KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN ĐẦU DƯỚI XƯƠNG ĐÙI BẰNG NẸP VÍT KHÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ Đinh Trung Hiếu*, Đàm Văn Cương Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ *Email: drdinhtrung
Trang 1KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN ĐẦU DƯỚI XƯƠNG ĐÙI BẰNG NẸP VÍT KHÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ
Đinh Trung Hiếu*, Đàm Văn Cương
Trường Đại Học Y Dược Cần Thơ
*Email: drdinhtrunghieu@gmail.com
TÓM TẮT:
Đặt vấn đề: Gãy đầu dưới xương đùi là một dạng gãy xương nặng, khi gãy co kéo di lệch
mảnh gãy phức tạp, điều trị bảo tồn cho kết quả kém, cần phẫu thuật nắn chỉnh sớm Mục tiêu
nghiên cứu: đánh giá kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khóa Đối tượng
và phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu,50 bệnh nhân (BN) gãy kín đầu dưới xương đùi từ
tháng 2/2016 đến tháng 4/2017, tất cả các BN theo dõi trên 10 tháng Kết quả: Đánh giá theo
thang điểm Lambert và Schatzker ghi nhận: 37 BN tốt chiếm tỉ lệ 74%, 10 BN khá chiếm tỉ lệ 20%,
3 BN trung bình chiếm tỉ lệ 6% Kết luận: điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khóa
cho kết quả rất khả quan, hiện là phương pháp lựa chọn tối ưu điều trị cho kiểu gãy này
Từ khóa: gãy đầu dưới xương đùi, nẹp vít khóa
ABSTRACTS
RESULTS OF THE OSTEOSYNTHESIS WITH LOCKING PLATE FOR TREATMENT OF THE DISTAL FEMUR FRACTURES AT CAN THO
CENTRE GENERAL HOSPITAL
Dinh Trung Hieu, Dam Van Cuong
Can Tho University of Medicine and Pharmacy
Background: Distal femur fractures are severe fractures, complicated dislocation injurys,
results of conservation treatment is poor, need early surgery Objectives: Evaluation results of the
osteosynthesis with locking plate for treatment of the distal femur fractures. Materials and method: Prospective, descriptive study Totally fifty adult patients with distal femur fractures have
been done from February 2016 to April 2017, follow-up time more 10 months Results: Using the Lambert and Schatzker criteria to evaluate: 37 patients were excellent (74%), 10 patients were good (20%), 3 patients were average (6%) Conclusion: Results of treatment distal femur
fractures with locking plate is very positive, which is now the optimal treatment option for this
type of fracture
Key words: distal femur fractures, locking plate
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Gãy đầu dưới xương đùi được định nghĩa là loại gãy lồi cầu hoặc trên lồi cầu đùi, thuộc nhóm gãy xương phạm khớp hoặc không phạm khớp [2], [8] Gãy đầu dưới xương đùi là dạng gãy xương xốp phức tạp, nặng nề gây lệch trục chi dưới, ngắn chi gãy, kênh mặt khớp, di lệch rất nhiều nên kết quả của việc điều trị bảo tồn thường không đạt, hầu hết phải phẫu thuật [5] Nguyên nhân thường gặp nhất là tai nạn giao thông va chạm xe mô tô với lực chấn thương lớn, lực chấn thương vừa như té trượt va chạm gối cũng có thể gây gãy đầu dưới xương đùi ở người lớn tuổi [1], [5]
Nẹp vít khóa là loại nẹp thích hợp với các kiểu gãy phức tạp, chất lượng xương kém, có thể kết hợp xương (KHX) vững chắc tuyệt đối, phục hồi giải phẫu tạo điều kiện cho BN tập vận động sớm tránh được các biến chứng như teo cơ tứ đầu đùi, gập góc, kênh mặt khớp, cứng gối dẫn đến hư khớp gối [3]
Trang 2Vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Cần Thơ nói riêng chưa có nhiều các nghiên cứu về tính ưu việt của nẹp vít khóa đối với loại gãy này Vì thế, để xây dựng một phác đồ hiệu quả và an toàn bệnh nhân, chúng tôi tiến hành triển khai nghiên cứu với
mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị gãy kín đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khóa
II.ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân gãy kín đầu dưới xương đùi điều trị tại khoa Chấn thương Chỉnh hình Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ tháng 2/2016 đến tháng 4/2017
*Tiêu chuẩn chọn BN:
Trên 16 tuổi, gãy kín đầu dưới xương đùi, tổng trạng bệnh nhân cho phép phẫu thuật và đồng ý điều trị phẫu thuật bằng nẹp vít khóa
*Tiêu chuẩn loại trừ:
Không đồng ý phẫu thuật bằng nẹp vít khóa, gãy xương bệnh lý, gãy xương nơi khác kèm theo, gãy đầu dưới xương đùi kèm theo các biến chứng: gãy hở, chèn ép khoang , tổng trạng BN không cho phép phẫu thuật
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: mô tả lâm sàng tiến cứu không nhóm chứng
Cỡ mẫu:
n= (Z1-α/2)2 𝑝(1−𝑝)
𝑑2
Trong đó:
n: cỡ mẫu
p: trị số mong muốn của tỷ lệ Dựa vào cỡ mẫu nghiên cứu của Nguyễn Thanh Huy [3] năm 2012 là 34 bệnh nhân, đánh giá kết quả điều trị theo kết quả liền xương là 97.1%, theo thang điểm Lambert & Schatzker: tốt là 76.5%, khá tốt là 14.7% Chúng tôi chọn p= 0.971
d: sai số cho phép, chọn d=5%
Z: trị số từ phân phối chuẩn
α: mức ý nghĩa, chọn α= 0.05 => Z1-α/2 = 1.96
Từ đó, tính được cỡ mẫu n = 43.27 ~ 44 mẫu
Phương pháp chọn mẫu: tất cả các bệnh nhân đủ tiêu chuẩn chọn, loại bỏ các mẫu
có bất kỳ tiêu chuẩn loại trừ nào, chọn mẫu thuận tiện, thực tế chúng tôi thu thập được 50 trường hợp
Nội dung nghiên cứu: kết quả điều trị KHX bằng nẹp vít khóa, tập VLTL, theo dõi kết quả sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và trên 10 tháng
Các bước phẫu thuật:
Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn thấu quang, gối gấp 30o.
Rạch da mặt ngoài dọc theo thân đến lồi cầu bên xương đùi, có thể cắt dọc bao khớp ngoài bánh chè tiếp cận xương gãy Tiến hành nắn chỉnh, cố định tạm mảnh gãy bằng đinh Steimann, đinh Kirschner,hoặc vít xốp Đặt nẹp vít khóa ở mặt ngoài, đầu nẹp đảm bảo nằm cách mặt khớp dưới và mặt khớp trên lồi cầu đùi từ 1-1.5cm Chiều dài nẹp thường lựa chọn theo mặt gãy nhưng phải đảm bảo ít nhất
Trang 3 Mang nẹp bột đùi cẳng bàn chân, kê cao chi, chườm lạnh sau phẫu thuật
Hình 1 Các bước phẫu thuật KHX bằng nẹp vít khóa Sau 10 tháng đánh giá kết quả theo thang điểm Lambert và Schatzker:
Tốt:
Duỗi gối hoàn toàn
Hạn chế gấp gối < 10 độ
Gối không biến dạng khép hay dạng, không di lệch xoay
Không đau
Mặt khớp phục hồi tốt
Khá: có chỉ 1 trong các yếu tố sau
Ngắn chi <1cm
Gối biến dạng khép hay dạng dưới 10o
Hạn chế gấp gối từ 10o đến 20o
Đau âm ỉ
Trung bình: có từ 2 yếu tố trên trở lên
Kém: bất cứ tiêu chuẩn nào dưới đây
Mặt khớp bị kênh
Gối biến dạng khép hay dạng hơn 15 độ
Gối gấp chỉ được 90o hay ít hơn
Đau nhiều
III KẾT QUẢ
Có 28 BN nam chiếm tỉ lệ 56%, 22 BN nữ chiếm tỉ lệ 44%
Tuổi trung bình là 44.48 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 17 tuổi, lớn nhất là 87 tuổi
Nguyên nhân: tai nạn giao thông (TNGT) chiếm 68% với cơ chế va chạm trực tiếp
là 94% Nghề nghiệp chủ yếu là nông dân chiếm 40.7 %
Trang 41 3
14
0
10 12 6
0 5 10
15
Phân loại:
Biểu đồ 1 Số BN gãy xương phân loại theo kiểu gãy theo AO
*Nhận xét:
Gãy kiểu A là 18/50 BN (36%), trong đó gãy kiểu A1 là 1/50 BN, A2 là 3/50
BN, A3 là 14/50 BN
Gãy kiểu B là 4/50 BN (8%), trong đó gãy kiểu B1 là 2/50 BN, B2 là 2/50 BN Gãy kiểu C là 28 BN (56%), trong đó gãy kiểu C1 là 10/50 BN, C2 là 12/50
BN, C3 là 6/50 BN
Liền xương là: 49/50 BN chiếm tỉ lệ 98%
Kết quả gấp gối trung bình : 118.100±14.3890 (nhỏ nhất là 600, lớn nhất 1300)
Kết quả duỗi gối trung bình: 50 (nhỏ nhất là 00, lớn nhất là 100)
Ghép xương: Có 14 trường hợp ghép xương nhân tạo, trong đó: tất cả các BN đều
trên 60 tuổi chất lượng xương kém, 13 BN nữ và 1 BN nam, gãy kiểu C có 8 BN, gãy kiểu
B có 1 BN, gãy kiểu A có 5 BN
Biến chứng
1 BN: nhiễm trùng nông, điều trị hết nhiễm trùng sau 3 tháng, khớp giả sau 10 tháng
1 BN gãy lại nẹp do TNGT, được phẫu thuật KHX bằng đinh chốt nội tủy ngược dòng
1 BN gãy lại xương do tập VLTL được phẫu thuật KHX bằng nẹp vít khóa dài hơn
2 BN kênh mặt khớp gối >5mm sau 10 tháng
2 BN lệch trục chi dưới: 1 BN lệch trục vẹo ngoài > 100, 1 BN lệch trục vẹo trong > 50
Kết quả điều trị sau 10 tháng:
Bảng 1 Kết quả điều trị theo thang điểm Lambert và Schatzker
*Nhận xét:
Có 37/50 BN đạt kết quả tốt, chiếm tỉ lệ 74%
Có 10/50 BN đạt kết quả khá, chiếm tỉ lệ 20%
Có 3/50 BN đạt kết quả trung bình, chiếm tỉ lệ 6%
Case lâm sàng:
Trang 5Hình 2: X-quang trước mổ Hình 3: X-quang sau mổ
Hình 4: Kết quả sau 10 tháng
IV BÀN LUẬN
Nhìn chung, độ tuổi lao động (từ 17 tuổi đến 50 tuổi), TNGT với cơ chế trực tiếp chiếm tỉ lệ cao trong nghiên cứu (72%) Tương tự, nghiên cứu của Nguyễn Thanh Huy [3], Nguyễn Quốc Trị [4] tỉ lệ TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất, điều này cho thấy TNGT là một vấn nạn cần được quan tâm hàng đầu và cần thêm nhiều biện pháp để giảm thiểu tỉ lệ này Bên cạnh đó, việc tư vấn và dự phòng người cao tuổi tai nạn sinh hoạt tại nhà như trượt té cần được quan tâm nhiều hơn vì tuổi này rất dễ gãy xương phức tạp, khó điều trị
Gãy kiểu C trong nghiên cứu là 28 BN, chiếm tỉ lệ cao nhất (56%), trong đó C1 có
10 BN chiếm tỉ lệ 20%, C2 có 12 BN chiếm tỉ lệ 24%, C3 có 6 BN chiếm 12%, điều này phù hợp với lực chấn thương năng lượng cao trực tiếp vào lồi cầu đùi
Trong nghiên cứu chúng tôi, tất cả các trường hợp đều tiếp cận xương gãy bằng đường mổ bên ngoài dọc theo thân xương đùi và lồi cầu đùi (Swashbuckler) Nghiên cứu của Manjit [9] tiếp cận xương gãy từ đường bên và đường trước Nghiên cứu của Zhang Bin [12], với trường hợp gãy kiểu C, thực hiện trên 10 xác có đường mổ tiếp cận trước ngoài chữ “S” không cắt dải chậu chày, tiếp cận ổ gãy nhanh hơn và biến chứng sẹo dính sau mổ ít hơn giúp phục hồi tầm vận động khớp gối tốt hơn, chúng ta cần thêm nhiều nghiên cứu nữa trong tương lai
Trong nghiên cứu chúng tôi, tất cả các BN đều được bắt 1 nẹp vít khóa mặt bên ngoài xương gãy Theo Steinberg [11] các trường hợp gãy kiểu C2 hoặc C3, tác giả thực hiện bắt 1 nẹp vít khóa mặt bên ngoài và 1 nẹp vít mặt trong Theo Zhibiao Bai [13] so sánh giữa 2 phương pháp bắt 1 nẹp và bắt 2 nẹp đã nhận định: trường hợp gãy kiểu C phức tạp kèm theo test varus gối dương tính nên sử dụng phương pháp 2 nẹp, giảm thiểu được biến chứng gối vẹo trong, tuy nhiên tỉ lệ ghép xương ở nhóm này (91.7%) cao hơn nhóm bắt 1 nẹp (40.4%), theo dõi lượng máu mất, thời gian phẫu thuât, thời gian lành xương,
Trang 6chức năng gối sau 2 năm không có sự khác biệt đáng kể, cần thêm nhiều nghiên cứu để sáng tỏ vấn đề này
Trong nghiên cứu của chúng tôi sau 10 tháng, tỉ lệ liền xương là 49/50 BN chiếm 98%, trong đó có 14/50 BN cần ghép xương đều thuộc gãy kiểu C, BN lớn tuổi Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Huy [3], 33/34 trường hợp liền xương sau 10 tháng Nghiên cứu của Dillip Kumar [6] có 31/34 trường hợp liền xương sau 28.64 tuần Những nghiên cứu trên cho thấy hiệu quả của phẫu thuật gãy đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khóa cho kết quả rất khả quan
Sau 10 tháng, chúng tôi ghi nhận biên độ gấp gối trung bình trong nghiên cứu là 117.70, biên độ duỗi gối đều đạt từ 50 độ đến 100 Có 2 BN gấp gối có biên độ kém nhất đều là BN nữ Một bệnh nhân 80 tuổi gãy kiểu C2, đạt biên độ gấp là 600, một BN 70 tuổi gãy kiểu C1, đạt biên độ gấp là 800
Đánh giá kết quả điều trị theo tiêu chuẩn của Lambert và Schatzker: tỉ lệ BN đạt tiêu chuẩn khá tốt trong nghiên cứu chúng tôi là 94% Theo Nguyễn Thanh Huy [3] đạt 91.2%, theo Shiblee và cộng sự [10] đạt 89%, theo Jagandeep và cộng sự [7] đạt 80% Đây là một kết quả rất khả quan trong việc điều trị gãy đầu dưới xương đùi bẳng nẹp vít khóa
V.KẾT LUẬN
Nẹp vít khóa có thể điều trị cho tất cả các kiểu gãy đầu dưới xương đùi, có thể áp dụng cho BN loãng xương, tỉ lệ liền xương cao 98%, đạt kết quả khá tốt 94%
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Đặng Hạnh Đệ (2012), “Gãy đầu dưới xương đùi”, cấp cứu ngoại khoa tập 2, NXB giáo dục Việt Nam, tr 563-567
2 Bùi Văn Đức (1989), “Gãy đầu dưới xương đùi”, Bài giảng Bệnh học Ngoại khoa tập V Trường Đại học Y-Dược TP HCM, Tp Hồ Chí Minh, tr.270-276
3 Nguyễn Thanh Huy, Trương Trí Hữu (2013), “Đánh giá kết quả bước đầu điều trị gãy đầu dưới xương đùi bằng nẹp vít khóa” , tạp chí Y học thực hành số 944-2014-hội nghị khoa học y dược Đồng bằng sông Cửu Long mở rộng lần thứ V, Bộ Y tế, tr 90-92
4 Nguyễn Quốc Trị (2002), ”Cắt lọc và kết hợp xương cấp cứu trong điều trị gãy hở đầu dưới xương đùi”, Luận án chuyên khoa II chấn thương chỉnh hình, trường đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh
5 Cory A, Collinge and Donald A Wiss (2015), “Distal femur fractures”, Rockwood and Green’s Fracture in Aldults-chapter 53-section4- volume 2, Wolters Kluwer, pp
2229-2265
6 Dillip Kumar Chand (2017), “Distal femur fracture fixation by LCP- 2 year experience”, International Journal of Orthopaedics Sciences volume 3, pp 814-818
7 Jagandeep Singh Virk (2016), “Distal Femur Locking Plate: The Answer to All DistalFemoral Fractures”, Journal of Clinical and Diagnostic Research volume 10, pp 01-05
8 Kenneth A Egol, Kenneth J Koval, Joseph D Zuckerman (2015), “Distal femur”, Handbook of Fracture edition 5 th , Wolters Kluwer, pp 383-390
9 Manjit S Daroch (2017), “Management of intra-articular fracture of distal femur with LCP and Lag screws in adults”, International Journal of Research in Medical Sciences volume 5, pp 1434-1438
10 Shiblee (2014), “Functional outcome of ORIF of distal femur fracture (AO TYPE B) with
Trang 712 Zhang Bin (2014), “A New Anterolateral Approach for Type C Fractures of the Distal Femur”, Internation Surgery, pp 875-879
13 Zhibiao Bai (2018),“Comparison of Clinical Efcacy of Lateral and Lateral and Medial Double-plating Fixation of Distal Femoral Fractures” , The frst Afliated Hospital of
Chongqing Medical University, Chongqing
(Ngày nhận bài: 01/8/2018- Ngày duyệt đăng: 23/9/2018)