Giới thiệu tổng quan Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước giai đoạn vừa qua với vai trò là công cụ tài chính – tín dụng của Nhà nước đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng
Trang 11 |
Viện Chiến lược và Chính sách tài chính
ĐỀ CƯƠNG BÁO CÁO KHẢO SÁT ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐẦU TƯ PHÁT
TRIỂN NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2008 - 2012
1 Giới thiệu tổng quan
Tín dụng đầu tư phát triển nhà nước giai đoạn vừa qua với vai trò là công cụ tài chính – tín dụng của Nhà nước đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư cho tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội của các vùng/miền, thúc đẩy phát triển một số lĩnh vực, chương trình, dự án, sản phẩm trọng điểm của nền kinh tế… Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động tín dụng đầu tư Nhà nước còn chưa cao, đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế
xã hội Do vậy, khảo sát đánh giá chính sách tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu nhằm đánh giá những thuận lợi và khó khăn, vướng mắc của địa phương trong việc thực hiện các chính sách này là rất cần thiết nhằm rà soát cơ chế chính sách, theo đó đề xuất sửa đổi nhằm hoàn thiện cơ chế chính sách góp phần hỗ trợ phát triển nền kinh tế
Khảo sát được thực hiện tại 17 tỉnh, thành phố trên 3 miền Bắc – Trung – Nam (Miền Bắc: Hà nội, Ninh Bình, Thái Bình, Nam Định; Miền Trung: Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên, Gia Lai, Kontum, Khánh Hòa; Miền Nam: TP.HCM, Bình Phước, Tây Ninh, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng)
2 Nội dung và phạm vi khảo sát
2.1 Phạm vi chính sách tín dụng đầu tư phát triển nhà nước
2.1.1 Đối tượng cho vay của TD đầu tư phát triển NN
- Tín dụng đầu tư:
Hiện nay tín dụng đầu tư được thực hiện qua 2 kênh, ngân hàng phát triển Việt Nam (VDB) và Quỹ đầu tư phát triển địa phương (QĐT)
Trang 22 |
Với VDB, TDĐT được cho vay theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP về
TD đầu tư và TD xuất khẩu của Nhà nước Trong đó, đối tượng cho vay là các chủ đầu tư có dự án đầu tư thuộc danh mục được ban hành kèm theo Nghị định Cụ thể, có 5 nhóm ngành nghề, lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định gồm: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; Nông nghiệp – nông thôn; Công nghiệp; Các dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế -
xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, dự án tại vùng đồng bào dân tộc Khơ
me sinh sống tập trung, các xã thuộc chương trình 135, các xã biên giới thuộc chương trình 120 và các xã vùng bãi ngang; Các dự án cho vay theo hiệp định Chính phủ, các dự án đầu tư ra nước ngoài theo quyết định của thủ tướng Chính phủ, các dự án cho vay theo chương trình mục tiêu sử dụng vốn nước ngoài
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, đối tượng cho vay của TD đầu tư Nhà nước luôn được điều chỉnh kịp thời theo diễn biến của từng thời
kỳ Các nhóm đối tượng sẽ được đem ra xem xét, mở rộng hoặc thu hẹp tùy thuộc theo nhu cầu của nền kinh tế khoảng 2 năm một lần Tại thời điểm hiện nay, chỉ có 16 loại dự án cụ thể thuộc 5 nhóm ngành nghề lĩnh vực trên và có quy mô lớn (nhóm A, B) thuộc đối tượng hỗ trợ của TDĐT Nhà
nước Ngoài ra, theo Quyết định 369/QĐ-TTg vừa được ban hành cuối
tháng 2/2013 về “Chiến lược phát triển VDB đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”, hoạt động TDĐT được tập trung vào các lĩnh vực: cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; công nghiệp phụ trợ; nông nghiệp nông thôn; xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường và công nghệ xanh; năng lượng sạch và năng lượng tái tạo
Với Quỹ ĐTPT địa phương, đối tượng cho vay được quy định tại
Nghị định 138/2007/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát
triển địa phương tập trung 2 lĩnh vực gồm: (i) Các dự án về: giao thông;
cấp nước; nhà ở khu đô thị, khu dân cư; di chuyển sắp xếp lại các cơ sở sản xuất; xử lý rác thải của các đô thị; (ii) Các dự án quan trọng do Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh quyết định (Nghị định 138/2007/NĐ-CP) Tuy nhiên, kể
từ ngày 10/6/2013 Quỹ ĐTPTĐP cho vay đầu tư đối với các đối tượng là các dự án đầu tư thuộc danh mục các lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội ưu tiên phát triển của địa phương, bao gồm 5 lĩnh vực gồm: (i) kết cấu
hạ tầng giao thông, năng lượng, môi trường; (ii) Công nghiệp, công nghiệp
hỗ trợ; (iii) nông lâm ngư nghiệp và phát triển nông thôn; (iv) xã hội hóa hạ tầng xã hội; (v) lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khác tại địa phương
Nhìn chung, xem xét danh mục dự án đầu tư cho thấy, hướng ưu tiên
sẽ dành nhiều hơn cho các dự án thực hiện các mục tiêu chính trị - xã hội (các dự án nhóm A, B), các dự án mà khu vực tư nhân không đủ điều kiện/hoặc không đầu tư Tuy nhiên, đây cũng là những dự án mà hiệu quả
đầu tư không cao
Trang 33 |
Ngoài ra, TD đầu tư chủ yếu tập trung cho ngành công nghiệp (bình quân giai đoạn 2006-2010 chiếm tới 78% tổng dư nợ tín dụng đầu tư), trong khi đó các ngành còn lại chiếm tỷ lệ rất thấp (nông nghiệp 10,5%, giao thông vận tại và thông tin liên lạc chiếm 7,75%, còn lại 4,75%) Trong khi hiệu quả tín dụng đầu tư của các dự án ngành công nghiệp trong giai
đoạn vừa qua còn chưa cao thì đây lại là ngành có dư nợ tín dụng cao nhất?
- Tín dụng xuất khẩu:
Loại hình hỗ trợ này chỉ được thực hiện qua VDB theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, nhắm tới đối tượng cho vay là nhà xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu và nhà nhập khẩu nước ngoài có hợp đồng nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục
mặt hàng vay vốn TDXK gồm có 4 nhóm hàng: Nông, lâm, thủy sản; Thủ
công mỹ nghệ; Sản phẩm công nghiệp; Phần mềm tin học Cũng theo
Quyết định 360/QĐ-TTg về chiến lược phát triển VDB đến năm 2020 và tầm nhìn 2030, hoạt động TD XK được tập trung vào những ngành hàng
quan trọng đem lại giá trị xuất khẩu cao, cần có sự hỗ trợ của Nhà nước đồng thời đảm bảo thực hiện các cam kết quốc tế
Thực hiện Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính Phủ,
theo Nghị định 54/2013/NĐ-CP (ngày 22/5/2013) về bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2011/NĐ-CP, VDB sẽ cho vay đối với các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn để mua thức ăn chăn nuôi thủy sản phục vụ xuất khẩu theo cơ chế vay vốn TD xuất khẩu của Nhà nước Như vậy, đây là một hình thức để hỗ trợ ngành thủy sản trong khi thủy sản đang là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng dư nợ TD xuất khẩu
2.1.2 Điều kiện cho vay:
- Tín dụng đầu tư: hoạt động tín dụng đầu tư của VDB được thực
hiện theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP và được cụ thể hóa trong Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 41/QĐ-HĐQL về cho vay vốn tín dụng đầu tư
của Nhà nước Theo đó, dự án ngoài việc phải thuộc danh mục cho vay, chủ dự án còn phải đáp ứng một số điều kiện khác nữa như: dự án, phương
án sản xuất, kinh doanh, có hiệu quả, bảo đảm trả được nợ; được VDB thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ và chấp thuận cho vay
và quan trọng nhất là chủ đầu tư phải có vốn chủ sở hữu tham gia dự án tối thiểu 20% và phải bảo đảm đủ nguồn vốn để thực hiện dự án
Với hoạt động TD đầu tư của Qũy ĐTPT, điều kiện cho vay được nới lỏng hơn do danh mục đầu tư hẹp, với 2 điều kiện cơ bản: Dự án đầu tư
đã được quyết định đầu tư theo quy định của pháp luật; và Dự án đầu tư phải có hiệu quả và có khả năng thu hồi vốn trực tiếp
- Tín dụng xuất khẩu: hoạt động này được điều chỉnh theo Nghị
định 75 và Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 39/QĐ-HĐQL về quản
lý vốn tín dụng xuất khẩu của Nhà nước Cụ thể, đối tượng cho vay phải
Trang 44 |
đáp ứng các điều kiện sau: (i) Có hợp đồng xuất khẩu hoặc hợp đồng ủy thác xuất khẩu hàng hoá nằm trong Danh mục mặt hàng vay vốn tín dụng xuất khẩu; (ii) Có phương án sản xuất kinh doanh được VDB thẩm định và chấp thuận; (iii) Thực hiện bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ, Quy chế bảo đảm tiền vay của VDB
Điều kiện cho vay của hoạt động TD XK ngoại trừ việc thuộc danh
mục đối tượng cho vay, cần phải được kiểm định cẩn thận để tránh gây
tình trạng nợ xấu cho ngân hàng Nguyên nhân đến từ 2 phía: Một là bản
thân các doanh nghiệp không muốn trả nợ, hoặc không có khả năng trả nợ hay mang nguồn vốn vay đi sử dụng sai mục đích Hai là một số khoản vay/chương trình được nhận ưu đãi vay vốn theo chỉ định của Chính phủ nên khó đánh giá hiệu quả, mục tiêu lợi nhuận và chất lượng các khoản vay này cũng kém hơn so với bình thường
2.1.3 Lãi suất cho vay:
- Tín dụng đầu tư: Lãi suất được ấn định tại thời điểm vay vốn/giải
ngân và luôn được giữ ổn định trong suốt thời gian thực hiện dự án đầu tư
Mức lãi suất cho vay vốn tín dụng đầu tư tại VDB là 11,4%/năm (từ ngày 4/6/2013), được quy định tại Thông tư 77/2013/TT-BTC1
Còn với hoạt động tín dụng đầu tư tại Quỹ ĐTPT, lãi suất cho vay được xác định theo nguyên tắc không thấp hơn lãi suất huy động bình quân của các nguồn vốn huy động Bên cạnh đó, mức lãi suất này cũng phải đảm bảo một số nguyên tắc, điều kiện như: đảm bảo bù đắp phí quản lý, các chi phí khác có liên quan đến hoạt động cho vay của Quỹ ĐTPT địa phương và bảo toàn, phát triển nguồn vốn chủ sở hữu; Quỹ ĐTPT địa phương quyết định mức lãi suất cho vay đối với từng dự án cụ thể, nhưng không được thấp hơn mức lãi suất cho vay tối thiểu do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định
- Tín dụng xuất khẩu: lãi suất cho vay tín dụng xuất khẩu hiện đang
ở mức 9,3%/năm theo Thông tư 77/2013/TT-BTC2
Với việc quy định mức lãi suất cho vay cố định đối với số vốn vay theo từng lần giải ngân như hiện nay theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP và các thông tư hướng dẫn, mặc dù đã có bước phát triển hơn so với các quy định trước đó, nhưng vẫn còn tồn tại một số bất cập như: (i) do vốn vay một dự án được giải ngân nhiều lần và số vốn giải ngân mỗi lần áp dụng mức lãi suất cho vay khác nhau, nên xảy ra tình trạng chủ đầu tư phải trả lãi
1
Từ ngày 4/6/2013, theo quy định tại Thông tư 77/2013/TT-BTC, lãi suất cho vay TD đầu tư của nhà nước bằng đồng VND là 11,4%/năm, giảm 0,6% so với mức 12%/năm trước đây
(Thông tư 104/2012/TT-BTC) Ngoài ra, mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư đối
với dự án vay vốn bằng đồng VN vẫn giữ ở mức 2,4%/năm
2
Lãi suất cho vay TD XK bằng đồng VND cũng giảm xuống 9,3%/năm từ ngày 4 /6/2013 so với
mức 10,2%/năm trước đây (Thông tư 09/2013/TT-BTC)
Trang 55 |
vay theo nhiều mức lãi suất khác nhau cho cùng một dự án; (ii) khi lãi suất trên thị trường tài chính tăng lên thì sẽ không đảm bảo nguyên tắc bù đắp chi phí huy động vốn và phí hoạt động của cơ quan cho vay do chi phí huy động tăng lên mà mức lãi suất cho vay đã được ấn định; (iii) trong trường hợp mức lãi suất thị trường giảm xuống thấp hơn cả mức lãi suất cho vay của VDB, thì dẫn đến mức lãi suất của VDB không còn tính “ưu đãi” nữa
Kinh nghiệm của Đức cho thấy, trong thời gian đầu thực hiện hỗ trợ
TD đầu tư phát triển, NH Tái thiết Đức đã cấp tín dụng với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường nhưng sau đó lãi suất đã được điều chỉnh sát với lãi suất thị trường để giảm sự bao cấp của Nhà nước Nhiều ý kiến cho rằng nên giảm dần các ưu đãi về lãi suất sang ưu đãi về điều kiện được hỗ trợ,
mức hỗ trợ, thời hạn hỗ trợ…
2.1.4 Mức vốn cho vay:
- Tín dụng đầu tư:
Tại VDB, mức vốn cho vay đối với mỗi dự án tối đa bằng 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động), đồng thời phải đảm bảo mức vốn cho vay tối đa đối với mỗi chủ đầu tư không được vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của Ngân hàng Phát triển Việt Nam Mức vốn này sẽ được quyết định bởi Tổng Giám đốc NHPTVN và với dự án/chủ đầu
tư cần mức vốn cao hơn phải có sự đồng ý của thủ tướng Chính phủ
Tại Qũy ĐTPT, theo Nghị định 37/2013/NĐ-CP, mức vốn cho vay đối với một dự án không được vượt quá 20% vốn chủ sở hữu của Quỹ tại thời điểm thực hiện và không vượt quá 80% tổng vốn đầu tư của dự án Trường hợp Quỹ thực hiện đồng thời đầu tư trực tiếp và cho vay đối với một dự án thì tổng giới hạn đầu tư trực tiếp và cho vay không được vượt quá 30% vốn chủ sở hữu của Quỹ tại thời điểm thực hiện Ngoài ra, tổng mức dư nợ cho vay đối với một khách hàng của Qũy ĐTPT không được vượt quá 25% vốn chủ sở hữu của Quỹ
- Tín dụng xuất khẩu: quy định về mức vốn cho vay với hoạt động
tín dụng xuất khẩu được nêu tại Nghị định 75/2011/NĐ-CP Trong đó, mức cho vay tối đa bằng 85% giá trị hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu đã ký hoặc giá trị L/C đối với cho vay trước khi giao hàng hoặc trị giá hối phiếu hợp lệ đối với cho vay sau khi giao hàng, đồng thời phải đảm bảo mức vốn cho vay tối đa đối với mỗi nhà XK, nhà NK nước ngoài không vượt quá 15% vốn điều lệ thực có của NHPTVN Tương tự như TD đầu tư, mức cho vay này được quyết định bởi TGĐ VDB và cần sự đồng ý của thủ tướng Chính phủ để có thể cấp mức vốn cao hơn
2.1.5 Thời hạn cho vay:
- TD đầu tư:
Tại VDB, thời hạn cho vay đầu tư tối đa là 12 năm đối với TD đầu tư
theo Nghị định 75/2011/NĐ-CP) Tuy nhiên, kể từ ngày 22/5/2013, theo
Trang 66 |
Nghị định 54/2013/NĐ-CP về sửa đổi một số điều của Nghị định 75/2011/NĐ-CP, thời hạn cho vay TD đầu tư đối với một số dự án dự án kết cấu hạ tầng KT được gia hạn từ 12 năm lên 15 năm
Tại Quỹ ĐTPT, thời hạn cho vay đầu tư của quỹ tối đa là 15 năm
theo Nghị định 138/2007/NĐ-CP
- TD xuất khẩu: Thời hạn cho vay TD XK qua VDB tối đa là 12
tháng Tuy nhiên, kể từ ngày 22/5/2013, theo Nghị định 54/2013/NĐ-CP,
TD xuất khẩu đối với nhóm hàng XK rau quả, thủy sản được gia hạn từ 12 tháng lên 36 tháng
2.1.6 Cơ chế đảm bảo tiền vay và xử lý rủi ro:
- Cơ chế đảm bảo tiền vay và xử lý rủi ro đối với TD đầu tư và TD
XK tại VDB (Nghị định 75/2011/NĐ-CP):
+ Các biện pháp bảo đảm tiền vay bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, sử dụng tài sản hình thành trong tương lai và các biện pháp bảo đảm khác (nếu có) theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm Việc Các dự án vay vốn TD đầu tư phát triển của Nhà nước được sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để đảm bảo tiền vay và chỉ phải đảm bảo tiền vay với một tỷ lệ rất nhỏ trên tổng số vốn vay cho thấy ưu đãi rất lớn của Nhà nước đối với các chủ thể vay vốn Tuy nhiên, chính từ những ưu đãi này lại làm tăng rủi ro cho các khoản cho vay đầu tư phát triển của Nhà nước Hay nói cách khác, khả năng xảy ra tổn thất do các chủ đầu tư dự án không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nơ của mình
+ NHPTVN được lập Quỹ dự phòng rủi ro để xử lý các rủi ro do các chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu nước ngoài không trả được nợ Mức trích Quỹ dự phòng rủi ro hàng năm chỉ tối đa bằng 0,5% trên dư nợ bình quân TD đầu tư, TD xuất khẩu (theo Quyết định 44/2007/QĐ-TTg, Thông tư số 111/2007/TT-BTC) Trong khi đó, các dự án vay vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước là những dự án có mức độ rủi ro cao hơn so với lợi ích trực tiếp thu được3
+ Có ý kiến cho rằng việc quản trị rủi ro và cảnh báo sớm của NHPT chưa phát huy triệt để tác dụng, chưa phản ánh toàn diện và quy trinh kiểm tra nội bộ chưa chặt chẽ, dẫn đến nguy cơ tổn thất trong hoạt động cho vay
TD XK Ngoài ra, dịch vụ thanh toán của NHPT vẫn trong giai đoạn hoàn thiện, đặc biệt chưa thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế và ngoại hối, mọi dòng tiền ra và vào của DN đều phải thông qua các NHTM, TCTD khác Do đó, thiếu sự chủ động trong giám sát dòng tiền, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cho vay XK
3 Việc trích lập dự phòng rủi ro không bảo đảm dẫn đến khả năng tự chủ tài chính trong quá trình xử lý rủi ro tín dụng là rất hạn chế (trong số gần 100.000 tỷ đồng dư nợ thì mỗi năm số xử lý rủi ro chỉ đạt
khoảng 100 tỷ đồng, chiếm khoảng trên dưới 0,1%) dẫn đến sự tích tụ nợ xấu mà nếu không có những giải pháp triệt để thì buộc sẽ phải có những đợt xử lý rủi ro mang tính chu kỳ
Trang 77 |
- Cơ chế đảm bảo tiền vay và xử lý rủi ro đối với TD đầu tư tại Quỹ
ĐTPT (Nghị định 138/2007/NĐ-CP):
Tuỳ thuộc vào từng dự án cụ thể, Quỹ đầu tư phát triển địa phương sử dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay theo quy định của pháp luật Quỹ đầu
tư phát triển địa phương thực hiện phân loại nợ, trích dự phòng rủi ro đối với hoạt động cho vay đầu tư như các tổ chức tín dụng
Việc xử lý rủi ro (do nguyên nhân khách quan)4 được thực hiện theo trình tự như sau: (i) Sử dụng các nguồn tài chính của chủ đầu tư theo quy định để thu hồi nợ; (ii) Tiền bồi thường của cơ quan bảo hiểm (nếu có); (iii) Được xem xét, xoá nợ một phần hoặc toàn bộ số nợ vay còn lại
2.2 Đánh giá thực trạng tín dụng đầu tư phát triển nhà nước
2.2.1 Cơ sở pháp lý
a Tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Ngân hàng Phát triển Việt Nam
- Nghị định 75/2011/NĐ-CP (ngày 30/8/2011) về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của nhà nước: quy định đối tượng, điều kiện cho vay, mức vốn cho vay, lãi suất cho vay, cơ chế đảm bảo tiền vay và xử lý rủi ro của tín dụng đầu tư (cho vay đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư) và tín dụng
xuất khẩu (cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu nước ngoài vay)
- Nghị định 54/2013/NĐ-CP (ngày 22/5/2013) về bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2011/NĐ-CP: gia hạn TD đầu tư đối với một số
dự án kết cấu hạ tầng KT từ 12 năm lên 15 năm; gia hạn TD xuất khẩu đối với nhóm hàng XK rau quả, thủy sản được gia hạn từ 12 tháng lên 36 tháng
- Thông tư 35/2012/TT-BTC (ngày 2/3/2012) về hướng dẫn một số điều của Nghị định số 75/2011/NĐ-CP
- Thông tư 77/2013/TT-BTC (ngày 4/6/2013) điều chỉnh giảm lãi suất cho vay TD đầu tư của nhà nước bằng đồng VND xuống 11,4%/năm,
TD xuất khẩu xuống 9,3%/năm
- Thông tư 104/2012/TT-BTC (ngày 25/6/2012) về việc quy định lãi suất cho vay tín dụng đầu tư (12%/năm), tín dụng xuất khẩu của Nhà nước (11,4%/năm) và mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ sau đầu tư (2,4%/năm)
4
Trường hợp do chính sách Nhà nước thay đổi làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của dự án mà dẫn đến việc chủ đầu tư gặp khó khăn trong trả nợ vay thì chủ đầu tư được xem xét gia hạn nợ; xoá, giảm lãi tiền vay; khoanh nợ
Trang 88 |
- Thông tư 09/2013/TT-BTC (ngày 17/1/2013) sửa đổi Điều 2 của Thông tư số 104/2012/TT-BTC: giảm lãi suất cho vay TDXK bằng đồng
VN là xuống 10,2%
- Quyết định 39/QĐ-HĐQL (31/8/2007) của HĐ quản lý NHPT về việc ban hành quy chế quản lý về TD XK của nhà nước
- Quyết định 42/QĐ-HĐQL (17/9/2007) của HĐ quản lý NHPT về việc ban hành quy chế đảm bảo tiền vay của NHPTVN
b Tín dụng đầu tư của Quỹ ĐTPT địa phương:
Quỹ ĐTPT địa phương hiện nay được thực hiện theo Nghị định số
138/2007/NĐ-CP ngày 28/08/2007 về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư
phát triển địa phương và Nghị định số 37/2013/NĐ-CP ngày 22/04/2013
(sửa đổi, bổ sung Nghị định số 138/2007/NĐ-CP)
2.2.2 Thực trạng tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của NHPT
Kể từ khi được chuyển đổi từ Quỹ Hỗ trợ phát triển (năm 2006), NHPT VN đã thực sự trở thành công cụ hữu hiệu của Chính phủ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; triển khai tốt chính sách TDĐT, TDXK của Nhà nước và các chương trình, mục tiêu, chính sách của Đảng và Nhà nước góp phần ổn định và phát triển kinh tế của đất nước (mặc dù bối cảnh giai đoạn 2006-2012 biến động mạnh với nhiều yếu tố bất lợi: khủng hoảng tài chính toàn cầu, suy giảm tăng trưởng kinh tế trong nước; sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, hệ thống ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro đặt ra yêu cầu tái cấu trúc)
Là công cụ tài chính của Chính phủ, nguồn vốn TD đầu tư và TD xuất khẩu của Nhà nước đã góp phần tạo dựng được khối tài sản hỗ trợ khá
lớn Đến cuối năm 2011, NHPT quản lý cho vay gần 2.500 dự án với số
vốn theo HĐTD gần 200.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ các dự án trong nước chiếm khoảng 50% tổng dư nợ
Vốn TDĐT của Nhà nước tăng trưởng khá nhanh với mức dư nợ trên 101.000 tỷ đồng vào cuối năm 20125, bình quân tăng 17%/năm trong 2006-2012, cao gấp 2,2 lần so với thời điểm 2006, trong đó trên 70% dư
nợ tập trung trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; và 30% còn lại dành cho các lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, GTVT, thông tin liên lạc Vốn tín dụng Nhà nước thực hiện các chương trình kinh tế của Chính phủ: Chương trình kiên cố hóa kênh mương; Chương trình tôn nền vượt lũ và hạ tầng cụm tuyến dân cư vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Dư nợ TD xuất khẩu đạt 7.533 tỷ đồng vào cuối năm 2012, tăng 2,5 lần so với năm 2006 NHPTVN đã thực hiện cho vay đối với hầu hết các
5 Nguồn: NHPTVN
Trang 99 |
mặt hàng thuộc đối tượng khuyến khích xuất khẩu6 Cho vay XK tập trung nhiều vào lĩnh vực nông-lâm-thủy sản (88%) Hoạt động cho vay tín dụng xuất khẩu cũng chuyển dịch theo cơ cấu ngành theo hướng tăng tỷ trọng mặt hàng công nghiệp NHPT VN đã thực hiện cho vay xuất khẩu sang
120 nước Trong đó, thị trường Châu Âu là thị trường tăng trưởng mạnh và chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 40%), sau đó đến thị trường Mỹ7
Hình thức hỗ trợ sau đầu tư mặc dù có nhận được sự quan tâm của các chủ đầu tư dự án, thông thường là các dự không được vay vốn trực tiếp tại NHPT Đến 2012, số dự án đề nghị được hỗ trợ lãi suất sau đầu tư là gần
3000 dự án với số vốn đề nghị hỗ trợ gần 4000 tỷ đồng Tuy nhiên, so với các dự vay vốn trực tiếp (được hưởng ưu đãi về tài sản bảo đảm tiền vay, các điều kiện về xử lý rủi ro), thì các dự án này ngoài việc chỉ được hỗ trợ một phần chênh lệch giữa lãi suất vay vốn của NHTM so với lãi suất vay vốn TD đầu tư của Nhà nước, còn bị nhiều ràng buộc hạn chế như: phụ thuộc vào nguồn vốn của NSNN hàng năm dành cho mục tiêu hỗ trợ; điều kiện nhận hỗ trợ khắt khe8
Nhìn chung, TD đầu tư phát triển của nhà nước đã có nhiều đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế; tạo công ăn việc làm; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng năng lực sản xuất và từng bước tạo nền tảng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế Tuy nhiên, chính sách tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước cũng bộc lộ hạn chế như: mức đóng góp vào tăng trưởng kinh tế còn thấp, nguồn vốn TD nhà nước vẫn còn khiêm tốn - bình quân giai đoạn 2006-2011, chỉ chiếm khoảng 1% GDP - do đó chưa bao quát được hết ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước Ngoài ra, một số hạn chế và tồn tại như: mức cấp bù lãi suất và phí quản lý từ NSNN khá cao (trên 2300 tỷ đồng năm 2010) do
đó chưa giảm tải được gánh nặng cho NSNN; nợ xấu trong TD đầu tư và
TD XK của Nhà nước còn cao (10,4% vào cuối 2012); khó khăn trong huy
động nguồn vốn cho hoạt động tín dụng; nhiều dự án chưa hoàn thiện được các thủ tục đảm bảo tiền vay theo quy định; một số dự án phát sinh nợ quá hạn, lãi treo hoặc chưa khắc phục được các tồn tại sau thanh tra, kiểm tra nên không đủ điều kiện giải ngân; nợ quá hạn chưa có chuyển biến tích cực
do (i) tình trạng chiếm dụng vốn mà không có biện pháp thu hồi nợ hiệu quả (ii) chi phí sản xuất kinh doanh trong bối cảnh lạm phát tăng cao khiến cho các dự án hoạt động cầm chừng nên không đủ hoặc không có nguồn thu để trả nợ (iii) công tác xử lý rủi ro còn tồn tại nhiều hạn chế như trình
6
Doanh số cho vay xuất khẩu tăng trưởng rất mạnh mẽ, đặc biệt năm 2008 và 2009 (năm 2008: 27.000 tỷ đồng, cao gấp 3 lần so với năm 2007; năm 2009: 32.000 tỷ đồng)
7 Đây là các thị trường lớn và hấp dẫn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng dệt may, hải sản, dầu thô, giầy dép
8
Các điều kiện ràng buộc khác trong hỗ trợ lãi suất sau đầu tư như: phải tuân thủ theo đúng quy định về quản lý đầu tư xây dựng hiện hành, đã có quyết toán được duyệt, có nghiệm thu, bàn giao đưa dự án, công trình vào khai thác, sử dụng…
Trang 1010 |
tự, thủ tục phức tạp, phạm vi han chế dẫn tới nhiều dự án có nợ quá hạn tồn đọng kéo dài
Ngoài ra, lãi suất không linh hoạt, có thời điểm còn cao hơn so với lãi suất NHTM nên kém hâp dẫn đối vớidoanh nghiệp Việc xử lý tài sản đảm bảo của nhiều khoản vay không đảm bảo khả năng thu đủ nợ do phần lớn doanh nghiệp có nợ quá hạn tỷ lệ bảo đảm tiền vay thấp, tài sản bảo đảm nhiều trường hợp là máy móc thiết bị chuyên ngành và đất nông nghiệp nên tính thanh khoản thấp, việc xử lý gặp nhiều khó khăn, một số doanh nghiệp
đã xử lý hết tài sản đảm bảo và đã dừng hoạt động nên không còn nguồn thu trả nợ NHPT
2.2.3 Thực trạng tín dụng đầu tư của Quỹ ĐTPT
Với mục đích huy động vốn để cho vay và đầu tư trực tiếp vào các
dự án kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội, góp phần phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương đầu tiên (Quỹ TP.HCM, nay
là Công ty Đầu tư tài chính Nhà nước TP.HCM) được thành lập vào năm
1997 Mô hình này đã nhanh chóng phát triển trên toàn quốc và đạt được một số kết quả nhất định Để tạo hành lang pháp lý thống nhất cho các Quỹ hoạt động, ngày 28/8/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 138/2007/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương (Quỹ ĐTPTĐP) Sau 5 năm triển khai thực hiện, bên cạnh các kết quả tích cực đã đạt được, quá trình triển khai Nghị định 138/2007, QĐTPTĐP đã trở thành môt công cụ tài chính quan trọng giúp cho địa phương tập trung nguồn lực vào phát triển cơ sở hạ tầng trong đó hoạt động cho vay đầu tư đã góp phần tháo gỡ những khó khăn về vốn cho các doanh nghiệp Tính đến tháng 8/2012, cả nước đã có 31 Quỹ ĐTPT địa phương với tổng số dư nguồn vốn đạt trên 15.000 tỉ đồng; tổng dư nợ cho vay đạt gần 25.500 tỉ đồng, nợ quá hạn khoảng 1 - 2% tổng dư nợ Tuy nhiên, thực
tế cho thấy cho thấy hệ thống Quỹ này vẫn chưa đạt được sự phát triển như mong muốn, nguồn vốn điều lệ của Quỹ thấp, nguồn vốn huy động hạn chế, đối tượng cho vay chưa tập trung
2.4 Nội dung khảo sát
2.4.1 Các vấn đề khảo sát đối với Ngân hàng phát triển địa phương
(1) Đối tượng cho vay:
+ Đánh giá về mức độ phù hợp của danh mục cho vay tín dụng đầu tư
và tín dụng xuất khẩu hiện nay? Có nên thu hẹp đối tượng cho vay để đảm bảo sử dụng hiệu quả vốn vay? Mở rộng đối tượng cho vay9
? Vì sao?
9 Đối với một số tỉnh, do đặc điểm KT-XH, yếu tố vùng miền nên chỉ có một số ít các dự án thuộc đối tượng có thể vay vốn tín dụng đầu tư/xuất khẩu