nhưng để tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận, DN cố tình không thực hiện hoặc thực hiện không đầy

đủ các quy định của pháp luật để hạn chế tối đa các chi phí Trong khi đó, nhận thức của người lao động về các quy định của pháp luật còn hạn chế: Người lao động không biết hoặc không nắm đầy đủ các quy định của pháp luật về lao động, do đó người lao động không thể đề xuất, kiến nghị với người sử dụng lao động để đảm bảo doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật hoặc người lao động biết các quy định của pháp luật nhưng đồng ý thỏa thuận với người sử dụng lao động không thực hiện để được làm việc tại doanh nghiệp Đặc biệt đối với các công nhân may,

do trình độ văn hóa còn thấp nên phần lớn công nhân không biết được những quyền lợi pháp luật lao động quy định

3 Nguyên nhân của hiện trạng thị trường sức lao động:

Thứ nhất, hiện nay, trình độ người lao động và nạn thất nghiệp đang là hai hạn chế lớn, đáng quan tâm của thị trường hàng hóa sức lao động nước ta Nguyên nhân của những hạn chế này là do điều kiện, hoàn cảnh lịch sử của đất nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề cùng với đó nền kinh tế nông nghiệp là chủ đạo, người lao động Việt Nam còn mang đậm tác phong nông nghiệp vào sản xuất Đặc biệt, trước đổi mới năm 1986, sự áp dụng cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch, tập trung, quan liêu, bao cấp của Nhà nước đã trở thành tác nhân quan trọng kìm hãm sự phát triển, khiến cho trình độ mà nhất là sức sáng tạo và độc lập của người lao động rơi vào trì trệ

Trang 12

Thứ hai, tiền lương chưa phản ánh đúng giá cả sức lao động, chưa thực sự gắn với mối quan hệ cung cầu lao động trên thị trường, tốc độ tăng tiền lương nhỏ hơn tốc

độ tăng của năng suất lao động Mức lương tối thiểu còn thấp chưa theo kịp với yêu cầu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động và sự phát triển kinh tế –

xã hội

Thứ ba, trong các doanh nghiệp nhà nước, cơ chế phân phối tiền lương chưa thực

sự theo nguyên tắc thị trường, còn mang nặng tính bình quân Mức độ chênh lệch

về tiền lương, thu nhập giữa các loại lao động không lớn, chưa khuyến khích người có trình độ chuyên môn cao vào khu vực nhà nước Các doanh nghiệp ngoài nhà nước có tình trạng ép mức tiền công của người lao động, không thực hiện đúng công tác bảo hiểm xã hội…

4 Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường sức lao động (thị trường lao động) Việt Nam hiện nay:

Trang 13

5 Liên hệ bản thân

Là sinh viên ngành Kiến trúc Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, nhận thức được tầm quan trọng về vai trò của thế hệ trẻ đối với đất nước, bản thân em cần trau dồi những kỹ năng sau:

Một là, nắm chắc kiến thức nền tảng và chuyên môn của ngành Kiến trúc Bởi lẽ, Kiến trúc là bộ môn kiến tạo, sắp xếp và tổ chức không gian, là sự kết hợp giữa khoa học và nghệ thuật Khi học tập ngành Kiến trúc, em cần rèn giũa những yếu tố như kỹ thuật mô hình, Nguyên lí thiết kế, Kết cấu Kiến trúc, Công tác Quy hoạch,…

Hai là, cần phải tích lũy những kinh nghiệm thực tế Song song với việc học lý thuyết, bản thân em cần luyện tập kỹ năng vẽ tay và sử dụng các phần mềm Thiết kế Kiến trúc chuyên dụng Ngoài ra, em cần luyện tập các kỹ năng mềm như giao tiếp, thuyết trình, đàm phán để phục vụ cho công việc Vào cuối học kỳ những năm cuối, em có thể ứng tuyển vào vị trí thực tập viên để thực tập ở các viện thiết kế hoạch công ty Kiến trúc để tiếp xúc với các bản vẽ thực tế

Sinh viên Kiến trúc sau khi tốt nghiệp có thể đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau như họa viên, giám sát công trình, chuyên viên thiết kế…Với em, định hướng nghề nghiệp của em là tập trung nâng cao chuyên môn của mình ở lĩnh vực thiết kế triển khai công trình Kiến trúc Đối với mỗi dự án, công trình được xây dựng, những gì em được trả cho sức lao động của bản thân sẽ là hiện kim với mức giá tuỳ theo khả năng của bản than Khi làm việc ở vị trí của một người trong ngành, những giá trị em mang lại được sẽ là những không gian được hiện thực hoá từ những ý tưởng và phục vụ những mục đích đúng với nhu cầu của người sử dụng

Trang 14

Như vậy có thể thấy, thị trường làm việc của ngành Kiến trúc nói riêng và những ngành liên quan như xây dựng, nội thất, thiết kế nói chung ở thời điểm hiện tại có thể đánh giá

là màu mỡ, tuy nhiên yêu cầu về trình độ ngày càng cao, cạnh tranh về kĩ năng cá nhân càng ngày càng khốc liệt Vì vậy, cơ hội việc làm của ngành kiến trúc thật sự không thiếu, chỉ cần trong quá trình học tập, em trau dồi bản thân và tích luỹ thật nhiều kinh nghiệm cho bản thân, mọi thứ sẽ dễ dàng ổn định hơn cho sau này khi ra trường

Bài học rút ra

Có thể thấy, Kiến trúc là sự kết hợp của khoa học và nghệ thuật, của thực tế và tưởng tượng Vì thế mà bản thân em khi làm công việc này cũng luôn phải đối mặt với những thách thức trong một thế giới không ngừng đổi mới, sáng tạo như hiện nay Những thách thức mà bản thân cần đối mặt để bắt kịp với những thay đổi trong thời đại số, đặc biệt là khi những nhà thiết kế trẻ tham gia vào thị trường là: Vận dụng những tiến bộ công nghệ vào thực tế công việc, mỗi dự án của bản than phải mang một nét riêng, vượt qua những khuôn mẫu sẵn có nhưng vẫn đảm bảo công năng sử dụng; tìm kiếm dự án mới và duy trì nguồn thu nhập ổn định Không những vậy, Kiến trúc ngày nay còn phải song hành với các vấn đề về sống xanh, bảo vệ môi trường và hạn chế những tác động từ biến đổi khí hậu

Từ những điều trên, em hiểu rằng bản thân phải có trách nhiệm với chính mình, cố gắng học tập, trang bị thêm những kĩ năng mềm, tiếp thu những kiến thức và vận dụng vào thực tế Có như vậy, cơ hội làm việc của bản thân sẽ được mở rộng và góp phần phát triển cho đất nước

C KẾT LUẬN

Qua bài tiểu luận trên, ta có thấy được tầm quan trọng của hàng hoá sức lao động Sự kết hợp hài hòa giữa lý luận về hàng hóa sức lao động của Mác với thực tiễn thị trường sức lao động ở Việt Nam vừa là nhiệm vụ hàng đầu của nền kinh tế lại vừa là mục tiêu quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, phát triển đội ngũ trí thức, đặc biệt là trí thức tinh hoa, có đủ năng lực để thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đóng góp tích cực nhằm hình thành và phát triển“nền kinh tế tri thức” của Việt Nam

Trong thời gian tới chúng ta cần có những giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách đi đôi với nâng cao chất lượng nguồn lao động tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động nhằm phát huy hết tiềm năng nguồn lực lao động nước ta với mục đích xây dựng một thị trường lao động sôi động, ổn định và có hiệu quả, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế

Ngày đăng: 29/12/2022, 10:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w