1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Dịch vụ Hệ sinh thái ở Việt Nam: Đề xuất Nội dung cho các Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp 2021-2030, tầm nhìn 2045

49 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Dịch vụ Hệ sinh thái ở Việt Nam: Đề xuất Nội dung cho các Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp 2021-2030, tầm nhìn 2045
Tác giả Nguyễn Quang Tân, Đỗ Trọng Hàn, Rachmat Mulia, Tô Thị Thu Hương
Người hướng dẫn Anja Barth, Cố Vấn Trưởng
Trường học Trung Tâm Nghiên Cứu Nông-Lâm Quốc Tế (ICRAF) Việt Nam
Chuyên ngành Phát triển lâm nghiệp
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. GIỚI THIỆU (6)
  • II. DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI RỪNG (6)
    • 1. Tổng quan về dịch vụ hệ sinh thái rừng (6)
    • 2. Tính đặc biệt của hàng hóa dịch vụ hệ sinh thái (9)
    • 3. Nội dung chính trong việc thực hiện chi trả dịch vụ môi (10)
  • III. VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VỚI NỀN KINH TẾ (11)
    • 1. Dịch vụ hệ sinh thái và hạch toán dịch vụ hệ sinh thái (11)
    • 2. Kế hoạch tăng trưởng xanh tỉnh Lâm Đồng (14)
      • 1.1 Bối cảnh (14)
      • 1.2. Các bước lồng ghép dịch vụ hệ sinh thái vào kế hoạch tăng trưởng xanh (15)
      • 1.3. Các lựa chọn can thiệp tăng trưởng xanh (16)
      • 1.4. Công cụ đánh giá (17)
      • 1.5. Kết quả đánh giá (19)
    • 3. Những điểm nổi bật trong Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của Lâm Đồng (22)
  • IV. DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP 2021-2030 (23)
    • 1. Các xu hướng và cơ hội có liên quan trong nước và trên thế giới (23)
    • 2. Các lựa chọn (25)
      • 1.1. Lựa chọn 1 (26)
        • 1.1.1. Tóm tắt lựa chọn 1 (26)
        • 1.1.2. Biện minh cho lựa chọn 1 (26)
        • 1.1.3. Các tác động tiềm năng của lựa chọn 1 (29)
      • 1.2. Lựa chọn 2 (31)
        • 1.2.1. Tóm tắt lựa chọn 2 (31)
        • 1.2.2. Biện minh cho lựa chọn 2 (31)
        • 1.2.3. Các tác động tiềm năng của lựa chọn 2 (32)
      • 1.3. Lựa chọn 3 (33)
        • 1.3.1. Tóm tắt lựa chọn 3 (33)
        • 1.3.2. Biện minh cho lựa chọn 3 (33)
        • 1.3.3. Các tác động tiềm năng của lựa chọn 3 (34)
  • V. KHUYẾN NGHỊ CHO CHIẾN LƯỢC PTLN 2021 – 2030 (39)
    • 1. Đề xuất về nội dung cho bản dự thảo Chiến lược PTLN 2021-2030 (39)
    • 2. Mục tiêu và chỉ số đánh giá (40)
      • 1.1. Nghiên cứu đánh giá và định giá gói dịch vụ hệ sinh thái (40)
      • 1.2. Nghiên cứu xây dựng hệ thống hạch toán tài khoản môi trường và dịch vụ hệ sinh thái 41 1.3. Thí điểm chi trả gói dịch vụ hệ sinh thái theo cảnh quan (40)
    • 3. Danh mục dự kiến các dự án và chương trình ưu tiên (41)
      • 1.1. Dự án nghiên cứu đánh giá và định giá gói dịch vụ hệ sinh thái (41)
      • 1.2. Dự án nghiên cứu xây dựng hệ thống hạch toán tài khoản môi trường và dịch vụ hệ (42)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (45)

Nội dung

Với Chiến lược PTLN 2021-2030, tầm nhìn tới 2045, ba lựa chọn về DVHST được thảo luận trong báo cáo: Lựa chọn 1: Không bổ sung thêm dịch vụ hệ sinh thái mới mà tập trung khắc phục các hạ

GIỚI THIỆU

Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 được Thủ tướng Chính phủ ban hành năm 2007 qua Quyết định số 18/2007/QD-TTg ngày 05/02/2007 Năm 2020 đánh dấu năm cuối cùng thực hiện chiến lược này và cũng là thời điểm bắt đầu xây dựng chiến lược PTLN cho giai đoạn tiếp theo Từ đầu năm 2020, Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN) – đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng chiến lược PTLN giai đoạn mới (2021-2030, tầm nhìn tới 2045) đã có công văn đề xuất một số nghiên cứu xây dựng Chiến lược PTLN 2021-2030, tầm nhìn tới 2045 và kêu gọi sự tham gia đóng góp của các tổ chức trong và ngoài nước vào quá trình này.

Báo cáo này nhằm mục đích đóng góp vào nội dung mở rộng dịch vụ hệ sinh thái (DVHST) trong Dự thảo Chiến lược PTLN giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 Cụ thể hơn, báo cáo sẽ đề xuất các nội dung và giải pháp để mở rộng DVHST, phân tích bối cảnh, xác định mục tiêu và lộ trình thực hiện, đồng thời đưa ra các chỉ số đánh giá hiệu quả Bên cạnh đó, báo cáo làm rõ các yếu tố tác động, cơ hội và thách thức liên quan đến DVHST của PTLN nhằm hỗ trợ quá trình hoàn thiện chiến lược và triển khai thực tiễn Các nội dung ưu tiên được nêu ra nhằm tối đa hóa giá trị DVHST, tăng cường liên kết giữa các thành phần trong hệ sinh thái và đảm bảo sự phát triển bền vững lâu dài Mục tiêu của báo cáo là cung cấp thông tin có hệ thống, dễ tiếp cận và có thể triển khai, đồng thời hỗ trợ các bên liên quan cập nhật tiến độ và đo lường tác động của DVHST theo các tiêu chí đã đề ra trong chiến lược.

▪ tổng hợp các thảo luận về các DVHST tiềm năng có thể mở rộng ở Việt Nam,

▪ thảo luận các đề xuất về mục tiêu, nhiêm vụ, nội dung, giải pháp về mở rộng các DVHSTR trong Chiến lược PTLN giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045

Báo cáo này do nhóm Chuyên gia của ICRAF – Trung tâm Nghiên cứu Nông-Lâm Quốc tế tại Việt Nam thực hiện, có sự tham gia của cán bộ Tổ chức Hợp tác Phát triển Quốc tế Đức (GIZ) tại Việt Nam; ngân sách cho việc thực hiện nghiên cứu này đến từ GIZ.

Việc thực hiện các dịch vụ môi trường rừng (PFES) ở Việt Nam đã được đánh giá chi tiết bởi nhiều tổ chức như Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế (CIFOR), TCLN, UNDP, Winrock International và Quỹ Bảo vệ Phát triển Rừng Việt Nam (VNFF) Báo cáo này không rà soát lại việc thực hiện các dịch vụ môi trường rừng hiện có mà tập trung thảo luận vào các DVHST tiềm năng có thể mở rộng ở Việt Nam.

Báo cáo trình bày các nội dung cơ bản sau: sau Chương 1 – Giới thiệu, Chương 2 tóm tắt DVHST và các DVHSTR đã thực hiện ở Việt Nam cho đến nay; Chương 3 thảo luận vai trò của DVHST trong nền kinh tế và đi sâu phân tích vai trò của hệ sinh thái với các ngành kinh tế khác trong quá trình xây dựng Kế hoạch Tăng trưởng xanh của tỉnh Lâm Đồng; Chương 4 giới thiệu các xu hướng trong nước và quốc tế có liên quan và phân tích các lựa chọn cho việc mở rộng DVHSTR trong Chiến lược PTLN 2021-2030, tầm nhìn 2045; cuối cùng, Chương 5 thảo luận chi tiết các khuyến nghị về mở rộng DVHSTR cho Chiến lược PTLN 2021-2030 và tầm nhìn 2045.

DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI RỪNG

Tổng quan về dịch vụ hệ sinh thái rừng

Hệ sinh thái rừng được định nghĩa là một tập hợp mang tính năng động của các thực vật, động vật, cộng đồng vi sinh vật và môi trường vô sinh tương tác với nhau như một đơn vị chức năng (Liên Hợp Quốc, 1992) Rừng được coi là nơi cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái cơ bản, được công nhận trong các nghiên cứu của Aznar-Sánchez và cộng sự (2018) Dịch vụ hệ sinh thái rừng là những hàng hóa và dịch vụ lâm nghiệp mang lại lợi ích kinh tế, vật chất, sinh lý, tâm lý, tình cảm hoặc xã hội trực tiếp hoặc gián tiếp cho con người.

7 cho con người 1 Dịch vụ hệ sinh thái rừng rất đa dạng, các nghiên cứu trên thế giới đã xác định ra gần

Khoảng 100 dịch vụ khác nhau của hệ sinh thái rừng được ghi nhận (Aznar-Sánchez và cộng sự, 2018) Trong báo cáo Đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (MEA), UNEP phân loại các dịch vụ này thành bốn nhóm chính: (i) dịch vụ cung cấp như lương thực và nước; (ii) dịch vụ điều tiết như kiểm soát lũ lụt, hạn hán, suy thoái đất và dịch bệnh; (iii) dịch vụ văn hóa như mỹ thuật, giải trí, tôn giáo và các lợi ích phi vật chất khác; và (iv) dịch vụ hỗ trợ như hình thành đất và tái tạo dinh dưỡng Mặc dù một số dịch vụ có thể thuộc nhiều nhóm, việc phân loại theo bốn nhóm này đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới và được các nhà nghiên cứu như Lusiana và cộng sự (2018) cũng như Sing, Ray & Watts (2015) công nhận.

Các DVHST chính đang được thảo luận trong các nghiên cứu trên thế giới được trình bày ngắn gọn dưới đây, dựa trên các công trình của Aznar-Sánchez và cộng sự (2018); Costanza và cộng sự (1997); Daily (1997); Jenkins & Schaap (2018); Lusiana và cộng sự (2018); MEA (2005a, 2005b); Renaud và cộng sự (2016); Sing và cộng sự (2015) Đa dạng sinh học xuất hiện ở hai nhóm do hai chức năng khác nhau Việc xác định DVHST ở đây mang tính chất tham khảo chung – tùy vào bối cảnh cụ thể ở từng nơi, từng nhóm đối tượng mà DVHST có thể được định nghĩa chi tiết hơn hoặc có các yếu tố khác với định nghĩa chung này.

Nhóm dịch vụ ‘Cung cấp’ của rừng bao gồm các lợi ích vật chất trực tiếp cho con người như gỗ xây dựng, veneer, ván sàn, dăm gỗ, bột giấy và củi (bao gồm cả gốc, rễ và phế phẩm); Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) với các sản phẩm như thực phẩm nguồn gốc từ thực vật (quả cây, quả mọng, lá, xi-rô và các loại hạt), động vật hoang dã hoặc gia súc nuôi trong rừng hoặc hệ thống nông lâm kết hợp, đồ uống, vật liệu thủ công, trang trí và làm đồ chơi, dược phẩm và hóa chất có nguồn gốc từ nhựa, sáp, dầu và axit béo; nước được rừng cung cấp bằng cách hấp thụ nước mưa, sương và mù vào đất và cấp cho các mạch nước ngầm, các mảnh gỗ trong dòng nước tạo ra con đập giúp tăng lưu trữ nước và làm chậm dòng chảy, góp phần giảm nguy cơ lũ lụt; tài nguyên di truyền cung cấp cây giống phù hợp với địa phương và nguồn gen cho điều kiện phát triển của quốc gia; và đa dạng sinh học được quản lý để duy trì các loài đặc hữu và đa dạng, cung cấp môi trường sống cho chim, thú và thực vật hiếm được bảo vệ.

Nhóm dịch vụ điều tiết của hệ sinh thái mang lại phúc lợi cho người dân thông qua các lợi ích phi vật chất như điều tiết khí hậu bằng cách hấp thụ và lưu trữ carbon, bảo vệ và điều tiết các tác động của thời tiết cực đoan, gió, tia cực tím và mưa Điều tiết thiên tai giúp chống xói mòn, điều tiết lượng mưa và làm chậm, hạn chế đỉnh lũ Khử độc và thanh lọc đất, không khí và nước nhờ khả năng hấp thụ ô nhiễm của cây cối, trong khi các khu rừng và vành đai cây đóng vai trò như vùng đệm giảm ô nhiễm tiếng ồn Điều tiết sâu bệnh được thực hiện thông qua cấu trúc sinh học của hệ sinh thái và đa dạng sinh học của khu rừng, giúp kiểm soát sâu bệnh một cách tự nhiên.

Rừng mang lại nhiều dịch vụ hệ sinh thái quan trọng, bao gồm giảm tác động gây hại của một số loài gây hại và mầm bệnh nhờ cấu trúc đa dạng sinh học; thụ phấn cho cây trồng và duy trì môi trường sống cho các loài sinh vật giúp quá trình thụ phấn diễn ra hiệu quả; dịch vụ điều tiết thiên tai như chống xói mòn, điều tiết lượng mưa và làm chậm đỉnh lũ để giảm thiệt hại cho môi trường và cộng đồng; lọc và khử độc đất, nước và không khí, đồng thời làm giảm ô nhiễm tiếng ồn nhờ vai trò vùng đệm của rừng và vành đai cây; cùng với đó, độ đa dạng sinh học cao của các khu rừng giúp kiểm soát sâu bệnh và giảm tác động gây hại của nhiều loài gây hại và mầm bệnh.

Nhóm dịch vụ Văn hóa của hệ sinh thái rừng mang lại các lợi ích phi vật chất đáng kể, như sức khỏe thể chất được cải thiện và phục hồi tinh thần qua các hoạt động giải trí và trải nghiệm trong rừng, cùng với sự kết nối sâu sắc với cảnh quan và đời sống hoang dã Dòng giá trị này cũng mở rộng giáo dục và học tập thông qua giáo dục chính quy (trường học lâm nghiệp) và các hoạt động tình nguyện, giúp người dân phát triển kiến thức môi trường và kỹ năng nghề nghiệp liên quan Bên cạnh đó, rừng đóng góp cho kinh tế thông qua tạo việc làm và phát triển các mô hình giải trí dựa trên rừng.

Rừng đóng vai trò quan trọng trong phát triển và kết nối xã hội bằng cách củng cố vốn xã hội hiện có và tạo cơ hội cho các mối quan hệ mới thông qua việc tham gia vào các nhóm tình nguyện và rừng cộng đồng Đồng thời, rừng nuôi dưỡng văn hóa và tinh thần bằng cách thể hiện các giá trị sử dụng và không sử dụng, thông qua các văn hóa hoặc lịch sử và các câu chuyện về nhân vật lịch sử hoặc dân gian.

Nhóm dịch vụ hỗ trợ thuộc hệ sinh thái bao gồm các quy trình củng cố và cung cấp các dịch vụ sinh thái thiết yếu Sản xuất sơ cấp diễn ra khi cây hấp thụ CO2 thông qua quá trình quang hợp để hình thành chất hữu cơ, từ đó thúc đẩy tăng trưởng thực vật và sản xuất oxy Hình thành đất là kết quả của việc rễ cây và hệ vi sinh vật phá vỡ địa chất và khoáng hóa, đồng thời tích tụ chất hữu cơ từ lá và cành rụng Tái tạo dinh dưỡng được thể hiện qua sự luân chuyển chất dinh dưỡng giữa cành, lá rụng và đất, với tán lá cùng các hợp chất khí quyển cung cấp nitơ và các dưỡng chất thiết yếu cho đất Tái tạo nước không chỉ nhờ hấp thụ và cung cấp nước mà còn đóng vai trò quan trọng trong chu trình thủy văn ở mức độ rộng bằng cách ngăn chặn sự bay hơi nước của rừng.

Đa dạng sinh học và biến thể di truyền được thích nghi tại địa phương đóng vai trò thiết yếu trong hệ sinh thái rừng, hỗ trợ hệ thực vật và động vật bằng cách tạo môi trường sống cho côn trùng thụ phấn và các loài động vật dưới đất tham gia vào quá trình phân hủy Nhờ đó đất hình thành và chu trình dinh dưỡng được duy trì, đảm bảo sự bền vững của rừng và khả năng phục hồi trước các tác động môi trường.

Mặc dù được sử dụng rộng rãi, phân loại DVHST theo bốn nhóm của MEA vẫn chưa làm rõ lợi ích xã hội của nhóm dịch vụ này, vì bản chất nó chỉ duy trì chức năng của hệ sinh thái nói chung Bên cạnh đó, sự phân loại theo MEA còn thiếu rõ ràng nên khó triển khai nghiên cứu trên thực tế Haines-Young và Potschin (2018) đã xây dựng bảng phân loại quốc tế phổ biến về DVHST (Common International Classification of Ecosystem Services hay còn gọi tắt là CICES); trong đó các dịch vụ Điều tiết và Hỗ trợ được nhóm lại thành một nhóm dịch vụ Điều tiết và Duy trì (Regulating and Maintenance).

Các thảo luận về DVHST đã trải qua nhiều biến động suốt hơn hai thập kỷ qua Kể từ những năm cuối thập niên 1990, khi Costanza và đồng sự (1997) và Daily (1997) công bố các nghiên cứu đầu tiên về DVHST, lĩnh vực này đã trở thành một trong những chủ đề then chốt trên các diễn đàn khoa học toàn cầu Trong giai đoạn 1998–2002, các nghiên cứu DVHST tập trung vào các vấn đề quản lý như quản lý rừng, quản lý hệ sinh thái và quản lý môi trường, đồng thời xem xét các vấn đề liên quan đến hệ sinh thái rừng như đa dạng sinh học, mất rừng, hấp thụ carbon và sử dụng đất (Aznar-Sánchez và cộng sự, 2018).

Trong giai đoạn 2003-2007, các mối quan tâm chủ đạo trong diễn giải DVHST được mở rộng từ các vấn đề nội địa sang các chủ đề bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững Song song, phạm vi phân tích DVHST bắt đầu vượt khỏi giới hạn quốc gia hay lãnh thổ để mở rộng lên phạm vi toàn cầu, như được nhấn mạnh bởi Aznar-Sánchez và cộng sự (2018).

Trong giai đoạn 2008-2013, mối quan tâm với DVHST được mở rộng sang nội dung ‘rừng nhiệt đới’,

Trong giai đoạn này, các vấn đề liên quan đến “trồng rừng” và “thay đổi sử dụng đất” được bàn luận sâu, làm nền cho những phân tích về tác động đến hệ sinh thái Cũng ở giai đoạn này, kinh tế học của hệ sinh thái và đa dạng sinh học đã trở thành một sáng kiến mang tính toàn cầu, nhấn mạnh các dịch vụ mà hệ sinh thái và đa dạng sinh học cung cấp cho con người và nền kinh tế (Aznar-Sánchez và cộng sự, 2018).

Trong những năm gần đây, trước các tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu và mối liên hệ giữa DVHST với BĐKH, biến đổi khí hậu vẫn là chủ đề được quan tâm hàng đầu trong các thảo luận về DVHST (Aznar-Sánchez và cộng sự, 2018) Vai trò của DVHST trong việc ngăn ngừa suy thoái đất, sa mạc hóa và giảm nhẹ các tác động của BĐKH và hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa, lũ, hạn hán cũng được nhấn mạnh (Jenkins & Schaap, 2018).

Tính đặc biệt của hàng hóa dịch vụ hệ sinh thái

Dịch vụ hệ sinh thái là một loại hàng hóa đặc biệt Trong khi hàng hóa tư nhân có đủ tính cạnh tranh để sở hữu và có thể bị loại trừ, đồng thời việc tiêu thụ hàng hóa ấy ngăn cản người khác tiêu thụ, thì các dịch vụ hệ sinh thái thường không có cả hai đặc tính này Dựa trên hai tính chất trên, các loại hàng hóa/dịch vụ hệ sinh thái có thể được phân thành bốn loại như minh họa trong Hình 1 – xem thêm (Kolinjivadi & Sunderland).

Hình 1: Khung phân loại các dịch vụ hệ sinh thái

TIẾP CẬN/KHAI THÁC TỰ DO TÍNH CHẤT TƯ HỮU

CAO Hàng hóa tư nhân

Cả tính cạnh tranh lẫn khả năng loại trừ đều ở mức cao, vì vậy việc dùng các biện pháp thị trường để điều tiết là khả thi Ví dụ, giấy phép khai thác gỗ và quyền khai thác nước mặt ở quy mô nhỏ có thể được triển khai để cấp quyền sử dụng tài nguyên, thúc đẩy hiệu quả sử dụng và giảm thiểu tác động môi trường Các cơ chế này giúp cân bằng giữa lợi ích kinh tế và bảo tồn, đồng thời tạo khung quản lý nguồn lực địa phương phù hợp với điều kiện thực tế.

Ghi chú: Độ dày của khung hộp phản ánh quy mô tăng dần của các thể chế quản trị cần thiết, bắt đầu từ hàng hóa tư nhân đòi hỏi quy mô quản trị nhỏ nhất Các loại hàng hóa có tính chất tiếp cận tự do có thể có quy mô nhỏ hoặc lớn, nhưng thường là quy mô lớn khi tiếp cận thị trường toàn cầu Mức độ quan tâm toàn cầu đối với các dịch vụ như hấp thụ carbon cho thấy sự cần thiết của các cơ chế quản trị ở phạm vi rộng để điều tiết và hỗ trợ phát triển các loại hàng hóa này.

Hàng hóa công cộng được cho là có sẵn cho mọi người sử dụng và việc một người dùng không làm giảm khả năng sử dụng của người khác; do đó nó vừa không thể loại trừ vừa dễ bị lạm dụng Đặc tính này khiến việc ngăn chặn người khác sử dụng hàng hóa công cộng gần như bất khả thi, và nếu có thể thì chi phí loại trừ cũng rất cao Vì vậy, do tính không cạnh tranh và khả năng loại trừ rất yếu, hàng hóa hoặc dịch vụ công cộng thường bị sử dụng quá mức và dẫn đến cạn kiệt, được gọi là Bi kịch của cái chung (Hardin 1968).

Đa phần các dịch vụ hệ sinh thái có bản chất là hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa/dịch vụ có tính tiếp cận tự do, nên việc dùng công cụ thị trường để điều tiết việc sử dụng các loại hàng hóa này khó thành công và thường đi kèm chi phí cao Do đó, khi áp dụng các biện pháp can thiệp để bảo vệ và duy trì DVHST, cần cân nhắc hai đặc tính trên để thiết kế biện pháp can thiệp và thể chế quản trị phù hợp, nhằm đảm bảo hiệu quả và tính bền vững của dịch vụ hệ sinh thái.

Nội dung chính trong việc thực hiện chi trả dịch vụ môi

Phần này tóm lược các mốc chính trong thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) tại Việt Nam và các DVMTR được chi trả, đồng thời làm rõ kết quả đánh giá tiến trình thực hiện DVMTR ở Việt Nam cho tới nay bởi Tổng Cục Lâm nghiệp.

Việt Nam bắt đầu thí điểm trả tiền cho dịch vụ môi trường rừng từ năm 2008 tại hai tỉnh Sơn La và Lâm Đồng, theo Quyết định 380/QĐ-TTg ngày 10/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ, tập trung vào ba nhóm dịch vụ chính: (1) dịch vụ điều tiết và cung ứng nguồn nước, (2) dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và chống bồi lắng lòng hồ, (3) dịch vụ du lịch.

TOÀN CẦU (Khó nhận biết) ĐỊA PHƯƠNG (Dễ nhận biết)

Hàng hóa “câu lạc bộ”/”tính phí”

Khả năng loại trừ cao nhưng tính cạnh tranh thấp

Ví dụ, du khách có thể ngắm cảnh đẹp ở vườn quốc gia mà không làm suy giảm vẻ đẹp tự nhiên của khu vực Để cân bằng giữa trải nghiệm tham quan và bảo tồn, việc ngắm cảnh có thể được thu phí một lần tại cửa vào và cho phép thời gian thưởng ngoạn không giới hạn Cơ chế này giúp người đến thăm tận hưởng toàn bộ vẻ đẹp của khu vực đồng thời bảo vệ hệ sinh thái và tài sản của vườn quốc gia.

Cả tính cạnh tranh lẫn khả năng loại trừ đều thấp, rất khó để điều tiết bằng cơ chế thị trường

Ví dụ: các dịch vụ hệ sinh thái bắt nguồn từ đa dạng sinh học, như dịch vụ thụ phấn cây trồng hoặc giảm thiểu sâu bệnh hại

Quan điểm về lợi ích

Trong các hệ thống khai thác nguồn lợi chung, tính loại trừ rất thấp đi kèm với tính cạnh tranh cao, ví dụ như hồ cá mở cửa tự do nơi ai cũng có thể đánh bắt nhưng lượng cá lại có giới hạn Tình trạng này tạo áp lực khai thác đáng kể và tiềm ẩn nguy cơ kiệt nguồn nếu quản lý nguồn lợi không được thực thi hiệu quả Để duy trì sự bền vững, cần áp dụng các biện pháp như giới hạn lượt đánh bắt, thiết lập thời vụ, phân bổ nguồn lợi hoặc hệ thống cấp phép phù hợp, nhằm cân bằng giữa quyền tiếp cận và bảo tồn quần thể cá.

Ví dụ: dịch vụ hấp thụ các-bon, không thể giới hạn đối tượng hưởng lợi từ dịch vụ này

Sau hai năm thí điểm, việc thực hiện chi trả DVMTR được mở rộng trên quy mô toàn quốc theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ Theo nghị định này, các loại dịch vụ được chi trả bao gồm năm nhóm chính (05) được quy định tại Điều 4.

• Bảo vệ đất, hạn chế xói mòn và bồi lắng lòng hồ, lòng sông, lòng suối;

• Điều tiết và duy trì nguồn nước cho sản xuất và đời sống xã hội;

Rừng hấp thụ và lưu giữ carbon, đóng góp đáng kể vào việc giảm phát thải khí nhà kính Để tối ưu hóa hiệu quả này, cần thực hiện các biện pháp ngăn chặn suy thoái rừng và giảm diện tích mất rừng, đồng thời phát triển rừng bền vững Việc bảo vệ và quản lý rừng hợp lý mang lại lợi ích lâu dài cho môi trường, đa dạng sinh học và cộng đồng.

• Bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch;

• Dịch vụ cung ứng bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống tự nhiên, sử dụng nguồn nước từ rừng cho nuôi trồng thủy sản

Vào năm 2017, Quốc hội đã thông qua Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14, thiết lập khung pháp lý cho quản lý và bảo vệ rừng Các loại dịch vụ môi trường rừng được quy định và thể chế hóa trong Luật Lâm nghiệp (Điều 61), tương tự như Điều 4 của Nghị định 99/2010/NĐ-CP.

VAI TRÒ CỦA DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI VỚI NỀN KINH TẾ

Dịch vụ hệ sinh thái và hạch toán dịch vụ hệ sinh thái

Môi trường được coi như vốn tự nhiên và cung cấp các DVHST cùng với tài nguyên thiên nhiên, đóng vai trò đầu vào thiết yếu cho sản xuất và tiêu dùng Tuy nhiên, phân tích đóng góp của môi trường cho sự phát triển kinh tế xã hội gặp khó khăn do DVHST chưa được phản ánh đầy đủ trong thống kê tài khoản quốc gia vì ba nguyên nhân chính: thiếu hiểu biết về vai trò của DVHST, thiếu thị trường và giá cho nhiều loại tài sản tự nhiên và DVHST, và bản thân DVHST thường có đặc tính công cộng khiến việc đánh giá và tính toán gặp trở ngại Để khắc phục những khoảng trống này, OECD đang áp dụng một cách tiếp cận mạch lạc, mô phỏng phạm vi sản xuất của mô hình kinh tế vi mô, theo đó các đầu vào được chuyển đổi thành đầu ra như minh họa trong Hình 2 Theo đó, hệ thống tự nhiên được coi là nguồn vốn tự nhiên cung cấp cả DVHST lẫn tài nguyên thiên nhiên, tạo thành đầu vào quan trọng cho sản xuất và ảnh hưởng trực tiếp đến phúc lợi, đồng thời đóng vai trò như bể chứa và hấp thụ chất thải trong quá trình sản xuất và tiêu dùng Việc giảm sự phụ thuộc vào cơ sở tài sản tự nhiên không nhất thiết mâu thuẫn với tăng trưởng nhờ cải tiến công nghệ, tái chế, năng suất cao hơn hoặc thay thế nguồn cung từ tự nhiên.

Mối quan hệ tương tác giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế là cốt lõi của các chiến lược phát triển gần đây như phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và kinh tế tuần hoàn Nguyên tắc chung của các chiến lược này là đảm bảo duy trì và tăng cường ba chức năng của hệ thống tự nhiên đối với hệ thống kinh tế, nhằm tối ưu hóa sử dụng nguồn lực và giảm thiểu tác động lên môi trường Trong đó, kinh tế tuần hoàn đặt ra mục tiêu tham vọng là giảm nhẹ sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên và thúc đẩy tái sử dụng, tái chế cũng như thiết kế vòng đời sản phẩm để hệ thống kinh tế ngày càng bền vững.

Theo chuẩn mực quốc tế, GDP hiện được tính trên toàn bộ giá trị tạo ra mà không loại trừ tài nguyên thiên nhiên đã bị khai thác và cũng không loại trừ chi phí cần thiết để khôi phục lại môi trường Chỉ tiêu GDP xanh ra đời nhằm đánh giá chi phí của thiệt hại môi trường gắn với tiêu thụ và khai thác tài nguyên thiên nhiên so với GDP thuần Như vậy, GDP xanh phản ánh bản chất của sự phát triển kinh tế của một quốc gia trên ba mức độ: kinh tế, xã hội và môi trường Dù được gọi bằng thuật ngữ nào, về cơ bản đây là việc tính đầy đủ các chi phí liên quan tới bảo vệ môi trường vào giá thành sản phẩm ở cấp độ doanh nghiệp hoặc là sự điều chỉnh cách thể hiện trong tài khoản quốc gia.

Kể từ năm 2010, Thủ tướng đã ban hành Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, trong đó có khái niệm Tổng sản phẩm trong nước xanh (GDP xanh) theo Quyết định 43/2010/QĐ-TTg; Dù Viện nghiên cứu Kinh tế Trung ương (CIEM) đã có nhiều nỗ lực để hiện thực hóa chỉ tiêu này, cho đến nay vẫn chưa có được chỉ số GDP xanh cho Việt Nam, chủ yếu do hệ thống thống kê và thu thập dữ liệu chưa thu thập đầy đủ các số liệu cho tài khoản tài nguyên thiên nhiên, dịch vụ môi trường và ô nhiễm, cụ thể là thiếu khoảng trống giữa tính toán GDP theo cung và theo cầu, chưa có ngành thể hiện chi phí về tái sử dụng chất thải, thiếu ma trận hệ số chất thải trực tiếp và trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, thiếu hệ số chi phí theo các loại chất thải; mặc dù đã có ý tưởng về kéo dài vòng đời của vật chất và luân chuyển giữa đầu ra và đầu vào của hệ thống kinh tế thông qua hệ thống tự nhiên, ở Việt Nam đóng góp chính thức của ngành lâm nghiệp vẫn chủ yếu tập trung vào xuất khẩu gỗ Thống kê của World Bank mở rộng sang nhiều sản phẩm và dịch vụ từ rừng như lâm sản ngoài gỗ, dịch vụ bảo vệ lưu vực (hơn 125 triệu USD trong năm 2018), chi trả carbon trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF), dịch vụ bảo vệ bờ biển chống xói lở và xâm thực (khoảng 600 triệu USD mỗi năm), các dịch vụ du lịch và giải trí, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu, và các hoạt động nông lâm kết hợp và xen canh (World Bank 2019); Tuy nhiên, báo cáo của World Bank cũng chỉ rõ các thống kê này chưa đầy đủ cả về số lượng DVHST (dịch vụ hệ sinh thái) cũng như giá trị của chúng.

Về mặt định lượng, ngoài lĩnh vực xuất khẩu gỗ, báo cáo không đề cập đến đóng góp của các DVHST rừng đến GDP

Thách thức nằm ở việc dù các nghiên cứu định giá rừng và dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam khá phong phú với nhiều DVMTR và hệ sinh thái rừng khác nhau, việc chuyển đổi chúng thành công cụ policymaking vẫn còn khó khăn vì nhiều lý do Thứ nhất, giá trị DVHST hầu hết mang tính địa phương, quy mô nhỏ và phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế-xã hội nơi tiến hành, nên khi áp dụng cho địa phương khác giá trị này không còn phù hợp Thứ hai, các nghiên cứu thường chỉ tập trung vào một DVHST đơn lẻ và thiếu cái nhìn tổng thể về các DVHST cần tính đến trong chiến lược quản lý Bên cạnh đó, thiếu các nghiên cứu ở cấp quốc gia hoặc cấp tỉnh về giá trị của dịch vụ hệ sinh thái cũng như vai trò của chúng trong nền kinh tế, do hệ thống thu thập dữ liệu thống kê để tính GDP chưa ghi nhận các tài khoản quan trọng như ô nhiễm, đất, rừng, nước hay các DVHST (xem Hộp 1 – GDP xanh).

Để minh hoạ cho phương pháp hạch toán tài khoản quốc gia tích hợp các DVHST, chúng tôi trình ví dụ điển hình từ Obst, Hein và Edens (2016) được cho là có tính biểu tượng trong lĩnh vực này Trong Bảng 1, Mục A thể hiện hình thức ghi nhận tài khoản quốc gia tiêu chuẩn hiện nay, tức là không có DVHST và chỉ xét sản xuất gỗ cho đồ nội thất của các hộ gia đình, bỏ qua mọi đầu vào và các khả năng liên quan như chi phí lao động hay tỷ suất lợi nhuận bán lẻ Mục B mở rộng khuôn khổ bằng cách đưa vào dòng lưu chuyển của dịch vụ từ tài sản hệ sinh thái (rừng) sang ngành lâm nghiệp, nhằm phân định giá trị gia tăng giữa ngành lâm nghiệp và tài sản hệ sinh thái; so với Mục A, tổng giá trị gia tăng vẫn ở mức 80 đơn vị tiền tệ dù tổng cung tăng, phản ánh mở rộng ranh giới sản xuất tới các tài sản hệ sinh thái Mục C bổ sung thêm dịch vụ hệ sinh thái thứ hai (lọc không khí) được tạo ra bởi tài sản hệ sinh thái; tổng sản phẩm tăng lên 95 và giá trị gia tăng cũng tăng lên vì phần gia tăng này không phải là đầu vào cho các sản phẩm hiện có trong hệ thống tài khoản quốc gia, và được phản ánh ở nhu cầu gia tăng của các hộ gia đình.

Bảng 1: Tích hợp các DVHST vào hệ thống tài khoản quốc gia

Nhu cầu hộ gia đình (cuối cùng)

Gỗ tròn 50 50 Đồ nội thất 80 80

Gỗ tròn 50 50 Đồ nội thất 80 80

Giá trị gia tăng (cung - cầu) 50 30 80

Gỗ tròn 50 50 Đồ nội thất 80 80

Gỗ tròn 50 50 Đồ nội thất 80 80

Giá trị gia tăng (cung - cầu) 30 20 30 80

Gỗ tròn 50 50 Đồ nội thất 80 80

CIEM 2012 cho thấy việc thử nghiệm tính toán trên tài khoản năng lượng và tài khoản phát thải CO2 được thực hiện, nhưng cho đến nay chưa có thử nghiệm nào áp dụng cho các tài khoản rừng, nước và các dịch vụ hệ sinh thái/dịch vụ môi trường rừng Đặc biệt, chi tiêu cho môi trường vẫn chỉ được thống kê từ ngân sách nhà nước, chưa có số liệu từ các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình.

Gỗ tròn 50 50 Đồ nội thất 80 80

Nguồn: (Obst và cộng sự 2016)

Tiến bộ của nghiên cứu về dịch vụ hệ sinh thái đang mở rộng phạm vi của hệ thống tài khoản quốc gia, vượt ra ngoài khuôn khổ sản xuất tiêu chuẩn để chạm tới các hệ thống tự nhiên và cung cấp cơ sở để xác định các phương án đảm bảo sự bền vững của tài sản tự nhiên và DVHST thông qua các phương pháp cân đối và định giá hợp lý Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay chưa thể hạch toán DVHST trong hệ thống tài khoản quốc gia nên cách ước tính trực tiếp đóng góp của DVHST vào GDP là không khả thi Nhiều nghiên cứu hiện nay áp dụng phương pháp ước tính gián tiếp, ví dụ như Emerton và cộng sự (2014), đưa ra hai kịch bản—kịch bản diễn biến thông thường và kịch bản phát triển theo giả định của nghiên cứu—và sự chênh lệch giữa hai kịch bản này phản ánh giá trị gia tăng hoặc mất đi của các hoạt động phát triển về mặt sinh thái và kinh tế.

Phần tiếp theo tóm tắt một nghiên cứu áp dụng cho tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh xây dựng kế hoạch hành động tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến năm 2050 Nghiên cứu do Tổ chức Nghiên cứu Nông lâm Quốc tế (ICRAF) thực hiện, đưa ra hai kịch bản: kịch bản tham chiếu (theo diễn biến thông thường) và kịch bản tăng trưởng xanh, kèm theo ước tính GDP và khả năng cung cấp/tiêu dùng một số DVHST quan trọng cho từng kịch bản Kết quả cho thấy cách tiếp cận tăng trưởng xanh có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Lâm Đồng đồng thời tăng cường cung cấp các DVHST thiết yếu, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững giai đoạn 2021-2030 và tầm nhìn đến 2050.

Kế hoạch tăng trưởng xanh tỉnh Lâm Đồng

Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh (KHHĐTTX) của tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, định hướng Lâm Đồng trở thành địa phương dẫn đầu ở khu vực Tây Nguyên về tăng trưởng kinh tế cao đi kèm với bảo đảm các dịch vụ hệ sinh thái và các hệ sinh thái bền vững Kế hoạch nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế xanh và bền vững giúp tỉnh thích ứng tốt hơn với những biến động kinh tế và môi trường do cạnh tranh thị trường toàn cầu và biến đổi khí hậu gây ra, đồng thời giảm thiểu chi phí kinh tế và xã hội do suy thoái môi trường, chi phí thường lớn hơn nhiều so với lợi ích ngắn hạn của tăng trưởng không bền vững Thông qua KHHĐTTX, Lâm Đồng hướng tới tối ưu hoá phát triển theo hướng xanh, bảo vệ nguồn lực thiên nhiên và nâng cao khả năng cạnh tranh và thịnh vượng lâu dài.

Trong giai đoạn 2010-2016, tốc độ tăng trưởng Sản phẩm Quốc nội Vùng (GRDP) của tỉnh đạt 9,32% mỗi năm theo giá so sánh năm 2010 Các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 46,33% cho GRDP, ngành dịch vụ 36,99%, và công nghiệp cùng xây dựng 16,68% Sự tăng trưởng kinh tế nhanh gần đây đã gây ra một số tác động tiêu cực đến môi trường và tài nguyên thiên nhiên, với các vấn đề môi trường chính liên quan đến nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch; việc mở rộng nhanh các cây hàng hóa đã dẫn đến chuyển đổi nhiều loại rừng khác nhau Trong giai đoạn 1990-2010, phát thải từ thay đổi sử dụng đất rừng đạt 69,5 triệu tấn CO2tđ, tương đương mức phát thải trung bình 3,47 triệu tấn CO2tđ mỗi năm; nếu xu hướng này tiếp tục mà không có sự can thiệp, phát thải tích lũy CO2 dự kiến từ năm 2010 đến 2030 sẽ đạt 92,1 triệu tấn CO2tđ, tương đương mức trung bình 4,6 triệu tấn CO2tđ mỗi năm Mất rừng và suy thoái rừng cũng ảnh hưởng đến các DVHST khác như du lịch.

15 vụ điều tiết và hỗ trợ bao gồm đa dạng sinh học

Trong lĩnh vực du lịch, một số vấn đề nổi lên như nguy cơ hủy hoại đa dạng sinh học do hoạt động du lịch sử dụng động vật hoang dã quý hiếm, lượng chất thải chưa được xử lý gia tăng, và căng thẳng xã hội do khoảng cách thu nhập giữa du khách và cộng đồng nghèo địa phương bị nới rộng Những thách thức này cần được nêu rõ và gắn với mục tiêu phát triển của tỉnh nhằm đón 6,5 triệu lượt khách vào năm 2020 và 15 triệu lượt khách vào năm 2030, đồng thời tăng số lượng phòng khách sạn lên gấp 1,5 lần thông qua các biện pháp quản lý bền vững, cải thiện hệ thống xử lý chất thải và chia sẻ lợi ích du lịch một cách công bằng với cộng đồng địa phương.

1.2 Các bước lồng ghép dịch vụ hệ sinh thái vào kế hoạch tăng trưởng xanh

Lồng ghép DVHST vào KHHĐTTX là một giải pháp giúp Lâm Đồng giải quyết các vấn đề môi trường trong khi vẫn duy trì tốc độ phát triển kinh tế ở mức mong đợi Việc lồng ghép DVHST vào KHHĐTTX được thực hiện qua sáu bước nhằm tích hợp hiệu quả các hoạt động bảo vệ môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, tối ưu nguồn lực và nâng cao hiệu quả quản lý môi trường Quá trình này giúp cân bằng phát triển bền vững với bảo vệ môi trường và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh Lâm Đồng.

Ở Bước 1, xác định phạm vi đánh giá và thiết lập nền móng cho quá trình phân tích nhằm nhận diện các vấn đề trọng yếu liên quan đến phát triển, môi trường và quản lý Một vấn đề được xác định là mục tiêu cạnh tranh mạnh cả trên thị trường quốc gia và quốc tế, đồng thời duy trì mức độ ổn định của các dịch vụ khác Định hướng chính của ngành nông nghiệp trong tỉnh không nên chỉ tập trung tăng sản lượng mà cần ưu tiên nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tăng sức cạnh tranh và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Bước 2: Sàng lọc và ưu tiên các DVHST liên quan nhất đến kế hoạch phát triển và các nhóm đối tượng chính Sự liên quan được đánh giá dựa trên hai yếu tố: rủi ro và cơ hội mà DVHST có thể mang lại cho kế hoạch, và mức độ DVHST có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng bởi kế hoạch.

Bước 3 xác định các điều kiện và xu hướng của dịch vụ hệ sinh thái (DVHST) và đánh giá các sự đánh đổi có thể phát sinh giữa các mục tiêu phát triển, DVHST và các nhóm liên quan Bước này nắm bắt tình trạng hiện tại và những xu hướng cung cầu của các dịch vụ hệ sinh thái được chọn, nhận diện động lực thúc đẩy sự thay đổi và dự báo tác động của các đánh đổi này đối với chiến lược quản lý và phát triển bền vững.

Trong bước 4, chúng tôi tiến hành thẩm định tổng quan khung thể chế và văn hóa tổ chức bằng cách phân tích các chính sách, quy định và quy tắc không chính thức có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các DVHST quan trọng, đồng thời đánh giá vai trò của các tổ chức chính và các cơ quan truyền thống trong quản lý các DVHST.

Trong Bước 5, chúng ta chuẩn bị ra quyết định tốt hơn bằng cách tổng hợp rủi ro và cơ hội liên quan đến DVHST cho kế hoạch phát triển và xác định các phương án lựa chọn về mặt chính sách, công cụ và các khởi đầu khác nhau để duy trì hoặc tăng cường dịch vụ của hệ sinh thái Phân tích này giúp nhận diện ưu nhược điểm, đánh giá tác động dài hạn và định hướng chiến lược nhằm tối đa hóa giá trị của hệ sinh thái, đồng thời lựa chọn các biện pháp chính sách và công cụ phù hợp với nguồn lực và mục tiêu phát triển Việc xác định những lựa chọn này sẽ củng cố quyết định chiến lược, đảm bảo sự bền vững và hiệu quả của dịch vụ hệ sinh thái trong quá trình triển khai kế hoạch.

Để thực hiện thay đổi một cách hiệu quả, bước này xác định chiến lược thực hiện và kế hoạch làm việc chi tiết, bao gồm các chính sách và công cụ hỗ trợ, sự tham gia của các bên liên quan, phân công trách nhiệm và hành động cụ thể, cũng như các nguồn tài chính và quản lý nguồn lực liên quan Đồng thời, bước này xác định phương pháp giám sát tiến độ và đánh giá tác động của các biện pháp chính sách nhằm đảm bảo hiệu quả và khả năng điều chỉnh khi cần thiết.

1.3 Các lựa chọn can thiệp tăng trưởng xanh

Chín định hướng tăng trưởng xanh (TTX) của tỉnh Lâm Đồng thể hiện nhu cầu giải quyết các vấn đề môi trường đồng thời duy trì tốc độ phát triển kinh tế ở mức mong muốn Các định hướng này được phân thành nhóm can thiệp và các can thiệp ưu tiên, đồng thời KHHĐTTX và chín định hướng chiến lược chia thành sáu ngành/lĩnh vực Ba lĩnh vực trọng tâm là nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch là nguồn đóng góp chính cho GRDP tỉnh và có ảnh hưởng lớn đến quản lý môi trường và tài nguyên Dù được sắp xếp thành nhóm, các ngành liên quan với nhau nhằm giúp các bên liên quan nắm bắt dễ dàng các ưu tiên của KHHĐTTX và huy động nguồn lực phù hợp cho việc thực hiện Sáu ngành gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và du lịch (trọng tâm) và giao thông vận tải, tài nguyên nước và quản lý tài nguyên nước, năng lượng (hỗ trợ).

1 Khuyến khích năng lượng tái tạo và cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng

2 Kiểm soát phát thải khí nhà kính (KNK) từ tất cả các ngành

3 Kiểm soát phát sinh rác thải, chất thải và tái sử dụng cho sản xuất xanh hơn

4 Khuyến khích các hệ thống sử dụng đất bền vững và thông minh với biến đổi khí hậu

5 Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nước và đa dạng sinh học

6 Tăng cường tiếp cận thị trường và nâng cao chất lượng các sản phẩm hàng hóa chính

7 Phát triển du lịch xanh và bền vững

8 Khuyến khích hình thành lối sống xanh và tiêu dùng bền vững

9 Tạo môi trường thuận lợi để chuyển đổi sang nền kinh tế xanh

Chín định hướng TTX không thay thế mà bổ sung cho các ưu tiên chính sách kinh tế và môi trường hiện có của tỉnh Lâm Đồng, đóng vai trò hỗ trợ toàn bộ chu trình kinh tế-tự nhiên theo mô hình OECD như được minh họa tại Hình 2 Trong đó, hoạt động kinh tế được chia thành hai nhóm: sản xuất, được hỗ trợ bởi Định hướng 1 và 4, và tiêu dùng, được hỗ trợ bởi Định hướng 7 và 8, liên kết với nhau qua thương mại, được hỗ trợ bởi Định hướng 6 Các tác động của hệ thống kinh tế lên hệ sinh thái tự nhiên như ô nhiễm và chất thải có thể được giảm thiểu bằng các can thiệp theo Định hướng 3, trong khi vẫn duy trì nguồn cung cấp nguyên liệu đầu vào, năng lượng và các tài nguyên khác cho nền kinh tế, được hỗ trợ bởi các định hướng liên quan.

2 Các chức năng dịch vụ của hệ thống tự nhiên cung cấp cho hệ thống kinh tế (tức là các dịch vụ hệ sinh thái) được hỗ trợ thông qua Định hướng 5, đó là bảo tồn rừng, đa dạng sinh học và nước Như đã nói ở trên, Định hướng 9 hỗ trợ cho TTX nói chung chung và nó đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hài hòa các hệ thống kinh tế và tự nhiên thông qua các chính sách kích thích đổi mới, công nghệ, tăng cường năng lực và các cơ hội kinh tế nói chung

Các hoạt động kinh tế (Sản xuất, tiêu dùng, thương mại)

7 9 Đầu ra Sản xuất Đầu vào

Thu nhập Hàng hóa& DV

Tái chế, tái sử dụng, tái sản xuất, thay thế

5 3 Năng suất đa yếu tố

Công cụ chính sách, đổi mới, tài chính, giáo dục, việc làm

Chất thải ô nhiễm Năng lượng & nguyên liệu thô, nước, đất, sinh khối Cơ hội

Chức năng Chức năng hấp thụ Chức năng tài nguyên dịch vụ

Cơ sở tài sản thiên nhiên (vốn, chất lượng môi trường)

Hình 2: Các định hướng tăng trưởng xanh tỉnh Lâm Đồng trong chu trình kinh tế- tự nhiên theo mô hình của OECD

Ghi chú: ô vuông màu xanh đậm có đánh số thể hiện tác động vào các chu trình kinh tế- tự nhiên Nguồn: điều chỉnh theo mô hình của OECD 2011

Để đánh giá hiệu quả và tác động kinh tế-sinh thái tiềm năng của các can thiệp TTX so với điều kiện tham chiếu, một số công cụ đáng tin cậy được áp dụng Cụ thể, LUMENS (Quy hoạch sử dụng đất cho các DVHST) được sử dụng trong phân tích không gian, mô hình hóa các quá trình sinh thái và kinh tế, và xây dựng các lựa chọn dự báo trước-sau nhằm đánh giá tác động của hoạt động sử dụng đất lên nền kinh tế của tỉnh cũng như lên các DVHST LUMENS cung cấp đầu vào cho mô hình GenRiver nhằm dự báo dòng chảy mặt dựa trên điều kiện tự nhiên và khí hậu Việc sản xuất, khai thác và tiêu thụ năng lượng trong nền kinh tế được đánh giá bằng LEAP (Hệ thống quy hoạch các giải pháp năng lượng thay thế dài hạn) Xác định và phân tích các lựa chọn giảm phát thải từ các nguồn năng lượng khác nhau được thực hiện bằng phân tích MACC (Đường cong chi phí biên giảm phát thải) và MCP (Đo đạc-Liên hệ-Dự báo).

Bảng cân đối liên ngành (I/O) hay bảng Leontief ước tính tác động của các can thiệp ở mọi lĩnh vực lên nền kinh tế Phân tích kinh tế thông qua bảng cân đối liên ngành có ảnh hưởng lớn đến việc tính GRDP của tỉnh và phản ánh bức tranh toàn diện về hoạt động sản xuất, mối quan hệ liên ngành/liên vùng, tiêu dùng cuối cùng, tích lũy tài sản và xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Bảng I/O cho biết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm cuối cùng của một ngành/vùng cần bao nhiêu sản phẩm của các ngành/vùng khác và ngược lại, ngành/vùng đó cung cấp bao nhiêu sản phẩm cho ngành/vùng khác, từ đó cho phép phân tích các mối quan hệ, đánh giá hiệu quả sản xuất và tính toán các chỉ tiêu tổng hợp phục vụ quản lý kinh tế vĩ mô, phân tích và dự báo kinh tế Đối với tỉnh Lâm Đồng bảng cân đối liên ngành gồm 48 nhóm sản phẩm/dịch vụ chia làm ba.

Những điểm nổi bật trong Kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của Lâm Đồng

Nội dung của Chiến lược tăng trưởng xanh quốc gia 2011-2020 và kế hoạch hành động tăng trưởng xanh của các tỉnh khác chủ yếu tập trung vào ba khía cạnh cốt lõi là giảm thiểu phát thải, sản xuất và lối sống xanh, và chi tiêu đô thị bền vững Trong khi đó, đề xuất KHHĐTTX Lâm Đồng có một số yếu tố sáng tạo, đặc biệt là hai nội dung bổ sung về (i) cách tiếp cận và đánh giá tích hợp và (ii) định hướng tăng trưởng xanh, nhằm tăng cường kết nối giữa mục tiêu địa phương và chiến lược quốc gia và xác định lộ trình phát triển xanh cụ thể cho tỉnh.

Phần tiếp cận và đánh giá tích hợp nhấn mạnh sự cần thiết phát triển kinh tế mạnh mẽ trong môi trường bền vững đồng thời duy trì các dịch vụ hệ sinh thái, và đề xuất đánh giá định lượng bằng các công cụ đáng tin cậy để đo các tác động của can thiệp tăng trưởng xanh lên ba loại hệ sinh thái khác nhau ở mức độ cung cấp, điều tiết và dịch vụ hỗ trợ so với kịch bản cơ sở Ba công cụ chính đã được sử dụng là LUMENS, LEAP và Generic River (GenRiver) LUMENS là một công cụ được sử dụng để đánh giá tác động của các chiến lược trên đất liền liên quan đến lĩnh vực sử dụng đất nông nghiệp.

Trong khuôn khổ phân tích hệ thống, AFOLU đóng vai trò nền tảng, trong khi LEAP được sử dụng để đánh giá tác động của ngành năng lượng lên các yếu tố kinh tế và môi trường, và GenRiver được sử dụng để đánh giá thủy văn và chu trình nước Hơn nữa, việc đánh giá tất cả các can thiệp có khả năng đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững sẽ được tiến hành để xác định hiệu quả, chi phí và mức độ ưu tiên đầu tư cho từng biện pháp.

GRDP của tỉnh được thực hiện với bảng Leontief có thể liên kết đóng góp ở cấp ngành với cấp tỉnh

KHHĐTTX của Lâm Đồng đề xuất chín định hướng tăng trưởng xanh kèm lý do, các hoạt động chi tiết và phân công trách nhiệm giữa cơ quan chịu trách nhiệm và cơ quan hỗ trợ Các định hướng này làm rõ cách các dịch vụ hệ sinh thái có thể được lồng ghép vào KHHĐTTX của tỉnh và cho thấy cách tích hợp các mục tiêu kinh tế và sinh thái để đạt được tăng trưởng cũng như một nền kinh tế xanh bền vững.

DỊCH VỤ HỆ SINH THÁI TRONG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP 2021-2030

KHUYẾN NGHỊ CHO CHIẾN LƯỢC PTLN 2021 – 2030

Ngày đăng: 29/12/2022, 05:23

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm