1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH hệ THỐNG THƯƠNG mại THẾ GIỚI HIỆN NAY TƯƠNG LAI của WHO các vấn đề CHƯA được GIẢI QUYẾT và VÒNG DOHA

18 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình hình thành hệ thống thương mại thế giới hiện nay, tương lai của WHO các vấn đề chưa được giải quyết và Vòng Doha
Tác giả Nhóm Thực Hiện Báo Cáo Nhóm Giữa Kỳ Môn Kinh Doanh Quốc Tế
Người hướng dẫn Th.S. Trần Thị Vân Trang
Trường học Trường Đại Học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại Báo cáo nhóm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 606,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách làm hại láng giềng là hành động đơn phương của một nước nhằm theo đuổi lợi ích riêng của mình trong thương mại quốc tế, cho dù điều này có ảnh hưởng tiêu cực đối với vị thế củ

Trang 1

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

BÁO CÁO NHÓM GIỮA KỲ MÔN

KINH DOANH QUỐC TẾ

Giảng viên hướng dẫn: Th.S Trần Thị Vân Trang Lớp: Kinh doanh quốc tế (Nhóm 01, ca 1, Thứ 5) Nhóm: 10

Danh sách sinh viên thực hiện:

1 TRẦN HOÀNG KIM CHÂU – 71900720

2 TRƯƠNG NGỌC LAN – 71902029

3 NGUYỄN HOÀNG LONG – 71902031

4 HÀ VĂN MẠNH – 71902033

5 XAILEE MOUAMENGTHAO – 71902084

6 LÊ NGUYỄN TƯỜNG VI – 71901247

7 NGUYỄN HOÀNG KHÁNH VY - 71901263

Trang 2

MỤC LỤC

I RÀO CẢN THƯƠNG MẠI 3

1 Thực hiện chính sách làm hại láng giềng 4

2 Thực hiện cho mục tiêu chính trị 4

II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI HIỆN NAY 5

1 Từ Smith đến Đại suy thoái 6

2 1947–1979: GATT, thương mại hóa,và tăng trưởng kinh tế 6

3 1980–1993: Xu hướng bảo vệ 7

4 Vòng Uruguay và thương mại thế giới tổ chức 8

4.1 Vòng Uruguay 8

4.2 Tổ chức Thương mại Thế giới 9

5 Kinh nghiệm WTO cho đến nay 9

III TƯƠNG LAI CỦA WHO: CÁC VẤN ĐỀ CHƯA ĐƯỢC GIẢI QUYẾT VÀ VÒNG DOHA 12

Những vấn đề còn tồn tại và vòng đàm phán Doha 12

1 Các biện pháp chống bán phá giá 12

2 Chủ nghĩa bảo hộ trong nông nghiệp 14

3 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 15

4 Tiếp cận thị trường đối với hàng hóa phi nông nghiệp và dịch vụ 17

5 Vòng Đàm phán mới: Vòng Doha 18

IV Ý NGHĨA CỦA RÀO CẢN THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI NHÀ QUẢN TRỊ 20

V CASE STUDY 21

Trang 3

I RÀO CẢN THƯƠNG MẠI

Rào cản thương mại (tiếng Anh: Trade barriers) là những hạn chế đối với thương mại quốc tế do Chính phủ áp đặt Có các rào cản thương mại: thuế quan, hàng rào phi thuế quan và hạn ngạch, trợ cấp cho các ngành công nghiệp trong nước Đây là một trong những phương thức chính phủ can thiệp vào thị trường

Có nhiều lý do để chính phủ can thiệp vào thị trường: bảo vệ việc làm của người dân trong nước, bảo vệ các doanh nghiệp nội địa, bảo vệ môi trường và tài nguyên Nhưng theo lập luận của ông Paul Krugman có hai trường hợp chính phủ không nên can thiệp vào thị trường:

1 Thực hiện chính sách làm hại láng giềng

Chính sách làm hại láng giềng trong tiếng Anh là Beggar-Thy-Neighbor Chính sách làm hại láng giềng là hành động đơn phương của một nước nhằm theo đuổi lợi ích riêng của mình trong thương mại quốc tế, cho dù điều này có ảnh hưởng tiêu cực đối với

vị thế của các nước khác Rào cản thương mại là ví dụ điển hình cho chính sách này

Chính sách này thường đề cập đến chính sách thương mại quốc tế có lợi cho quốc gia ban hành nó, đồng thời gây tổn hại cho các nước láng giềng hoặc đối tác thương mại

Khi thực hiện chính sách rào cản thương mại những quốc gia khác có thể phản ứng lại như sự trả đũa, khi căng thẳng leo thang có thể xảy ra chiến tranh thương mại

Ví dụ như chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung 2018-2019 bắt nguồn từ việc tổng thống Mỹ áp dụng thuế nhập khẩu với mặt hàng liên quan đến công nghệ thông tin

và Robot Sau đó Trung Quốc tiến hành trả đũa với các doanh nghiệp Mỹ tại nước này làm căng thẳng leo thang dẫn đến chiến tranh thương mại

Trang 4

Hình 1: Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung

Nguồn: VietTimes

2 Thực hiện cho mục tiêu chính trị

Không phải lúc nào chính phủ can thiệp vào nền kinh tế cũng vì lợi ích quốc gia Các chính trị gia có thể lợi dụng để củng cố thêm quyền lực của họ

Ví dụ như Sự ủng hộ của Liên minh Châu Âu đối với Chính sách Nông nghiệp Chung (CAP), nảy sinh do quyền lực chính trị của nông dân Pháp và Đức CAP mang lại lợi ích cho những người nông dân khi họ dễ dàng bán nông sản hơn Các chính trị sẽ vận động được nhiều phiếu bầu hơn từ những người nông dân Còn người tiêu dùng ở EU, những người cuối cùng lại phải trả nhiều tiền hơn cho thực phẩm của họ

Trang 5

Hình 2: Chính sách nông nghiệp chung (Common Agricultural Policy)

Nguồn: VietnamBiz

II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI HIỆN NAY

Sự phát triển của Hệ thống Thương mại Thế giới Kể từ Thế chiến II, một hiệp định thương mại quốc tế đã phát triển để chi phối thương mại thế giới Trong năm mươi năm đầu tiên, hiệp định này được gọi là Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại

(GATT) Từ năm 1995, hiệp định này đã được biết đến với cái tên là Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

1 Từ Smith đến Đại suy thoái

Đến những năm 1930, nỗ lực của Anh nhằm kích thích thương mại tự do đã bị chôn vùi dưới đống đổ nát kinh tế của cuộc Đại suy thoái Các vấn đề kinh tế phức tạp vào năm 1930 khi Quốc hội Hoa Kỳ thông qua biểu thuế Smoot-Hawley Nhằm mục đích tránh tình trạng thất nghiệp gia tăng bằng cách bảo vệ các ngành công nghiệp trong nước

Trang 6

và chuyển hướng nhu cầu của người tiêu dùng ra khỏi các sản phẩm nước ngoài, Đạo luật Smoot-Hawley đã dựng lên một bức tường hàng rào thuế quan khổng lồ và có tác động xấu đến việc làm ở nước ngoài Các quốc gia khác đã phản ứng bằng cách tăng hàng rào thuế quan của riêng họ

2 1947–1979: GATT, thương mại hóa,và tăng trưởng kinh tế

Hoa Kỳ nổi lên từ cuộc chiến cả hai thắng lợi và chiếm ưu thế về kinh tế Sau sự sụp đổ của cuộc Đại suy thoái, dư luận ở Hoa Kỳ Quốc hội đã ủng hộ mạnh mẽ tự do thương mại dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ, GATT được thành lập vào năm 1947

GATT là một hiệp định đa phương có mục tiêu là tự do hóa thương mại bằng cách loại bỏ thuế quan, trợ cấp, hạn ngạch nhập khẩu, và những thứ tương tự Từ khi thành lập vào năm 1947 cho đến khi được WTO thay thế, số thành viên của GATT đã tăng từ 19 lên hơn 120 quốc gia.Trong những năm đầu thành lập, hầu hết các biện pháp của GATT đều rất thành công Ví dụ, thuế quan trung bình giảm gần 92% ở Hoa Kỳ giữa Vòng Geneva năm 1947 và Vòng đàm phán Tokyo 1973-1979

Hình 3: Đánh giá Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 7

3 1980–1993: Xu hướng bảo vệ

Trong suốt những năm 1980 và đầu những năm 1990, hệ thống thương mại do GATT xây dựng đã gặp nhiều căng thẳng khi áp lực đối với chủ nghĩa bảo hộ gia tăng trên khắp thế giới

Có 3 lý do cho sự gia tăng áp lực như vậy trong những năm 1980:

● Sự thành công kinh tế của Nhật Bản trong các ngành công nghiệp như ô tô và chất bán dẫn trong thời gian đó đã làm căng thẳng hệ thống thương mại thế giới

● Hệ thống thương mại thế giới bị căng thẳng do thâm hụt thương mại dai dẳng trong nền kinh tế lớn nhất thế giới, Hoa Kỳ Hậu quả của thâm hụt bao gồm những điều chỉnh lớn trong các ngành như ô tô, máy công cụ, chất bán dẫn, thép và dệt may, nơi các nhà sản xuất trong nước dần mất thị phần vào tay các đối thủ nước ngoài

● Nhiều quốc gia đã tìm cách để lách các quy định của GATT, Các biện pháp hạn chế xuất khẩu tự nguyện song phương (VERs) phá vỡ các thỏa thuận GATT, bởi vì

cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu đều không khiếu nại với cơ quan quản lý của GATT ở Geneva — và nếu không có khiếu nại thì cơ quan quản lý của GATT không thể làm gì được Các nước xuất khẩu đã đồng ý với VER để tránh các mức thuế trừng phạt gây thiệt hại nhiều hơn

4 Vòng Uruguay và thương mại thế giới tổ chức

4.1 Vòng Uruguay

Trong bối cảnh gia tăng áp lực đối với chủ nghĩa bảo hộ, năm 1986 các thành viên GATT bắt đầu vòng đàm phán thứ tám của họ để giảm thuế quan, Vòng đàm phán

Uruguay Lúc đó, các quy tắc GATT chỉ áp dụng cho kinh doanh hàng hóa và hàng hóa sản xuất Họ cũng tìm cách soạn thảo các quy tắc quản lý việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, giảm trợ cấp nông nghiệp và tăng cường cơ chế giám sát và thực thi của GATT Vòng

Trang 8

đàm phán Uruguay đã kéo dài bảy năm trước khi đạt được một thỏa thuận vào ngày 15 tháng 12 năm 1993 Nó có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1995

Hình 4: Đạo luật cuối cùng thể hiện kết quả của vòng đàm phán thương mại đa

phương Uruguay Vòng đàm phán Uruguay bao gồm các điều khoản sau:

1 Thuế hàng hóa công nghiệp đã được giảm hơn một phần ba, và thuế quan đã được loại bỏ trên hơn 40% hàng hóa sản xuất

2 Các mức thuế quan trung bình do các nước phát triển áp dụng đối với hàng hóa sản xuất là giảm xuống dưới 4% giá trị, mức thấp nhất trong lịch sử hiện đại

3 Trợ cấp nông nghiệp đã được giảm đáng kể

4 Các quy tắc tiếp cận thị trường và thương mại công bằng của GATT đã được mở rộng để bao trùm rộng rãi khoảng dịch vụ

5 Các quy tắc GATT cũng đã được mở rộng để cung cấp sự bảo vệ nâng cao cho các bằng sáng chế, bản quyền và nhãn hiệu (sở hữu trí tuệ)

6 Các rào cản đối với thương mại hàng dệt may đã được cắt giảm đáng kể trong vòng 10 năm

Trang 9

7 Tổ chức Thương mại Thế giới được thành lập để thực hiện hiệp định GATT.

4.2 Tổ chức Thương mại Thế giới

WTO hoạt động như một tổ chức bảo trợ bao gồm GATT cùng với hai các cơ quan mới, một về dịch vụ và một về sở hữu trí tuệ WTO đã nhận trách nhiệm phân xử các tranh chấp thương mại và giám sát các chính sách thương mại của các nước thành viên Trong khi WTO hoạt động trên cơ sở đồng thuận như GATT đã làm, trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp, các nước thành viên không còn có thể ngăn chặn việc thông qua các báo cáo trọng tài Các quốc gia đã được hội đồng trọng tài tìm thấy vi phạm các quy tắc GATT có thể kháng cáo lên một cơ quan phúc thẩm thường trực, nhưng phán quyết của

nó là ràng buộc Nếu người vi phạm không tuân thủ các khuyến nghị của hội đồng trọng tài, các đối tác có quyền bồi thường hoặc, trong phương án cuối cùng, áp dụng trừng phạt thương mại Đây là một trong những điều mới hơn của WTO so với GATT

5 Kinh nghiệm WTO cho đến nay

Kể từ khi thành lập, WTO vẫn đi đầu trong các nỗ lực thúc đẩy thương mại tự do toàn cầu Những người tạo ra nó bày tỏ hy vọng rằng các cơ chế thực thi được cấp cho WTO sẽ làm cho nó hiệu quả hơn trong việc kiểm soát các quy tắc thương mại toàn cầu

so với GATT Hy vọng là WTO có thể được xem như một cơ quan ủng hộ và tạo điều kiện thuận lợi cho các thỏa thuận thương mại trong tương lai, đặc biệt là trong các lĩnh vực như dịch vụ

Từ năm 1995 đến năm 2010, hơn 400 vụ tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên đã được đưa ra WTO Kỷ lục này đã vượt qua so với tổng số 196 trường hợp được GATT xử lý trong gần nửa thế kỷ Trong số các trường hợp đưa ra WTO, 3/4 đã được giải quyết bằng các cuộc tham vấn không chính thức giữa các nước tranh chấp Các quốc gia liên quan đã thông qua Các khuyến nghị của WTO và đang sử dụng WTO thể hiện một sự tín nhiệm quan trọng trong các thủ tục giải quyết tranh chấp của tổ chức

Trang 10

WTO được giao vai trò trung gian cho các hiệp định trong tương lai nhằm mở ra thương mại dịch vụ toàn cầu và được khuyến khích mở rộng tiếp cận với các quy định quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, một điều GATT làm được Hai trong số các ngành đầu tiên được nhắm mục tiêu cải cách là toàn cầu ngành viễn thông và dịch vụ tài chính Vào tháng 2 năm 1997, WTO đã môi giới một thỏa thuận để các nước đồng ý mở cửa thị trường viễn thông cạnh tranh, cho phép các nhà khai thác nước ngoài mua cổ phần sở hữu trong các nhà cung cấp viễn thông trong nước và thiết lập một tập hợp các quy tắc cạnh tranh bình đẳng Vào tháng 12 năm 1997 với một thỏa thuận tự do hóa xuyên biên giới kinh doanh dịch vụ tài chính Thỏa thuận này bao phủ hơn 95% thị trường dịch vụ tài chính trên thế giới.Theo thỏa thuận có hiệu lực vào đầu tháng 3 ,năm 1999 có 102 quốc gia cam kết (ở các mức độ khác nhau) mở hoạt động ngân hàng, chứng khoán và lĩnh vực bảo hiểm trước sự cạnh tranh của nước ngoài

Vào cuối tháng 11 năm 1999, đại diện từ các quốc gia thành viên của WTO đã gặp nhau tại Seattle, Washington Mục tiêu của cuộc họp là khởi động một vòng đàm phán mới được mệnh danh là "vòng thiên niên kỷ" nhằm giảm bớt các rào cản đối với thương mại và đầu tư xuyên biên giới

Những kỳ vọng này đã tan thành mây đá của một thực tế khó khăn và bất ngờ Cuộc hội đàm kết thúc vào ngày 3 tháng 12 năm 1999 mà không đạt được bất kỳ thỏa thuận nào Một trở ngại lớn là mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu về việc liệu

có tán thành mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ trợ cấp cho các nhà xuất khẩu nông sản hay không Hoa Kỳ muốn loại bỏ các trợ cấp như vậy là một ưu tiên EU, với tổ chức vận động hành lang trang trại mạnh mẽ về mặt chính trị và lịch sử trợ cấp nông nghiệp lâu đời, đã không sẵn sàng thực hiện bước này Một trở ngại khác liên quan đến nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc ghi "các quyền lao động cơ bản" vào luật của hệ thống thương mại thế giới Hoa Kỳ muốn WTO cho phép các chính phủ áp đặt thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu từ các quốc gia không tuân theo những gì Hoa Kỳ coi là thực hành lao động công bằng Đại diện của các quốc gia đang phát triển đã phản ứng giận dữ với đề xuất này, cho

Trang 11

thấy đây chỉ đơn giản là một nỗ lực của Hoa Kỳ nhằm tìm ra một cách hợp pháp để hạn chế nhập khẩu từ các quốc gia nghèo hơn

Các nhà bảo vệ môi trường bày tỏ lo ngại về tác động thương mại tự do nông sản

có thể gây ra đối với tốc độ phá rừng toàn cầu Họ lập luận rằng việc giảm thuế nhập khẩu gỗ xẻ từ các quốc gia đang phát triển sẽ kích thích nhu cầu và đẩy nhanh tốc độ khai thác rừng nguyên sinh, đặc biệt là ở các quốc gia như Malaysia và Indonesia Họ cũng chỉ

ra tác động tiêu cực mà một số phán quyết của WTO đã gây ra đối với các chính sách về môi trường Ví dụ, WTO đã ngăn chặn một quy tắc của Hoa Kỳ yêu cầu lưới đánh tôm phải được trang bị một thiết bị cho phép các loài rùa biển có nguy cơ tuyệt chủng thoát ra ngoài WTO nhận thấy quy định này phân biệt đối xử đối với các nhà nhập khẩu nước ngoài không có lưới như vậy

Các nhà hoạt động nhân quyền coi các quy định của WTO là cấm khả năng của các quốc gia trong việc ngăn chặn các bến cảng đối với các quốc gia sử dụng lao động trẻ

em hoặc các điều kiện làm việc nguy hiểm Các công đoàn phản đối luật thương mại cho phép nhập khẩu từ các nước có mức lương thấp và dẫn đến mất việc làm ở các nước có mức lương cao Họ củng cố lập trường của mình bằng cách cho rằng công nhân Mỹ đang mất việc làm vì nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển không có đủ tiêu chuẩn lao động

Những gì đã xảy ra ở Seattle là đáng chú ý bởi vì nó có thể là một đầu nguồn của các loại Cuộc tranh luận về giá trị của thương mại tự do và toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng chủ đạo Do đó, việc này có tiếp tục xảy ra hay không có thể phụ thuộc vào tầm quan trọng mà dư luận phổ biến ở các quốc gia như Hoa Kỳ coi trọng các vấn đề như nhân quyền và tiêu chuẩn lao động, an ninh việc làm, chính sách môi trường và chủ quyền quốc gia Nó cũng sẽ phụ thuộc vào khả năng của những người ủng hộ thương mại

tự do để nói rõ ràng và thuyết phục một người đàn ông lập luận rằng, về lâu dài, tự do thương mại là cách tốt nhất để thúc đẩy các tiêu chuẩn lao động đầy đủ, cung cấp nhiều việc làm hơn, và bảo vệ môi trường

Trang 12

III TƯƠNG LAI CỦA WHO: CÁC VẤN ĐỀ CHƯA ĐƯỢC GIẢI

QUYẾT VÀ VÒNG DOHA

Những vấn đề còn tồn tại và vòng đàm phán Doha

Có rất nhiều việc phải giải quyết trong thương mại quốc tế Trong đó có 4 vấn đề lớn đang là trọng tâm của chương trình nghị sự của WTO hiện nay là sự gia tăng các chính sách chống bán phá giá, mức độ bảo hộ cao trong nông nghiệp, sự thiếu hụt các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại nhiều quốc gia, và sự gia tăng cao liên tục của mức thuế suất đối với các sản phẩm phi nông nghiệp và dịch vụ tại nhiều nước

1 Các biện pháp chống bán phá giá

Các biện pháp chống bán phá giá nở rộ trong suốt thập kỷ 1990 Các quy tắc của WTO cho phép các quốc gia đặt thuế chống bán phá giá lên hàng hóa nước ngoài được bán rẻ hơn so với giá tại thị trường nước xuất khẩu, hoặc thấp hơn mức chi phí sản xuất, trong khi các nhà sản xuất trong nước có thể chứng minh rằng họ đang chịu thiệt hại

Ngày đăng: 28/12/2022, 19:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w