MỞ ĐẦU Phụ nữ là lực lượng đông đảo chiếm ½ dân số thế giới và có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng. Sự hiện diện của họ đã thắp lên ngọn lửa yêu thương, duy trì nòi giống, tái sản xuất ra con người và đời sống xã hội. Và có những thời kỳ, giai đoạn, phụ nữ còn nắm quyền cai trị quốc gia, dân tộc. Trải qua những thăng trầm, biến cố lịch sử, người phụ nữ chịu nhiều sức ép từ những ràng buộc của lễ giáo phong kiến, nạn phân biệt chủng tộc, chiến tranh, định kiến giới, khiến ở nhiều nơi, họ bị đối xử bất công, kìm hãm sự phát triển, thậm chí bị tước mất thiên chức làm người. Ngày nay, với sự phát triển kinh tế xã hội; trình độ văn hóa, văn minh được nâng cao; sự thay đổi trong nhận thức của con người có những chuyển biến tích cực, giúp người phụ nữ có cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển cá nhân, được bình quyền, bình đẳng với mọi giai tầng xã hội, nhất là về nghĩa vụ, quyền lợi, công việc đối với nam giới. Ở Việt Nam trong 30 năm đổi mới vừa qua, cùng với những thành tựu đạt được về phát triển kinh tế xã hội văn hóa ngoại giao thì vấn đề xây dựng, phát triển con người cũng đạt được những thành quả quan trọng, trong đó có việc nâng cao vị thế, vai trò, quyền bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ. Bình đẳng giới là một quyền con người cơ bản, vừa là mục tiêu quốc gia vừa là yếu tố góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước và là thước đo quan trọng để đánh giá sự tiến bộ và phát triển của xã hội. Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Để thực hiện bình đẳng giới, phát huy vai trò của phụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp nhằm tạo điều kiện và động viên phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực chính trị trong đó bảo đảm tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan dân cử là vấn đề được quan tâm. Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 đều có điều khoản quy định về việc bảo đảm để phụ nữ có số đại biểu thích đáng tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Nghị quyết số 11NQTW ngày 2742007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề ra mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020, nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%”.Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 20112020 đã đặt ra chỉ tiêu “tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 2020 trên 35%”. Trao quyền cho phụ nữ được thể hiện dưới nhiều hình thức: trao quyền năng kinh tế, trao quyền giáo dục, quyền văn hóa, xã hội, trao quyền năng chính trị. Thúc đẩy phụ nữ tham chính là trao quyền cho phụ nữ về mặt chính trị, đảm bảo sự đại diện bình đẳng của phụ nữ trong chính trị. Đây chính là vấn đề cốt lõi gắn liền với sự thịnh vượng và phát triển bền vững của một quốc gia. Bảo đảm bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là một trong những mục tiêu quan trọng của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Liên hợp quốc xác định: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ là một trong 8 mục tiêu của thiên niên kỷ. Mặc dù chúng ta đã đạt được những thành công đáng kể về chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghề nghiệp của phụ nữ, nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn về bình đẳng giới trên hành trình đến với các vị trí lãnh đạo, quản lý. Xuất phát từ thực tiễn đó, tiểu luận tập trung mô tả thực trạng bình đẳng giới trong tham chính và đưa ra một số giải pháp, chính sách nhằm từng bước tăng cường hơn nữa vị thế chính trị cho phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.
Trang 1NỘI DUNG 3
1 Vai trò, vị thế của phụ nữ trong đời sống, chính trị - xã hội 3
2 Lý do cần có nhiều nữ giới trong các vị trí quản lý, lãnh đạo 5
3 Thực trạng phụ nữ tham chính trên thế giới và ở Việt Nam 6
3.1 Trên thế giới 6
3.2 Tại Việt Nam 8
4 Thuận lợi đối với phụ nữ tham chính tại Việt Nam 12
5 Một số khó khăn đối với phụ nữ tham chính ở Việt Nam 15
6 Giải pháp tăng cường bình đẳng giới trong chính trị 20
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 26
Trang 2MỞ ĐẦU
Phụ nữ là lực lượng đông đảo chiếm ½ dân số thế giới và có vai trò, vịtrí đặc biệt quan trọng Sự hiện diện của họ đã thắp lên ngọn lửa yêu thương,duy trì nòi giống, tái sản xuất ra con người và đời sống xã hội Và có nhữngthời kỳ, giai đoạn, phụ nữ còn nắm quyền cai trị quốc gia, dân tộc
Trải qua những thăng trầm, biến cố lịch sử, người phụ nữ chịu nhiềusức ép từ những ràng buộc của lễ giáo phong kiến, nạn phân biệt chủng tộc,chiến tranh, định kiến giới, khiến ở nhiều nơi, họ bị đối xử bất công, kìm hãm
sự phát triển, thậm chí bị tước mất thiên chức làm người
Ngày nay, với sự phát triển kinh tế - xã hội; trình độ văn hóa, văn minhđược nâng cao; sự thay đổi trong nhận thức của con người có những chuyểnbiến tích cực, giúp người phụ nữ có cơ hội, điều kiện thuận lợi để phát triển
cá nhân, được bình quyền, bình đẳng với mọi giai tầng xã hội, nhất là vềnghĩa vụ, quyền lợi, công việc đối với nam giới
Ở Việt Nam trong 30 năm đổi mới vừa qua, cùng với những thành tựu đạtđược về phát triển kinh tế - xã hội - văn hóa- ngoại giao thì vấn đề xây dựng,phát triển con người cũng đạt được những thành quả quan trọng, trong đó cóviệc nâng cao vị thế, vai trò, quyền bình đẳng giới vì sự tiến bộ của phụ nữ
Bình đẳng giới là một quyền con người cơ bản, vừa là mục tiêu quốc giavừa là yếu tố góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
là thước đo quan trọng để đánh giá sự tiến bộ và phát triển của xã hội Mục tiêubình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam
và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bìnhđẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợgiữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình
Để thực hiện bình đẳng giới, phát huy vai trò của phụ nữ trong côngcuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành
Trang 3nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp nhằm tạo điều kiện và động viên phụ
nữ tham gia vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là lĩnh vực chính trịtrong đó bảo đảm tỷ lệ phụ nữ tham gia các cơ quan dân cử là vấn đề đượcquan tâm Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm
2015 đều có điều khoản quy định về việc bảo đảm để phụ nữ có số đại biểuthích đáng tham gia Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp Nghị quyết số11-NQ/TW ngày 27-4-2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đề ra mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020, nữ đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%”.Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 đã đặt
ra chỉ tiêu “tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2015 từ 30% trở lên và nhiệm kỳ 2016 - 2020 trên 35%”.
Trao quyền cho phụ nữ được thể hiện dưới nhiều hình thức: trao quyềnnăng kinh tế, trao quyền giáo dục, quyền văn hóa, xã hội, trao quyền năng chínhtrị Thúc đẩy phụ nữ tham chính là trao quyền cho phụ nữ về mặt chính trị, đảmbảo sự đại diện bình đẳng của phụ nữ trong chính trị Đây chính là vấn đề cốt lõigắn liền với sự thịnh vượng và phát triển bền vững của một quốc gia
Bảo đảm bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là một trong nhữngmục tiêu quan trọng của hầu hết các quốc gia trên thế giới Liên hợp quốc xácđịnh: Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ làmột trong 8 mục tiêu của thiên niên kỷ Mặc dù chúng ta đã đạt được nhữngthành công đáng kể về chỉ số sức khỏe, giáo dục, thu nhập và cơ hội nghềnghiệp của phụ nữ, nhưng vẫn còn một khoảng cách lớn về bình đẳng giớitrên hành trình đến với các vị trí lãnh đạo, quản lý Xuất phát từ thực tiễn đó,tiểu luận tập trung mô tả thực trạng bình đẳng giới trong tham chính và đưa ramột số giải pháp, chính sách nhằm từng bước tăng cường hơn nữa vị thếchính trị cho phụ nữ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâurộng hiện nay
Trang 4NỘI DUNG
1 Vai trò, vị thế của phụ nữ trong đời sống, chính trị - xã hội
Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ chính là chìa khóa thúc đẩy sựphát triển bền vững và tiến bộ lâu dài của xã hội Kể từ khi Cương lĩnh hànhđộng Bắc Kinh ra đời vào năm 1995, được 189 nước ký kết tham gia tại Đạihội Phụ nữ thế giới lần thứ 4, trao quyền cho phụ nữ trở thành một giải phápquan trọng Phát biểu trước Ủy ban Địa vị Phụ nữ của Liên hợp quốc vàotháng 3/2010, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã nhấn mạnh rằngviệc trao quyền cho phụ nữ là cấp thiết và chỉ đến khi phụ nữ được giải phóngkhỏi nghèo đói và bất bình đẳng thì những mục tiêu khác của Liên hợp quốc
về hòa bình, an ninh, phát triển bền vững mới thực hiện được
Trong lịch sử dân tộc, phụ nữ có vai trò, vị thế đặc biệt quan trọng, lànhững người góp phần làm nên lịch sử; là lực lượng lao động chính tham giatrực tiếp vào quá trình sản xuất và đấu tranh cách mạng; là hậu phương vữngchắc cùng toàn dân lập nên những chiến công
Từ buổi đầu dựng nước, giữ nước hình ảnh Bà Trưng, Bà Triệu từngxông pha nơi trận tiền bảo vệ, gìn giữ bờ cõi biên cương đến hình ảnh những
nữ thanh niên xung phong, anh hùng du kích, những nữ liệt sĩ đã chiến đấu,
hy sinh anh dũng để bảo vệ non sông gấm vóc với tấm gương như chị Sứ, chịSáu, chị Út Tịch, 10 nữ thanh niên xung phong hy sinh ở ngã ba Đồng Lộc…
là những hình ảnh đẹp dệt nên truyền thống anh hùng, bất khuất, trung hậu,đảm đang của người con gái Việt Nam kiên cường
Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam “giỏi việc nước, đảm việc nhà”tiếp tục vượt qua mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vàocác hoạt động xã hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiềulĩnh vực như: tham gia quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây
Trang 5dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệnạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân… Có thể nói, vai trò củaphụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những đóng gópquan trọng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khi đất nước bước vào kỷ nguyên hội nhập với thế giới, trong công cuộcxây dựng đất nước trên con đường công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay, phụ
nữ Việt Nam tiếp tục đóng vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triểnchung của xã hội Vai trò này đang được khẳng định một cách rõ nét hơn bao giờhết Với sự quan tâm của các cấp các ngành, sự thay đổi trong nhận thức của xãhội về vai trò, vị thế của phụ nữ đã giúp phụ nữ có cơ hội, điều kiện để pháttriển bản thân và tham gia tích cực vào đời sống chính trị - xã hội
Trước hết chúng ta phải thừa nhận vị trí hết sức quan trọng của người phụ
nữ trong gia đình Họ có ảnh hưởng to lớn tới hạnh phúc và sự ổn định của giađình Là người vợ hiền, họ luôn hiểu chồng, sẵn sàng chia sẻ những ngọt bùicũng như những đắng cay cùng chồng, khiến người chồng luôn cảm thấy yêntâm trong cuộc sống, từ đó họ có thể đóng góp nhiều hơn cho xã hội Không chỉchăm sóc giúp đỡ chồng trong gia đình, người vợ còn đưa ra những lời khuyênthiết thực giúp chồng trong công việc, đóng góp vào thành công trong sự nghiệpcủa chồng Là những người mẹ hết lòng vì con cái, họ thực sự là những tấmgương cho con cái noi theo Người mẹ ngày nay còn là một người bạn lớn luôn ởbên con để hướng dẫn, động viên kịp thời Bất cứ ai trong chúng ta đều có thểtìm thấy ở những người phụ nữ, người vợ, người mẹ sự yên tĩnh trong tâm hồn
và sự cân bằng bình yên trong cuộc sống Chính họ đã tiếp sức cho chúng tavượt qua những khó khăn để sống một cuộc sống hữu ích
Phụ nữ còn tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội Ngày càng cónhiều người trở thành chính trị gia, nhà khoa học nổi tiếng, nhà quản lý năngđộng … Trong nhiều lĩnh vực, sự có mặc của người phụ nữ là không thể thiếunhư ngành dệt, may mặc, du lịch, công nghệ dịch vụ …
Trang 6Hiện nay, phụ nữ Việt Nam góp một phần rất lớn vào quá trình pháttriển của đất nước, thể hiện ở số nữ chiếm tỉ lệ cao trong lực lượng lao động.Với hơn 50% dân số và gần 50% lực lượng lao động xã hội, ngày càng cónhiều phụ nữ tham gia vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và giữnhững chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước Hiện có tới 24,4% đại biểu
nữ trong Quốc hội (khóa XIII) - cao nhất ở châu Á và là một trong nhữngnước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hộiđồng nhân dân các cấp trên 20%.Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số nghànhnhư giáo dục, y tế, dịch vụ…Phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sứcsáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thích ứng và hộinhập trong xu thế phát triển chung của nhân loại
2 Lý do cần có nhiều nữ giới trong các vị trí quản lý, lãnh đạo
Thứ nhất, vì sự công bằng Nữ giới chiếm một nửa dân số vì thế họ có
quyền nắm giữ 50% các vị trí có quyền ra quyết định Chính sự công bằng lànền tảng cho một xã hội bình đẳng giới Công bằng tạo nên sự bình đẳng vàchính bình đẳng cũng tạo nên sự công bằng trong việc đánh giá vai trò củanam giới và phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
Thứ hai, vì lợi ích Xuất phát từ khác biệt về mặt sinh học, phụ nữ và
nam giới có cấu tạo cơ thể khác nhau, vì thế có các mối quan tâm, kỳ vọngkhác nhau, có những nhu cầu giới hay lợi ích giới khác nhau Do đó, sẽ hiệuquả và chính đáng hơn nếu lợi ích của hai nhóm được đảm bảo Các chủtrương chính sách của mỗi quốc gia cần phản ánh và đáp ứng được nhu cầu,lợi ích, kỳ vọng của người dân Các quốc gia không thể hoạch định chính sáchhiệu quả nếu chỉ dựa vào nam giới, những người đang chiếm số đông trong hệthống các cơ quan quyền lực nhà nước
Thứ ba, vì kinh nghiệm Như đã nói ở trên, phụ nữ và nam giới có
những kinh nghiệm, trải nghiệm thực tế khác nhau Nữ giới cần nắm các vị trí
Trang 7có tầm ảnh hưởng, có vai trò ra quyết định để thể hiện chính kiến, quan điểmcủa mình.
Thứ tư, vì sự phát triển bền vững.Thực tế cho thấy, quốc hội nào có
nhiều phụ nữ tham gia thì nhiều chính sách, pháp luật được xây dựng để bảo
vệ con người và môi trường hơn ở những Quốc hội có ít đại diện là phụ nữ.Đặc biệt, phụ nữ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề của phụ nữ và trẻ em –thế hệ tương lai của đất nước
Ngoài ra, phụ nữ có những khả năng và quyền lực mềm nhất định tronglãnh đạo.Trên thực tế, quyền lực và sức mạnh “cơ bắp” thuần túy đã khôngcòn đem lại hiệu quả như mong muốn, nhiều khi lại có tác dụng ngược lại.Cuộc chạy đua vũ trang của các cường quốc thường kéo theo sự tốn kém và
đổ vỡ Hiện nay, “quyền lực mềm” được xem là một công cụ, chiến thuật,hay là một “thế” giúp nâng cao hiệu quả của nhiều chính phủ trên thế giới.Ví
dụ như Chính phủ của thủ tướng Đức Angela Merkel đã rất thành công trongviệc giải quyết các vấn đề xung đột, khủng hoảng ở Châu Âu, vấn đề người di
cư, v.v Bà được tạp chí Forbes 9 lần xếp hạng là người phụ nữ quyền lựcnhất thế giới
3 Thực trạng phụ nữ tham chính trên thế giới và ở Việt Nam
nữ giới nhất với tỷ lệ phụ nữ trong Quốc hội chiếm tới 63,8%.Trên toàn cầuchỉ có 29 quốc gia có tỷ lệ nữ trong Quốc hội trên 30%; có 24 quốc gia nằm
Trang 8trong nhóm gần đạt đến tỷ lệ 30% (từ 25% đến 29%) Rất nhiều quốc gia trênthế giới không thể đạt được mục tiêu 30% nữ giới trong nghị viện trước năm
2025 được nhấn mạnh trong Cương lĩnh hành động Bắc Kinh năm 1995 Sau
20 năm, kể từ khi ra đời của Cương lĩnh hành động Bắc Kinh, tỷ lệ phụ nữtham gia vào nghị viện đạt gần gấp đôi Tuy nhiên, mới chỉ có 22% phụ nữtham gia vào nghị viện các nước Việc thúc đẩy phụ nữ tham chính là vấn đềkhó khăn với hầu hết các nước
(Nguồn: key-milestones.cfm)
http://www.idea.int/gender/women-in-politics-achieving-Trong thập niên gần đây, từ 2005 đến 2015, tỷ lệ phụ nữ tham gia cácnghị viện tính theo khu vực có sự thay đổi đáng kể, tuy nhiên vẫn còn ở mứcthấp so với quy định và kỳ vọng
Ở khu vực Châu Á, Thái Bình Dương, một số phụ nữ đã nắm được vị tríchủ chốt trong chính phủ như bà Park Geun He – nữ thủ tướng đầu tiên củaHàn Quốc; cựu nữ tổng thống đầu tiên của New Zealand – bà Helen Clark,
Trang 9hiện là Tổng giám đốc Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) trong
2 nhiệm kỳ liên tiếp từ 2009 đến nay, cựu Thủ tướng Thái Lan – bà Ying Luck,hay cựu tổng thống Phillippines – bà Gloria Macaraeg Macapagal-Arroyo
Bảng số 1: Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội Việt Nam so với các nước trên thế giới Thời gian
Nước
9/1997 (Khóa X)
7/2002 (Khóa XI)
7/2007 (khóa XII)
7/2011 (khóa XIII) 11/2014
21,9%,
39 nướctrên 30%
sự ủng hộ nhất định đối với sự tham gia, đại diện của phụ nữ trong các vị trílãnh đạo chủ chốt trên chính trường
3.2 Tại Việt Nam
Trong ba thập niên vừa qua, công tác chăm sóc, phát triển phụ nữ đạtđược những thành quả quan trọng, nhất là ở lĩnh vực giáo dục, đào tạo, nângcao trình độ dân trí Xét trong mối tương quan giữa nam và nữ trong việcđược tiếp cận môi trường giáo dục, tỷ lệ đến trường, tỷ lệ tay nghề qua đàotạo… cho thấy mức độ tương đối về mức cân bằng giữa nam và nữ Theothống kê, “tỷ lệ nhập học tiểu học đối với trẻ em gái là 91,5% và trẻ em trai là
Trang 1092,3% Tỷ lệ nhập học trung học cơ sở đối với trẻ em gái là 82,6% và trẻ emtrai là 80,1% Tỷ lệ nhập học trung học phổ thông đối với trẻ em gái là 63,1%
và trẻ em trai là 53,7% Tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động là 73% vànam giới là 82% Tỷ lệ nữ tốt nghiệp đại học là 36,24%; thạc sĩ: 33,95%; tiếnsĩ: 25,69% Trong giới báo chí, tỷ lệ các nhà báo nữ cũng ước tính tới gần30% tổng số nhà báo Phụ nữ chiếm ưu thế trong một số ngành, như giáo dục,
y tế, và dịch vụ Trong công tác chuyên môn, phụ nữ chiếm số đông trong các
bộ môn văn học, ngôn ngữ, y dược, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên vàkinh tế Tổng số giờ làm việc của nữ giới (kể cả ở nhà và bên ngoài) cao hơnrất nhiều so với tổng số giờ làm việc của nam giới”
Xét về phương diện phụ nữ tham gia chính trị, tuy tỷ lệ phụ nữ giữnhững cương vị lãnh đạo chủ chốt ở các cấp từ Trung ương đến địa phươngcòn ở mức khiêm tốn nhưng hình ảnh, vị thế của họ đang gây được nhữngthiện cảm tốt, tạo được niềm tin, sự gần gũi với nhân dân Cũng theo số liệuthống kê, “phụ nữ Việt Nam chiếm 51,48% số dân và 48% lực lượng lao độngtoàn xã hội, và chiếm khoảng 20% cán bộ làm công tác lãnh đạo và quản lýnhà nước các cấp từ Trung ương đến cơ sở Trong đó, số nữ Ủy viên Trungương Ðảng khóa VII là 12, khóa VIII tăng lên 18 (tuy vậy khóa IX lại còn12) Ở cấp tỉnh, tỉnh ủy viên là nữ cũng tăng từ 182 ở khóa VII lên 280 trongkhóa VIII Phụ nữ tham gia các cấp ủy địa phương đạt 10-11%, trong đó bíthư, phó bí thư, ủy viên thường vụ đạt từ 3% đến 8% Phần lớn phụ nữ thamgia thường vụ cấp ủy đều được phân công công tác kiểm tra và dân vận Vềchính quyền, trong khóa VIII, tỷ lệ nữ Bộ trưởng và tương đương chiếm13,1%, nữ Thứ trưởng và tương đương chiếm 7,4%; nữ vụ trưởng, vụ phó vàtương đương chiếm 13% Chủ tịch UBND cấp tỉnh, huyện và xã có khoảng1,6% là nữ Phó Chủ tịch UBND là 2 - 4% Khóa 1999 - 2004, số nữ là đạibiểu HÐND cấp tỉnh chiếm 22,5%, cấp huyện chiếm 20,7%, cấp xã chiếm
Trang 1117% Nữ đại biểu QH khóa X là 26,22%, khóa XI là 27,31% Việt Nam lànước có tỷ lệ nữ đại biểu QH cao thứ hai trong khu vực châu Á - Thái BìnhDương (sau New Zealand)”.
Sự gia tăng số lượng nữ tham gia quản lý nhà nước chứng tỏ chấtlượng, trình độ cán bộ lãnh đạo của nữ giới ngày càng nâng cao Hiện nay,
“phụ nữ chiếm tỷ lệ 61% những người có trình độ cao đẳng, 34% nhữngngười có trình độ đại học, 30% những người có trình độ thạc sĩ, 21% nhữngngười có trình độ tiến sĩ và 4% những người là tiến sĩ khoa học” Mặt bằnghọc vấn này đã giúp phụ nữ tham gia ngày càng tốt hơn công tác quản lý nhànước Theo đánh giá của Văn phòng Quốc hội, việc tham gia xây dựng phápluật và chính sách, đóng góp ý kiến cho công tác quản lý nhà nước và tọa đàmvới cử tri của các nữ đại biểu Quốc hội ngày càng có chất lượng Vì vậy, phụ
nữ càng thêm tự tin, trình bày ý kiến đại diện cho người dân và cho chính giới
nữ trong các kỳ họp của Quốc hội
Bảng số 2: Tỷ lệ nữ ĐBQH Việt Nam qua 13 kỳ bầu cử
Nhiệm kỳ Nữ Đại biểu Tổng số Đại
biểu
Tỷ lệ nữ/ Tổng số
Trang 12Nhiệm kỳ Nữ Đại biểu Tổng số Đại
biểu
Tỷ lệ nữ/ Tổng số
vụ còn thấp, mới khoảng 8 - 15%, chưa tương xứng lực lượng lao động vànăng lực đóng góp của phụ nữ
Trong thực tế, phụ nữ Việt Nam đang có mặt ở hầu hết cơ quan quản lýhành chính, sự nghiệp và doanh nghiệp “Phụ nữ chiếm 50,3% số người làmcông ăn lương và 32,4% các chủ doanh nghiệp Trong số hơn 300 nghìndoanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, có khoảng 15% do phụ nữđứng đầu hoặc nắm giữ cương vị chủ chốt Tỷ lệ phụ nữ làm quản lý doanhnghiệp của một số ngành: dệt, may mặc, giày dép, thực phẩm, đồ uống chiếm hơn 50%, ở các ngành giao thông - vận tải, xây dựng, khai khoáng có20% người quản lý doanh nghiệp là nữ Trong số 900 nghìn hộ kinh doanhgia đình, có 27% do phụ nữ điều hành”
Tại Đại hội XII (năm 2016) tỷ lệ cán bộ nữ là ủy viên Trung tăng lên sovới nhiệm kỳ Đại hội XI Ngày 26/1/2016, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII đã tiến hành bỏ phiếu bầu cử Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, gồm
200 đồng chí, trong đó 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết Có20/200 Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII là nữ, chiếm tỉ lệ 10% (tăng 1%
so với số nữ Ủy viên Trung ương được bầu tại Đại hội XI của Đảng là
Trang 1318/200) Trong 20 nữ Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII có 17 Ủy viênchính thức và 3 Ủy viên dự khuyết Hội nghị lần thứ nhất BCH Trung ươngKhóa XII đã bầu 19 đồng chí trong số 180 ủy viên chính thức vào Bộ Chínhtrị, trong đó có 3 nữ Ủy viên Bộ Chính trị.
Trong cơ cấu thành phần nữ Đại biểu Quốc hội khóa XIV sắp tới, tỷ lệđại biểu nữ cũng được quan tâm và được Quốc hội dành một tỷ lệ nhất định.Theo Nghị quyết số 1135/2016/UBTVQH13 ngày 22/01/2016 của Ủy banthường vụ Quốc hội, dự kiến số lượng, cơ cấu, thành phần ĐBQH khóa 14,tổng số đại biểu Quốc hội khóa 14 là 500 người Số đại biểu của các tỉnhthành tùy theo số lượng dân cư Đại biểu là phụ nữ, khi lập danh sách chínhthức những người ứng cử, phải bảo đảm ít nhất là 314 người bằng 35% tổng
số người trong danh sách ứng cử và phấn đấu trúng cử ít nhất 150 đại biểubằng 30% tổng số đại biểu Quốc hội
Điều này minh chứng cho sự tham gia tích cực của phụ nữ trong đờisống chính trị - xã hội, khẳng định vị thế, uy tín của họ trong trong việc nângcao vị thế, tự khẳng định bản lĩnh, trách nhiệm trước Tổ quốc, nhân dân
4 Thuận lợi đối với phụ nữ tham chính tại Việt Nam
Thứ nhất, là sự quan tâm của các cấp các ngành với những chủ trương,
chính sách đúng đắn, phù hợp Có thể thấy trong những năm qua Đảng, Nhànước đã ban hành nhiều Nghị quyết, chỉ thị về việc đẩy mạnh chiến lược pháttriển đội ngũ cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước Tiêubiểu có thể kể tới: Nghị quyết số 11-NQ/TƯ của Bộ Chính trị (ngày 27-4-2007) "Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước" trong đó xác định: "Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ
nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Đảng" Nghị quyết cũng đề ra chỉ tiêu: "Cần bảo đảm tỷ lệ nữ tham gia các khóa đào tạo tại các
Trang 14trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước từ 30% trở lên", "Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40% Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Chính phủ có
tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới" Tiếp theo Nghị quyết 11 là
Hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, số 22-HD/BTCTW ngày
21-10-2008 về công tác quy hoạch cán bộ xác định cơ cấu nữ trong cấp ủy viên tỉnh,thành khoảng 10-15% Hướng dẫn 15-HD/BTCTW ngày 5-11-2012 thay thếHướng dẫn 22 xác định rõ hơn: "Bảo đảm tỷ lệ cán bộ nữ không dưới 15%trong quy hoạch cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và ban lãnh đạo chính quyềncác cấp" Tiến tới Đại hội Đảng lần thứ XII, Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30-5-
2014 của Bộ Chính trị về công tác nhân sự yêu cầu: "Phấn đấu đạt tỉ lệ cấp ủyviên nữ không dưới 15% và cần có cán bộ nữ trong ban thường vụ cấp ủy".Cùng với những Chỉ thị, Nghị quyết là Chiến lược quốc gia về bình đẳng giớiđến năm 2020; Luật Bình đẳng giới (năm 2006) cũng được ban hành là nhữngbằng chứng về cam kết chính trị trong việc trao quyền cho phụ nữ
Việt Nam đã ký nhiều công ước quốc tế như Công ước xóa bỏ mọi hìnhthức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Cương lĩnh hành động BắcKinh, Tuyên bố thiên niên kỷ, v.v, cam kết ủng hộ phụ nữ tham chính và nỗlực giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị Việt Nam tích cực thamgia Cương lĩnh hành động Bắc Kinh với 12 lĩnh vực quan tâm, trong đó cóvấn đề ra quyết định và cơ chế thể chế, bên cạnh các lĩnh vực quan tâm khácnhư nghèo đói, giáo dục và đào tạo, sức khỏe, bạo lực, xung đột vũ trang,kinh tế, quyền con người, truyền thông, môi trường và trẻ em gái Gần đâynhất, Việt Nam ký kết tham gia Chương trình nghị sự thế giới về phát triểnbền vững, trong đó có Mục tiêu 5: Trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái trên