1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN CỦA ỐC ĐĨA (Nerita balteata Reeve, 1885) Ở QUẢNG NINH

6 7 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Sinh Học Sinh Sản Của Ốc Đĩa (Nerita balteata Reeve, 1885) Ở Quảng Ninh
Tác giả Đặng Khánh Hùng, Vũ Trọng Đại, Ngơ Anh Tuấn, Nguyễn Đình Huy
Trường học Trường Đại học Nha Trang
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2014
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa trong 12 tháng nghiên cứu với tổng số 463 mẫu được thu thập từ 4 địa phương của vùng biển tỉnh Quảng Ni

Trang 1

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC SINH SẢN

CỦA ỐC ĐĨA (Nerita balteata Reeve, 1885) Ở QUẢNG NINH RESEARCH ON SOME REPRODICTIVE BIOLOGICAL CHARACTERISTICS

OF MANGROVE SNAIL (Nerita balteata Reeve, 1885) IN QUANG NINH

Đặng Khánh Hùng1, Vũ Trọng Đại2, Ngơ Anh Tuấn3, Nguyễn Đình Huy4

Ngày nhận bài: 31/7/2013; Ngày phản biện thơng qua: 14/8/2013; Ngày duyệt đăng:10/3/2014

TĨM TẮT

Ốc đĩa (Nerita balteata) là động vật chân bụng cĩ thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng, sử dụng là một mĩn ăn đặc sản được nhiều người ưa chuộng Tuy nhiên, ốc đĩa là đối tượng mới ở nước ta nên sản lượng cung cấp trên thị trường hồn tồn là khai thác từ tự nhiên, vì vậy trữ lượng ốc đĩa ngày càng giảm sút do khai thác quá mức Bài báo trình bày kết quả nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa trong 12 tháng nghiên cứu với tổng số 463 mẫu được thu thập

từ 4 địa phương của vùng biển tỉnh Quảng Ninh Kết quả nghiên cứu cho thấy ốc đĩa là lồi phân tính đực cái riêng biệt, trong đĩ ốc đĩa đực cĩ tuyến sinh dục màu vàng nâu; ốc đĩa cái cĩ tuyến sinh dục màu trắng sữa Tỷ lệ đực: cái trung bình

là 1:1,3 Tuyến sinh dục của ốc đĩa phát triển trải qua 5 giai đoạn Sức sinh sản tuyệt đối (F a ) của ốc đĩa dao động trong khoảng 32.478 ÷ 197.674 trứng/cá thể cái, trung bình 95.221 trứng/cá thể cái Sức sinh sản tương đối (F rg ) dao động trong khoảng 5.612 ÷ 22.482 trứng/g cá thể cái, trung bình 11.069 trứng/g cá thể cái Mùa vụ sinh sản của ốc đĩa ngồi tự nhiên

là từ tháng 6 đến hết tháng 10, trong đĩ mùa vụ sinh sản chính từ tháng 8 đến tháng 10.

Từ khĩa: ốc đĩa, Nerita balteata, đặc điểm sinh sản, tuyến sinh dục, sức sinh sản

ABSTRACT

Mangrove snail (Nerita balteata) belongs to the class of gastropods is delicious food with full of nutrition and highly commercial value However, due to a new species in Vietnam, a production of mangrove snail has been exploited from the sea; therefore, the yield of this species is being depleted because of over catching This paper presents an investigated result on some reproductive biological characteristics of mangrove snail after 12 months with 463 specimens collected from

4 areas in Quang Ninh province The result showed that, mangrove snail is a sex separated species, in which a gonadal organ colour of male snail is brown yellow and female is milky white The average of male and female ratio was 1:1.3 The gonadal development of mangrove snail underwent 5 stages The absolute fecundity (F a ) ranged from 32.478 to 197.674 eggs/female (average: 95.221 eggs/female) The relative fecundity (F rg ) was ranged from 5.612 to 22.482 eggs/ g of female (average: 11.069 eggs/female)

Keywords: Mangrove snail, Nerita balteata, reproductive biology, gonadal organ, fecundity

1 Đặng Khánh Hùng: Cao học Nuơi trồng thủy sản 2010 – Trường Đại học Nha Trang

2 ThS Vũ Trọng Đại, 3 TS Ngơ Anh Tuấn, 4 ThS Nguyễn Đình Huy: Viện Nuơi trồng thủy sản – Trường Đại học Nha Trang

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ốc đĩa (Nerita balteata) là lồi hải sản cĩ giá trị

cao và được xem như là mĩn ăn đặc sản của vùng

biển Quảng Ninh Ở nước ta, ốc đĩa phân bố tập

trung ở các vùng bãi triều, rừng ngập mặn tại Quảng

Ninh và một số tỉnh phía Nam Lồi ốc này cĩ giá

trị kinh tế cao, ở Quảng Ninh giá bán ốc đĩa trên

thị trường dao động trong khoảng 400 - 500 ngàn

đồng/kg (Ngơ Anh Tuấn, 2012)

Trong những năm gần đây, nhu cầu tiêu thụ nội địa đối với lồi ốc này là rất lớn, đặc biệt là ở Quảng Ninh Chính vì vậy, người dân đã chạy theo lợi nhuận, khai thác ốc đĩa quá mức dẫn đến nguồn lợi ngồi tự nhiên đang đứng trước nguy cơ bị suy giảm một cách nghiêm trọng Tuy nhiên, cho đến nay chưa cĩ bất cứ cơng trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản cũng như quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa

Trang 2

tại Việt Nam Do đó, việc nghiên cứu một số đặc

điểm sinh học sinh sản của ốc đĩa là rất cần thiết,

làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xây dựng

quy trình kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo ốc đĩa ở

nước ta

II ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: ốc đĩa (Nerita balteata).

Mẫu ốc đĩa được thu ngẫu nhiên tại 4 địa phương

của tỉnh Quảng Ninh (Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn,

Tiên Yên, Đầm Hà), trong thời gian 12 tháng (từ

tháng 1/2012 đến tháng 12/2012) Mẫu ốc sau đó

được chuyển về phân tích tại Phòng Thực hành

bệnh học, Trung tâm Thí nghiệm Thực hành -

Trường Đại học Nha Trang

2 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản

của ốc đĩa Quảng Ninh, gồm có các chỉ tiêu sau:

phân biệt giới tính và tỷ lệ đực, cái; các giai đoạn

phát triển tuyến sinh dục; xác định sức sinh sản và

mùa vụ sinh sản của ốc đĩa

3 Phương pháp thu và phân tích mẫu

3.1 Phương pháp thu mẫu

Mẫu ốc đĩa được trực tiếp mỗi tháng một lần

trong 12 tháng (từ tháng 1/2012 đến tháng 12/2012)

bằng phương pháp thủ công tại các bãi rừng ngập

mặn ở 4 địa phương của tỉnh Quảng Ninh: Hạ Long,

Cẩm Phả, Vân Đồn, Tiên Yên, Đầm Hà Sau đó,

tổng số mẫu ốc đĩa được trộn lẫn và lấy mẫu ngẫu

nhiên ≥ 30 con/tháng để xác định các chỉ tiêu sinh

học sinh sản

3.2 Phương pháp xác định các đặc điểm sinh học

sinh sản

- Xác định giới tính và tỷ lệ đực cái: đối với ốc

đĩa, giới tính được xác định thông qua việc giải phẫu

để quan sát cơ quan sinh dục

- Tỷ lệ đực cái được xác định theo phương

pháp của Pravdin (1973) Công thức tính tỷ lệ đực

cái như sau:

Tỷ lệ ốc đĩa cái (%) = × 100;

Tỷ lệ ốc đĩa đực (%) = × 100;

Tỷ lệ đực : cái =

Trong đó: a là số cá thể cái; b là số cá thể đực;

c là tổng số mẫu

- Các giai đoạn phát triển tuyến dinh dục được

xác định thông qua phương pháp soi mẫu tươi và

phương pháp làm tiêu bản mô học buồng trứng và

tinh sào của ốc đĩa

+ Phương pháp soi mẫu tươi: lấy một ít tuyến sinh dục hòa đều với ít nước biển quan sát trên kính hiển vi điện tử LEICA ATC 2000 để xác định các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

+ Phương pháp làm tiêu bản mô buồng trứng và tinh sào theo phương pháp Seckan và Hrapchack (1980)

+ Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục ốc đĩa được xác định dựa theo thang 5 bậc của Quayle

và Newkirk (1989)

- Sức sinh sản tuyệt đối: (Fa) (số trứng/cá thể cái) được xác định bằng cách đếm số lượng trứng

ở giai đoạn thành thục: Fa = × Wtsd (Trong đó:

Fa là sức sinh sản tuyệt đối; a là số lượng trứng đếm được; n là khối lượng phần buồng trứng đem đếm (g); Wtsd là khối lượng buồng trứng (g))

- Sức sinh sản tương đối (Frg): Số lượng trứng/ gram cá thể cái: Frg = (W: Khối lượng toàn thân

ốc đĩa (g))

- Mùa vụ sinh sản ốc đĩa được xác định dựa trên số mẫu phân tích hàng tháng, tỷ lệ các cá thể chín muồi sinh dục và đang tham gia sinh sản (tuyến sinh dục ở giai đoạn IV), cá thể đã đẻ xong (tuyến sinh dục ở giai đoạn V) Tháng có trên 50% số cá thể chín muồi sinh dục và đang tham gia sinh sản hoặc đã đẻ xong được coi là mùa vụ sinh sản chính của ốc đĩa (Nguyễn Thị Xuân Thu, 1999)

3.3 Xử lý số liệu

Các số liệu được thu thập và tính toán trên phần mềm Microsoft Excel 2007, số liệu được trình bày ở dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn

Hình 1 Địa điểm thu mẫu ốc đĩa tại Quảng Ninh

(ngôi sao màu đen là các điểm thu mẫu)

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

1 Giới tính và tỷ lệ đực cái của ốc đĩa

1.1 Giới tính

Ốc đĩa N balteata là loài phân tính đực cái riêng

biệt và giới tính của ốc đĩa được phân biệt dựa vào

Trang 3

Bảng 1 cho thấy tỷ lệ ốc đĩa đực và ốc đĩa cái

qua các tháng dao động không đều nhau Tỷ lệ giới

tính đực dao động từ 28,2 - 57,6% và có xu hướng

giảm dần từ tháng 1 đến tháng 5 Trong đó tỷ lệ ốc

đực đạt cao nhất vào tháng 1 (57,6%), thấp nhất

vào tháng 5 (28,2%)

Tỷ lệ giới tính cái dao động từ 36,7 - 71,8% Tỷ

lệ giới tính cái thấp vào tháng 8 (36,7%) và cao nhất

vào tháng 5 (71,8%) Nhìn chung, tỷ lệ phần trăm

trung bình của ốc đĩa đực (41,8%) luôn thấp hơn ốc

đĩa cái (56,0%)

Nhìn chung, tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa dao động

từ 1:0,7 đến 1:1,7, trung bình 1:1,3 Điều này có thể

được giải thích dựa vào việc mẫu ốc được thu ngẫu

nhiên tại nhiều địa phương của tỉnh Quảng Ninh và

trong các khoảng thời gian, điều kiện môi trường

khác nhau Do đó, các quần thể ốc đĩa phân bố ở

các địa phương có điều kiện môi trường khác nhau đặc biệt là nhiệt độ thì sẽ có cơ cấu giới tính là khác nhau (Nguyễn Thị Xuân Thu, 1999) So sánh tỷ lệ giới tính của ốc đĩa trong nghiên cứu này với tỷ lệ giới tính của ốc hương và ốc nhảy, cho thấy giữa 3 loài này không chênh lệch nhau nhiều Trong đó tỷ

lệ giới tính trung bình của ốc hương (B oreolata) là 1:1,49 (Nguyễn Thị Xuân Thu, 2002) và ốc nhảy (S canarium) là 1:1,27 (Dương Văn Hiệp, 2009) Như vậy tỷ lệ giới tính trung bình của ốc đĩa N balteata

nằm trong giá trị tỷ lệ chung của đa số các loài thuộc lớp chân bụng

2 Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục

Kết quả quan sát mẫu tươi và tiêu bản mô học

tế bào sinh dục có thể chia sự phát triển tuyến sinh dục của ốc đĩa thành 5 giai đoạn và được thể hiện

ở bảng 2

đặc điểm, màu sắc của cơ quan sinh dục Vị trí của cơ quan sinh dục nằm ở khối nội tạng, gần gan Khi ốc thành thục sinh dục, ốc đĩa đực có cơ quan sinh dục màu vàng nâu; ốc đĩa cái có cơ quan sinh dục màu trắng sữa

Hình 2 Cơ quan sinh dục của ốc đĩa đực (A) và cái (B)

1.2 Tỷ lệ đực, cái

Tỷ lệ đực, cái của ốc đĩa được phân tích trên tổng số 436 mẫu ốc được thu ngẫu nhiên qua 12 tháng nghiên cứu Kết quả biến động về tỷ lệ đực cái của ốc đĩa trong thời gian nghiên cứu được thể hiện qua bảng 1

Bảng 1 Tỷ lệ đực : cái của ốc đĩa theo thời gian nghiên cứu

Tháng Tổng số cá thể (con) Số cá thể Số cá thể đực Số cá thể cái đực : cái Tỷ lệ

(con) Tỷ lệ (%) Số cá thể (con) Tỷ lệ (%)

1 6 mẫu không xác định được giới tính; 2 3 mẫu không xác định được giới tính; 3 1 mẫu không xác định giới tính

Trang 4

Bảng 2 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ốc đĩa

I

(Chưa

phân

biệt

đực,

cái)

Tuyến sinh dục của ốc đĩa chưa phát triển,

kích thước rất nhỏ nên rất khó phân biệt

được bằng mắt thường Các tế bào sinh

dục mới hình thành chưa phân biệt được

đực cái

II

(Giai

đoạn

non)

Thể tích buồng trứng và buồng sẹ của ốc

đĩa có tăng hơn so với giai đoạn I nhưng

không đáng kể Có thể phân biệt đực cái

thông qua màu sắc của cơ quan sinh dục

Cơ quan sinh dục đực có màu vàng nhạt,

cơ quan sinh dục cái có màu trắng sữa Các

tinh bào và noãn bào đang trong giai đoạn

sinh trưởng, chưa thành thục Chúng có

dạng hình tròn, hình ovan, nhân màu sáng,

bắt màu tím, vách nang mỏng Tế bào sinh

dục phát triển trên vách nang

III

(Giai

đoạn

phát

triển)

Cơ quan sinh dục của ốc đĩa đực có màu

vàng đậm, các tinh bào rất nhỏ dính kết

với nhau thành từng đám, vách nang dày

Cơ quan sinh dục của ốc cái có màu trắng

sữa, buồng trứng chứa các noãn bào với

kích thước không đều nhau Quan sát trên

tiêu bản cắt lát cho thấy tế bào có dạng hình

cầu nhỏ, bắt đầu tích lũy noãn hoàng Tinh bào kích thước nhỏ,

dính nhau kích thước không đều Noãn bào hình cầu,

IV

(Giai

đoạn

thành

thục)

Cơ quan sinh dục của ốc đĩa căng phồng,

kích thước lớn, màu sắc đậm hơn giai

đoạn III Các tế bào sinh dục đực rời nhau,

tinh trùng bắt đầu rời khỏi vách ngăn, tạo

thành từng dòng Các tế bào sinh dục cái

đã hoàn thành quá trình tích lũy vật chất

dinh dưỡng và đạt kích thước tối đa Các

tế bào trứng hình cầu, lớn và rời nhau Tinh bào kích thước lớn,

V

(Giai

đoạn

thoái

hóa/sau

đẻ)

Cơ quan sinh dục của ốc đĩa xẹp xuống,

thể tích giảm Cơ quan sinh dục đực có

các nang tinh rời nhau, túi tinh rỗng Cơ

quan sinh dục cái có màu sắc nhợt nhạt,

loang lổ, đặc trưng bởi sự có mặt của các

bào nang rỗng và một số tế bào trứng còn

sót lại

Trang 5

Cũng giống như các loài động vật thân mềm

chân bụng khác như ốc hương, ốc nhảy thì các

giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ốc đĩa cũng

tuân theo quy luật phát triển chung Theo Nguyễn

Thị Xuân Thu (2002) sự phát triển tuyến sinh dục

của ốc hương (B areolata) cũng trải qua 5 giai

đoạn Dương Văn Hiệp (2009) cũng công bố tuyến

sinh dục của ốc nhảy (S canarium) phát triển trải

qua 5 giai đoạn

3 Sức sinh sản của ốc đĩa

Kết quả phân tích 30 cá thể cái ở giai đoạn thành thục, đã xác định được sức sinh sản tuyệt đối

và sức sinh sản tương đối trung bình của ốc đĩa

Bảng 3 Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối của ốc đĩa

Sức sinh sản tuyệt đối Fa (Trứng/cá thể cái) 32.478 ÷ 197.674 95.221 ± 43.61 Sức sinh sản tương đối Frg (Trứng/g cá thể cái) 5.612 ÷ 22.482 11.069 ± 4.485 Bảng 3 cho thấy sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương

đối của ốc đĩa có sự biến động rất lớn giữa các cá thể Kết quả

nghiên cứu cho thấy: có những cá thể có sức sinh sản tuyệt đối rất

thấp chỉ có 32.478 trứng/cá thể, nhưng cũng có một số cá thể có

sức sinh sản tuyệt đối cao, đạt 197.674 trứng/cá thể Nguyên nhân

của sự khác nhau này có thể là do quá trình thành thục sinh dục

không đồng đều giữa các cá thể, ốc đẻ rải rác và kéo dài trong mùa

sinh sản

4 Mùa vụ sinh sản của ốc đĩa

Kết quả phân tích 436 mẫu ốc đĩa thu ngẫu nhiên trong 12

tháng, kết hợp với quan sát hình ảnh tổ chức học tế bào sinh dục,

tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ốc đĩa tại vùng biển

tỉnh Quảng Ninh được trình bày trong bảng 4

Bảng 4 Tỷ lệ các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục của ốc đĩa

% 72,7 60 43,8 23,1 22,6 22,6 16,7 0 0 0 36,4 41,4

% 24,2 40 54,2 53,8 48,4 45,2 40 20 5,7 3,3 22,7 24,1

% 0 0 2,1 23,1 19,4 19,4 30 60 57,1 50 13,6 17,2

% 0 0 0 0 9,7 12,9 13,3 20 37,2 46,7 9,1 0

Hình 3 Trứng ốc đĩa phát triển ở nhiều giai đoạn trên mẫu soi tươi (100x)

Bảng 4 cho thấy, trong 12 tháng nghiên cứu

tháng nào cũng có ốc có tuyến sinh dục đang ở giai

đoạn thành thục, đặc biệt từ tháng thứ 6 đến tháng

10, tỉ lệ cá thể ở giai đoạn III rất cao Tuy nhiên, từ

tháng thứ 8 đến tháng 10 mới có trên 50% các cá

thể ốc đĩa chín mùi sinh dục và đang tham gia sinh

sản (cơ quan sinh dục phát triển ở giai đoạn IV), cá

thể đã đẻ xong (cơ quan sinh dục phát triển ở giai

đoạn V) Vì vậy, tháng 8 đến tháng 10 được coi là mùa vụ sinh sản chính của ốc đĩa

Theo Nguyễn Thị Xuân Thu (2000), ốc hương

có khả năng thành thục quanh năm, tỷ lệ thành thục cao nhất tập trung vào các tháng từ tháng 3 đến tháng 10 (60 – 90%) Các tháng 11, 12 vẫn có cá thể thành thục nhưng tỷ lệ thấp, không đáng kể Kết quả nghiên cứu của Zaidi và CTV (2005) về ốc nhảy

Trang 6

S canarium cho thấy, mùa vụ sinh sản của ốc nhảy

bắt đầu từ cuối tháng 11 đến đầu tháng 3 năm sau

Xét trong cùng một năm thì mùa vụ sinh sản của ốc

nhảy muộn hơn ốc hương và ốc đĩa

IV KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1 Kết luận

Ốc đĩa là loài phân tính đực cái riêng biệt và có

thể phân biệt được giới tính của ốc dựa vào màu sắc

của cơ quan sinh dục Ốc đĩa đực khi thành thục sinh

dục, cơ quan sinh dục có màu vàng nâu; ốc đĩa cái

cơ quan sinh dục màu trắng sữa Tỷ lệ đực cái của

ốc đĩa thay đổi theo thời gian nghiên cứu Tỷ lệ đực :

cái trung bình là 1:1,3 Ốc đĩa có cơ quan sinh dục

trải qua 5 giai đoạn phát triển

Sức sinh sản tuyệt đối (Fa) của ốc đĩa dao động trong khoảng 32.478 ÷ 197.674 trứng/cá thể, trung bình 95.221 trứng/cá thể Sức sinh sản tương đối (Frg1) dao động trong khoảng 5.612 ÷ 22.482 trứng/g

cá thể, trung bình 11.069 trứng/g cá thể

Mùa vụ sinh sản của ốc đĩa kéo dài từ tháng 6 đến hết tháng 10, trong đó mùa vụ sinh sản chính từ tháng 8 đến tháng 10

2 Kiến nghị

Cần tiến hành nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài ốc đĩa này nhằm góp phần bảo vệ nguồn lợi và

mở rộng đối tượng nuôi trong nuôi trồng thủy sản

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Nguyễn Chính, 1996 Một số loài động vật thân mềm (Mollusca) có giá trị kinh tế ở biển Việt Nam NXB Khoa học Kỹ thuật

Hà Nội, 96 trang

2 Dương Văn Hiệp, 2009 Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất giống ốc nhảy

Strombus canarium” Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Ninh.

3 Nguyễn Thị Xuân Thu, 1999 Nghiên cứu đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo điệp quạt

(Chlamus nobilis) Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp Trường Đại học Nha Trang

4 Nguyễn Thị Xuân Thu, Nguyễn Văn Hà, Phan Thị Thương Huyền, 2000 Nghiên cứu đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm ốc hương Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ Viện Nuôi trồng thủy sản III

5 Nguyễn Thị Xuân Thu, 2002 Đặc điểm sinh học, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi ốc hương NXB Nông nghiệp TP

Hồ Chí Minh, 54 trang

6 Ngô Anh Tuấn, 2012 Báo cáo chuyên đề “Đặc điểm phân bố của ốc đĩa (Nerita balteata Reeve, 1885) tại Quảng Ninh Sở

Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Ninh

Tiếng Anh

7 Tan K.S and Chou L.M., 2000 A guide to common seashells of Singapore Singapore Science Centre

8 Tan K.S and Clements R., 2008 Taxonomy and distribution of the Neritidae (Mollusca: Gastropoda) in Singapore

9 Tan K.S and Lee S.S.C., 2009 Neritid egg capsules: are they all that different? Steenstrupia 30: 115-125

10 Zaidi, C.C., Aziz, A., Idris, H.M., Japar, S.B & Mazlan, A.G., 2008 Sexual polymorphisms in a population of Strombus

canarium Linnaeus, 1758 (Mollusca: Gastropoda) at Merambong Shoal, Malaysia Zool Stud 47: 318- 325.

Ngày đăng: 28/12/2022, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w