1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ẢNH HƯỞNG CỦA PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ HẠT VÀ ĐỘ SÂU LẤP HẠT ĐẾN KHẢ NĂNG NẢY MẦM HẠT GIỐNG BẢY LÁ MỘT HOA

5 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của phương pháp xử lý hạt và độ sâu lấp hạt đến khả năng nảy mầm hạt giống Bảy Lỏ Một Hoa
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Ứu, Trần Ngọc Lõn, Đào Ựy Dương, Ninh Ứ Phớp, Đoàn Ứ Anh Nhàn
Trường học Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 167,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu a í nghiệm 1: Ảnh hưởng của phương pháp xử lý hạt giống đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng cây con Bảy lá một hoa í nghiệm có 4 công thức CT: CT1: Hạt giống được chà

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên thế giới, chi Paris họ Trọng lâu (Trilliaceae)

hiện đã biết có khoảng 24 loài, phân bố ở vùng cận

nhiệt đới và ôn đới Bắc bán cầu, từ Châu Âu đến

Đông Á, Đông Nam Á (Zhang et al., 2011) Trong

danh lục các loài thực vật Việt Nam công bố 6 loài

(Nguyễn Tiến Bân, 2005)

Với thành phần hóa học chính là Saponin steroid

và Polyphyllin, Bảy lá một hoa đã được chứng minh

có các tác dụng: Giảm đau chống viêm, cầm máu,

kích thích miễn dịch, ức chế sự phát triển của khối

u, chữa rắn độc cắn (Đỗ Tất Lợi, 2006)

Gần đây, Gao et al (2011) đã nghiên cứu apoptosis

từ loài Paris chinensis cho thấy, có khả năng ức chế

các tế bào ung thư buồng trứng của người với một

liều lượng và cách thức phụ thuộc vào thời gian

Wang et al (2012) khi nghiên cứu kỹ thuật xử

lý hạt Bảy lá một hoa Cho rằng loại bỏ vỏ hạt, xử

lý nhiệt có thể rút ngắn thời gian nảy mầm của

hạt giống

Nghiên cứu khai thác và phát triển Bảy lá một

hoa để trồng cho vùng núi cao và tạo vùng nguyên

liệu cho ngành dược liệu là rất cần thiết và có giá trị

Trở ngại lớn nhất của nhân giống Bảy lá một hoa là

sự ngủ nghỉ của hạt giống và tỷ lệ mọc mầm thấp

Nghiên cứu này nhằm nâng cao tỷ lệ nảy mầm, tỷ lệ

hình thành cây con và rút ngắn thời gian nảy mầm

của cây Bảy lá một hoa tại Sapa, Lào Cai

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

Hạt giống cây Bảy lá một hoa (Paris chinensis

Franchet) thu tại vườn cây mẹ 5 năm tuổi tại Sapa Lào Cai

2.2 Phương pháp nghiên cứu a) í nghiệm 1: Ảnh hưởng của phương pháp xử lý hạt giống đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng cây con Bảy lá một hoa

í nghiệm có 4 công thức (CT): CT1: Hạt giống được chà sạch vỏ đem gieo ngay sau thu hoạch (đ/c); CT2: Hạt giống được chà sạch vỏ đem bảo bảo trong cát (ẩm độ 70-80%); CT3: Hạt giống được chà sạch

vỏ phơi khô và bảo quản túi nilon để trong phòng; CT4: Hạt giống được chà sạch vỏ và bảo quản trong

tủ lạnh 5oC ời gian bảo quản của CT2, CT3 và CT4 là 180 ngày

b) í nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ GA3 (Gibberellin) đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng cây con Bảy lá một hoa

í nghiệm có 4 công thức: CT1: Ngâm trong nước lã; CT2: Ngâm trong GA3500 ppm; CT3: Ngâm trong GA3600 ppm; CT4: Ngâm trong GA3700 ppm c) í nghiệm 3: Ảnh hưởng của độ sâu gieo hạt đến

tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng cây con Bảy lá một hoa

í nghiệm có 4 công thức: CT1: Hạt giống được gieo trên bề mặt luống (đ/c); CT2: gieo hạt ở độ sâu

2 cm; CT3: gieo ở độ sâu 3 cm; CT4: gieo ở độ sâu

4 cm

Các thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên CRD với 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 100 hạt/lần nhắc lại Sử dụng giá thể là đất vườn ươm nhà lưới: ½ mùn núi + ½ đất màu + phân trâu bò ủ hoai mục (tỷ

lệ 0,5 kg/1m2 đất vườn ươm); riêng thí nghiệm 1, thí nghiệm 2 thực hiện theo các công thức, độ sâu gieo

1 Viện Nghiên cứu và Phát triển Vùng, Bộ Khoa học và Công nghệ

2 Học viện Nông nghiệp Việt Nam

ĐẾN KHẢ NĂNG NẢY MẦM HẠT GIỐNG BẢY LÁ MỘT HOA

(Paris chinensis Franchet)

Nguyễn Tiến Dũng1, Nguyễn ị u1, Trần Ngọc Lân1, Đào ùy Dương1Ninh ị Phíp2, Đoàn ị anh Nhàn2 TÓM TẮT

Bảy lá một hoa hay thất diệp nhất chi hoa (Paris chinensis Franchet) là một loại dược liệu quý hiếm của Việt Nam, được nhân giống từ hạt, nhưng tỷ lệ nảy mầm thấp, thời gian nảy mầm chậm Nghiên cứu xử lý hạt được tiến hành gồm chà vỏ, bảo quản tủ lạnh; xử lý GA 3 và độ sâu lấp hạt Kết quả cho thấy sử dụng hạt sau khi chà sạch vỏ, bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 5oC trong thời gian 180 ngày, xử lý GA3 với nồng độ 600 ppm, độ sâu lấp hạt là 4 cm làm tăng khả năng nảy mầm của hạt bảy lá một hoa (81,67%), rút ngắn thời gian nảy mầm (248 ngày) Tăng tỷ lệ hình thành cây con từ 66,00% (công thức đối chứng) lên 81,33% tại công thức có xử lý hạt, tăng khả năng phát triển cây con (3,75 rễ/cây)

Từ khóa: Paris chinensis Franchet, hạt giống, độ sâu lấp hạt, xử lý hạt

Trang 2

hạt là 3 cm, (riêng thí nghiệm 3 thực hiện như công

thức đã xây dựng), khoảng cách gieo 5 ˟ 5 cm, mỗi ô

thí nghiệm có kích thước 50 ˟ 50 cm (0,25 m2/ô)

2.3 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

- Tỷ lệ mọc mầm (%) = (tổng số hạt mọc mầm/

tổng số hạt gieo ˟ 100)

- ời gian mọc mầm (ngày): Tính từ khi làm thí

nghiệm đến khi đạt 10% số hạt mọc mầm

- Tỷ lệ hình thành cây con (%) = (tổng số cây con/

tổng số hạt gieo ˟ 100)

- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến điểm

cuối của lá

Đường kính thân (mm): đo bằng thước kẹp

Palme, đo cách gốc 1 cm; Chiều rộng lá (cm): đo ở vị

trí rộng nhất của lá; Chiều dài lá (cm): Đo từ cuống

lá đến ngọn lá; Số rễ/cây (rễ/cây): đếm tổng số rễ

trên cây Chọn 10 cây để theo dõi các chỉ tiêu sinh

trưởng theo phương pháp đường chéo góc, các số

liệu được đo đếm sau khi tiến hành thí nghiệm được

365 ngày

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý trên phần mềm IRRISTART

5.0 và Excel 2007

2.5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: í nghiệm được thực

hiện tại phòng thí nghiệm Viện Nghiên cứu và Phát

triển Vùng, và vườn nhân giống ở xã Bản Khoang,

Sa Pa, Lào Cai

- ời gian nghiên cứu: áng 11/2014 - 11/2016

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Ảnh hưởng của phương pháp xử lý hạt giống

đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng cây con Bảy lá

một hoa

Sự nảy mầm hạt giống phụ thuộc vào cả điều

kiện bên trong và điều kiện ngoại cảnh như nhiệt

độ, nước, oxy và ánh sáng

Kết quả cho thấy thời gian mọc mầm ngắn nhất

ở công thức 4 là 272 ngày Xử lý hạt làm tăng tỷ lệ mọc mầm, tỷ lệ hình thành cây con so với công thức đối chứng Ở công thức 4, hạt giống được chà sạch

vỏ và bảo quản trong tủ lạnh 5oC cũng cho tỷ lệ mọc mầm đạt 70,67% cao nhất và vượt xa công thức 1 (44,33%), tỷ lệ hình thành đạt 66,00%, trong khi công thức 1 chỉ đạt (41,67%) (Bảng 1)

Bảng 1 Ảnh hưởng của phương pháp xử lý hạt giống đến thời gian, tỷ lệ mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con

của hạt giống cây Bảy lá một hoa

Ghi chú: Bảng 1 - 6: Các giá trị trong cùng một cột (*): sai khác ở mức có ý nghĩa thống kê, (ns): không sai khác ở mức có ý nghĩa thống kê

Kết quả này phù hợp với điều kiện phân bố và sinh trưởng của cây Bảy lá một hoa trong tự nhiên Đây là loài cây sống ở khu vực ẩm ướt, dưới bóng râm và ưa khí hậu lạnh, do đó khi bảo quản hạt giống ở nhiệt độ 5oC hay bảo quản trong cát ẩm đều cho kết quả cao hơn các công thức khác

Phương pháp xử lý hạt giống khác nhau có ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của cây Bảy lá một hoa Cụ thể công thức 4 khi xử lý hạt bằng chà sạch vỏ và bảo quản trong tủ lạnh 5oC đã làm tăng chiều cao cây (4,71 cm), chiều rộng (3,52 cm), chiều dài (4,48 cm) so với công thức đối chứng lần lượt là (4,37 cm, 3,27 cm và 4,22 cm) (Bảng 2)

Công thức

ời gian mọc mầm (ngày)

Tỷ lệ mọc mầm (%)

Tỷ lệ hình thành cây con (%)

Bảng 2 Ảnh hưởng của phương pháp xử lý hạt giống đến sinh trưởng của cây giống Bảy lá một hoa (sau gieo 365 ngày) Công thức Chiều cao cây (cm) Đường kính thân (mm) Chiều rộng lá (cm) Chiều dài lá(cm) Số rễ/cây(rễ/cây)

Trang 3

3.2 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 (Gibberellin)

đến tỷ lệ nảy mầm và sinh trưởng cây con Bảy lá

một hoa

Các chỉ tiêu về thời gian mọc mầm, tỷ lệ mọc

mầm, tỷ lệ hình thành cây con bị ảnh hưởng ở mức

có ý nghĩa thống kê bới các mức nồng độ GA3 khác

nhau Ở công thức 3, ngâm hạt giống với dung dịch

GA3 nồng độ 600 ppm cho thời gian nảy mầm ngắn

nhất (248 ngày), tỷ lệ mọc mầm, tỷ lệ hình thành

cây con cao nhất (tương ứng 85,33% và 84,67%) Kết

quả cũng cho thấy khi xử lý hat giống với GA3 thời

gian mọc mầm được rút ngắn hơn so với công thức

1 (không xử lý) (Bảng 3)

Khi ngâm hạt giống với dung dịch GA3 nồng

độ 600 ppm đến 700 ppm cho số rễ/cây cao nhất

tương ứng 3,03 đến 3,07 rễ/cây lớn hơn so với công

thức đối chứng (2,47 rễ/cây), các chỉ tiêu về sự sinh

trưởng của cây con; chiều cao cây, đường kính thân, chiều rộng lá, chiều dài lá không bị ảnh hưởng nhiều bởi các nồng độ GA3 khi xử lý hạt giống (Bảng 4) Bảng 3 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến thời gian,

tỷ lệ mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con của hạt giống cây Bảy lá một hoa

3.3 Ảnh hưởng của độ sâu gieo hạt đến tỷ lệ nảy

mầm và sinh trưởng cây con Bảy lá một hoa

Số liệu ở Bảng 5 cho thấy thời gian để hạt cây Bảy

lá một hoa nảy mầm là rất dài, từ 317 đến 326 ngày

Tuy nhiên, sự sai khác về thời gian nảy mầm giữa 4

công thức là không có ý nghĩa về mặt thống kê

Tỷ lệ nảy mầm của hạt khác nhau ở các công thức

thí nghiệm, đạt thấp nhất ở công thức 1 (đối chứng)

với 45,67%, đạt cao nhất ở công thức 4 với 71,33%

Tỷ lệ nảy mầm ở các công thức nghiên cứu là khác

nhau ở mức có ý nghĩa về mặt thống kê Kết quả này

có thể được giải thích do thời gian nảy mầm của

hạt kéo dài nên khi gieo ở một độ sâu nhất định sẽ

đảm bảo được các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm thích hợp

cho sự nảy mầm của hạt Nếu gieo quá nông hạt sẽ

tiếp xúc với điều kiện nhiệt độ nóng, độ ẩm thấp,

hạt không hút đủ nước cho quá trình nảy mầm Bên

cạnh đó, khi gieo nông, hạt Bảy lá một hoa cũng dễ

bị gây hại bởi kiến, côn trùng làm ảnh hưởng đến tỷ

lệ nảy mầm

Tỷ lệ hình thành cây con ở các công thức thí

nghiệm đạt từ 41,67 - 71,00% Kết quả nghiên cứu

cho thấy ở các độ sâu gieo hạt khác nhau tỷ lệ hình thành cây con khác nhau và sự sai khác này có ý nghĩa về mặt thống kê Công thức 4 gieo ở độ sâu 4

cm cho tỷ lệ hình thành cây con cao nhất (Bảng 6) Như vậy, các mức độ sâu gieo hạt đã có ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ hình thành cây con ở cây Bảy lá một hoa Ở công thức 4 gieo ở độ sâu 4 cm đều cho kết quả tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ hình thành cây con cao nhất (tương ứng 71,33% và 71,00%) Bảng 5 Ảnh hưởng của độ sâu gieo hạt đến thời gian mọc mầm, tỷ lệ mọc mầm và tỷ lệ hình thành cây con

Công thức mọc mầm ời gian

(ngày)

Tỷ lệ mọc mầm (%)

Tỷ lệ hình thành cây con (%)

Bảng 4 Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến sinh trưởng của cây giống Bảy lá một hoa (sau gieo 365 ngày) Công thức Chiều cao cây (cm) Đường kính thân (mm) Chiều rộng lá (cm) Chiều dài lá (cm) Số rễ/cây(rễ/cây)

Công thức mọc mầm ời gian

(ngày)

Tỷ lệ mọc mầm (%)

Tỷ lệ hình thành cây con (%)

CT2 317 ns 53,00* 50,67*

CT3 322 ns 68,67* 67,33*

CT4 326 ns 71,33* 71,00*

Trang 4

eo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con

cho thấy, ở các độ sâu gieo hạt khác nhau chiều cao

cây, đường kính thân, chiều dài lá, số rễ/cây và khối

lượng 10 cây là khác nhau Tuy nhiên, sự sai khác

này không có ý nghĩa về mặt thống kê Đối với chỉ

tiêu chiều rộng lá khi gieo ở độ sâu 3 cm, 4 cm có sự

sai khác ở mức có ý nghĩa thống kê so với công thức đối chứng

Như vậy, có thể thấy rằng các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con Bảy lá một hoa ít bị ảnh hưởng bởi độ sâu gieo hạt

IV KẾT LUẬN

- Sử dụng hạt sau khi chà sạch vỏ sau đó bảo

quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 5oC trong thời gian

180 ngày, xử lý chất kích thích sinh trưởng GA3 với

nồng độ 600 ppm, độ sâu lấp hạt là 4 cm làm tăng

khả năng nảy mầm của hạt Bảy lá một hoa (81,67%),

rút ngắn thời gian nảy mầm (248 ngày)

- Tăng tỷ lệ hình thành cây con từ 66,00% (công

thức đối chứng) lên 81,33% tại công thức có xử lý

hạt, tăng khả năng phát triển cây con (3,75 rễ/cây)

Các chỉ tiêu sinh trưởng của cây con Bảy lá một hoa

như chiều cao cây, đường kính thân, chiều rộng lá,

chiều dài lá, số rễ/cây cây ít chịu ảnh hưởng bởi các

biện pháp kỹ thuật xử lý hạt (bảo quản hạt, độ sâu

lấp hạt và xử lý GA3)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Tiến Bân, 2005 Danh lục các loài thực vật Việt

Nam, tập III NXB Nông nghiệp, 2005, 457-458

Đỗ Tất Lợi, 2006 Những Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam NXB Y học

Gao L L., Li F R., Jiao P., Yao S T., Sang H., Si Y H.,

2011 Apoptosis of Human Ovarian Cancer Cells Induced by Paris Chinensis Dioscin via a Ca2+-Mediated Mitochondrion Pathway Asian Paci c Journal of Cancer Prevention, 12(5): 1361-1366 WANG Yan - fang,TANG Ling,LI Rong - ying,LI

Ge, 2012 Study on Factors In uencing the Seed Germination and Radicle Growth of Paris polyphylla Smith var yunnanensis (Franch.) Hand - Mazz Journal of Yunnan University of Traditional Chinese Medicine, 35(2): 28-31

Zhang J.Y, Ji Zhang, W-Z Yang, Y-Z Wang, H Yu and H Jin, 2011 Morphological diversity of wild medicinal Paris L from China and Vietnam African

J of Biotechnology, 10(73): 16421-16428

Bảng 6 Ảnh hưởng của độ sâu gieo hạt đến sinh trưởng của cây giống Bảy lá một hoa (sau gieo 365 ngày) Công thức Chiều cao cây (cm) Đường kính thân (mm) Chiều rộng lá (cm) Chiều dài lá (cm) Số rễ/cây(rễ/cây)

E ects of treatment and sowing depth

on seed germination of Paris chinensis Franchet

Nguyen Tien Dung, Nguyen i u, Tran Ngoc Lan, Dao uy Duong, Ninh i Phip, Doan i anh Nhan Abstract

Paris chinensis is a precious medicinal plant in Viet Nam and is propagated by seed However, seed germination percentage is low and dormancy is long e seed treatments included removing the outer seed coat, keeping at 5oC

in the refrigerator pretreating in GA3 and sowing depth e results showed that the ratio of seed germination was increased to 81.67% and germination time was shorter (248 days) when used the seeds a er removing outer coat, keeping at 5oC in 180 days and pretreating in GA3 600 ppm and sowing at a depth of 4 cm e ratio of seedling performance was increased from 66% (of the control) to 81.33% (of the treated seeds) and growth ability of seedlings was increased when comparing with that of the control

Key words: Paris chinensis Franchet, seed, pretreatment; sowing depth

Ngày nhận bài: 15/12/2016

Người phản biện: TS Trần Danh Sửu Ngày phản biện: 19/12/2016Ngày duyệt đăng: 23/12/2016

Trang 5

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Mè (Sesamum indicum  L.) là cây có dầu, ngắn

ngày quan trọng, dễ chăm sóc, ít đòi hỏi thâm canh,

có thể trồng để tận dụng đất đai, mùa vụ, thích hợp

gối vụ, luân canh, xen canh, có khả năng chịu hạn

tốt, có thể duy trì sinh trưởng trong điều kiện lượng

mưa thấp Mặc dù vậy, năm 2014, diện tích mè ở Việt

Nam chỉ đạt 43,03 ngàn ha, năng suất thấp 0,807 tấn/

ha, sản lượng đạt 34,745 ngàn tấn (FAO, 2016) Một

trong những nguyên nhân làm cho năng suất mè ở

Việt Nam thấp là do thiếu giống tốt trong sản xuất

(Toan Duc Pham et al., 2010)

Mè là cây trồng có đặc điểm hình thái nông học

rất đa dạng, các đặc trưng hình thái định tính và định

lượng rất khó nhận diện và phát hiện eo phiếu mô

tả và đánh giá ban đầu nguồn gen của Trung tâm Tài

nguyên thực vật (2012), có tất cả 50 chỉ tiêu để mô tả

đặc tính giống mè Các công trình nghiên cứu đánh

giá tập đoàn cây mè ở trong nước còn ít, tiêu biểu có

các nghiên cứu của Lê Khả Tường và Nguyễn Trọng

Dũng (2012); Nguyễn ị Hoài Trâm và ctv (2013)

Để sử dụng đúng nguồn vật liệu khởi đầu, bảo

đảm việc chọn giống có hiệu quả, vấn đề sưu tập,

đánh giá đa dạng nguồn gen của tập đoàn giống mè

là rất cần thiết

II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

25 giống mè địa phương và nhập nội đã được sử

dụng làm vật liệu khởi đầu Giống địa phương được

thu thập tại Bình uận, Đăk Lăk, Bình Định, Tuyên

Quang, Hà Nội Giống nhập nội từ các nước Ấn Độ,

ái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản

2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp bố trí tập đoàn: 25 giống được bố trí theo tuần tự không lặp lại, mỗi giống được gieo trồng với diện tích 5m2, mỗi ô gieo 25 cm ˟ 10 cm

- Phương pháp theo dõi: Phân biệt sự khác nhau đặc điểm về cây con, lá, thân, hoa, quả, hạt theo hướng dẫn của Trung tâm Tài nguyên thực vật (2012)

- Phương pháp phân tích số liệu: Phân tích đa dạng di truyền được thực hiện theo chương trình NTSYSpc-2.1, số liệu chuẩn hóa trước khi xử lý, chạy trên Similarity\Interval data, sau đó phân nhóm trên cây SAHN (Clustering\SAHN) Việc xếp nhóm UPGMA dựa vào ma trận của hệ số khác biệt Euclidean trong đặc tính hình thái (định tính và định lượng) Phân tích thành phần chính dựa vào hệ

số tương đồng của 25 giống mè thí nghiệm

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Khảo sát đặc điểm hình thái mang đặc trưng định tính và định lượng

Giai đoạn cây con, các đặc trưng hình thái màu sắc lá mầm, dạng lá mầm sự xuất hiện chồi nách đã được quan sát ghi nhận và thể hiện ở bảng 1 Các kết quả theo dõi, đánh giá đặc điểm hình thái mang đặc trưng định tính thân, lá, hoa, quả, hạt được thể hiện

ở bảng 2, bảng 3, bảng 4

Để phân biệt được sự khác nhau của giống mè đòi hỏi phải phân tích đánh giá tổng quát đặc trưng định tính, định lượng, vì kiểu hình chi tiết rất khó xác định Một số tính trạng đặc trưng khác biệt giữa các giống để nhận dạng là: Tính phân cành, lông trên thân, lá, hoa, quả, vị trí lá, hình dạng của

lá thật, dạng lá, góc lá, màu sắc tràng hoa, số hoa/ nách lá, dạng quả, số ngăn hạt/quả, màu quả khô, màu vỏ hạt

KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ ĐA DẠNG KIỂU HÌNH TẬP ĐOÀN GIỐNG MÈ

TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM NÔNG NGHIỆP HƯNG LỘC

Võ Văn Quang1, Nguyễn ị u Trinh2, Nguyễn Văn Chương1 TÓM TẮT

Nhằm giới thiệu vật liệu khởi đầu phục vụ cho công tác chọn tạo giống, tại Trung tâm Nghiên cứu ực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc, 25 giống mè được mô tả các đặc điểm hình thái nông học theo hướng dẫn của Trung tâm Tài nguyên thực vật ban hành năm 2012 Phân tích đa dạng di truyền được thực hiện bằng phần mềm NTSYS- pc 2.1 Kết quả cho thấy đặc điểm hình thái của các giống biểu hiện khá đa dạng, hệ số khác biệt Euclidean biến thiên mạnh, từ 1,01 đến 9,97 Sơ đồ cây phả hệ tại hệ số khác biệt Euclidean 7,78, các giống được chia thành bốn nhóm Tập đoàn giống mè phân bố theo 3 chiều biến thiên chính, đóng góp hơn 50,67% giá trị biến thiên của quần thể

Từ khóa: Đa dạng di truyền, đa dạng kiểu hình, tập đoàn mè

Ngày đăng: 28/12/2022, 17:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w