Tiền lương và các khoản phải trích theo lương của Công ty Cổ phần Quảng cáo Việt (2)
Trang 1DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
-Văn kiện đại hội Đảng VI
-Văn kiện đại hội Đảng IX
-Văn kiện đại hội Đảng X
-Tap chí cộng sản điện tử
-Báo điện tử Đảng cộng sản VIỆT NAM
-Báo nhân dân online
-Gíao trình triết học MÁC –LÊNIN
-Giáo trình kinh tế chính trị MáC LÊNIN
Trang 2A.GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Mâu thuẫn là hiện tượng có trong tất cả các lĩnh vực:chính trị ,kinhtế,xã hội,khoa học … ,từ thế giới tự nhiên đến thế giới tư duy trừu tượng.Mâuthuẫn là một phần tất yếu của sự vật ,hiện tượng và tồn tại khách quan.TheoLênin,quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là “ hạt nhân” củaphép biện chứng để giải thích thế giới khách quan
Nước ta từ năm 1986,nước ta đã thực hiện đổi mới chính sách kinh tế từ
cơ chế quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nướctheo định hướng xã hội chủ nghĩa.theo đó đặc điểm nổi bật của nền kinh tếthời kì quá độ nước ta là nền kinhtế nhiều thành phần.trong nền kinh tế nhiềuthành phần ở nước ta hiện nay cũng có rất nhiều mâu thuẫn như :mâu thuẫngiữa giai cấp vô sản và tư sản,mâu thuẫn giữa các hình thức sở hữu tư liệu sảnxuất,mâu thuẫn giữa tư tưởng cũ và mới, Yêu cầu hiện nay đối với conđường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là làm sao giảI quyết tốt các mâuthuẫn.vậy các mâu thuẫn quá trình xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần ởnước ta hiện nay là gì? thực trạng các vấn đề đó ra sao? Hướng giảI quyếtnhư thế nào?
Đó là lí do vì sao em chọn đề tài :”Mâu thuẫn biện chứng trong quá
trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần“ để làm đề tài tiểu
luận triết
Trang 3Vậy,mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm ,những thuộc tính,những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau
Ví dụ:trong nguyên tử có điện tích dương và điện tích âm,trong sinh vật
có đồng hoá và dị hoá,trong kinh tế có quy luật cung và cầu,trong vật lí cóquá trình ngưng tụ và bay hơi…
Các mặt đối lập tồn tại độc lập, khách quan và phổ biến trong tất cả các
sự vật ,hiện tượng Nhưng chỉ có những mặt đối lập là tồn tại thống nhất trongcùng một sự vật như một chỉnh thể, nhưng có khuynh hướng phát triển ngượcchiều nhau, bài trừ, phủ định và chuyển hoá lẫn nhau (Sự chuyển hoá này tạothành nguồn gốc động lực, đồng thời quy định bản chất, khuynh hướng pháttriển của sự vật) thì có hai mặt đối lập như vậy mới gọi là hai mặt đối lập mâuthuẫn Trong một sự vật hiện tượng không phảI chỉ tồn tại hai mặt đối lập mà
có thể tồn tại nhiều mặt đối lập một lúc.Các mặt đối lập tạp nên mâu thuẫnbên trong sự vật hiện tượng.Quan hệ giữa các mặt đối lập gồm hai mặt :thốngnhất và đấu tranh
Trang 4*Sự thống nhất giữa các mặt đối lập
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau ,không táchrời nhau giữa các mặt đối lập,sự tồn tại của mặt này phảI lấy sự tồn tại củamặt kia làm tiền đề
Các mặt đối lập trong một sự vật hiện tượng mà không có sự thống nhấtthì không thể tạo thành sự vật.Sự thống nhất này là sự thống nhất từ bêntrong,do nhu cầu tồn tại ,nhu cầu vận động và phát triển của các mặt đốilập,nếu bị phá huỷ thì sự vật không còn tồn tại nữa Và nếu thiếu một tronghai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì nhất định không có sự tồn tại của sựvật
Bởi vậy sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không thể thiếuđược cho sự tồn tại của bất kỳ sự vật hiện tượng nào
Ví dụ: Lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất trong phương thức sảnxuất Khi lực lượng sản xuất phát triển thì cùng với nmó quan hệ sản xuấtcũng phát triển Hai hình thức này chính là điều kiện tiền đề cho sự phát triểncủa phương thức sản xuất Nhưng trong quan hệ của lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất phải thoả mãn một số yêu cầu sau:
- Thứ nhất: Đó phải là một khái niệm chung nhất được khai quát từ cácmặt phù hợp khác nhau phản ánh được banr chất của sự phù hợp của lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất
- Thứ hai: Đó phải là một khái niệm “động” phản ánh được trạng tháibiến đổi thường xuyên của sự vận động, phát triển trong quan hệ của quan hệsản xuất và lực lượng sản xuất
- Thứ ba: Đó phải là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn Ngoài ý nghĩanhận thức, khái niệm về sự phù hợp của quan hệ sản xuất và lực lượng sản
Trang 5xuất được coi là thoả đáng phái có tác dụng định hướng, chỉ dẫn cho việc xâydựng quan hệ sản xuất, sao cho những quan hệ sản xuất có khả năng phù hợpcao nhất với lực lượng sản xuất.
Theo nghĩa hẹp sự thống nhất được hiểu là sự đồng nhất ,sự phù hợp,sựtác động ngang nhau,hay nói cách khác là giữa các mặt đối lập có các điểmgiống nhau.Thống nhất trong trường hợp này được hiểu như là một trạng tháI
mà những yếu tố chung của hai mặt đối lập giữ vai trò chi phối.Đó là một trạng tháI cân bằng của mâu thuẫn.Tuy nhiên , khái niệm thống nhất nàychỉ mang tính tương đối,tạm thời
*Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừphủ định lẫn nhau
Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các mặt trong thếgiới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,tuỳ thuộc vào tínhchất ,vào mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập và tuỳ điều kiện cụ thểdiễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng Đấu tranh trongmỗi lĩnh vực ,mỗi thời kìlịch sử,mỗi trình độ,và bản thân từng mâu thuẫn cũng khác nhau
Qúa trình đấu tranh của các mặt đối lập được chia làm nhiều giai đoạn:lúc đầumới xuất hiện mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản ,nhưng thưo xu hướngtrái ngựoc nhau Tất nhiên không phải bất kỳ sự khác nhau nào cũng được gọi
là mâu thuẫn Chỉ có những khác nhau tồn tại trong một sự vật nhưng liên hệhữu cơ với nhau, phát triển ngược chiều nhau, tạo thành động lực bên trongcủa sự phát triển thì hai mặt đối lập ây mới hình thành bước đầu cuả một mâuthuẫn Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và đi đến đối lập Khi hai mặtđối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện ,mâu thuẫn nảy sinh và yêu cầu phảigiải quyết mâu thuẫn
Trang 6Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai cấp có đối kháng mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất tiên tiến với quan hệ sản xuât lạc hậu kìmhãm nó diễn ra rất quyết liệt và gay gắt Chỉ thông qua các cuộc cách mạng
xã hội bằng rất nhiều hình thức, kể cả bạo lực mới có thể giải quyết mâuthuẫn một cách căn bản.Kết quả của quá trình đấu tranh là cả hai cùng mấthoặc một mất một còn,hoặc cả hai cùng còn hoặc chúng chuyển hoá lẫn nhau
Sự đấu tranh mang tính tuyệt đối ,khi một mâu thuẫn được giải quyết thì mâuthuẫn mới lại nảy sinh.Đấu tranh diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quátrình tồn tại của sự vật,kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng như khichuyển hoá nhảy vọt về chất
*Sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập
Sự chuyển hoá giữa các mặt đối lập là tất yếu ,là kết quả của sự đấu tranhgiữa hai mặt đối lập khi mâu thuẫn được giải quyết Hình thức chuyển hoá rất
đa dạng:chuyển hoá một phần hoặc toàn bộ
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sựchuyển hoá giữa chúng Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phất triển đếnmột trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện càn thiết mới dẫn đến chuyểnhoá, bài trừ và phủ định nhau Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặtđối lập thường diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá của cácmặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của conngười
Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy moc Thông thường thì mâu thuẫnchuyển hoá theo hai phương thức:
+ Phương thức thứ nhất: Mặt đối lập này chuyển hoá thành mặt đối lập kianhưng ở trình độ cao hơn xét về phương diện chất của sự vật
Trang 7Ví dụ: Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xã hội phong kiến đấutranh chuyển hoá lẫn nhau để hình thành quan hệ sản xuất mới là quan hệ sảnxuất tư bản chủ nghĩa và lực lượng sản xuất mới ở trình độ cao hơn.
+ Phương thức thứ hai: Cả hai mặt đối lập chuyển hoá lẫn nhau để thành hai mặt đối lập mới hoàn toàn
Ví dụ: Nền kinh tế Việt Nam chuyển từ nến kinh tế kế hoạch hoá tập trung,quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theođịnh hướng xã hội chủ nghĩa
*Mâu thuẫn là nguồn gốc,động lực của sự vận động và phát triển
Có nhiều hình thức đấu tranh nhưng tính chất chung,cơ bản của mọi cuộc đấutranh là đi đến cái mới ,xoá bỏ cái cũ,cái không phù hợp Cứ như thế, đấutranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp lêncao.Vậy,đấu tranh là động lực của sự phát triển.Lênin khẳng định “sự pháttriển là một cuộc đấu tranh giữa các mặt đôi lập”
Vậy, Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và phổ biến
Trong một mâu thuẫn có sự thống nhất của các mặt không tách rời sự đấutranh của chúng, bất cứ một sự thống nhất nào của các mặt đối lập mang tínhchất tạm thời tương đối còn sự đấu tranh là tuyệt đối Đấu tranh giữa các mặtđối lập là nguồn gốc của sự phát triển
2,CƠ SỞ THỰC TẾ
Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế hàng hoá nhiêù thành phần
Trang 8Theo quan điểm của đại hội VI của Đảng đến nay, theo đường lối đổi mới, đất nước ta đã từng bước chuyển sang nên kinh tế thị trường với định hướng
không phải nói về toàn bộ đặc điểm, tính chất và nội dung của nền kinh tế Do
đó, trong khi phê phán nghiêm khắc cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp và đề ra chủ trương đổi mới quản lý kinh tế (một bộ phận của đường lối đổi mới toàn diện), Đại hội VI khẳng định: “thực chất của cơ chế mới về quản
lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ
Phát triển thêm một bước, Đại hội VII (qua Cương lĩnh) đã xác định nền kinh
tế của ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước”
Bước II: Coi kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, không đối lập với chủ nghĩa xã hội Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa
nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994) nhận định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phầ đang hình thành Và cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đang trở thành cơ chế vận hành của nền kinh tế Có nghĩa là nền kinh tế của ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, còn có chế vận hành của nền kinh tế đó là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Trang 9Gần cuối nhiệm kỳ Đại hội VII, tại một nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác lý luận đã nhận định: “Thị trường và kinh tế thị trường không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản mà là thành tựu chung của văn minh nhân loại”.Theo nhận định này, thị trường, kinh tế thị trường đã từng tồn tại và phát triểnqua những phương thức sản xuất khác nhau Nó có trước chủ nghĩa tư bản, trong chủ nghĩa tư bản và cả sau chủ nghĩa tư bản Nếu trước chủ nghĩa tư bản
nó vận động và phát triển ở mức khởi phát, manh nha, còn ở trình độ thấp thì trong xã hội tư bản chủ nghĩa, nó đạt tới đỉnh cao đến mức chi phối toàn bộ cuộc sống của con người trong xã hội đó, làm cho người ta nghĩa rằng nó chính là chủ nghĩa tư bản Như vậy, trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, kinh tế thị trường còn tồn tại là tất yếu Vấn đề ở đây là liệu kinh tế thị trường có đối lập với chủ nghĩa xã hội không, và liệu việc xây dựng chủ nghĩa xã hội có đi đến phủ định kinh tế thị trường để rồi tạo nên một nền kinh tế hoàn toàn khác về chất là kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền kinh
tế vận động theo các quy luậtd dặc thù của chủ nghĩa xã hội hay không? Câu trả lời là không Quan điểm này cũng chính là quan điểm của Đại hội VIII (1996) khi Đại hội chủ trương: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng, xã hội chủ nghĩa”
Bước III: Coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh
tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ Đại hội IX của Đảng (2001)
ghi rõ: Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản
Trang 10xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xãhội, nâng cao đời sống nhân dân Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản
lý và phân phối
Kinh tế thị trường định hướng xã hội có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Theo Nghị quyết của Đại hội IX, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Các thành phần đó bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài
Bước IV: Gắn kinh tế thị trường của nước ta với nền kinh tế thị trương toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và đầy đủ hơn Đại hội X của
Đảng chủ trương: “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa” Bốn nội dung quan trọng nhất là: nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế nước ta, nâng cao vai trò và hoàn thiện quản
lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế và các loại hình sản xuất, kinh doanh
II THựC TRạNG VấN Đề PHáT TRIểN KINH Tế HàNG HOá NHIềU
THàNH PHầN ở VIệT NAM
1.TÍNH TẤT YẾU CỦA NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA NHIỀU THÀNH PHẦN Ở VIỆT NAM
Trang 11Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế trên là tất yếu khách quan ,được quyết định bởi :
-Sự phát triển của lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp ,không đồng
đều ,tương ứng với mỗi trình độ tất yếu có một kiểu quan hệ kinh tế Do
đó ,nền kinh tế xét về phưong diện cơ cấu kinh tế xã hội ,phảI là kinh tế nhiềuthành phần.Vậy nền kinh tế nhiều thành phần là phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất Sự phù hợp này ,đến lượt nó lại thúc đẩy tăng năng suất lao động ,tăng trưởng kinh tế ,tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế trong các thành phần và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập mà có quan hệ hữu cơ với nhau ,tạo thành cơ cấu kinh
-Trong điều kiện quốc tế hoá đời sống kinh tế , nhà nước XHCN phảI tiến hành hợp tác đầu tư với nước ngoài Do đó ,tất yếu phảI cùng với nhà nước tưbản,các công ty trong và ngoài nước tiến hành hợp tác kinh doanh ,tạo lập lực lượng kinh tế dân tộc ,làm ra đời và phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài và kinh tế tư bản nhà nước
Khẳng định sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở VIệT NAM ,đảng ta nêu quan điểm :”chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược
Trang 12lâu dài ,có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đI lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế bảo đảm cho mọingười được tự do làm ăn theo pháp luật “.Nhà nước cần có chính sach phù hợp với từng thành phần kinh tế nhằm thúc đẩy lực lượng sản xuất phat triển và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội
2,§Æc ®iÓm nÒn kinh tÕ nhiÒu thµnh phÇn ë VIÖT NAM
*Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay có 5 thành phần
-kinh tế nhà nước
-kinh tế tập thể
-kinh tế tư nhân: bao gồm kinh tế cá thể , tiểu chủ ,tư bản tư nhân
-kinh tế tư bản nhà nước
-kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
*Trong đó thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo ,là lực lượng vật chất quan trọng và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế Chế độ công hữu dưới hình thức kinh tế nhà nước hiện nay là tiêu biểu cho nhân tố xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta Tuy nhiên, nhân tố đó không tồn tại biệt lập, mà đan xen, xâm nhập vào các thành phần kinh tế khác, tạo nên những mầm mống xã hội chủ nghĩa trong lòng các thành phần kinh tế tư nhân; thông qua những hình thức kinh tế quá độ của chủnghĩa tư bản nhà nước
*Các thành phần kinh tế cùng phát triển lâu dài hợp tác và cạnh tranh lành mạnh Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phàn đI đôI với tăng cường quản lí của nhà nước về kinh tế xã hội
*Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta vừa vận động theo cơ chế thị trường ,vừa theo định hướng xã hôI chủ nghĩa
Trang 13Trong cơ chế thị trường,cá chủ thể kinh tế có tính độc lập,có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.Gía cả do thị trường quyết định ,hệ thống thị
trường được phát triển đầy đủ và có tác dụng làm cơ sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành và lĩnh vực Nền kinh tế vận đọng theo cơ chế thị trường khách quan
Tuy nhiên , Sự vận động của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường không thể nào giải quyết hết các vấn đề do chính cơ chế đó và bản than đời sống kinh tế - xã hội đặt ra Những tình trạng và hiện tượng trên ở những mức
độ khác nhau, trực tiếp hay giàn tiếp đều có sự tác động ngược lại làm cản trở
sự phát triển "bình thường" của một xã hội nói chung và nền kinh tế hàng hóa nói riêng Vì vậy sự tác động của Nhà nước – một chủ thể có khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật khác vào nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển kinh tế - xã hội Thiếu sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế để cho nền kinh tế thị trường tự do hoạt động, thì việc điều hành nền kinh tế nước ta
sẽ không có hiệu quả
3.NHỮNG THÀNH CÔNG SAU HƠN 20 NĂM XÂY DỰNG NỀN
KINH TẾ HÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN
3.1- Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, năm sau cao hơn năm trước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 5 năm (2001 - 2005) tăng bình quân7,5%/năm Năm 2005, GDP theo giá hiện hành ước đạt 838 nghìn tỉ đồng,bình quân đầu người trên 10,0 triệu đồng (tương đương khoảng 640 USD)
Nông nghiệp tiếp tục phát triển khá Năng suất, sản lượng và hàm lượng
công nghệ trong sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản tăng đáng kể;
an ninh lương thực quốc gia được bảo đảm; một số sản phẩm xuất khẩuchiếm được vị trí cao trên thị trường thế giới, bình quân lương thực đầu
Trang 14người tǎng.Trồng rừng, chăm súc và bảo vệ rừng đó cú bước tiến.Kết cấu hạtầng tiếp tục được đầu tư nhiều hơn Bộ mặt nụng thụn, đời sống nụng dõn,
kể cả ở miền nỳi, vựng dõn tộc thiểu số, cú bước được cải thiện Chươngtrỡnh xõy dựng cụm tuyến dõn cư và nhà ở vượt lũ ở đồng bằng sụng CửuLong đạt được kết quả bước đầu
Cụng nghiệp và xõy dựng liờn tục tăng trưởng cao Cụng nghiệp cú bước
chuyển biến tớch cực về cơ cấu sản xuất, chất lượng sản phẩm và sức cạnhtranh Giỏ trị sản xuất cụng nghiệp năm 2007 ước đạt 574 nghỡn tỷ đồng,tăng 17,1% so với năm 2006; trong đú, khu vực ngoài quốc doanh tăng20,9%, khu vực cú vốn đầu tư nước ngoài tăng 18,2% và khu vực doanhnghiệp nhà nước tăng 10,3% Một số sản phẩm cụng nghiệp đó cạnh tranhđược trờn thị trường trong và ngoài nước Ngành xõy dựng cú năng lực xõydựng tăng khỏ nhanh và cú bước tiến đỏng kể theo hướng hiện đại; việc xõydựng đụ thị, xõy dựng nhà ở đạt nhiều kết quả
Dịch vụ cú bước phỏt triển cả về quy mụ, ngành nghề, thị trường và cú tiến
bộ về hiệu quả với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Giỏ trị sản xuất
của cỏc ngành dịch vụ tăng
Dịch vụ vận tải tăng nhanh, đỏp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu Bưu chớnh viễn thụng phỏt triển nhanh theo hướng hiện đại Cỏc ngành vận tải hànghúa, mạng lưới và dịch vụ bưu chớnh, viễn thụng, internet trong nước vàquốc tế, cỏc dịch vụ tài chớnh, ngõn hàng, bảo hiểm…đều phỏt triển khỏ 3.2- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng cụng nghiệp hoỏ, hiện đạihoỏ
-Về cơ cấu ngành, tỉ trọng cụng nghiệp và xõy dựng trong GDP tăng; tỉ trọng
nụng, lõm nghiệp và thủy sản đó Cho đến năm 2007, chất lượng tăng
Trang 15trưởng của nền kinh tế từng bước được nâng lên thể hiện trên các chỉ số tăngtrưởng cao, duy trì tốc độ ổn định trên mọi lĩnh vực kinh tế Cơ cấu kinh tế
có bước chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xâydựng dịch vụ và giảm tỷ trọng khu vực nông nghiệp (khu vực nông nghiệpchiếm 20%; công nghiệp và xây dựng chiếm 41,5%, dịchvụ38,1% Trong từng ngành kinh tế đã có những chuyển dịch tích cực về cơ cấu sảnxuất, cơ cấu công nghệ theo hướng tiến bộ, hiệu quả, gắn sản xuất với thịtrường
Cơ cấu kinh tế vùng đã có bước điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế so
sánh của từng vùng; các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp, khu kinh
tế và vùng sản xuất chuyên môn hoá cây trồng, vật nuôi đang phát triển khánhanh, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng của nền kinh tế
Cơ cấu lao động đã có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế Tỉ trọng lao động của ngành công nghiệp và xây dựngngành dịch vụ tăng, lao động trong các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sảngiảm
Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm
năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu Khu vựckinh tế nhà nước đang được tổ chức lại, đổi mới, chi phối nhiều ngành kinh tếthen chốt và tập trung hơn vào những lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế Kinh
tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệu quả trên nhiều lĩnh vực,đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là giải quyết việclàm và cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, kinh tế hợp tác và hợp tác xãphát triển khá đa dạng Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởngtương đối caolà cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ,
Trang 16giao thương quốc tế Kinh tế tư nhân phát triển không hạn chế về quy mô vàđịa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm
3.3- Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh
Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá nhanh Vốn đầu tư của dân tăng nhanh.Đầu
tư đã tập trung hơn cho những mục tiêu quan trọng Quy mô vốn đầu tư ởcác vùng đều tăng; vùng nghèo, xã nghèo được Nhà nước quan tâm đầu tưnhiều hơn
Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đã tập trung cho việc xây dựng kết cấu hạtầng kinh tế, xã hội, phát triển nguồn nhân lực, xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợcác vùng khó khăn Vốn đầu tư của doanh nghiệp tăng nhanh, không chỉphát triển sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ mà còn tham giađầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị Vốn hỗ trợ phát triểnchính thức (ODA), vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục được duytrì và tăng thêm, tạo nhiều công trình kết cấu hạ tầng và sản phẩm xuất khẩu.Không chỉ có nguồn vốn ngân sách nhà nước tăng lên mà nguồn vốn huyđộng từ xã hội cho đầu tư phát triển cũng rất khả quan Năm 2007 khoảng462,2 nghìn tỷ đồng, bằng 40,5% GDP, tăng 15,9% so với năm 2006; trong
đó nguồn vốn từ khu vực dân cư và tư nhân chiếm 34,4% tổng vốn đầu tưtoàn xã hội, tăng 19,5% so với năm 2006
Đầu tư đã làm tăng đáng kể năng lực sản xuất, kinh doanh, tạo nhiều sảnphẩm có sức cạnh tranh, hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình kếtcấu hạ tầng kinh tế, xã hội, trong đó có nhiều công trình lớn, tăng cường tiềmlực và cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế
3.4- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựngbước đầu, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định
Trang 17Hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ; hoạt độngcủa các loại hình doanh nghiệp và bộ máy quản lý nhà nước được đổi mớimột bước quan trọng Một số loại thị trường mới hình thành; các loại thịtrường hàng hoá, dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, tài chính, bấtđộng sản có bước phát triển phù hợp với cơ chế mới,giữ được các cân đốikinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần thiết cho sựphát triển kinh tế.
Quỹ tiết kiệm tăng cao, nhờ đó đã có điều kiện vừa đẩy mạnh đầu tư pháttriển, vừa cải thiện đời sống nhân dân.Tiềm lực tài chính nhà nước ngàycàng được tăng cường.Chính sách tiền tệ được điều hành linh hoạt hơn, giátrị đồng tiền cơ bản ổn định; cán cân thanh toán quốc tế giữ được cân bằng,
dự trữ ngoại tệ tăng dần, giảm được tỉ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng;
nợ Chính phủ và nợ quốc gia vẫn trong giới hạn an toàn Ngân hàng nhànước, hệ thống Ngân hàng thương mại, Quỹ hỗ trợ phát triển và các quỹ đầu
tư, ngân hàng chính sách, thị trường chứng khoán, hệ thống tín dụng nhândân được chấn chỉnh, có bước phát triển, hiệu quả hoạt động tốt hơn
3.5- Hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến mới rất quantrọng
Quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế được mởrộng; việc thực hiện các cam kết về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, quá trình đàm phán gianhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiện các hiệp định hợp tác
đa phương, song phương khác đã góp phần tạo ra một bước phát triển mớirất quan trọng về kinh tế đối ngoại, nhất là xuất khẩu
Trang 18Xuất khẩu, nhập khẩu tăng nhanh Kim ngạch xuất khẩu năm 2007 ước đạt
48.387 tỷ USD, vượt 3,4% kế hoạch và tăng 21,5% so trước Thị trường xuấtkhẩu được mở rộng sang một số nước và khu vực, nhất là Hoa Kỳ
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giớiWTO vào ngày 11/01/2007
4.CÁC HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG NỀN KINH TẾHÀNG HOÁ NHIỀU THÀNH PHẦN
4.1)Chất lượng phát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh
tế còn kém
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào các nhân tố phát triển theo chiều rộng,vào những ngành và những sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, tiêu haovật chất cao, sử dụng nhiều tài nguyên, vốn và lao động Năng suất lao độngtăng chậm và còn thấp so với nhiều nước trong khu vực Khả năng cạnh tranhcủa nền kinh tế còn kém; chi phí kinh doanh cao, chất lượng và hiệu quả cònthấp Chưa thực hiện thật tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ vàcông bằng xã hội Môi trường ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởngnghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.Nguồn lực của đất nước chưa được sửdụng có hiệu quả cao, tài nguyên, đất đai và các nguồn vốn của Nhà nước còn
bị lãng phí, thất thoát nghiêm trọng Các nguồn lực trong dân còn nhiều tiềmnăng chưa được phát huy
4.2)Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm
Về chuyển dịch cơ cấu ngành: Mặc dù có tốc độ tăng cao trong những năm
gần đây, nhưng tỉ trọng dịch vụ trong GDP còn thấp, các loại dịch vụ caocấp, có giá trị tăng thêm lớn chưa phát triển mạnh Trong nông nghiệp, sảnxuất chưa gắn kết chặt chẽ và có hiệu quả cao với thị trường; việc đưa khoa
Trang 19học, công nghệ vào sản xuất còn chậm; công nghiệp hoá, hiện đại hoá nôngnghiệp và nông thôn vẫn còn lúng túng Trong công nghiệp, ít sản phẩm cóhàm lượng công nghệ và tri thức cao; công nghiệp công nghệ cao phát triểnchậm; một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng lớn còn mang tính giacông, lắp ráp, giá trị nội địa tăng chậm; công nghiệp bổ trợ kém phát triển;tốc độ đổi mới công nghệ còn chậm
Các vùng kinh tế trọng điểm chưa phát huy được các thế mạnh để đi nhanh
hơn vào cơ cấu kinh tế hiện đại Chính sách hỗ trợ các vùng kém phát triểnchưa đáp ứng được yêu cầu Sự liên kết vùng chưa được quan tâm đúngmức, hiệu quả thấp
Các thành phần kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Chưa tạo
được đầy đủ môi trường hợp tác, cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phầnkinh tế; chưa khai thác tốt các nguồn lực trong nước và người Việt Nam ởnước ngoài để đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh Việc sắp xếp, đổi mới,phát triển doanh nghiệp nhà nước còn chậm, hiệu quả hoạt động của doanhnghiệp nhà nước còn thấp Kinh tế tư nhân chưa được tạo đủ điều kiện thuậnlợi để phát triển, quy mô còn nhỏ, sức cạnh tranh còn yếu và chưa được quản
lý tốt Kinh tế tập thể kém hấp dẫn và phát triển chậm, còn nhiều lúng túng.Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển chưa tương xứng với tiềm năng,việc thu hút đầu tư nước ngoài còn kém so với một số nước trong khu vực Việc xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần hiện nay ở nước
ta mới ở giai đoạn đầu, xuất phát điểm còn thấp, nền kinh tế hàng hoá chưaphát triển; sản xuất còn mang nặng tính tự nhiên, tự cung, tự cấp Thể hiện ở
cơ sở vật chất, kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu pháttriển kinh tế nói chung và từng thành phần kinh tế nói riêng Nhìn chung, sảnxuất còn thủ công; năng suất lao động thấp, khối lượng ít, chất lượng và tỷ
Trang 20suất hàng hoá thấp, chưa đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại Việc hình thànhcác thành phần kinh tế mang nặng tính tự phát
Thành phần kinh tế quốc doanh đã nhiều năm tồn tại trong chế độ baocấp, chưa kịp chuyển sang cơ chế mới, độ nhạy cảm với thị trường còn thấp.Không ít các xí nghiệp quốc doanh trì trệ, bế tắc, không đứng vững trong cơchế mới, đây cũng là mảnh đất cho các hiện tượng tiêu cực nảy sinh và pháttriển Thành phần kinh tế tập thể giảm đi nhanh chóng cả trong lĩnh vực sảnxuất công nghiệp, thủ công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp, lĩnh vực lưuthông
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh tuy có phát triển nhưng mớichỉ tập trung vào các ngành không cần vốn lớn, thu lợi nhanh như dịch vụ ănuống, khách sạn, thương nghiệp Các thành phần kinh tế này chưa thực sựbình đẳng trong cạnh tranh Do còn có sự can thiệp về hành chính của cơ quannhà nước, nhất là các thủ tục hành chính nên họ thường chú trọng đến việctranh thủ các cơ quan, viên chức nhà nước để có những lợi thế trong cạnhtranh và thu nguồn lợi không từ sản xuất, kinh doanh
Tỉ trọng lao động trong nông nghiệp còn cao Lao động thiếu việc làm và
không có việc làm còn nhiều Tỉ lệ lao động qua đào tạo rất thấp
Cơ cấu đầu tư chưa thật hợp lý, chưa hướng mạnh vào đầu tư chiều sâu, vào
các ngành có giá trị tăng thêm cao và tạo nhiều việc làm Đầu tư từ ngânsách nhà nước và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước còn dàn trải, thất thoát,hiệu quả thấp Một số công trình lớn, quan trọng cấp quốc gia không hoànthành theo kế hoạch Năng lực sản xuất của một số ngành và sản phẩm quantrọng, thiết yếu tăng chậm
Trang 21Công tác qui hoạch chất lượng thấp, quản lý còn kém và chưa phù hợp với
cơ chế thị trường
4.3)Kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đáp ứng yêu cầu phát triển
Tuy đã có cố gắng đầu tư, song kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vẫn còn lạchậu, thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu, hạn chế sự phát triển kinh tế
- xã hội
Hệ thống đường bộ chưa hoàn chỉnh, chất lượng thấp, nhiều nơi còn bị tắcnghẽn; chưa bảo đảm giao thông thông suốt trong mùa mưa ở các khu vựcthường bị ngập lụt và miền núi Hệ thống cảng biển, đường sắt, hàng khôngcòn bất cập về năng lực vận chuyển, khả năng kho bãi, về thông tin, quản lý;chi phí dịch vụ vận tải còn cao
Hệ thống thuỷ lợi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp và nôngthôn; các hồ chứa nước ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền núichưa được đầu tư hoàn chỉnh; chất lượng một số công trình thấp, hiệu quả sửdụng kém Các công trình thuỷ lợi tập trung nhiều cho sản xuất lúa, chưaphục vụ tốt cho phát triển cây công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản Hệ thốngthuỷ lợi ở đồng bằng Sông Cửu Long đầu tư thiếu đồng bộ, còn nhiều yếukém, bất cập Quản lý nguồn nước còn bị buông lỏng
Hệ thống điện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cả về nguồn điện, lưới điện
và chất lượng; tỉ lệ tổn thất còn cao Một số công trình điện không hoànthành đúng kế hoạch, gây thiếu điện trong thời gian cao điểm và khi có hạnhán nghiêm trọng
Hạ tầng bưu chính, viễn thông vẫn thiếu đồng bộ; chất lượng dịch vụ cònthấp; giá dịch vụ còn cao; hoạt động bưu chính - viễn thông ở vùng sâu,vùng xa chưa đáp ứng yêu cầu
Trang 22Kết cấu hạ tầng đô thị phát triển chậm, chất lượng quy hoạch đô thị thấp Hệthống cấp nước kém phát triển Thiết bị xử lý nước lạc hậu, chất lượng nướckém; quản lý đô thị kém Hệ thống phân phối nước và nguồn nước nhiều nơichưa được đầu tư đồng bộ Hệ thống xử lý chất thải sinh hoạt và chất thảicông nghiệp vừa thiếu, vừa kém chất lượng; chưa ngăn chặn được tình trạng
ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng
Hạ tầng cho giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao còn thiếu, chưa đồng
An ninh năng lượng, cán cân thương mại, cán cân vãng lai và thanh toánquốc tế, dự trữ quốc gia, cân đối ngân sách chưa đủ vững chắc để đối phóvới các tình huống biến động lớn, đột xuất có thể xảy ra
Thu ngân sách còn phụ thuộc nhiều vào nguồn thu từ thuế nhập khẩu và dầuthô Hoạt động của hệ thống ngân hàng còn nhiều yếu kém, chất lượng tíndụng thấp, nợ xấu còn cao
Trong tình hình giá cả thế giới có nhiều biến động, công tác quản lý giá cảthị trường, lưu thông tiền tệ có mặt chưa phù hợp, lúng túng, để xảy ra đầu
cơ gây đột biến giá một số mặt hàng thiết yếu, bất lợi cho hoạt động kinhdoanh và đời sống