1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận

31 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử Văn học Việt Nam
Thể loại bài luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 620,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận Dàn ý Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận - Bài mẫu 11.. Khái quát chung Với nha

Trang 1

Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận Dàn ý Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận - Bài mẫu 1

1 Mở bài

Giới thiệu về tác giả Huy Cận và bài thơ Tràng giang

2 Thân bài

a Khái quát chung

Với nhan đề, nhà thơ đã khéo gợi lên một vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại:

“Tràng giang” gợi hình ảnh một con sông dài, rộng lớn

Tác giả đã sử dụng từ Hán Việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm Tác giảcòn sử dụng từ biến âm “tràng giang” thay cho “trường giang”, hai âm "ang" điliền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng

mà còn rộng mênh mông, bát ngát

Câu thơ đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” gợi nỗi buồn sâu lắng tronglòng người đọc Đồng thời cho người đọc thấy rõ hơn cảm xúc chủ đạo của tác giảxuyên suốt tác phẩm Đó là tâm trạng “bâng khuâng”; nỗi buồn mênh mang, không

rõ nguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi Đó còn là không gian rộng lớn “trời rộngsông dài” khiến hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp

→ Bài thơ diễn tả tâm trạng, cảm xúc của thi nhân khi đứng trước cảnh sông nướcbao la trong một buổi chiều đầy tâm sự

b Phân tích khổ thơ thứ nhất

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp: “gợn” gợi nỗi buồn của con sóng, giữa dòngsông rộng lớn, làn sóng buông trôi lững lờ từng gợn lăn tăn tạo cảm giác buồn Nỗibuồn trùng điệp, man mác lòng người thi sĩ

Trang 2

Con thuyền xuôi mái nước song song: Giữa dòng tràng giang rộng lớn đó là hìnhảnh một con thuyền trôi lững lờ rẽ nước thành hai đường thẳng song song như cốgắng xé tan cái tĩnh lặng, cái yên bình để trở nên nhộn nhịp hơn, có sức sống hơnnhưng trong khung cảnh tĩnh mịch này thì đó dường như là điều không thể.

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả: Khi con thuyền trôi đi xa, đường thẳng songsong bị tách lại trở về như cũ, nối lại thành một, mặt nước lại sầu thẳm, dù có chảy

về trăm ngả vẫn mang trong mình nỗi buồn

Củi một cành khô lạc mấy dòng: Đảo ngữ (đảo vị trí các thành phần chủ ngữ vớinhau: một cành củi khô → củi một cành khô) nhấn mạnh vào hình ảnh cành củiđơn độc đang một mình lưu lạc trên dòng sông rộng lớn không biết đi đâu về đâugiống như tâm trạng của con người lúc bấy giờ khi đất nước đang bị quân giặc xâmchiếm

c Phân tích khổ thơ thứ hai

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu: Đảo ngữ (đảo tính từ “lơ thơ” ở vị ngữ lên đầu câu)nhằm nhấn mạnh sự hoang sơ, vắng vẻ của cảnh vật xung quanh sông Chỉ có cồnđất nhỏ lung lay theo gió mà tuyệt nhiên không có bàn tay, hình ảnh con người ởtrong đó

Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều: Đó là lời miêu tả tiếng chợ chiều tàn ở phía xa xahay là một câu hỏi tu từ liệu rằng tiếng lao xao đằng xa có phải tiếng của con ngườikhi tan chợ? Không gian nơi tác giả dừng chân yên lặng, tĩnh mịch đến mức ngheđược cả tiếng lao xao đằng xa

Nắng xuống trời lên sâu chót vót: Không gian như được mở rộng ra hơn nhiều lầnkhi hình ảnh bầu trời được đưa lên sâu “chót vót”, cách dùng tư độc đáo này củatác giả khiến cho người đọc dễ dàng hình dung ra bối cảnh thiên nhiên rộng lớnnhưng lại vô cùng đặc biệt

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu: Trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ với dòngsông dài miên man, bầu trời rộng lớn vô tận nhưng trống vắng hình ảnh con ngườikhiến cho bức tranh trở nên cô liêu hơn bao giờ hết

d Khổ thơ thứ ba

Trang 3

“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng”: Hình ảnh những đám bèo nối tiếp nhau lững

thững trôi dạt trên dòng sông, “hàng nối hàng” gợi cảm giác trải dài miên man vôtận

“Mênh mông không một chuyến đò ngang/Không cầu gợi chút niềm thân mật”:

Cảnh mênh mông, buồn bã, trống vắng quạnh hiu của “Tràng giang” càng đượcnhân lên bắng mấy lần phủ định: “Không đò… không cầu ” Chiếc cầu, con đòbắc nối đôi bờ là biểu hiện của sự giao nối của con người và cuộc sống, thường gợi

về cuộc sống tấp nập, gần gũi và gợi nhớ quê hương Hai bờ sông cứ thế chạy dài

vô tận như hai thế giới cô đơn, không chút “niềm thân mật” của những tâm hồnđồng điệu

“Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”: Câu thơ đã vẽ lên được một bức tranh thật đẹp,

tĩnh lặng nhưng đượm buồn Đoạn thơ chỉ có khung cảnh thiên nhiên đượm buồn,lặng lẽ mà không có một âm thanh dù chỉ là xơ xác Trước không gian buồn manmác là một lòng người đau đáu trước cảnh đất nước đang bị xâm lược chìm trongđau khổ, tương lai của con người không biết sẽ đi đâu về đâu

→ Đoạn thơ không chỉ lột tả vẻ đẹp buồn man mác, bâng khuâng của dòng sông

mà còn khéo léo gửi gắm tâm tư, nỗi lòng của người nghệ sĩ trước cảnh đẹp bình dịđó

e Khổ thơ cuối cùng

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”: không gian như được mở rộng hơn với cảnh bầutrời với những đám mây trắng chen chúc nhau như sà xuống đỉnh núi, nỗi buồn củacon người đang lan tỏa ra mạnh mẽ hơn

“Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa”: trong khoảng không gian rộng lớn, yêntĩnh đó là hình ảnh chú chim nghiêng đôi cánh như đổ bóng chiều tà xuống khônggian bên dưới

“Lòng quê dợn dợn vời con nước”: “dợn dợn’ là cách dùng từ mới mẻ của tác giả,

nó không chỉ là tâm trạng nhớ nhung, buồn bã mà đó còn là những băn khoăn, trăntrở mong mỏi cho quê nhà sớm được độc lập tự do, nỗi nhớ luôn lăn tăn như connước của dòng sông

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”: vào lúc mặt trời lặn cũng là lúc con người

ta thường cảm thấy bâng khuâng, nhớ nhà đặc biệt là khi các nhà lên khói nấu cơm

Trang 4

chiều Tuy nhiên, nỗi nhớ nhà của tác giả không đợi khi có khói của bữa cơm chiều

mà nó luôn luôn thường trực

3 Kết bài

Khái quát lại vẻ đẹp của bài thơ và vị trí của bài thơ trong kho tàng văn học

Dàn ý Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận - Bài mẫu 2

1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm

Huy Cận là một nhà thơ xuất sắc trong phong trào Thơ mới

Tràng giang (sáng tác năm 1939, in trong tập Lửa thiêng) là bài thơ nổi tiếng vàtiêu biểu nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng Tám, Tràng giang mang vẻ đẹpvừa cổ điển vừa hiện đại

2 Phần tích khổ thơ

a Khổ thơ 1

Nhan đề và lời đề từ đã gợi lên phần nào cảm xúc chủ đạo của bài thơ: bângkhuâng trước vũ trụ mênh mông

Bài thơ mở đầu với dòng sông ngoại cảnh cũng là dòng sông tâm hồn, nỗi buồn trải

ra cùng lớp lớp sóng Khác với trường giang hùng vĩ, cuồn cuộn của Lý Bạch, ĐỗPhủ, tràng giang của Huy Cận lặng lờ (sóng gợn, thuyền xuôi mái), nhuốm nỗi chia

li (thuyền về nước lại, sầu trăm ngả) Củi lạc cành khô lạc mấy dòng là hình ảnhđời thực, gửi gắm ưu tư của tác giả về thân phận con người

b Khổ thơ 2

Trước thiên nhiên rộng lớn ấy, nhà thơ mong tìm những nơi chốn tụ họp của conngười (làng, chợ, bến) những cảnh hoang vắng, trơ trọi Huy Cận đã học từ câu thơdịch Chinh phụ ngâm (Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò), nhưng thêm một từ láy(Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu) khiến cảnh vật càng quạnh quẽ Câu thơ Đâu tiếnglàng xa vãn chợ chiều nói đến âm thanh mà lại làm nổi bật cái vắng lặng

Trang 5

(Lưu ý: Có thể chấp nhận 2 cách hiểu: có và không có tiếng vãn chợ chiều)

Nếu khổ 1 triển khai chiều rộng, chiều dài thì khổ 2 mở thêm vào chiều cao.Những cấu trúc đăng đối nắng xuống trời lên, sông dài trời rộng nhấn mạnh ấntượng không gian được mở ra ở cả ba chiều Kết hợp độc đáo sâu chót vót với cáithăm thẳm của vũ trụ Lời đề từ được nhắc lại ở đây, tô đậm nỗi cô liêu

c Khổ thơ 3

Khổ thơ 3 thể hiện rõ bút pháp tả cảnh ngụ tình với những hình ảnh vừa gần gũithân quen vừa giàu sức gợi Những cảnh nghèo phiêu dạt giữa lặng lẽ bờ xanh tiếpbãi vàng phải chăng cũng là hình ảnh những kiếp người lênh đênh, vô định

Nhà thơ mong tìm một sự giao cảm, gắn bó nhưng trước mắt chỉ là không gianmênh mông, không một chuyến đò, không một cây cầu kết nối Con người cảmthấy bơ vơ, cô độc giữa một cõi đời không chút niềm thân mật

d Khổ thơ 4

Nỗi cô đơn càng thấm thía lúc hoàng hôn Được gợi từ câu dịch thơ Đỗ Phủ (Mặtđất mây đùn cửa ải xa), Huy Cận đã sáng tạo nên hình ảnh một hoàng hôn hùng vĩLớp lớp mây cao đùn núi bạc Cánh chim quen thuộc trong thơ ca về hoàng hônđến Huy Cận cũng mang nét mới lạ: cái hữu hình của cánh chim nhỏ nghiêngxuống làm hiện lên cái vô hình của bóng chiều trĩu nặng; cánh chim giữa trời rộnggợi "cái tôi" cô đơn, rợp ngợp trước vũ trụ, trước cuộc đời

Huy Cận đã liên tưởng đến Thôi Hiệu khi viết hai câu cuối Khói sóng trên sônglàm Thôi Hiệu buồn, còn Huy Cận thì không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà đã luôn

da diết trong lòng tác giả

3 Vẻ đẹp vừa cổ điển vừa hiện đại của bài thơ

a Đề tài, cảm hứng

Tràng giang mang nỗi sầu từ vạn cổ của con người bé nhỏ, hữu hạn trước thời gian,không gian vô hạn, vô cùng

Trang 6

Tràng giang đồng thời thể hiện "nỗi buồn thế hệ" của một "cái tôi" Thơ mới thờimất nước "chưa tìm thấy lôi ra".

b Chất liệu thi ca

Ở tràng giang, ta bắt gặp nhiều hình ảnh thân quen thuộc trong thơ cổ (tràng giang,

bờ bãi đìu hiu, cánh chim trong bóng chiều ), nhiều hình ảnh, tứ thơ được đợi từthơ cổ

Mặt khác, Tràng giang cũng không thiếu những hình ảnh, âm thanh chân thực củađời thường, không ước lệ (củi khô, tiếng vãn chợ chiều, bèo dạt )

c Thể loại và bút pháp

Tràng giang mang đậm phong vị cổ điển qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ

7 chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ tình,gợi hơn là tả những từ Hán việt cổ kính (tràng giang, cô liêu )

Song, Tràng giang lại cũng rất mới qua xu hướng giãi bày trực tiếp "cái tôi" trữtình "buồn diệp điệp, sầu trăm ngả, không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà ), quanhững từ ngữ sáng tạo mang dấu ấn xúc cảm cá nhân của tác giả (sâu chót vót,niềm thân mật, dợn dợn…)

4 Kết luận

Tràng giang của Huy Cận không chỉ là một bức phong cảnh mà còn là "một bài thơ

về tâm hồn" Bài thơ thể hiện nỗi buồn cô đơn trước vũ trụ, cuộc đời

Từ đề tài, cảm hứng, chất liệu đến giọng điệu, bút pháp, Tràng giang vừa mangphong vị thi ca cổ điển vừa hiện đại cũng là nét đặc trưng của phong cách Huy Cận

Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận - Bài mẫu 1

Nếu Xuân Diệu được mệnh danh là chủ soái dòng Tây, Nguyễn Bính là chủ soáidòng quê thì nhà thơ Huy Cận được coi là chủ soái dòng Đường Sinh thời, mộttrong những gương mặt xuất sắc của phong trào thơ mới, còn được mênh danh là

“hồn thơ ảo não” ấy cũng đã tự nhận mình có ảnh hưởng không nhỏ của thơ ca cổ

Trang 7

điển, nhất là thơ Đường Bởi vậy sáng tác của ông luôn có sự kết hợp nhuầnnhuyễn giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại Bài thơ Tràng giang, ra đời vào năm

1939, in trong tập “Lửa thiêng” đã xuất sắc thể hiện một cái tôi đa sầu, đa cảm quamàu sắc nghệ thuật rất đặc trưng đó

Cổ điển và hiện đại là sự kết hợp của hai màu sắc nghệ thuật vô cùng độc đáo trongsáng tác của những nhà thơ tài năng Đối với nhà thơ Huy Cận sự kết hợp của haimàu sắc đó chính là yếu tố làm nên phong cách nghệ thuật của thơ ông Bài thơTràng giang có sự kết hợp đầy sáng tạo giữa hai yếu tố ấy tạo nên một dấu ấn rấtriêng để Huy Cận khẳng định cái tôi buồn bã, cô đơn trước cuộc đời qua mộtnguồn cảm hứng bất tận với không gian của vũ trụ bao la

Chính nhà thơ Huy Cận từng tâm sự, ban đầu Tràng giang có dự định là một bàithơ Đường theo thể thất ngôn bát cú Bởi cảm xúc của một chàng sinh viên buồn

bã trước thời cuộc, nhớ nhà, nhớ quê hương da diết đã khiến ông bật thành nhữngcâu thơ thất ngôn mang âm hưởng Đường thi Có lẽ bởi vậy mà ngay từ nhan đềcho tới lời đề từ và xuyên suốt cả bốn khổ thơ, màu sắc cổ điển trong bài đã hiểnhiện như một mạch nguồn kết nối tạo nên cái dư vang cho cái điệu buồn thương, ảonão rất đặc trưng của hồn thơ Huy Cận

Thật vậy, nét cổ điển của bài thơ được gợi lên ngay từ nhan đề “Tràng giang” Nếuđặt là “Chiều trên sông” như ban đầu thì sẽ không có được điều đó “Tràng giang”

là một từ Hán Việt, có nghĩa là một con sông dài, với điệp vần “ang” vừa tạo nênsắc thái cổ kính, trang trọng vừa có âm hưởng ngân vang dài rộng hơn Bởi vậy thi

đề khiến độc giả cảm nhận như tên một bài thơ Đường nào đó Thêm vào nữa là lời

đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài – một câu thơ thất ngôn vẽ nên mộtkhung cảnh cũng rất Đường thi Đó là cảm xúc buồn bã, cô đơn của con ngườitrước một không gian rộng lớn bát ngát của trời, của sông mà ta cũng hay bắt gặptrong thơ của một thi sĩ xưa nào đó Màu sắc cổ điển ngay từ ban đầu đã dẫn dắtcảm xúc của nhân vật trữ tình, khơi dậy nguồn cảm hứng để vẽ nên một khungcảnh đẹp, mênh mông có khả năng chất chứa nỗi sầu nhân thế của nhà thơ

Và cứ thế phong vị cổ điển của Tràng giang được tiếp tục khơi gợi từ việc nhà thơ

sử dụng những chất liệu, hình ảnh, bút pháp miêu tả, ngôn ngữ, giọng điệu… trongbài thơ Huy Cận đã vận dụng và sáng tạo nguồn thi liệu cổ để tạo nên sắc tháiriêng trong tác phẩm này Những hình ảnh như: tràng giang, sóng gợn, conthuyền,bến cô liêu, bèo trôi, áng mây, cánh chim, bóng hoàng hôn… không hề xa

Trang 8

lạ trong thơ xưa Trước hết nó gợi lên những khung cảnh thiên nhiên rộng lớnnhưng vắng lặng, quạnh hiu Chắc chắn, người yêu thơ cổ đã hơn một lần đượccảm nhận khung cảnh quen thuộc như thế này:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song

Và một yếu tố nữa làm nên chất cổ điển đặc trưng chính là bút pháp miêu tả Từnghệ thuật đối, nét chấm phá đến cái cách khơi gợi sự tĩnh lặng của cảnh vật trongbài thơ đều thuộc về âm hưởng của thơ xưa Người đọc không ít lần thấy sự đối lậpgiữa những cái nhỏ bé, ít ỏi với không gian mênh mông, bất tận của sông, của trời.Ngay khổ thơ đầu tiên đã hiện lên một tràng giang rộng lớn, bất tận qua những sựvật nhỏ bé mà nhà thơ đã chạm tới như: những con sóng nhỏ lăn tăn, con thuyềnbuông trôi theo dòng nước, một cành củi khô Con người bỗng dưng tìm thấy sựđồng điệu trong cảnh vật, cũng nhỏ bé, cô đơn nhưng nỗi buồn thì trải dài bất tận,lan tỏa khắp cả không gian Sự đối ngược giữa cảnh vật với cảnh vật là sợi dây kếtnối với nỗi lòng thi nhân Đây chính là dư vị được khơi gợi từ thơ xưa mà nên

Trang 9

Bên cạnh đó bút pháp chấm phá, rất đặc trưng của thơ Đường cũng được tác giả sửdụng để khắc họa cái rộng lớn vô biên của ngoại cảnh Trước khi thấy được cảnhtượng: nắng xuống trời lên, sông dài trời rộng nhà thơ đã kịp phác qua cái lơ thơcồn nhỏ gió đìu hiu và bến cô liêu Hay ở cuối bài thơ, khung cảnh hùng vĩ, tráng

lệ của bức tranh bầu trời hoàng hôn chỉ được hiện lên qua vài nét vẽ mây cao đùnnúi bạc, chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa Cái thần thái của cảnh vật chỉ nằmtrong một vài nét phác thảo như thế và làm nổi bật lên một khung cảnh mây trời,sông nước mênh mang như mở rộng ra cả ba chiều vô cùng, vô tận

Tràng giang càng rộng lớn, bát ngát lại càng quạnh quẽ, vắng lặng, đìu hiu Mộtphần do cách miêu tả qua thủ pháp nhân hóa như: buồn điệp điệp, nước song song,sầu trăm ngả, lạc mấy dòng, bến cô liêu, lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng… Các sự vậtdường như không hề có mối liên hệ, gắn kết, chỉ để làm tô đậm thêm trạng tháilặng thinh đến nao lòng Nhưng cũng bởi một phần do cách hạn chế ở mức tối đa

về âm thanh, chuyển động của sự vật trong bài thơ Nếu nói Tràng giang gần nhưtĩnh lặng vì không có một chút âm thanh nào rất đúng Từ sóng đến thuyền, đến gió,đến mây, đến chim… đều êm ả, trầm buồn Có xuất hiện tiếng làng xa vãn chợchiều hay không vẫn chưa khẳng định được, vì nó đặt trong trạng thái nghi vấnĐâu? Bởi vậy có chăng là sự chuyển động đứt gãy, chia lìa của thuyền về nước lại,của nắng xuống trời lên sâu chót vót, là cái gấp gáp trong thời khắc hoàng hôn củalớp lớp mây cao đùn núi bạc, của chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa… Cách đểkhơi gợi một không gian rộng lớn như thế nhưng hoàn toàn trong tĩnh lặng là cáchthơ xưa hay làm Bởi những ý nghĩa tượng trưng từ cảnh vật sẽ làm thức dậy nỗibuồn, sự cô đơn của nhân vật trữ tình

Và một trong những điểm đặc sắc trong cách mang phong vị cổ điển đến cho bàithơ còn nhờ cách dùng ngôn ngữ, thể thơ, cách ngắt nhịp Bài thơ dễ gợi nên cáihồn cốt cổ xưa là bởi nhà thơ Huy Cận đã sử dụng và sáng tạo rất nhiều các từ láy

Có đến hơn mười từ láy trong mười sáu câu thơ: điệp điệp, song song, lơ thơ, đìuhiu, chót vót, mênh mông, lặng lẽ, lớp lớp, dợn dợn Chưa nói đến tác dụng củachúng trong việc tạo sắc thái ý nghĩa trong bài thơ mà những từ láy đó đã tạo nêncảm xúc buồn buồn, sâu lắng theo kiểu bàng bạc của thơ xưa mà ta hay bắt gặp.Thể thơ thất ngôn và cách ngắt nhịp 4/3 rất quen thuộc đã thổi cái chất cổ điểnngay trong âm hưởng, nhịp điệu cho bài thơ

Tuy nhiên thành công nổi bật của Tràng giang là tác phẩm đã có sự kết hợp nhuầnnhuyễn và đầy sáng tạo giữa hai yếu tố cổ điển và hiện đại Màu sắc hiện đại thực

Trang 10

sự đã mang tới những ý nghĩa và giá trị sâu sắc cho bài thơ Có thể thấy, Trànggiang sử dụng rất nhiều những thi liệu cổ, nhưng chúng ta cũng nhận ra rằng bàithơ cũng có rất nhiều những hình ảnh, âm thanh rất đỗi đời thường, không hề ước

lệ Những cành củi khô, tiếng vãn chợ chiều hay bèo dạt là những gì hiện đại rấtkhác với thơ xưa Lần đầu tiên trong thơ xuất hiện một thứ đã chẳng còn nhựa sốngnhưng lại có ý nghĩa khắc họa tâm sự của một cái hồn bơ vơ, lạc lõng, vô địnhtrước cuộc đời giàu ý nghĩa như cành củi Chính Huy Cận cũng đã nói ông rất cânnhắc khi sử dụng hình ảnh này, nhưng cuối cùng nó vừa đậm chất hiện đại mà cònđạt được hiệu quả cao trong việc thể hiện cảm xúc của cái tôi trữ tình Hay cứ nghĩbèo dạt là thi liệu quen thuộc, nhưng ở đây nhà thơ không sử dụng một cánh bèo

mà là hàng nối hàng bèo trong sự vô định không biết về đâu Huy Cận không gợilên một thân phận, một kiếp người mà là cả một thế hệ con người trong thời đại ấy.Bao người nghệ sĩ như ông đang sống trôi nổi, lênh đênh giữa thời cuộc mất nướcnày? Cái chân thực, hiện đại được Huy Cận gửi gắm trong đó Bởi vậy những hìnhảnh như thế trước khi chuyển tải tâm sự của một cái tôi “bất hòa nhưng bất lực”,bản thân chúng đã được nhà thơ khơi gợi lên những vẻ đẹp rất bình dị, đời thường.Trong khung cảnh của tràng giang mênh mông, bát ngát, người ta vẫn thấy vẻ đẹpcủa quê hương, đất nước rất đỗi gần gũi, mến yêu Cho nên cảm xúc nhớ nhàkhông cần phải trỗi dậy bởi khói sóng hoàng hôn, mà tự thân nó đã là một nỗi niềmthường trực, không bao giờ nguôi trong lòng thi nhân

Nét hiện đại trong bài thơ còn được nhà thơ thể hiện qua những cảm xúc chân thậtnhất của “một chiếc linh hồn nhỏ/ mang mang thiên cổ sầu” Cái tôi cô đơn, nhỏ bé,lạc lõng trước dòng đời đã được nhà thơ thể hiện một cách trực tiếp, thẳng thắn.Ông đã tái hiện một khung cảnh rộng lớn, mênh mông thuộc về vũ trụ trên trànggiang để tìm chốn ẩn náu cho cái tôi của chính mình Hơi thở hiện đại chính là từcảm xúc bất lực của cả một thế hệ đương thời trong hoàn cảnh mất nước Tất cảđiều đó được gửi gắm vào những sự vật nhỏ bé trên dòng tràng giang mênh môngkia Cái tôi ấy gửi sóng lòng mình theo nỗi buồn điệp điệp, theo mối sầu trăm ngả,theo cành củi khô lạc mấy dòng, theo chiếc cồn nhỏ gió đìu hiu, theo cái bến côliêu, theo những hàng bèo nối tiếp nhau… mà không đủ sức đối chọi với trời rộng,sông dài Nỗi buồn cứ từ ấy lan tỏa mênh mông, bận tận đến khi mãi chẳng cóđiểm dừng Trái tim thi nhân bỗng rung lên một nỗi niềm cô đơn, lạc lõng Mọi thứtrôi nổi, bấp bênh, vô định, thiếu vắng sự thân mật của sự sống con người Nên cáitôi mới dợn dợn trào dâng một nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương khi đang đứngngay trên quê hương Tâm sự ấy chính là dấu ấn của cái tôi đương thời, của nỗi

Trang 11

niềm yêu quê hương, đất nước thầm kín Cái tôi đó không lẫn vào đâu được trongtinh thần chung của thơ mới.

Không thể phủ nhận, một phần giá trị rất lớn của Tràng giang chính là ở bút phápnghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại Phong cách nghệ thuật đặc trưng này của HuyCận được thể hiện trong bài Tràng giang nói riêng và nhiều bài thơ khác của ôngtrước cách mạng nói chung, thực sự góp phần làm nên sự phong phú, sáng tạo vàđộc đáo của phong trào thơ mới Huy Cận không chỉ khiến chúng ta nhớ là một

“hồn thơ ảo não” mà còn là nhà thơ của phong cách nghệ thuật cổ điển và hiện đạinày

Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận - Bài mẫu 2

Huy Cận là một nhà thơ tên tuổi trong nền thi ca nước nhà với nhiều tác phẩm tiêubiểu, có đóng góp rất nhiều trong phong trào thơ mới “Tràng Giang” là một trongnhững bài thơ tiêu biểu và nổi tiếng nhất của ông “Tràng Giang” trích trong tập

“Lửa Thiêng” được viết trước cách mạng tháng Tám Với bút pháp nghệ thuật đặcsắc, bài thơ là một bức tranh đẹp được hòa quyện giữa nét cổ điển và hiện đại

Phân tích chất cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang để có thể thấy được thểhiện ngay từ thi đề của bài thơ Hai chữ “tràng giang” mang tính cổ điển mà trangnhã, là từ Hán Việt, gợi cho ta đến những bài thơ Đường thi có màu sắc xưa cũ, cổkính Nhưng nếu các thi nhân xưa đến với thiên nhiên để tìm sự giao cảm thì nhàthơ hiện đại Huy Cận lại đứng trước “Tràng Giang” để thể hiện nỗi ưu tư, buồn bãtrước kiếp người nhỏ bé cô đơn Đó là một tâm hồn rất hiện đại mà qua đó ta có thểthấy được nét quyến rũ của bài thơ

Với khổ thơ đầu tiên:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyền xuôi mái nước song song.

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Hai từ láy “điệp điệp” và “song song” của hai câu thơ đầu đậm chất cổ điển của thơĐường Giữa cái bao la bát ngát của sóng, của nước là hình ảnh một “con thuyềnxuôi mái” Thuyền và nước thường đi đôi với nhau nhưng ở đây “thuyền về nước

Trang 12

lại” nghe sao xót xa Câu thơ cuối “Củi một cành khô lạc mấy dòng” cho ta thấyđược sự cô đơn lẻ loi đến lạc lõng giữa vũ trụ bao la Nét đẹp cổ điển của khổ thơđược thể hiện qua ngòi bút đặc sắc của tác giả, chỉ bằng vài nét chấm phá đơn sơ

đã gợi được lên hồn cốt của tạo vật Nhưng bên cạnh đó ta cũng nhìn thấy được nétđẹp hiện đại của khổ thơ, đó là hình ảnh độc đáo không ước lệ “củi một cành khô”,hình ảnh thâu tóm ý tưởng chủ đạo cả khổ thơ, hé mở tâm trạng nhân vật trữ tình

cô đơn, lạc lõng

Khổ thơ tiếp theo:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Từ láy được tác giả sử dụng dày đặc “lơ thơ”, “đìu hiu”, “chót vót” cùng với việc

sử dụng hình ảnh đối lập “nắng xuống - trời lên”, “sông dài - trời rộng” là thủ phápnghệ thuật trong lối thơ cổ Vẻ đẹp cổ điển còn hiện ra qua các thi liệu quen thuộcnhư sông, trời còn cuộc sống con người thì cô đơn, buồn bã Cái mới mẻ ở đây làcách diễn đạt qua hình ảnh chuyển đổi cảm giác của tác giả khi mà “nắng xuốngtrời lên” lại “sâu chót vót”, gợi lên cho ta cái mở rộng về thời gian, không gian đểrồi thấy rõ hơn cái nhỏ bé cô đơn của con người

Ở khổ thơ thứ ba:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

“Bèo” là hình ảnh ẩn dụ cho kiếp người trôi nổi thường được sử dụng trong nhữngbài thơ cổ điển Ở đây, bèo không chỉ có một cánh mà “hàng nối hàng” rợn ngợp.Cảnh vật ở đây hiu quạnh đến vô cùng Cụm kết cấu “không… không” nhấn mạnhđiều đó Giữa không gian mênh mông rợn ngợp dường như heo hắt không có sựsống, chỉ có “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

Vẻ đẹp cổ điển và hiện đại được thể hiện đặc sắc ở khổ thơ cuối:

Trang 13

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc, Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước, Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” được tác giả lấy thi hứng từ tứ thơ Đường cổ của

Đỗ Phủ “Mặt đất mây đùn cửa ải xa” Bút pháp gợi tả cùng từ láy “lớp lớp” chothấy được hình ảnh sống động của núi mây Ở đây tác giả vận dụng rất tài tìnhđộng từ “đùn” khiến cho từng lớp mây như đang chuyển động Hình ảnh này rấtđộc đáo, mang vẻ đẹp hiện đại Ở câu thơ sau, “Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiềusa” Hình ảnh “chim nghiêng cánh” và “bóng chiều” cũng là những hình ảnh quenthuộc của thơ ca cổ điển Câu thơ tả không gian nhưng gợi được cả thời gian Giữakhung cảnh đó là một tâm hồn rất hiện đại:

Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

“Dợn dợn” là một từ láy độc đáo của Huy Cận mà trước đó chưa ai sử dụng Kếthợp cùng với cụm từ “vời con nước” khiến cho “lòng quê” càng thêm hiu quạnh Ởcâu thơ cuối tác giả lấy cảm hứng từ tứ thơ “Yên ba giang thượng sử nhân sầu” củaThôi Hiệu Nhưng ở đây tác giả không cần “khói hoàng hôn” cũng vẫn “nhớ nhà”bởi nỗi nhớ đó luôn thường trực trong tâm khảm Nét khác biệt đó làm nên vẻ đẹphiện đại của câu thơ

Ngoài ra bài thơ “Tràng Giang” mang vẻ đẹp cổ điển và hiện đại thể hiện ở thể loạithơ và bút pháp mà tác giả sử dụng Thể loại thơ ở đây là thơ 7 chữ với lối ngắtnhịp đăng đối nhuần nhuyễn Song, “Tràng Giang” cũng rất mới qua những từ ngữgiãi bày cảm xúc cá nhân

“Tràng giang” là một bức tranh về phong cảnh mà còn là một bản nhạc về tâm hồn.Nét thi vị của bài thơ là ở vẻ đẹp cổ điển và hiện đại luôn hòa quyện, sóng đôi Nétđẹp của bài thơ sẽ mãi đi vào lòng người, để rồi qua vẻ đẹp đó ta thấy được mộttấm lòng yêu nước thầm kín, một tài hoa rực sáng của thi ca

Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài Tràng giang của Huy Cận - Bài mẫu 3

Trang 14

Huy Cận là một trong những trụ cột của phong trào Thơ Mới Cùng thế hệ với HuyCận, nhiều người hăng hái vận dụng cái mới trong thơ Tây phương nhằm cách tân

về thi pháp, riêng tác giả thi phẩm Lửa thiêng thì thường lẳng lặng kết hợp và dunghoà giữa chủ nghĩa tượng trưng trong thơ Pháp với cái hàm súc, sâu lắng của thơĐường để tạo cho thơ mình một vẻ đẹp riêng : vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại

Có thể coi nét đặc sắc của bài thơ Tràng giang là ở sự kết hợp hài hòa hai phẩmchất: màu sắc cổ điển và chất hiện đại

ràng giang còn là một thi phẩm được viết trên tinh thần không khước từ với truyềnthống Tác giả vận dụng được nhiều nét tinh hoa của văn chương trung đại và tạocho bài thơ một vẻ đẹp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và màu sắc hiện đại phù hợpvới phong cách thơ giàu suy tưởng của chính mình Màu sắc cổ điển đậm đà, indấu ấn toàn diện tạo nên vẻ độc đáo của một bài Thơ Mới

Cổ điển ở nhan đề

Bài thơ mới lại có nhan đề bằng chữ Hán “Tràng” (một âm đọc khác của “trường”)gợi sự cổ kính “Giang” là tên chung để chỉ các dòng sông Hai chữ này gợi mộtkhông gian cổ kính, trang trọng, bát ngát như trong Đường thi, gợi nhớ câu thơ nổitiếng của Lý Bạch: “Duy kiến trường giang thiên tế lưu” (Hoàng Hạc Lâu tốngMạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng) Ngay từ thi đề, nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp

cổ điển cho bài thơ "Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của HuyCận Hai âm "ang" đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông,không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát Hai chữ "tràng giang"mang sắc thái cổ điển trang nhã, gợi liên tưởng về dòng Trường Giang trong thơĐường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng

Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng saucái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi củamình Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hòa nhập, giaocảm, Huy Cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nỗi ưu tư, buồn bã về kiếp người

cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la

Cổ điển ở đề từ

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”.

Trang 15

Trời rộng gợi cảm giác về sự vô biên của vũ trụ Sông dài tạo ấn tượng về cái vôcùng của không gian Trời rộng và sông dài mở ra không gian ba chiều gợi cảmgiác rợn ngợp của con người cô đơn, bé nhỏ trước cái mênh mang, bất tận của trờiđất Tâm trạng này từng được diễn tả một cách sâu sắc trong những vần thơ côđọng, đầy ám ảnh của Trần Tử Ngang trong Đăng U Châu đài ca:

Tiền bất kiến cổ nhân Hậu bất kiến lai giả Niệm thiên địa chi du du Độc thương nhiên nhi thế hạ (Người trước không thấy ai Người sau thì chưa tới Ngẫm trời đất thật vô cùng Một mình xót xa mà rơi lệ)

Niềm ám ảnh thường trực trong thơ Huy Cận là sự hữu hạn của kiếp người trướccõi vô biên của vũ trụ Mỗi khi đối diện với một không gian rộng lớn, mênh mangnỗi ám ảnh trên thường thăng hoa thành niềm cô đơn, sầu muộn khó hóa giải

Thơ Huy Cận thiên về suy tưởng triết lý hơn là giãi bày, bộc lộ Câu đề từ giản dị,ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đã thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài:

"Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài" Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao màbát ngát, mênh mông của thiên nhiên, lòng con người dấy lên tình cảm "bângkhuâng" và nhớ Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên đượctâm trạng của chủ thể trữ tình, buồn bã, u sầu, cô đơn, lạc lõng Và con "sông dài",nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lênmãi trong lòng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc

Cổ điển ở thi liệu

Ở Tràng giang, ta bắt gặp nhiều hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ: con thuyền,dòng sông, cách bèo, mặt nước Có những hình ảnh tượng trưng thường gặp trongthơ cổ : Tràng giang, sông dài, trời rộng, bến cô liêu, mây cao, núi bạc, cánh chimnhỏ, bóng chiều sa, khói hoàng hôn, cuộc sống con người thì buồn tẻ, chán chườngvới "vãn chợ chiều", mọi thứ đã tan rã, chia lìa

Ngày đăng: 28/12/2022, 19:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w