1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

THỰC TIỄN áp DỤNG căn cứ LY hôn tại tòa án (CHUYÊN đề THUỘC bộ môn LUẬT hôn NHÂN và GIA ĐÌNH) cơ sở THỰC tập tòa án NHÂN dân cấp CAO tại hà nội

40 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Tiễn Áp Dụng Căn Cứ Ly Hôn Tại Tòa Án (Chuyên Đề Thuộc Bộ Môn Luật Hôn Nhân Và Gia Đình)
Tác giả Lương Thanh Sơn
Trường học Trường Đại học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật Hôn Nhân Và Gia Đình
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 7,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

định về ly hôn của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, bởi vì theo Khoản 3 Điều51 Luật HN&GĐ năm 2014, không cần phải có thêm cụm từ “theo yêu cầu của vợhoặc của chồng hoặc cả hai vợ

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG THANH SƠN

441419

BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN MÔN

ĐỀ TÀI 12 THỰC TIỄN ÁP DỤNG CĂN CỨ LY HÔN TẠI TÒA ÁN (CHUYÊN ĐỀ THUỘC BỘ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH)

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo thực tập do tôi thực hiện trong thời gian thực tập tại cơ quan tiếp nhận thực tập Các nội dung trong báo cáo là trung thực, đảm bảo độ tin cậy./.

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HN&GĐ: Hôn nhân và gia đìnhTTDS: Tố tụng dân sự

TAND: Tòa án nhân dân

TANDTC: Tòa án nhân dân tối caoVKSND: Viện kiểm sát nhân dânVKS: Viện kiểm sát

Trang 4

MỤC LỤC

Trang bìa phụ i

Lời cam đoan ii

Danh mục các từ viết tắt iii

Mục lục iv

MỞ ĐẦU 1

1 Giới thiệu chung về cơ sở thực tập 1

1.1 Giới thiệu về địa bàn thành phố Ninh Bình- tỉnh Ninh Bình 1

1.2 Giới thiệu về Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình- tỉnh Ninh Bình 1

2 Lý do lựa chọn nội dung báo cáo thực tập 2

3 Các kế hoạch triển khai thực tập cụ thể để thực hiện báo cáo thực tập 2

NỘI DUNG 2

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ VÀ GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ 3

1.1 Vụ án HN&GĐ theo thủ tục TTDS 3

1.1.1 Khái niệm vụ án HN&GĐ 3

1.1.2 Các loại tranh chấp về HN&GĐ theo pháp luật TTDS Việt Nam 3

1.1.3 Đặc trưng pháp lý của tranh chấp về HN&GĐ 4

1.2 Giải quyết các vụ án HN&GĐ theo thủ tục TTDS 4

1.2.1 Khái niệm giải quyết các vụ án HN&GĐ theo thủ tục TTDS 4

1.2.2 Đặc điểm giải quyết các vụ án HN&GĐ theo thủ tục TTDS 4

1.2.3 Một số quy định về giải quyết các vụ án HN&GĐ theo thủ tục TTDS 5

Chương 2: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH 6

2.1 Những kết quả đã đạt được trong việc giải quyết các vụ án về HN&GĐ 6

2.2 Thực tiễn quy trình giải quyết vụ án về HN&GĐ theo thủ tục TTDS của TAND thành phố Ninh Bình 10

2.2.1 Thực tiễn về thủ tục tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện 10

2.2.2 Thực tiễn thụ lý vụ án 12

2.2.3 Thực tiễn thu thập chứng cứ, tiếp cận, công khai chứng 12

2.2.4 Thực tiễn hòa giải 13

2.2.5 Thực tiễn xét xử, ra quyết định giải quyết vụ án về HN&GĐ tại TAND thành phố Ninh Bình 13

Trang 5

CHƯƠNG 3: NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG GIẢI QUYẾT

CÁC VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN

SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH 14

3.1 Thuận lợi 14

3.2 Một số khó khăn, vướng mắc 15

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH THEO THỦ TỤC TỐ TỤNG DÂN SỰ 16

4.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp HN&GĐ theo thủ tục TTDS 16

4.2 Kiến nghị giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp trong HN&GĐ theo thủ tục TTDS 16

KẾT LUẬN 17

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18

PHỤ LỤC 20

Trang 6

MỞ ĐẦU

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Quan tâm đến gia đình là đúng vìnhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thìgia đình càng tốt hơn, hạt nhân của xã hội là gia đình Chính vì vậy, muốn xây dựngchủ nghĩa xã hội là phải chú ý hạt nhân cho tốt” 1 Ngày nay, trong bối cảnh đất nướcbước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước và hội nhập quốc tế, đất nước ta đang chịu những tác động tích cực và tiêucực, không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về mặt văn hóa, xã hội Gia đình với tư cách

là tế bào của xã hội cũng không tránh khỏi sự tác động đa chiều đó: gia đình hạt nhân(hai thế hệ) đang dần thay thế cấu trúc gia đình truyền thống (nhiều thế hệ); việc đềcao tự do của cá nhân trong gia đình đã làm cho sự gắn kết giữa cha, mẹ, con và giữacác thành viên khác có xu hướng giảm sút; quan hệ sở hữu,…2 Quan trọng hơn cả đó

là sự thiếu bền vững về hôn nhân, tình trạng ly thân, ly hôn gần đây có xu hướng nămsau cao hơn năm trước, đặc biệt là trong các gia đình trẻ và hệ lụy để lại sau khi ly hôn

là vô cùng lớn Tiềm ẩn đằng sau những vụ ly hôn là những yếu tố bất ổn, sự lỏng lẻotrong kết cấu của gia đình khi mà mỗi thành viên đều có thể dễ dàng tự quyết định sốphận của cuộc sống gia đình, vai trò, trách nhiệm của người vợ, người chồng cũng dần

bị xem nhẹ, sợi dây liên kết tình cảm giữa vợ - chồng, bố mẹ - con cái ngày càng xacách, dẫn đến sự bất ổn, khủng hoảng trong cuộc sống xã hội

Xuất phát từ thực trạng đó, Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định về căn cứ lyhôn trên nguyên tắc vừa đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng, vừa là cơ sở pháp

lý chính đáng để Tòa án giải quyết ly hôn chính xác theo bản chất của hôn nhân đã tan

vỡ Tuy nhiên, căn cứ ly hôn hiện nay rất chung chung, khó xác định, ảnh hưởng đếncông tác xét xử ly hôn Bởi vậy, với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về các căn cứ ly hôn

và nghiên cứu việc áp dụng căn cứ ly hôn trong thực tiễn giải quyêt các vụ án ly hôn

của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, em xin lựa chọn đề tài: “Thực tiễn áp dụng

căn cứ ly hôn tại Tòa án” của Bộ môn Luật HN&GĐ làm báo cáo thực tập chuyên

môn Gắn liền với kì thực tập – kì học dựa trên thực tiễn quan sát, làm việc tại cơ quannhà nước, nên việc tìm hiểu, tiếp cận các căn cứ của vợ chồng khi ly hôn được sinhđộng, kĩ càng, kết hợp hài hòa giữa kiến thức lý luận và hoạt động thực tiễn

1 Bài nói chuyện của Bác Hồ tại Hội nghị cán bộ thảo luận Dự thảo Luật hôn nhân và Gia đình, tháng 10-1959.

2 Dương Thị Thùy Linh, Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng trong

việc giải quyết tranh chấp ly hôn, Luận văn thạc sỹ Luật học, Khoa Luật – ĐHQGHN, 2019, tr.1

Trang 7

Để có được kiến thức lý luận tốt để vận dụng vào thực tiễn nghiên cứu vụ án vàđạt hiệu quả cao trong quá trình thực tập thì không thể thiếu sự hướng dẫn, giúp đỡ tậntình của chú Nguyễn Huy Tú – Trưởng phòng Thụ lý hồ sơ Tòa án nhân dân cấp caotại Hà Nội cùng với các bác, cô, chú, anh, chị trong cơ quan đã tạo mọi điều kiện thuậnlợi giúp kì thực tập của em hoàn thành và đạt được kết quả tốt nhất Em xin dành lờicảm ơn chân thành nhất đến toàn bộ lãnh đạo, cán bộ nhân viên Tòa án nhân dân cấpcao tại Hà Nội.

NỘI DUNG CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ CĂN CỨ LY HÔN

1.1 Khái niệm về ly hôn và căn cứ ly hôn

1.1.1 Khái niệm ly hôn

Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tồn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đờicon người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yê thương, gắn bó giữa vợ chồng Tuynhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâuthuẫn sâu sắc đến mức họ không thể chung sống với nhau nữa, vấn đề ly hôn được đặt

ra để giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình

Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thể thiếu được khi quan hệ hônnhân tồn tại chỉ là hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ

Ở Việt Nam, ly hôn được thực hiện dưới sự kiểm soát của Nhà nước Ly hôn làmột biện pháp chấm dứt hôn nhân được thừa nhận từ rất sớm trong pháp luật ViệtNam, từ thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc cho đến nay

Theo từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, ly hôn được

hiểu là: “chấm dứt quan hệ vợ chồng do TAN công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu

của vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng” 3 Khoản 8 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2000

quy định: “Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án công nhận hoặc quyết

định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc của cả hai vợ chồng” Tại Khoản 14

Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng

theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án” Đây là điểm mới trong quy

Trang 8

định về ly hôn của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, bởi vì theo Khoản 3 Điều

51 Luật HN&GĐ năm 2014, không cần phải có thêm cụm từ “theo yêu cầu của vợhoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng”, bởi vì theo Khoản 3 Điều 51 Luật HN&GĐnăm 2014 quy định: ngoài vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn thì còn có một số chủthể khác không phải là vợ, chồng nhưng cũng có quyền yêu cầu ly hôn trong một sốtrường hợp đặc biệt, đó là cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giảiquyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác màkhông thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạolực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng,sức khỏe, tin thần của họ

Như vậy, về mặt pháp lý, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân trong lúc cả

vợ và chồng đều còn sống Đây là biện pháp cuối cùng mà pháp luật cho phép thựchiện trong trường hợp cuộc sống vợ chồng lâm vào tình trạng khủng hoảng mà khôngthể khắc phục bằng bất kỳ biện pháp nào khác

1.1.2 Khái niệm căn cứ ly hôn

Nếu như kết hôn là khởi đầu để xác lập nên quan hệ vợ chồng thì ly hôn có thểcoi là điểm cuối của hôn nhân khi quan hệ này thực sự tan rã Khi đời sống hôn nhânkhông thể duy trì được nữa thì ly hôn là một giải pháp cần thiết cho cả đôi bên vợchồng Ly hôn giải phóng cho các cặp vợ chồng và những thành viên trong gia đìnhthoát khỏi xung đột, mâu thuẫn, bế tắc trong cuộc sống Bằng các quy định về ly hôn,Nhà nước cũng hướng tới bảo vệ lợi ích của gia đình, của xã hội khi xác định nhữngđiều kiện cho phép chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật, gọi chung là căn cứ lyhôn

Như vậy, ta có thể hiểu khái niệm “căn cứ ly hôn” có thể hiểu là: những tình tiếthay các điều kiện pháp lý do pháp luật quy định, chỉ khi có những tình tiết, hay điềukiện đó, thì Tòa án mới quyết định cho vợ chồng ly hôn Hoặc căn cứ ly hôn là nhữngyếu tố để xác định đúng tình trạng tan vỡ thực sự về tình cảm, đời sống vợ chồng, mụcđích của hôn nhân từ đó Tòa án cho phép vợ chồng ly hôn Hay có thể hiểu một cáchngắn gọn: “Căn cứ ly hôn là cơ sở pháp lý được luật định dựa trên cơ sở hôn nhân tan

vỡ, dựa vào đó để Tòa án giải quyết các vụ việc ly hôn”

Trang 9

1.2 Căn cứ ly hôn trong các trường hợp ly hôn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định các căn cứ để Tòa án thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn bao gồm hai căn cứ tại Điều 55 và Điều 56:

1.2.1 Căn cứ ly hôn trong trường hợp các bên thuận tình ly hôn

Thuận tình ly hôn là trường hợp cả vợ hoặc chồng cùng yêu cầu chấm dứt hônnhân được thể hiện bằng đơn thuận tình ly hôn của vợ chồng

Theo Điều 55 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp vợ chồng

cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn”.

Theo quy định của Luật HN&GĐ 2014 thì trong trường hợp hai vợ chồng cóyêu cầu thuận tình ly hôn, sự tự nguyện của hai vợ chồng khi yêu cầu chấm dứt hônnhân là một căn cứ quyết định việc chấm dứt hôn nhân Bảo đảm “thật sự tự nguyện lyhôn” là cả hai vợ chồng đều được tự do bày tỏ ý chí của mình, không bị cưỡng ép,không bị lừa dối trong việc thuận tình ly hôn Việc thể hiện ý chí thật sự tự nguyện lyhôn của hai vợ chồng đều phải xuất phát từ trách nhiệm đối với gia đình họ, phù hợpvới yêu cầu của pháp luật và chuẩn mực, đạo đức xã hội

Cũng trong Điều 55, Luật HN&GĐ năm 2014, trong việc thuận tình ly hôn,ngoài ý chí thật sự tự nguyện xin thuận tình ly hôn của vợ chồng, đòi hỏi hai vợ chồngcòn phải có sự thoả thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc,giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con, nếu vợ chồngkhông thoả thuận được hoặc tuy có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền và lợi íchchính đáng của vợ và con thì Toà án quyết định giải quyết việc ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải tiếnhành hoà giải, mục đích là để vợ chồng rút đơn yêu cầu ly hôn và đoàn tụ với nhau

Trang 10

vì khó có thể định lượng khi chỉ dựa trên yếu tố thỏa thuận tự nguyện thật sự của hai

vợ chồng nếu không xem xét đến các yếu tố tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đến đâu,mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống hôn nhân đến cấp độ nào và gắn với việc thỏa thuậncủa họ đến đâu về việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn Thực tế,nguyên nhân phát sinh tranh chấp trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến ly hôn hay thuậntình ly hôn cũng là do tình cảm của vợ chồng bị rạn nứt, một trong hai bên đã khônglàm tròn nghĩa vụ của mình với gia đình hay vì tự ái cá nhân hoặc hiểu lầm trong quan

hệ của vợ hoặc chồng mình nên đã quyết định yêu cầu Tòa án giải quyết cho họ được

ly hôn Nhưng khi có sự giải thích, phân tích đúng, sai trong quan hệ của họ của ngườilàm công tác hòa giải để khuyên họ nên bỏ qua những lầm lỗi, tha thứ cho nhau đểquay lại chung sống với nhau thì họ đã hiểu ra và quay lại đoàn tụ chung sống vớinhau và Tòa án cũng không phải giải quyết về các vấn đề kéo theo như con và tài sản.Nếu hoà giải thành tức là vợ chồng rút đơn thuận tình ly hôn thì Toà án lập biên bảnhoà giải thành, sau 15 ngày kể từ ngày Toà án lập biên bản hoà giải thành mà các bênđương sự không thay đổi ý kiến thì Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án(Điều 10, Điều 186, Điều 187 Bộ luật TTDS năm 2004) Còn khi hoà giải khôngthành, các bên thực sự tự nguyện ly hôn nhưng không thoả thuận được về việc chia tàisản hoặc việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì Toà án lập biên bản

về việc hoà giải đoàn tụ không thành và về những vấn đề hai bên không thoả thuậnđược hoặc có thoả thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con,đồng thời mở phiên Toà xét xử theo thủ tục chung (điểm d, khoản 2, Điều 179 Bộ luậtTTDS năm 2004)

1.2.2 Căn cứ ly hôn khi ly hôn trong trường hợp ly hôn do một bên vợ hoặc chồng yêu cầu

Ly hôn theo yêu cầu của một bên là trường hợp chỉ có một trong hai vợ chồng,hoặc cha, mẹ, người thân thích của một trong hai bên yêu cầu được chấm dứt quan hệhôn nhân Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêucầu của một bên như sau:

Thứ nhất, đối với trường hợp khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của

Trang 11

vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Trước tiên, khi có yêu cầu ly hôn của vợ, chồng, Toà án phải tiến hành điều tra

và hoà giải, nếu hoà giải không thành thì Toà án cần xác định tình trạng của quan hệhôn nhân, xem có căn cứ ly hôn không để giải quyết Việc giải quyết ly hôn cần phảichính xác Nếu xét xử đúng, kết quả đó sẽ phù hợp với nguyện vọng của các bên, bảo

vệ quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình Ngược lại, nếu việc giải quyếtkhông chính xác sẽ dẫn tới tan vỡ hạnh phúc gia đình, phá huỷ một cuộc hôn nhân còn

có thể cứu vãn được và gây ra hậu quả không đáng có Mặt khác, giải quyết ly hôncũng đòi hỏi sự linh hoạt trong việc vận dụng căn cứ ly hôn đối với mỗi trường hợp cụthể

Luật HN&GĐ năm 2014 đã bổ sung điểm mới khi cho ly hôn khi có hành vibạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng Nhưvậy, luật hiện hành quy định rất rõ “bạo lực gia đình” là căn cứ để giải quyết cho lyhôn Bởi qua tổng kết thực tiễn giải quyết các án kiện ly hôn của Toà án cho thấy số vụ

ly hôn có hành vi ngược đãi, đánh đập chiếm tỉ lệ cao nhất trong các nguyên nhân dẫnđến ly hôn ở nước ta trong đó thì đa phần phụ nữ là nạn nhân của tình trạng này Tìnhtrạng bạo lực trong gia đình ngày càng gia tăng và thể hiện tính chất nghiêm trọng của

nó Tình trạng bạo lực trong gia đình xảy ra do nhiều lý do khác nhau Có trường hợp

do cuộc sống vật chất quá khó khăn Có trường hợp do ghen tuông, nghi ngờ một bênngoại tình nên đã đánh đập nhau Tệ cờ bạc, nghiện ngập cũng là lý do dẫn đến tìnhtrạng vợ chồng đánh đập, ngược đãi nhau Đa phần bạo lực trong gia đình dẫn đến tìnhtrạng vợ chồng ly hôn, có trường hợp dẫn đến án mạng Bên cạnh đó, đối với những viphạm khác, những mâu thuẫn, xung đột, bất đồng trong đời sống vợ chồng là lý do

để ly hôn thì luật cũng quy định rõ ràng phải có cơ sở nhận định chung rằng tình trạngtrầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thìmới giải quyết cho ly hôn

Như vậy, rõ ràng Luật HN&GĐ năm 2014 đã đưa yếu tố lỗi để xem xét cho lyhôn, qua đó thể hiện sự tiếp thu quy định của một số nước trên thế giới khi có sự kếthợp giữa thực trạng của hôn nhân và yếu tố lỗi để giải quyết việc ly hôn

Trang 12

Qua đó, có thể thấy rằng việc đưa ra những nguyên nhân của hôn nhân lâm vàotình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân khôngđạt được để cụ thể hóa căn cứ cho ly hôn “vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc

vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng” trong Luật Hôn nhân và giađình năm 2014 đã tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho Tòa án khi giải quyết việc ly hôn theoyêu cầu của một bên Đây là một quy định rất tiến bộ mang ý nghĩa quan trọng nhằm

cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về quyền con người và bảo vệ quyền con người trongtiến trình hội nhập quốc tế Điều này cũng tạo sự thống nhất trong việc áp dụng phápluật khi giải quyết việc ly hôn trong cả nước

Khi thực tế quan hệ vợ chồng ở trong “tình trạng trầm trọng, đời sống chungkhông thể kéo dài” thì thường dẫn tới hậu quả làm cho “mục đích của hôn nhân khôngđạt được” Mục đích của hôn nhân là tình yêu giữa nam và nữ muốn chung sống vớinhau suốt đời, cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững trên cơ sở giúp đỡnhau cùng tiến bộ Con người tiến tới hôn nhân với mục đích mong muốn có được mộtcuộc sống hạnh phúc Do vậy, khi mục đích hôn nhân “không đạt được” thì quan hệhôn nhân thường có tác động ngược lại Khi đó chấm dứt hôn nhân được giải quyếtbằng việc ly hôn

Mục đích của hôn nhân nói chung xuất phát từ bản chất của hôn nhân Toà ánkhông thể dựa vào mục đích của hai người kết hôn mà xem xét có đạt được hay không

để giải quyết ly hôn Phần lớn mục đích của nam và nữ trước khi kết hôn là hướng tớixây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững nhưng cũng có nhiều cuộc hôn nhân được xáclập bắt đầu từ những mục đích khác nhau Dù cho họ từng kết hôn với mục đích nào đichăng nữa thì mục đích của hôn nhân bền vững, hạnh phúc vẫn là tiêu chuẩn cao nhất

mà bất kỳ ai kết hôn cũng hướng tới Tuy nhiên, mục đích của vợ hay chồng đôi khicũng ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình nếu như nó không đạt được sau khi kết hôn.Mục đích của hai người không phải bao giờ cũng giống nhau Hôn nhân có thể đemđến cho người này nhưng lại không làm thoả mãn mục đích của người kia hoặc cả haingười Vì vậy, điều cần thiết là phải hiểu được mục đích của hôn nhân Nhà làm luật ởđây muốn nói đến mục đích cốt lõi của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, bềnvững Hôn nhân với mục đích rất phong phú và có thể thay đổi nhưng mục đích củahôn nhân lại mang tính cố định duy nhất Bất cứ một cuộc hôn nhân nào, nếu không

Trang 13

đạt được mục đích đó thì việc duy trì nó là không cần thiết và vợ chồng có thể được lyhôn.

Thứ hai, đối với trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Tuyên bố một người mất tích là một sự kiện pháp lý nhằm xác định một người

cụ thể “hoàn toàn không rõ tung tích, cũng không rõ còn sống hay đã chết” (theo từđiển tiếng Việt) Theo quy định tại Điều 78 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Khi một ngườibiệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìmkiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực

về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liênquan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích….” Khoản 2 Điều 55 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014 cũng quy định về căn cứ cho ly hôn có đề cập tới trường hợpyêu cầu ly hôn khi một trong hai người mất tích như sau: “Trong trường hợp vợ hoặcchồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho

ly hôn.”

Trường hợp đồng thời yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích và yêu cầu Tòa án giảiquyết ly hôn, cần lưu ý Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn có bằng chứng chứng minhđược chồng hoặc vợ đã biệt tích từ hai năm trở lên kể từ ngày có tin tức cuối cùng vềchồng (vợ), mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quyđịnh của pháp luật tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người

đó còn sống hay đã chết Việc tuyên bố cá nhân mất tích có ý nghĩa hết sức quan trọng

Nó góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân cũng như các chủ thể có liên quan Việc xácđịnh đúng điều kiện và hậu quả pháp lí của các tuyên bố này là cơ sở đảm bảo quyềnlợi cho các chủ thể, đồng thời góp phần thực hiện có hiệu quả nhưng quy định củapháp luật trong tuyên bố các cá nhân mất tích

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình, việc chồng hoặc vợ bị mất tích đã ảnhhưởng sâu sắc tới quan hệ vợ chồng và các thành viên trong gia đình Cần phải giảiphóng chồng thoát khỏi “hoàn cảnh đặc biệt” này, khi họ có yêu cầu được ly hôn vớingười chồng (vợ) đã bị tòa án tuyên bố mất tích

Trang 14

Thứ ba, đối với trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều

51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia

Theo đó, theo quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình thì có thể xin ly hônthay cho người thân và luật cũng quy định cụ thể về lý do xin ly hôn, trong đó bạo lựcgia đình là một lý do, căn cứ để người chồng hoặc người vợ có quyền yêu cầu tòa áncho ly hôn Cụ thể tại Khoản 2, Điều 51 trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cóquy định như sau: 2 Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu tòa án giảiquyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác màkhông thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạolực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng,sức khỏe, tinh thần của họ

Như vậy, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa ángiải quyết ly hôn như trước đây thì kể từ nay, căn cứ để cha, mẹ, người thân thích kháccũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâmthần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình,đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ

Quy định này tháo gỡ cho nhiều trường hợp mong muốn xin ly hôn thay chongười thân bị mất năng lực hành vi mà không được do trước đây chỉ quy định việc lyhôn phải do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành

vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tụng dân sự để xin ly hôn Chính điềunày đã dẫn tới thực trạng có rất nhiều trường hợp vợ hoặc chồng muốn ly hôn nhưnglại Tòa án không thể tiến hành giải quyết được, có nhiều vụ việc kéo dài trong rấtnhiều năm với nguyên nhân duy nhất là do người vợ hoặc chồng bị mất năng lực hành

Trang 15

Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết thì quy định này là không cần thiết bởi chỉcần khi một bên vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ được hành vi của mình thì lúc này cuộc hôn nhân đã không còn hạnh phúc,xét về góc độ tình cảm thì mục đích ban đầu của hôn nhân không đạt được nên cầnphải giải quyết ly hôn cho hai bên khi có yêu cầu của người thân của họ, tránh sự ràngbuộc, bế tắc, chứ không cần thiết phải có hậu quả là nạn nhân của bạo lực gia đình dochồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinhthần của họ như quy định của luật.

Vậy nên, nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cũng nhưgóp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật thì các nhà lập pháp cần xem xét lạiquy định trên nhằm điều chỉnh một cách thấu đáo nội dung này

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 Văn bản pháp luật

1 Hiến pháp năm 2013

2 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004

3 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004, sửa đổi năm 2011

4 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015

5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

6 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020

7 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014

8 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014

9 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụQuốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòaán

 Sách, tài liệu tham khảo, website

1 Anh Bằng,

2 Bích Phương – Ngọc Trâm, Tình huống thực tiễn: Tranh chấp hôn nhân và gia đình hay dân sự? Xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án?,

tranh-chap-hon-nhan-va-gia-dinh-hay-dan-su-xac-dinh-tham-quyen-giai-quyet-

3 Bùi Tiến Bình, “Giải quyết các vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn trên địa bàn thành phố Sơn LA”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2018

Trang 16

4 Công ty Luật hợp danh Nam Việt Luật, Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân

5 Đinh Thị Minh Mẫn, “Giải quyết tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồngkhi ly hôn”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014

6 Giáo Trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB

9 Huỳnh Thu Hương, Đặc trưng pháp lý của tranh chấp về hôn nhân và gia đình,

truy cập ngày 3/3/2022

10 Kho tri thức số, Thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản vợ chồng khi ly hôn,

11 Lê Mình Trường, Hôn nhân là gì ? Quan hệ hôn nhân là gì ? Đặc điểm hôn nhân, https://luatminhkhue.vn/quan-he-hon-nhan-la-gi -quy-dinh-ve-quan-he-

12 Lê Minh Trường, Ly hôn là gì ? Quy định pháp luật về li hôn,

cập ngày 10/3/2022

13 Lê Minh Trường, Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021,

14 Ly hôn là gì? Quy định pháp luật về ly hôn mới nhất,

15 Nguyễn Mạnh Thân, Bạo lực gia đình và một số giải pháp phòng tránh bạo lực gia đình, https://phunu.khanhhoa.gov.vn/article/goc-tu-van/bao-luc-gia-dinh-va-

16 Nguyễn Thị Hồng Thắm, Vụ án là gì ? Vụ án hình sự được phục hồi khi nào ?,

17 Phạm Hồng Minh Hoàng, “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013

18 Vansudia.net, Giới thiệu khái quát về thành phố Ninh Bình,

1/3/2022

19 Vụ án dân sự là gì?, Phạm Kim Oanh, gi/, truy cập ngày 4/3/2022

https://luathoangphi.vn/vu-an-dan-su-la-20 Vì đâu hôn nhân đổ vỡ?,

Trang 17

21 Wiki Luật, Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình,

22 Womanday/Phunuonline, 10 điều phụ nữ nên biết về ly hôn,

Trang 18

PHỤ LỤC

1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015

“Điều 28 Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1 Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

2 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

3 Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

4 Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

• Thông tin cá nhân của Nguyên đơn và bị đơn ( họ và tên; ngày tháng năm sinh;

số CMND; nghề nghiệp; địa chỉ cơ quan hoặc nơi làm việc; số điện thoại; địa chỉ thưđiện tử; thu nhập hàng tháng (lương thu nhập khác); nơi đăng ký hộ khẩu thường trú;chỗ ở hiện tại )

Ngày, tháng, năm kết hôn

Nơi đăng ký kết hôn ( nếu chung sống không có đăng ký kết hôn nêu rõ lý do,thời gian chung sống)

• Về quan hệ hôn nhân

+ Ngày, tháng, năm kết hôn; nơi kết hôn

+ Quá trình sống hạnh phúc đến lúc nào?

+ Mâu thuẫn xảy ra từ thời gian nào?

+ Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là gì?

+ Khi phát sinh mâu thuẫn đã được địa phương; cơ quan; đoàn thể; gia đình hoặcbản thân các bên hòa giải, giải quyết như thế nào?

+ Hai bên đang ở chung hay ở riêng? (nếu ở riêng thì từ thời gian nào?)

• Về con chung

Số lượng con chung, cụ thể thông tin cá nhân của con chung

+ Hiện đang ở với ai?

Trang 19

+ Thỏa thuận của vợ, chồng về người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡngnuôi con sau ly hôn.

+ Nếu không thỏa thuận được thì đề nghị Tòa án giải quyết như thế nào?

• Về tài sản

+ Tài sản chung của vợ chồng có những gì?

+ Thỏa thuận ai sử dụng tài sản nào

+ Nếu không thỏa thuận được thì đề nghị Tòa án giải quyết như thế nào?

+ Nếu là tài sản riêng thì phải chứng minh

• Về nhà ở, quyền sử dụng đất

• Cùng các thông tin khác mà nguyên đơn thấy cần thiết cho việc giải quyết vụán

3 Thủ tục xử lý, thụ lý đơn khởi kiện theo quy định của BLTTDS năm 2015

Quá trình giải quyết đơn khởi kiện về tranh chấp ly hôn tại Tòa án được thựchiện theo đúng quy định của BLTTDS năm 2015, là quy trình giải quyết vụ việc dân

sự nói chung

Được quy định cụ thể tại:

- Điều 191 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015

“Điều 191 Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

1 Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.

Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2 Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh

án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3 Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

Trang 20

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

4 Kết quả xử lý đơn của Thẩm phán quy định tại khoản 3 Điều này phải được ghi chú vào sổ nhận đơn và thông báo cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).”

- Điều 195 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015

“Điều 195 Thụ lý vụ án

1 Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.

2 Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

3 Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

4 Trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì Thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo.”

4 Quy định của BLTTDS năm 2015 về thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn: Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp,tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ra quyết định công nhận sự thỏa thuận củacác đương sự theo quy định của pháp luật

Đầu tiên là thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khaichứng cứ và hòa giải: Thẩm phán tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếpcận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự Trước khi tiến hành phiênhọp, Thẩm phán phải thông báo cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự,người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hànhphiên họp và nội dung của phiên họp Trong trường hợp vụ án dân sự không được hòagiải hoặc không tiến hành hòa giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 củaBLTTDS thì Thẩm phán tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, côngkhai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải

Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trướckhi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giảigiữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân côngphải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp.Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhànước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyênnhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án

Ngày đăng: 29/12/2022, 06:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w