1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Quy định của WTO về thương mại hàng hoá đối với sản phẩm công nghiệp

3 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy định của WTO về thương mại hàng hoá đối với sản phẩm công nghiệp
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế quốc tế
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 147,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của WTO về thương mại hàng hoá đối với sản phẩm công nghiệp 1 Quy định của WTO về thương mại đối với hàng hoá công nghiệp WTO chỉ cho phép bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế

Trang 1

Quy định của WTO về thương mại hàng hoá đối với sản phẩm

công nghiệp

1 Quy định của WTO về thương mại đối với hàng hoá công nghiệp

WTO chỉ cho phép bảo hộ sản xuất trong nước bằng thuế quan và chỉ trong những bối cảnh nhất định mới cho phép sử dụng một số biện pháp phi thuế với các điều kiện cụ thể Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ phải tiến hành giảm thuế quan và ràng buộc tất cả các dòng thuế (mức trung bình của các nước đang phát triển là 12,3%), đồng thời phải dỡ bỏ các hàng rào phi thuế (hạn ngạch, giấy phép, các thủ tục hải quan, trợ cấp, đầu mối, tiêu chuẩn kỹ thuật ) trong một thời hạn nhất định Mức độ cam kết giảm thuế phụ thuộc nhiều vào kết quả đàm phán đa phương và song phương đối với các mặt hàng cụ thể

Tình hình thực hiện tự do hoá thương mại của WTO đối với các sản phẩm công nghiệp qua các vòng đàm phán chung được thể hiện trong bảng dưới đây

Mức độ giảm thuế hàng hoá công nghiệp qua các vòng đàm phán

Năm Các vòng đàm

phán

Mức giảm thuế suất trung bình đối với hàng hoá công

nghiệp (%)

Số lượng nước tham gia đàm phán

1947

1949

1950-51

1955-56

1960-61

1964-67

1973-79

1986-94

Vòng Giơnevơ

Vòng Annecy

Vòng Torquay

Vòng Giơnevơ

Vòng Dillon

Vòng Kennedy

Vòng Tokyo

Vòng Urugoay

19

2

3

2

7

35

34

40

23

13

38

26

26

62

102

123

Nguồn: Báo cáo phân tích chương trình nghị sự mới của WTO-Vòng Doha

(UBQG về HTKTQT, 2002)

Từ năm 1995, sau khi hình thành Tổ chức thương mại thế giới (WTO), đến tháng 1/2000 thuế suất của hàng hoá công nghiệp giảm từ mức bình quân 15,3% năm 1995 xuống 12,3% vào 1/1/2000 tức là giảm 20% trong vòng 5 năm, trong đó mức cắt giảm của các nước đã phát triển vào khoảng 40% (từ 6,3% xuống 3,8%)

Kinh nghiệm của 12 nước mới gia nhập WTO tính đến tháng 11/2000 cho thấy các nước mới gia nhập phải cam kết đối với 100% số dòng thuế (cả công nghiệp và nông nghiệp) và cam kết không áp dụng các loại phụ thu đối với hàng nhập khẩu Mức thuế trung bình đối với hàng công nghiệp của 12 nước này là 10,8%, hàng nông nghiệp

là 21,4% Trong đó, 9 nước phải tham gia sáng kiến cắt giảm thuế quan theo ngành, 8 nước phải tham gia Hiệp định sản phẩm công nghiệp thông tin và Hiệp định hài hoà

Trang 2

thuế quan đối với sản phẩm hoá chất Trong số 12 nước mới gia nhập, các nước gia nhập sớm hơn đã bảo lưu được mức thuế ràng buộc tương đương mức trung bình của các nước đang phát triển trong Vòng U-ru-goay, các nước gia nhập sau đã phải cam kết thuế suất ở mức thấp hơn

Đối với hàng rào phi quan thuế: Kinh nghiệm của 5 nước gia nhập trong năm

2000 (Jordanie, Georgia, Albania, Croatia và Oman) cho thấy, các nước này phải cam kết bỏ các hạn chế định lượng ngay khi gia nhập, bỏ mọi hình thức trợ cấp bị cấm năm

2003 và tuân thủ các hiệp định khác về trị giá hải quan, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại ngay từ khi ra nhập

Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 4 tại Doha, Quatar (tháng 11/2001) đã quyết định phát động một chương trình đàm phán mới về hệ thống thương mại đa phương với một chương trình nghị sự rộng, đề cập đến 7 nhóm vấn đề gồm nông nghiệp, dịch

vụ, sản phẩm phi nông nghiệp, chống bán phá giá, thương mại và môi trường, và các vấn đề mới đặt ra tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 1 tại Singapore như đầu tư, chính sách cạnh trạnh… Như vậy, Vòng đàm phán mới sẽ là một bước đi lớn nhằm tự do hoá thương mại toàn cầu một cách toàn diện và sâu sắc hơn nữa

2 Yêu cầu cụ thể của các đối tác đàm phán về hàng hoá công nghiệp để gia nhập WTO

Hiện nay, thuế suất bình quân đơn giản của ta đối với hàng nhập khẩu khoảng 16%, trong đó, thuế suất trung bình đối với hàng nông nghiệp là khoảng 25%, hàng công nghiệp là khoảng 15% Ngoài ra, ta còn áp dụng phụ thu nhập khẩu đối với trên

10 nhóm sản phẩm có sức cạnh tranh thấp

Trong đàm phán gia nhập WTO, ngoài việc đàm phán đa phương, các nước xin gia nhập còn phải đàm phán song phương với các đối tác quan tâm để cam kết tuân thủ các hiệp định WTO và đáp ứng các đòi hỏi cụ thể của từng đối tác Cam kết gia nhập WTO của một nước là tổng hợp các cam kết cao nhất của các đàm phán đa phương và song phương Dưới đây là tổng hợp các yêu cầu của các đối tác đàm phán đối với hàng hoá công nghiệp Việt Nam:

- Yêu cầu Việt Nam phải tham gia cam kết 100% các dòng thuế hàng công nghiệp của Hệ thống hài hoà danh mục thuế quan HS 2002 với 8 chữ số (khoảng hơn

7000 loại hàng hoá);

- Mức thuế ràng buộc bình quân đơn giản với hàng hoá công nghiệp không vượt qúa giới hạn rất thấp tuỳ theo từng đối tác;

- Dòng thuế nào có thuế suất cao hơn mức yêu cầu thì phải cắt giảm 50%;

- Cắt bỏ các hàng rào phi thuế quan ngay tại thời điểm gia nhập WTO;

- Đề nghị tham gia các thoả thuận cắt giảm thuế quan theo ngành (tất cả các dòng thuế trong ngành đó phải giảm xuống 0% hay theo một lộ trình nhất định) như Hiệp định công nghệ thông tin (AIT), Hiệp định hài hoà thuế quan ngành hoá chất … Việc cắt giảm thuế quan và bãi bỏ các hàng rào phi thuế quan để gia nhập WTO sẽ làm giảm đáng kể mức độ bảo hộ và tăng áp lực cạnh tranh đối với ngành công nghiệp trong nước Dưới dây chúng ta sẽ xem xét khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp khi phải đối mặt với sức ép trên

Ngày đăng: 28/12/2022, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w