Luận văn : Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN Khoa kinh tế và quản lý nguồn nhân lực
Đề tài: Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp
trên địa bàn huyện Gia Lâm
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS.NGUYỄN NAM PHƯƠNG.
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN THANH THUỶ.
Lớp : KINH TẾ LAO ĐỘNG 47.
Khoa : KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC.
HÀ NỘI - 2009
Trang 2
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
LỜI MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM 9
I Một số khái niệm cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm 9
1 Một số khái niệm cơ bản 9
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm 12
II Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm 16
1 Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc làm 16
2 Mô hình phát triển của Lewis 17
3 Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn – thành thị.(Harris-Todaro) 17
III Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động 18
1 Đối với xã hội 18
2 Đối với doanh nghiệp 19
3 Đối với người lao động 19
IV Kinh nghiệm của một số nước châu Á trong vấn đề tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 21
1 Kinh nghiệm của Trung Quốc 21
2 Kinh nghiệm của Thái Lan 22
3 Kinh nghiệm của Nhật Bản 23
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM .24 I Đặc điểm huyện Gia Lâm 24
1 Điều kiện tự nhiên 24
2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 28
3 Đặc điểm dân số, lao động 30
II Phân tích thực trạng tạo việc làm cho nông dân sau khi bị thu hồi đất 37
1 Số lượng 37
2 Cơ cấu việc làm mới 38
III Hiệu quả của tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp 49
1 Hiệu quả đạt được 50
2 Hạn chế 52
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM 60
I Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện trong thời gian tới 60
1 Kinh tế 60
2 Dân số, lao động, việc làm 60
Trang 3II Những giải pháp chủ yếu 61
1 Tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo nghề 61
2 Khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện 63
3 Đẩy mạnh xuất khẩu lao động 68
4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn 70
5 Tăng cường hoạt động của hệ thống thông tin thị trường lao động 72
6 Khuyến khích nông dân tự tạo việc làm 72
7 Hỗ trợ nông dân bị thu hồi đất 73
8 Củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX 74
III Một số kiến nghị trong vấn đề tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất 76
1 Đối với thành phố Hà Nội 76
2 Đối với chính quyền địa phương 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
MỘT SỐ TRANG WEB 80
Trang 4
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CĐ-ĐH : Cao đẳng- Đại học
CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam CNKT : Công nhân kỹ thuật
CNH-HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CN-XDCB : Công nghiệp- Xây dựng cơ bản
UBND : Uỷ ban nhân dân
XKLĐ : Xuất khẩu lao động
Trang 5Bảng 3 Diện tích và số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên
địa bàn huyện Gia Lâm từ năm 2006 đến 2008
Bảng 7 Số người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông
nghiệp cần giải quyết việc làm
35
Bảng 8 Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp ở huyện Gia Lâm
37
Bảng 9 Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất theo tuổi
38
Bảng 10 Tổng hợp kết quả đào tạo nghề cho lao động nông
thôn vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất huyện
Bảng 14 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật
của lao động trong các hộ bị thu hồi đất ở huyện
Gia Lâm
57
Hình 1 Cơ cấu việc làm mới theo ngành kinh tế 44Hình 2 Số lượng việc làm mới theo thành phần kinh tế 45
Trang 6Hình 3 Cơ cấu việc làm mới theo trình độ chuyên môn kỹ
Trang 7vấn đề kinh tế, xã hội rất bức xúc ở các địa phương, nhất là ở những nơiphương có tốc độ công nghiệp hoá và đô thị hoá diễn ra nhanh chóng Mặtkhác, nước ta là một trong những nước đi đầu về tăng trưởng kinh tế nôngnghiệp, nhất là cây lương thực Từ một nước phải nhập khẩu 1/3 lươngthực mỗi năm đã vươn lên đứng thứ 2 về xuất khẩu lúa gạo Với một nước
ta nông nghiệp, lấy sản xuất lúa nước làm chính, với hơn 70% số dân sống
ở nông thôn, 23% là hộ nghèo, 57% lực lượng xã hội làm trong ngành nôngnghiệp, thì thành tựu này có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội Nhưng trướcthách thức về đất đai nông nghiệp ngày càng thu hẹp, vấn đề việc làm củangười nông dân sau khi bị thu hồi đất được coi là vấn đề bức xúc nhất Đâycũng là thách thức lớn đối với chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thônnói riêng và phát triển đất nước nói chung
Gia Lâm, một huyện ngoại thành Hà Nội, có vai trò quan trọng, vừa làkhu vực nông nghiệp, nông thôn, vừa là vành đai xanh, cung cấp thựcphẩm cho thủ đô Nhưng cùng với sự phát triển của thủ đô, cùng với quátrình đô thị hoá nông thôn, diện tích đất nông nghiệp của huyện cũng đangphải nhường chỗ cho các khu công nghiệp, khu đô thị Người nông dânquanh năm chỉ bám với đồng ruộng, hoạt động lúc nông nhàn của họ cũnggắn liền với cánh đồng, thu nhập chỉ trông chờ vào mấy sào ruộng Việcsản xuất lại phụ thuộc phần lớn vào tự nhiên Mặt khác, người nông dânthường rất dễ bị tổn thương trước sự chi phối khắc nghiệt của thị trường.Giờ mất đất, mất tư liệu sản xuất, nông dân không có việc làm, cuộc sốnggặp nhiều khó khăn Với một huyện còn khó khăn như Gia Lâm, tạo việclàm cho nông dân mất đất, là một bài toán không dễ giải Chính vì vậy, saumột thời gian tìm hiểu về thực trạng việc làm của người nông dân sau khi
bị thu hồi đất ở huyện Gia Lâm, em đã quyết định chọn đề tài:
Trang 8“ Giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm - Hà Nội”.
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương I : Cở sở lý luận về việc làm và tạo việc làm.
Chương II : Phân tích thực trạng tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm.
Chương III: Một số giải pháp tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm.
- Mục đích nghiên cứu: qua việc phân tích thực trạng tạo việc làm cho
nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp để tìm ra những hạn chế, khó khăntrogn quá trình tạo việc làm cho những người này Từ đó, gợi mở nhữnghướng đi cho các hộ nông dân khắc phục khó khăn, có được phương án tìmviệc làm tốt nhất Đồng thời, đề xuất một số ý kiến với thành phố Hà Nội,chính quyền huyện Gia Lâm nhằm tạo việc làm cho nông dân đạt hiệu quảhơn
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các hộ nông dân bị
thu hồi đất nông nghiệp
- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Gia Lâm từ năm 2006 đến năm 2008
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM
I Một số khái niệm cơ bản và những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm.
1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1 Việc làm.
Trang 9- Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động vànhững điều kiện cần thiết ( vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụngsức lao động đó.
- Tổ chức Lao động quốc tế ( ILO ) đưa ra khái niệm: “Việc làm là nhữnghoạt động lao động được trả công bằng tiền và bằng hiện vật”
- Điều 13, chương II Bộ Luật Lao Động nước CHXHCN Việt Nam có ghirõ: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấmđều được thừa nhận là việc làm”
Theo khái niệm trên một hoạt động được coi là việc làm cần thoả mãn haiđiều kiện:
- Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động
và cho các thành viên trong gia đình Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấnmạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm
- Hai là, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cám Điều này chỉ rõ tính
pháp lý của việc làm
Các hoạt động lao động được xác định là việc làm bao gồm:
- Làm các công việc được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật
- Những công việc tự làm để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc thu nhậpcho gia đình mình, nhưng không được trả công (bằng tiền hoặc hiện vật)cho công việc đó Đó có thể là các công việc trong các nhà máy, công sở,các công việc nội trợ, chăm sóc con cái, đều được coi là việc làm
1.2 Thiếu việc làm.
Thiếu việc làm là tình trạng người lao động không có đủ việc làm theothời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc làm những công việc có thunhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên muốn làm việc thêm để có
Trang 10thu nhập Người thiếu việc làm là những người trong khoảng thời gian xácđịnh của cuộc điều tra có tổng số giờ làm việc nhỏ hơn số giờ quy địnhtrong tuần, trong tháng hoặc trong năm và có nhu cầu làm thêm giờ; hoặc
là những người có tổng số giờ làm việc bằng số giờ quy định trong tuần,tháng, năm nhưng có thu nhập quá thấp nên muốn làm thêm để có thunhập
1 3 Thất nghiệp.
Thất nghiệp là sự mất việc làm hay sự tách rời lao động ra khỏi tư liệu sảnxuất
Định nghĩa thất nghiệp của tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “Thất nghiệp
là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn làm việcnhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”
Theo P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus, người thất nghiệp là nhữngngười trong không có việc làm được trả công và đang cố gắng cụ thể để đitìm một công việc trong 4 tuần qua, hoặc bị thôi việc nhưng đang chờ đượcgọi làm việc trở lại, hoặc đang chờ đợi đi làm trong tháng tới
Ở Việt Nam, bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã quy định: “Ngườithất nghiệp là những người đủ từ 15 tuổi trở lên, có nhu cầu làm việcnhưng không việc làm trong tuần lễ điều tra, và tính đến thời điểm điều tra
có đi tìm việc trong 4 tuần lễ qua hoặc không đi tìm việc trong 4 tuần lễqua với lý do chờ việc, nghỉ thời vụ, không biết tìm việc ở đâu hoặc trongtuần lễ trước điều tra có tổng số giừo làm việc dưới 8 giờ, muốn làm thêmnhưng không tìm được việc
1.4 Tạo việc làm.
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng, chất lượng tư liệu sản xuất; sốlượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội khác đểkết hợp với tư liệu sản xuất và sức lao động
Trang 11Cơ chế tạo việc làm: cơ chế 3 bên, đòi hỏi sự tham gia tích cực của ngườilao động, nhà nước và người sử dụng lao động sao cho cơ hội việc làm vàmong muốn được làm việc của người lao động gặp nhau trên thị trườngđúng lúc, đúng chỗ.
- Về phía người lao động: muốn tìm được việc làm phù hợp, có thu nhập
cao, đương nhiên phải có kế hoạch thực hiện và đầu tư cho phát triển sứclao động của mình, có nghĩa là phải tự mình hoặc dựa vào các nguồn tài trợ( từ gia đình, từ các tổ chức xã hội) để tham gia, phát triển, nắm vững mộtnghề nghiệp nhất định
- Về phía Nhà nước: tạo ra hành lang pháp lý, ban hành các luật lệ, chính
sách liên quan trực tiếp đến người lao động và người sử dụng lao động, tạomôi trường pháp lý kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất là một bộphận cấu thành trong cơ chế tạo việc làm cho người lao động
- Về phía người sử dụng lao động: cần có thông tin về thị trường đầu vào
và đầu ra để không chỉ tạo ra chỗ việc làm mà còn duy trì và phát triển chỗlàm việc cho người lao động Do đó, người sử dụng lao động cần có vốn đểmua hoặc thuê nhà xưởng; công nghệ, máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vậtliệu, mua sức lao động để sản xuất ra sản phẩm Hơn nữa, để mở rộng quy
mô sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất thì các chủ sử dụng lao động còncần có kinh nghiệm quản lý, biết vận dụng linh hoạt chính sách của nhànước trong lĩnh vực lao động, việc làm Đồng thời đề ra các quy định phùhợp, quản lý lao động một cách khoa học và nghệ thuật nhằm đạt được mụctiêu của tổ chức và nâng cao sự thoả mãn của người lao động, khơi dậyđộng lực lao động ở mỗi người
2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tạo việc làm.
1.1 Điều kiện tự nhiên.
Trang 12Điều kiện tự nhiên của một quốc gia, một vùng, một thành phố, một địaphương đã có sẵn, ngoài ý muốn chủ quan của con người Đó có thể là đấtđai, màu mỡ hay không màu mỡ, phù hợp với loại cây trồng nào; hay điềukiện khí hậu, thuỷ văn thuận lợi hay bất lợi cho phát triển các loại câytrồng, vật nuôi; các nguồn tài nguyên khoáng sản nhiều hay ít, địa hìnhbằng phẳng hay không bằng phẳng, thuận lợi phát triển ngành sản xuất nào,tạo ra bao nhiêu chỗ làm việc mới Trên thế giới có nhiều nước rất giàutài nguyên thiên nhiên, đất đai rộng lớn thuận lợi cho phát triển các ngànhsản xuất và thu hút lao động Còn đối với những nước không được thiênnhiên ưu đãi, đất đai chật hẹp, nghèo tài nguyên, họ có vốn, có công nghệ
kỹ thuật hiện đại, máy móc tiên tiến, phương pháp quản lý tiên tiến nên đãtạo ra được nhiều việc làm mới và việc làm có chất lượng cao
1.2 Dân số.
Dân số vừa là yếu tố của sản xuất, vừa là yếu tố của tiêu dùng Xét trênphương diện là yếu tố của tiêu dùng, các kết quả dân số: quy mô, cơ cấu,phân bố, chất lượng dân số quy định quy mô, cơ cấu, chất lượng, sự phân
bố các ngành nghề, các lĩnh vực sản xuất của xã hội Sản xuất cho ai; sảnxuất cái gì, khi nào, ở đâu, chất lượng sản phẩm hàng hoá ra sao là do sốlượng, cơ cấu, chất lượng dân số quy định Cụ thể:
- Quy mô dân số tăng, nhu cầu về lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng
tăng lên Để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tăng lên đó đòi hỏi phải mở rộngsản xuất, đa dạng hoá các ngành nghề hoạt động Điều đó dẫn đến nhiềungành nghề mới ra đời, dẫn đến số chỗ làm việc mới cũng được tạo ranhiều hơn, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo
- Cơ cấu dân số quyết định cơ cấu tiêu dùng Mỗi độ tuổi, giới tính, ngành
nghề, tôn giáo, dân tộc đều có tâm lý, sở thích tiêu dùng khác nhau, nhucầu tiêu dùng về số lượng, chủng loại, chất lượng hàng hoá, dịch vụ cũng
Trang 13khác nhau Để thoả mãn đầy đủ nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng đó tấtyếu phải mở rộng, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu sản xuất, đa dạngchủng loại hàng hoá, nâng cao chất lượng sản phẩm; thay đổi cơ cấu ngànhnghề Nghĩa là số lượng việc làm được tạo ra nhiều hơn, phát triển đa dạnghơn.
- Mức sinh tăng hay giảm cũng ảnh hưởng đến tạo việc làm Mức sinh cao,
số trẻ em mới được sinh ra nhiều, nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là của trẻ emtăng lên Các khoản chi phí cho giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ và nhiềulĩnh vực hoạt động khác đều tăng, các dịch vụ khác ăn theo cũng phát triểnhơn, cơ cấu việc làm thay đổi Nghĩa là cùng với mức sinh tăng lên, nhiềuviệc làm mới được tạo ra, quy mô, cơ cấu việc làm đa dạng hơn Còn mứcsinh giảm nghĩa là số người già đông hơn, vì nhiều lý do mà họ phải gianhập trở lại thị trường lao động, áp lực về việc làm tăng lên, tạo việc làmcho người già trở nên nan giải
- Mức chết: sự biến đổi của mức chết cũng tác động đến vấn đề tạo việc
làm Mức chết tăng lên, nhất là mức chết của dân cư trong độ tuổi lao độngcao dẫn đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực, nhiều chỗ việc làm không
có người đảm nhận Hơn nữa khi mức chết tăng cao, số người chết trungbình hàng năm nhiều lên, dịch vụ phục vụ tang lễ và nhiều hoạt động khác
đi kèm cũng thay đổi, cơ cấu việc làm cũng biến đổi theo Mức chết giảmxuống, nhất là mức chết của dân số trong độ tuổi lao động giảm, cung laođộng tăng lên tương đối, nhu cầu và áp lực việc làm tăng theo Mức chếtgiảm xuống, dân số có xu hướng già hoá, số người giá đông hơn, tuổi thọtrung bình trong dân cư tăng lên việc làm cho người già, các dịch vụchăm sóc người già cũng tăng theo
- Di dân làm cho quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số ở vùng đi
và vùng đến thay đổi Di dân thường xảy ra đối với những người đang
Trang 14trong độ tuổi lao động sẽ dẫn đến cung lao động ở vùng đến tăng lên, ởvùng đi giảm xuống Cơ cấu dân số cũng thay đổi: ở vùng đến cơ cấu dân
số thường trẻ hơn, ở vùng đi cơ cấu dân số già đi Từ đó dẫn đến nhu cầutiêu dùng hàng hoá, dịch vụ sẽ thay đổi Vùng đến nhu cầu tiêu dùng tănglên đòi hỏi phải mở rộng sản xuất, đa dạng hoá sản phẩm Nhiều ngànhnghề mới ra đời, tạo ra ra nhiều chỗ làm mới
1.3 Cung lao động.
Cung cầu lao động có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Quy mô, cơcấu, phân bố và chất lượng lao động quy định quy mô, phân bố, cơ cấu vàchất lượng việc làm Ở đâu và khi nào lao động được cung ứng lớn thì nơi
đó, khi đó việc làm được tạo ra nhiều hơn và ngược lại
Cung lao động là nam hay nữ, già hay trẻ đều tác động đến cơ cấu việclàm Bởi vì mỗi độ tuổi, giới tính khác nhau đều có những ưu thế riêngtrong lĩnh vực hoạt động, trong sản xuất kinh doanh Nếu khai thác và sửdụng hiệu quả thế mạnh từ khía cạnh tuổi và giới tính của người lao động
sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực Khi cơ cấu lao động thay đổi, cơ cấucác ngành nghề trong nền kinh tế quốc dân nói chung, nhiều lĩnh vực khácnói riêng tất yếu phải có sự điều chỉnh cho phù hợp Điều đó dẫn đến đặcđiểm hoạt động nghề nghiệp, tính chất của việc làm sẽ thay đổi
Chất lượng lao động được đánh giá trên các mặt về sức khoẻ, trình độ,phẩm chất Vấn đề được nói đến nhiều khi đề cập đến chất lượng lao động
là trình độ của người lao động Kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kỹthuật ngày một tiên tiến, đòi hỏi người lao động phải có trình độ nhất địnhđáp ứng yêu cầu công việc Người lao động có trình độ càng cao thì cơ hộitìm được việc làm càng dễ dàng Hầu hết những người thất nghiệp chủ yếu
là những người có trình độ thấp, không đáp ứng được yêu cầu của nhữngcông việc đòi hỏi trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Do đó, người lao động
Trang 15muốn kiếm được việc làm và nhất là việc làm có thu nhập cao phù hợp cầnphải có các thông tin thị trường lao động, biết các cơ hội việc làm và đặcbiệt là đầu tư vào vốn con người cả về thể lực và trí lực Mỗi người laođộng cần tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình, tranh thủcác nguồn tài trợ để tham gia giáo dục, đào tạo, phát triển sức lao độngnhằm nâng cao kiến thức, nhận thức, kinh nghiệm Đó cũng chính là điềukiện cần thiết để duy trì việc làm, tạo cơ hội việc làm có thu nhập, nâng cao
vị thế bản thân mỗi người lao động
1.4 Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội của nhà nước.
Cơ chế chính sách của chính phủ quốc gia, của chính quyền địa phương,các quy định của chủ doanh nghiệp là nhóm nhân tố quan trọng tạo việclàm cho người lao động Trong mỗi thời kỳ khác nhau, chính phủ sẽ đề ranhững chính sách cụ thể, tạo hành lang pháp lý cho phát triển sản xuất, cảithiện đời sống, mở rộng hoặc thu hẹp việc làm của ngành này hay ngànhkhác, tạo môi trường để người sử dụng lao động và người lao động gặpnhau Chẳng hạn, chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần làm thayđổi cơ cấu kinh tế, do đó cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, theo vùngcũng thay đổi
Đảng ta đã xác định phương hướng cơ bản là: “ Nhà nước cùng toàn dân
ra sức đầu tư phát triển, thực hiện tốt kế hoạch và các chương trình kinh tế
xã hội Khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi công dân mọi nhà đầu tư
mở mang ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động Mọi công dân đềuđược tự do hành nghề, thuê mướn lao động theo pháp luật Phát triển dịch
vụ việc làm, tiếp tục phân bố lại dân cư và lao động trên địa bàn cả nước,tăng dân cư trên các địa bàn có tính chiến lược về kinh tế, an ninh, quốcphòng Mở rộng kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu lao động”
Trang 16Trong Bộ luật lao động của nước ta quy định: “Người lao động có quyềnlàm việc cho bất kỳ người sử dụng lao động nào và bất kỳ chỗ nào mà phápluật không cấm”(khoản 1, điều 16) Điều 13 ghi rõ: “Giải quyết việc làm,bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm làtrách nhiệm của nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội”.
II Một số mô hình lý thuyết tạo việc làm.
1.Mô hình lựa chọn công nghệ phù hợp, khuyến khích giá, tạo việc làm.
Quan điểm cơ bản của mô hình khuyến khích giá cho rằng để sản xuất ramột mức sản lượng mong muốn, các nhà sản xuất đứng trước hai lựa chọnlớn: một là có nhiều mức giá khác nhau để mua vốn, lao động, nguyên vậtliệu phải lựa chọn mức giá sao cho chi phí sản xuất là thấp nhất Hai là đểtối ưu hoá lợi nhuận, các nhà sản xuất phải lựa chon công nghệ phù hợp(công nghệ sử dụng nhiều vốn hay công nghệ sử dụng nhiều lao động ).Nếu giá vốn cao hơn giá lao động thì nhà sản xuất sẽ lựa chọn công nghệ
sử dụng nhiều lao động Ngược lại, nếu giá lao động tương đối cao thì nhàsản xuất sẽ lựa chọn công nghệ sử dụng nhiều vốn
Trong bối cảnh các nước đang phát triển thường có nguồn lao động dồidào, nhưng lại ít vốn thì các hãng chủ yếu sản xuất thiên về sử dụng nhiềulao động Do đó, các chính sách nhằm điều chỉnh giá cả thông qua việc hạthấp giá tương đối của lao động sẽ góp phần không chỉ tạo thêm nhiều việclàm mà còn sử dụng tốt hơn các nguồn vốn khan hiếm nhờ áp dụng côngnghệ phù hợp
2.Mô hình phát triển của Lewis.
Lewis đưa ra lý thuyết này trong việc giải thích về sự di chuyển lao động
từ nông nghiệp sang công nghiệp ở một nước vừa mới công nghiệp hoá.Đây là mô hình phổ biến nhất trong tất cả các mô hình tạo việc làm có liên
Trang 17hệ cụ thể với các nước đang phát triển Tác giả cho rằng: “ một nền kinh tếkém phát triển bao gồm hai khu vực: một là khu vực nông nghiệp tự cung,
tự cấp truyền thống, lao động dư thừa có năng suất bằng không hoặc rấtthấp; hai là khu vực công nghiệp thành thị hiện đại có năng suất cao mà laođộng khu vực nông nghiệp dần chuyển sang Tăng sản lượng trong khu vựchiện đại dẫn đến lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và gia tăng công
ăn việc làm tại thành thị
Mô hình này dựa trên ba giả định:
- Một là, tốc độ di chuyển lao động và tăng công ăn việc làm tỷ lệ thuận vớitốc độ tích luỹ vốn Tốc độ tích luỹ vốn càng nhanh thì tốc độ tăng trưởngtại khu vực hiện đại và tăng việc làm ở thành thị càng cao
- Hai là, ở khu vực nông thôn thừa lao động, trong khi có sự toàn dụng laođộng ở thành thị
- Ba là, mức lương thực tế ở thành thị sẽ không đổi cho đến khi nguồn cungcấp lao động dư thừa ở khu vực nông thôn trở nên cạn kiệt
3 Mô hình thu nhập dự kiến về sự di cư nông thôn – thành Todaro)
Quá trình đô thị hoá diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hoá Do
đó, di dân từ nông thôn ra thành thị là xu hướng tất yếu khách quan của cácnước trong quá trình phát triển Những người di cư so sánh mức thu nhập
dự kiến có được trong một khoảng thời gian nhất định ở thành thị với mứcthu nhập trung bình đang có ở nông thôn Quyết định di cư sẽ được thựchiện nếu thu nhập dự kiến cao hơn thu nhập thực tế Thu nhập dự kiến thuđược của người lao động di chuyển tuỳ thuộc vào khả năng có thể kiếmviệc làm ở thành thị, mức lương ở thành thị, độ tuổi di cư Todaro đề xuấtchính phủ giảm mức lương ở thành thị, xoá bỏ những méo mó về giá cả
Trang 18của các nhân tố sản xuất, tăng cường việc làm ở nông thôn, áp dụng côngnghệ và chính sách phù hợp.
III Sự cần thiết tạo việc làm cho người lao động.
Tạo việc làm có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kinh tế Vì sự pháttriển kinh tế phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng các nguồn lực như tài nguyên,vốn, lao động, công nghệ, trong đó việc sử dụng lao động có vai trò quantrọng và quyết định tới sự phát triển Tạo việc làm cho người lao động nóichung và người nông dân bị thu hồi đất nói riêng có vai trò quan trọngkhông chỉ đối với xã hội mà còn đối với doanh nghiệp và bản thân ngườilao động Cụ thể là:
1 Đối với xã hội.
Công nghiệp hoá là xu hướng tất yếu của các quốc gia muốn nhanh chóngthoát khỏi tình trạng kinh tế nông nghiệp lạc hậu, năng suất thấp, mức sốngthấp sang nền kinh tế công nghiệp, năng suất cao Trong quá trình đó sẽdẫn dến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và kéo theo chuyển dịch cơ cấu laođộng Hoạt động sản xuất mới ra đời, hoạt động sản xuất cũ mất đi, thấtnghiệp phát sinh Cho nên, tạo việc làm cho người lao động là cần thiếtnhằm giảm thất nghiệp, hạn chế sự di chuyển lao động từ nông thôn rathành thị, giảm gánh nặng cho các thành phố lớn trong vấn đề tạo việc làm.Đồng thời, tạo việc làm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, hạn chếtiêu cực xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo và bình ổn xã hội Tạo việclàm cho người lao động là biện pháp trung tâm của mọi quốc gia, nó chophép giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội
Trang 192.Đối với doanh nghiệp.
Tạo việc làm là trách nhiệm của doanh nghiệp như trong điều 13 Bộ luậtlao động nước CHXHCN Việt Nam đã quy định Tạo việc làm cho ngườilao động chính là duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Ngườilao động là một trong những yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp, quyết định
sự thành bại của doanh nghiệp Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động sẽlàm tăng thu nhập, sức mua cũng tăng lên, thúc đẩy sản xuất phát triển.Một doanh nghiệp không thể tồn tại chỉ với những cỗ máy mà nó phải đượcvận hành bởi con người, có sự tác động của con người Đặc biệt trong điềukiện của nước ta hiện nay, các doanh nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp vừa
và nhỏ, vốn ít, sản xuất chủ yếu sử dụng nhiều lao động
3 Đối với người lao động.
Tạo việc làm cho người lao động đáp ứng quyền lợi của người lao động,quyền có việc làm và nghĩa vụ phải làm việc của người trong độ tuổi laođộng, có khả năng lao động như Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam đã ghi nhận
Có việc làm đồng nghĩa với có thu nhập, từ đó nâng cao vị thế của ngườilao động trong gia đình và xã hội Nếu không có việc làm sẽ không có thunhập và không có điều kiện thoả mãn các nhu cầu chính đáng về vật chất
và tinh thần của người lao động, chất lượng cuộc sống giảm sút, nảy sinhnhững hàng động, suy nghĩ tiêu cực, gia tăng các tệ nạn xã hội, kìm hãm sựphát triển của đất nước
Đối với người nông dân nói riêng: Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọngcủa người nông dân Với nông dân, có đất coi như là đã sống vì ít nhất họcũng đủ cơm ăn từ những thửa ruộng của mình Giờ đây, khi đất canh táccủa người nông dân bị quy hoạch làm khu công nghiệp khu đô thị làm chonông dân rơi vào tình trạng tư liệu sản xuất bị mất hoặc giảm đi Ngoài việc
Trang 20cày cấy ra, họ không biết làm gì Không nghề nghiệp, không trình độ.Người thì bỏ đi làm ăn xa, lao động trẻ bỏ đi cầu thực nơi xa, chỉ còn phụnữa, người già, trẻ nhỏ ở lại Trong khi, họ là những người thường rất dễ bịtổn thương trước sự chi phối của quy luật thị trường Cùng với tâm lý lo sợrủi ro, lối tư duy “ăn chắc, mặc bền”, sản xuất nhỏ lẻ, manh mún càng làmcho cơ hội tìm kiếm việc làm của người nông dân càng trở nên khó khăn.Tình cảnh “ nghèo thì nghèo thêm, giàu thì giàu hơn” đang là tác nhânchính khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa người giàu và ngườinghèo, giữa nông thôn và thành thị Do đó, tạo việc làm cho nông dân là rấtcần thiết, nhất là những nông dân bị mất đất canh tác Nông dân là cái nềncủa xã hội Xã hội sẽ không yên nếu cái nền không yên Mọi sự phát triển,mọi bước đi sẽ trở nên chông chênh Không thể đền bù với mức giá thấpnhư hiện nay rồi bỏ mặc nông dân trong vòng xoáy của thất nghiệp Điềunày liên quan đến một loạt các chính sách về giáo dục, đào tạo, đặc biệt đốivới thanh niên, bởi đây là lực lượng nòng cốt, là xương sống để phát triểnkinh tế nông thôn, duy trì bản sắc dân tộc Nông thôn đang mất đi một lựclượng lao động quan trọng, khiến cho sự phát triển kinh tế khu vực này bịkìm hãm Nếu đẩy mạnh công nghiệp hoá và đô thị hoá không gắn liền vớiquyền lợi và công ăn việc làm của người dân nông thôn thì sẽ tạo ra sự mất
ổn định tại nông thôn và làm chậm tiến trình công nghiệp hoá Việc làmcho nông dân, hướng đi để phát triển nông thôn bền vững
IV Kinh nghiệm của một số nước châu Á trong vấn đề tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất.
1 Kinh nghiệm của Trung Quốc.
Theo quy luật phát triển của xã hội, công nghiệp hoá và đô thị hoá là sựlựa chọn tất yếu của các quốc gia Trung Quốc, nước đông dân nhất thếgiới, và cũng là nước có nền nông nghiệp phát triển mạnh Trong những
Trang 21năm gần đây, tiến trình đô thị hoá ở Trung Quốc diễn ra rất nhanh, nhưngcũng đồng thời lấy đi nhiều diện tích đất nông nghiệp Thống kê cho thấy,khi tỷ lệ đô thị hoá nâng lên 1,5% thì nhu cầu sử dụng đất tăng lên 1% Từnăm 2000 đến năm 2005, diện tích đất canh tác của Trung Quốc bị thu hồi
đã lên đến 7,3 triệu ha Do ruộng đất bị thu hồi thì hàng năm có hàng triệunông dân Trung Quốc mất đất, thất nghiệp; trung bình mỗi năm tăng thêm
từ 2,5 đến 3 triệu người Theo tính toán cứ 2 mẫu đất bị thu hồi thì có 3người nông dân thất thiệp Vì vậy, sau khi bị thu hồi đất, vấn đề giải quyếtviệc làm cho người nông dân trở nên cấp bách hơn bao giờ hết
- Tích cực phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp sẽ tạo điều kiện chongười nông dân có việc làm là chính sách lâu dài mà Trung Quốc đang tậptrung giải quyết Các địa phương ở Trung Quốc đã có nhiều cách làm khácnhau để giải quyết vấn đề này như:
- Thành lập quỹ đào tạo, bồi dưỡng nghề cho những nông dân bị thu hồiđất; khuyến khích các đơn vị ưu tiên sắp xếp công ăn việc làm cho ngườinông dân bị thu hồi đất; khuyến khích nông dân lập nghiệp, tạo điều kiệncho các hộ nông dân bị thu hồi đất vào thành phố mở doanh nghiệp vàđược hưởng các chính sách ưu đãi như các đối tượng thất nghiệp ở thànhphố
- Áp dụng chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội cho người nông dân bị thuhồi đất Tất cả các đơn vị tuyển dụng người nông dân bị thu hồi đất vàolàm việc phải ký hợp đồng lao động cho những người này từ 3 năm trở lên,mức lương hàng tháng không thấp hơn 120% mức lương tối thiểu của địaphương
2 Kinh nghiệm của Thái Lan.
Trong những năm gần đây diện tích đất nông nghiệp của Thái Lan đanggiảm dần do tốc độ công nghiệp hoá, sự mở rộng các khu công nghiệp, giải
Trang 22trí, khu đô thị, kém theo hiện tượng lơ là trong việc áp dụng các kỹ thuậtcanh tác mới theo phương châm bền vững khiến đất canh tác bị rửa trôi, xóimòn hoặc nhiễm mặn Điều đó khiến người nông dân không mặn mà vớinghề nông, bỏ lại ruộng vườn đến những thành phố lớn kiếm việc, tạo áplực việc làm tại các thành phố lớn Vậy Thái Lan đã giải quyết vấn đề nàynhư thế nào?
- Bên cạnh những chính sách khuyến khích và hỗ trợ nông dân thì vấn đềliên quan đến “tính mềm” như đào tạo kỹ thuật, nâng cao nhận thức củangười nông dân được coi trọng hướng đến Nhiều trường đại học, cao đẳng,trung học và các khoá học tại chỗ về kỹ thuật canh tác, chuyển giao côngnghệ được mở rộng với nhiều ưu đãi nhằm thu hút và nâng cao trình độnguồn nhân lực nông thôn
- Tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giảm rủi ro trongsản xuất nông nghiệp cho người nông dân, xoá bỏ thuế nông nghiệp
- Triển khai chương trình điện khí hoá nông thôn, xây dựng hệ thốngthuỷ lợi bảo đảm tưới tiêu
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cải tạo đất trồng, cải tạo những vùngđất thoái hoá, khô cằn nâng cao độ màu mỡ cho đất Điều này giúp tăngdiện tích đất canh tác cho nông dân, góp phần sử dụng hiệu quả quỹ đất
3 Kinh nghiệm của Nhật Bản.
Với diện tích đất canh tác có hạn, dân số đông, đơn vị sản xuất nôngnghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là những hộ gia đình nhỏ, mang đậm tínhchất của một nền văn hoá lúa nước Nhật Bản đã có một số biện pháp pháttriển khôn khéo và có hiệu quả sau:
- Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng, hoàn thiện kết cấu hạtầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc
Trang 23- Phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng sản phẩm của nôngnghiệp làm nguyên liệu trên địa bàn nông thôn
- Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ giá nông sản chocác vùng nông nghiệp mũi nhọn Từ đó tạo việc làm cho nông dân, ngănchặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn ra thành thị
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TẠO VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN BỊ THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM
I Đặc điểm huyện Gia Lâm.
1.Điều kiện tự nhiên.
Sau khi quận Long Biên được thành lập năm 2003, diện tích tự nhiên củahuyện là 114,7299 km2 với dân số hiện tại là 209.676 người Mật độ dân
số bình quân 1800 người/km2, đứng thứ 3 trong số các huyện ngoại thành
Trang 24- Vị trí địa lý: Gia Lâm là 1 huyện ngoại thành nằm phía Đông Bắc Hà Nội.
Hiện nay, huyện có 22 đơn vị hành chính gồm 20 xã và 2 thị trấn: xã Cổ
Bi, Văn Đức, Kim Lan, Ninh Hiệp, Dương Xá, Yên Viên, Đình Xuyên,Đông Dư, Lệ Chi, Đặng Xá, Trung Mầu, Dương Quang, Phú Thị, KimSơn, Kiêu Kỵ, Đa Tốn, Phù Đổng, Dương Hà, Yên Thường, Bát Tràng, thịtrấn Yên Viên, thị trấn Trâu Quỳ Phía Bắc giáp huyện Đông Anh và tỉnhBắc Ninh; phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên; phía Tây giáp quận Long Biên,Tây Nam giáp quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì
- Khí hậu: Gia Lâm nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng nên chịu ảnh
hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa trong năm: xuân, hạ, thu,đông Trong đó, mùa hè nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh, mưa ít Nhiệt độtrung bình năm khoảng 23,4 độ C Độ ẩm trung bình năm khoảng 85%.Lượng mưa từ 1600-1800 mm/năm thuận lợi cho việc chăn nuôi, trồng trọtquanh năm
- Địa hình: tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình là 16 m so với mặt
nước biển
- Giao thông: huyện Gia Lâm có điều kiện giao thông thuận lợi với tuyến
quốc lộ 5A chạy qua và có ga Phú Thuỵ tạo điều kiện thuận lợi cho việcgiao lưu kinh tế, thương mại, trao đổi, giao lưu văn hoá với các vùng lâncận
- Đất đai: Theo số liệu thống kê của bộ Tài nguyên và Môi trường năm
2005, tổng diện tích tự nhiên của huyện Gia Lâm là 11472,98 ha Trong đó,diện tích đất nông nghiệp là 6437,60 ha bao gồm đất sản xuất nông nghiệp(6165,57 ha), đất lâm nghiệp (51,34 ha), đất nuôi trồng thuỷ sản (171,93ha), đất nông nghiệp khác ( 48,76 ha); diện tích đất phi nông nghiệp là4853,67 ha; diện tích đất chưa sử dụng là 187,71 ha
Bảng 1 Diện tích đất của các xã, thị trấn thuộc huyện Gia Lâm.
Trang 25STT Đơn vị
Diện tích đất ( ha )
Đất nôngnghiệp
Đất phinôngnghiệp
Đấtchưasử
Bảng 2 Diện tích các loại đất nông nghiệp của huyện Gia Lâm.
STT Loại đất nông nghiệp
Diện tích(ha)
1 Đất sản xuất nông nghiệp 6165,57
Trang 261.1.Đất trồng cây hàngnăm
1.1.1.Đất trồng lúa 1.1.2.Đất cỏ dùng trongchăn nuôi
1.1.3.Đất trông cây hàngnăm khác
6017,084095,6179,261842,21
1.2.Đất trồng cây lâu năm 148,48
Trong một vài năm gần đây, diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyệngiảm dần Do đất bị thu hồi để phục vụ các dự án xây dựng các khu côngnghiệp, khu đô thị, các cụm làng nghề Trên địa bàn huyện có 12 xã - thịtrấn bị thu hồi đất với tổng diện tích đất bị thu hồi là 2.869.972 m2 bằngtương đương với 4,46% diện tích đất nông nghiệp toàn huyện Bình quânmỗi hộ bị thu hồi 517,3 m2 Trong đó, một số xã có diện tích đất bị thu hồitương đối lớn như xã Dương Xá, Lệ Chi, Trâu Quỳ, Ninh Hiệp
Bảng 3 Diện tích và số hộ bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn
huyện Gia Lâm từ năm 2006 đến 2008.
STT ĐƠN VỊ
Số hộ
bị thuhồi(hộ)
Sốkhẩu (người)
Số ngườitrong độtuổi laođộng(người)
Diện tích
bị thu hồi ( m2)
Trang 27- Làng nghề: Một số làng nghề tại huyện Gia Lâm: Bát Tràng ( sản xuất
gốm sứ); Kiêu Kỵ ( dát bạc, sơn son thếp vàng ); Ninh Hiệp ( trồng và kinhdoanh thuốc bắc, buôn bán vải vóc) Hiện nay, làng Bát Tràng vẫn duy trìsản xuất mặt hàng gốm sứ với hơn 500 hộ gia đình sản xuất, hơn 50 doanhnghiệp kinh doanh hàng gốm sứ, thu hút trên 10.000 người/ngày; doanh thuđạt 283 tỷ/năm Nghề trồng và kinh doanh thuốc bắc ở Ninh Hiệp đã bị maimột, còn 1 xóm duy nhất làm nghề này, những xóm khác đã chuyển sangbuôn bán vải vóc Cũng trong tình cảnh như ở Ninh Hiệp, xã Kiêu Kỵ cònkhoảng trên dưới 20 hộ duy trì nghề làm quỳ vàng, nhiều hộ chuyển sang
Trang 28nghề may da và giả da với trên 300 hộ chuyên sản xuất TTCN quy mô nhỏ,thu hút 1.035 lao động chuyên và 3.106 lao động thời vụ.
2 Đặc điểm kinh tế, xã hội.
Quán triệt Nghị quyết 15/NQ-TW của Bộ chính trị về phương hướng pháttriển Thủ đô, Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XIV,Chương trình 05-Ctr/TU của Thành uỷ Hà Nội về phát triển kinh tế ngoạithành và từng bước hiện đại hoá nông thôn giai đoạn 2006-2010, chínhquyền huyện đã chỉ đạo xây dựng, phát triển kinh tế toàn diện Trongnhững năm qua, kinh tế Gia Lâm đã có những bước phát triển vượt bậc:
- Giá trị sản xuất các ngành kinh tế chủ yếu tăng bình quân 14,1%/năm;
trong đó công nghiệp-xây dựng cơ bản tăng 17,5%; thương mại dịch vụtăng 15,1%; nông nghiệp tăng 4,0% Trong nông nghiệp: trồng trọt tăngbình quân 1,5%; chăn nuôi tăng 5,6%
Bảng 4 Giá trị sản xuất các ngành của huyện Gia Lâm (2005-2008)
- Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng giá trị
ngành công nghiệp, dịch vụ; giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp: năm 2005CN-XDCB 53,3%; nông lâm thuỷ sản 23,4%; thương mại dịch vụ 23,1%.Đến năm 2008 tỷ trọng tương ứng là 55,3% - 18,37% - 26,33% Côngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ, các doanh nghiệp tăngnhanh cả về số lượng và quy mô Hiện tại, trên địa bàn huyện có 118 doanh
Trang 29nghiệp công nghiệp, 4 HTX công nghiệp, 16 HTX phi nông nghiệp, gần3.000 hộ sản xuất cá thể, 6 cụm công nghiệp đã và đang hình thành.
Bảng 5 Cơ cấu kinh tế huyện Gia Lâm ( 2005-2008)
- Hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 7.500 người; các trường, trung
tâm và cơ sở dạy nghề đã đào tạo 2.545 người mỗi năm; giảm 626 hộnghèo Hàng tháng trợ cấp từ nguồn ngân sách địa phương cho 2.294 người
là người cao tuổi, người nghèo tàn tật, ốm đau, trẻ mồ côi…100% xã, thịtrấn có trạm y tế đạt chuẩn; 22 trường học đạt chuẩn quốc gia
3 Đặc điểm dân số, lao động.
Hiện nay trên địa bàn huyện có 50.960 hộ với 209.685 nhân khẩu Tốc độtăng dân số bình quân 2,67%/năm ( trong đó tỷ lệ tăng cơ học là 1,85%; tỷ
lệ tăng tự nhiên là 1,65%) Với 70% dân số làm nông nghiệp
- Số người trong độ tuổi lao động là 114.588 người, trong đó có việc làm là96.272 người; không có việc làm là 7.508 người Số lao động đang làmviệc theo ngành kinh tế: công nghiệp, xây dựng là 25.076 người, nôngnghiệp là 48.085 người, dịch vụ là 23.111 người Số lao động đang làmviệc theo thành phần kinh tế: khu vực nhà nước là 12.374 người; tập thể là11.974 người; tư nhân là 61.074 người; liên doanh với nước ngoài là 8.876người
Trang 30Bảng 6 Tình hình dân số, lao động, việc làm trên địa bàn huyện Gia Lâm.
STT Xã - thị trấn Số hộ
( hộ)
Số nhân khẩu (người)
Số người trong
độ tuổi lao động (người)
Tình trạng việc làm của những người trong độ tuổi lao động ( người)
Số lao động đang làm việc theo ngành kinh tế
( người)
Số lao động đang làm việc theo thành phần kinh tế ( người)
Tổng số
Số có khả năng lao động
Có việc làm
không có việc làm
Công nghiệp, xây dựng
Nông nghiệp
Dịch vụ
Khu vực nhà nước
Tập thể
Tư nhân
Ld với nước ngoài
Trang 32- Số người bước vào độ tuổi lao động hàng năm khoảng 4.000 - 4.500người Số người trúng tuyển vào các trường đại học, cao đẳng, trung họcchuyên nghiệp, dạy nghề là 2.500 người Nguồn lao động trẻ, phân bốkhông đều, tập trung chủ yếu ở những thị trấn, các khu công nghiệp và cácvùng ven thị trấn chiếm 60%, ở nông thôn chiếm 40%.
- Về chất lượng lao động: tỷ lệ lao động qua đào tạo ở ngành côngnghiệp là 75,15%; ngành dịch vụ là 25,5%; nông nghiệp chỉ có 3%
- Đối với những lao động trong các hộ bị thu hồi đất nông nghiệp: Theobảng 4, việc thu hồi đất nông nghiệp trong những năm gần đây ở huyện đãgây ảnh hưởng đến 5.548 hộ dân với 11.851 người trong độ tuổi lao động.Trong đó, số người trong độ tuổi lao động cần giải quyết việc làm là 4.293người bằng 36,22 % tổng số người trong độ tuổi lao động Đặc điểm củanhững lao động này là:
+ Về tuổi: 1.844 người trong nhóm 15-30 tuổi chiếm 42,95%; 1.468 người
trong độ tuổi từ 30-45 chiếm 34,2%; còn lại 981 người trong nhóm 45-60tuổi chiếm 22,85% Đây là những lao động trẻ, phần lớn trong độ tuổi sungsức, lại là lao động chính trong gia đình
+ Về giới tính: số nam và nữ tương đương nhau, không có sự chênh lệch
lớn Số nam là 2.169 chiếm 50,52%, số nữ là 2.124 chiếm 49,48% Số namnhiều hơn số nữ sẽ ảnh hưởng đến vấn đề tạo việc làm sau này
+ Về trình độ văn hoá: 1.797 người tốt nghiệp tiểu học ( 41,85%); 1.466
người tốt nghiệp trung học cơ sở ( 34,15%); 1.030 người tốt nghiệp PTTH(24%) Nhìn chung, trình độ văn hóa của những lao động cần giải quyếtviệc làm thuộc những hộ mất đất còn thấp Số người tốt nghiệp tiểu học vàtrung học cơ sở chủ yếu nằm trong nhóm 30-45 tuổi và 45-60 tuổi
+ Về nghề nghiệp: Trước khi bị thu hồi đất, những lao động này làm ruộng
và chăn nuôi Trồng lúa vẫn là công việc chiếm tỷ trọng thời gian cao nhất,
Trang 33trung bình một lao động dành khoảng 75% thời gian để làm việc trên ruộnglúa, 7% dành cho trồng trọt các loại cây hoa màu khác, 21% dành cho chănnuôi Ngoài thời vụ, phần lớn họ chuyển sang các lao động phổ thông khácnhư gia công thêm một số mặt hàng thủ công truyền thống; bán buôn, bán
lẻ các mặt hàng rau quả, lương thực, thực phẩm; chuyên chở vật liệu xâydựng, phụ việc ở các công trình xây dựng… Sau khi mất đất, đa số laođộng không có việc làm, nếu có thì chỉ là những công việc tạm thời thunhập không cao, không ổn định, cuộc sống gặp nhiều khó khăn Do đó, họrất cần những chính sách, biện pháp từ phía chính quyền các xã, thị trấn;chính quyền huyện và thành phố để có thể có việc làm mới, ổn định cuộcsống
Trang 34Bảng 7 Số người trong độ tuổi lao động bị thu hồi đất nông nghiệp cần giải quyết việc làm.
STT Xã - thị trấn
Tổng số (người)
Tiêu chí đánh giá
15-30 30-45 45-60 Nam Nữ
Tốt nghiệp tiểu học
Tốt nghiệp trung học cơ sở
Tốt nghiệp PTTH
Trang 35Cộng 4.293 1.844 1.468 981 2.169 2.124 1.797 1.466 1.030 Nguồn: UBND huyện Gia Lâm, Phòng lao động, thương binh và xã hội: Kết quả tổng hợp nhu cầu việc làm và nhu cầu học nghề của lao động nông thôn vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất huyện Gia Lâm.
Trang 36II Phân tích thực trạng tạo việc làm cho nông dân sau khi bị thu hồi đất.
Trước tình trạng đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, người nông dânkhông có việc làm, đời sống gặp nhiều khó khăn Chính quyền huyện GiaLâm đã phối hợp với chính quyền các xã, thôn; các doanh nghiệp cùng vớingười dân thuộc diện bị thu hồi đất giải quyết vấn đề này Trong nhữngnăm qua, huyện Gia Lâm đã tiến hành nhiều biện pháp nhằm tạo việc làmcho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp Bước đầu đã đạt được một số kếtquả như sau:
1 Số lượng.
- Số người có việc làm mới sau khi bị thu hồi đất là 2.746 người bằng63,96% số người trong độ tuổi lao động có nhu cầu tìm việc làm Bìnhquân mỗi xã có 229 lao động được giải quyết việc làm Trong đó số người
có công việc ổn định là 2.216 người bằng 80,7%; công việc tạm thời là 530người bằng 19,3%
Bảng 8 Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
nông nghiệp ở huyện Gia Lâm.
Đơn vị: người
STT Xã - thị trấn
Kết quả giải quyết việc làm
Tổngsố
Công việc ổn định
Côngviệctạmthời
khuvựcnhànước XKLĐ
khu vực ngoài nhànước
HTX
CôngtyTNHH
Trang 372 Cơ cấu việc làm mới.
2.1 Cơ cấu theo tuổi và giới tính.
2.1.1 Cơ cấu theo tuổi.
Do đặc điểm lao động trong những hộ bị thu hồi đất chủ yếu thuộc nhóm
từ 15-30 tuổi và từ 30-45 tuổi, nên huyện cũng đã tập trung giải quyết việclàm cho nhóm đối tượng này
Bảng 9 Kết quả giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất theo
Trang 38Nhìn vào bảng 9, nhóm tuổi được tạo nhiều việc làm là nhóm từ 20 đến
39 tuổi với 1800 người, chiếm 65,54% Ở nhóm tuổi này, khả năng tiếp thukiến thức khoa học kỹ thuật vẫn còn khá cao Cho nên đào tạo nghề chonhóm lao động này sẽ đem lại hiệu quả UBND huyện đã tổ chức thực hiệnchương trình dạy nghề cho lao động nông thôn vùng chuyển đổi mục đích
sử dụng đất Từ năm 2006 đến 2008 trung tâm dạy nghề của huyện đã có
876 lao động được đào tạo nghề như: may công nghiệp, nấu ăn, cơ khí,hàn, sửa chữa xe máy, điện dân dụng…Trong đó:
- Nghề may: 95 người
- Nghề sửa chữa xe máy: 274 người
- Nghề nấu ăn : 219 người
may
Sửa chữa xemáy
Cơkhí
Nấuăn
Ngắnhạn
Dàihạn
Trang 39Nguồn: Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Gia Lâm: Kết quả điều tra lao động có nghề trên địa bàn huyện Gia Lâm.
Hình thức đào tạo có thể là ngắn hạn hoặc dài hạn Trong số 876 ngườiđược đào tạo, có 615 người đào tạo theo hình thức ngắn hạn chiếm 70,2%;
261 người đào tạo dài hạn chiếm 29,8% Những nghề này cũng gắn liền vớinhu cầu của lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đồng thời gắnliền với sản xuất của doanh nghiệp tại các khu công nghiệp Trong quá trìnhđào tạo, Chính quyền huyện đã hỗ trợ trực tiếp cho người lao động nôngnghiệp tham gia đào tạo nghề với thời gian và mức kinh phí hỗ trợ như sau:
Bảng 11 Thời gian hỗ trợ kinh phí và mức kinh phí hỗ trợ dạy nghề.
STT Nghề đào tạo
Thời gian hỗtrợ ( tháng)
Kinh phí hỗtrợ (đồng/họcviên/khoáhọc)
Mức hỗ trợ cho mỗi học viên là 300.000 đồng/học viên/tháng Sau khi họcnghề, bồi dưỡng tay nghề, nhiều người đã tự tạo được việc làm, lập cơ sởsản xuất, hoặc vào làm trong các khu công nghiệp
Mặt khác, các doanh nghiệp được phép xây dựng trên diện tích đất bị thuhồi cũng đã có cam kết ưu tiên cho con em những hộ dân có đất bị thu hồi