Hầu hết độ mặn lớn nhất tại các trạm xuất hiện vào đầu tuần.. - Khu vực huyện Cần Đước không lấy được nước ngọt kể cả vào lúc triều thấp.. - Khu vực Đức Hòa, Thủ Thừa, Tuyên Nhơn có thể
Trang 1VÀ THỦY LỢI
Số: /TB-PTNTTL Long An, ngày tháng năm 2022
THÔNG BÁO Tình hình chất lượng nước, xâm nhập mặn trên các tuyến sông
trong địa bàn tỉnh Long An Ngày 31/3/2022 (29/2âm lịch)
Hiện nay do còn ảnh hưởng của kỳ triều cường cuối tháng 2, đầu tháng 3 Âm lịch, nên độ mặn trên các tuyến sông trong tỉnh (sông Rạch Cát, Vàm Cỏ, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây, sông Tra) dao động ở mức từ 0,3 - 10,8 gram/lít (g/l) và tăng
từ 0,1 – 4,5 g/l (riêng một số điểm đo do ảnh hưởng mưa to nên độ mặn giảm nhẹ từ 0,2 – 1,2 g/l) so với thông báo chất lượng nước ngày 28/3/2022
Đối chiếu so với thông báo ngày 28/3/2022, độ mặn trên các tuyến sông cụ thể như sau:
- Sông Rạch Cát tăng từ 1,8 - 2,0 g/l (riêng tại cống Xóm Lũy, huyện Cần Đước và cống Trị Yên, huyện Cần Giuộc giảm từ 0,2 – 1,2 g/l);
- Sông Vàm Cỏ tăng từ 1,10 - 4,50 g/l (riêng cống Bến Trễ, huyện Cần Đước giảm 0,2 g/l);
- Sông Vàm Cỏ Đông tăng từ 0,20 - 0,60 g/l (riêng tại cống Ông Bình, huyện Cần Đước giảm 0,2 g/l);
- Sông Vàm Cỏ Tây tăng từ 0,1 - 0,8 g/l;
- Sông Tra tăng 0,8 g/l;
So với cùng kỳ năm 2021 (theo ngày âm lịch), độ mặn trên các tuyến sông cụ thể như sau:
- Sông Rạch Cát thấp hơn từ 4,90 - 10,0 g/l;
- Sông Vàm Cỏ thấp hơn từ 5,90 – 6,8 g/l;
- Sông Vàm Cỏ Đông thấp hơn từ 1,10 - 6,20 g/l;
- Sông Vàm Cỏ Tây thấp hơn từ 0,80 - 7,00 g/l;
- Sông Tra thấp hơn 5,9 g/l
Đối chiếu so với cùng kỳ năm 2020 (theo ngày âm lịch), độ mặn trên các tuyến sông cụ thể như sau:
- Sông Rạch Cát thấp hơn từ 4,80 - 11,5 g/l;
Trang 2- Sông Vàm Cỏ thấp hơn 9,70 - 11,1 g/l;
- Sông Vàm Cỏ Đông thấp hơn từ 0,70 - 9,20 g/l;
- Sông Vàm Cỏ Tây thấp hơn từ 1,40 - 9,9 g/l;
- Sông Tra thấp hơn 10,0 g/l
1 Tình hình xâm nhập mặn trên các tuyến sông
- Trên sông Vàm Cỏ Đông
+ Độ mặn 1,0 g/l vượt qua cống Đôi Ma, huyện Cần Đước (1,2 g/l), cách
cửa sông Soài Rạp khoảng 47km (so với cùng kỳ năm 2021 theo ngày Âm lịch,
vượt qua cầu An Hạ, huyện Cần Đước (1,1 g/l), cách sông Soài Rạp khoảng 88
km; so với cùng kỳ năm 2020 theo ngày Âm lịch, vượt qua Kênh Sa Bà, huyện Đức
Hòa (1,1 g/l), cách sông Soài Rạp khoảng 102 km).
+ Độ mặn 4,0 g/l chưa xuất hiện, độ mặn cao nhất trên sông Vàm Cỏ Đông
tại cống Xóm Bồ, huyện Cần Đước (2,7g/l), cách sông Soài Rạp khoảng 40 km (so
cùng kỳ năm 2021 theo ngày Âm lịch, vượt qua cầu Bến Lức, huyện Bến Lức (4,3 g/l), cách cửa sông Soài Rạp khoảng 58 km; so cùng kỳ năm 2020 theo ngày Âm gần đến cầu Rạch Vong, huyện Bến Lức (3,2 g/l), cách cửa sông Soài Rạp khoảng
72km)
- Trên sông Vàm Cỏ Tây
+ Độ mặn 1,0 g/l vượt qua cống Sông Cui, huyện Châu Thành (2,4 g/l), cách cửa
sông Soài Rạp khoảng 42 km (so với với cùng kỳ năm 2021 theo ngày Âm lịch, gần
đến cầu Bến Kè, huyện Thạnh Hóa (0,8 g/l), cách cửa sông Soài Rạp khoảng
102km; so với cùng kỳ năm 2020 theo ngày Âm lịch, vượt qua Kênh Tắc, xã Thạnh
Phước, huyện Thạnh Hoá (1,1 g/l), cách cửa sông Soài Rạp khoảng 127 km ).
+ Độ mặn 4,0 g/l chưa xuất hiện, độ mặn cao nhất trên sông vàm Cỏ Tây tại
cống Sông Cui, huyện Châu Thành (2,4 g/l), cách cửa sông Soài Rạp khoảng 42 km (so
với với cùng kỳ năm 2021 theo ngày Âm lịch, đến Bến đò Chú Tiết, thành phố Tân
An (4,0 g/l), cách cửa sông soài Rạp khoảng 70 km; so với cùng kỳ năm 2020 theo ngày Âm lịch gần đến cống La Khoa, huyện Thạnh Hóa (3,9 g/l), cách cửa sông Soài
Rạp khoảng 92 km)
2 Tổng hợp số liệu chất lượng nước tại các điểm đo:
STT ĐIỂM ĐO NGÀY ĐO ĐỘ MẶN (g/l)
So với Thông báo CLN ngày 28/3/2022
So cùng
kỳ năm
2021 theo ngày ÂL
So cùng
kỳ năm
2020 theo ngày ÂL
I Sông Rạch Cát
1 Cống Ông Hiếu - huyện Cần Giuộc 31/3
(29/02âl) 7,0 Giảm 1,2
Thấp hơn 10,0 Thấp hơn 11,5
2 Cống Xóm Lũy - huyện Cần Đước 31/3 10,8 Tăng 2,0 Thấp hơn 5,50 Thấp hơn 6,30
Trang 3STT ĐIỂM ĐO NGÀY ĐO ĐỘ MẶN (g/l)
So với Thông báo CLN ngày 28/3/2022
So cùng
kỳ năm
2021 theo ngày ÂL
So cùng
kỳ năm
2020 theo ngày ÂL
3 Cống Nha Ràm - huyện Cần Đước 31/3 9,3 Tăng 1,8 Thấp hơn 4,90 Thấp hơn 6,90
4 Cống Trị Yên - huyện Cần Giuộc 31/3 5,7 Giảm 0,2 Thấp hơn 6,30 Thấp hơn 4,80
II Sông Vàm Cỏ
5 Cầu Nổi - huyện Cần Đước 31/3 9,7 Tăng 4,5 Thấp hơn 5,9 Thấp hơn 9,7
6 Cống Bến Trễ - huyện Cần Đước 31/3 4,2 Giảm 0,2 Thấp hơn 6,40 Thấp hơn 9,80
7 Cột Đèn Đỏ - huyện
Thấp hơn 6,80
Thấp hơn 11,1
III Sông Vàm Cỏ Đông
8 Cống Xóm Bồ - huyện Cần Đước 31/3 2,7 Tăng 0,2 Thấp hơn 6,20 Thấp hơn 9,20
9 Cống Bà Xiểng - huyện Cần Đước 31/3 1,9 Tăng 0,6 Thấp hơn 4,30 Thấp hơn 8,60
10 Cống Đôi Ma - huyện
Thấp hơn 4,30
Thấp hơn 8,00
11 Cống Ông Bình - huyện Cần Đước 31/3 0,7 Giảm 0,2 Thấp hơn 4,50 Thấp hơn 8,10
IV Sông Vàm Cỏ Tây
12 Cống Sông Cui - huyện Châu Thành 31/3 2,4 Tăng 0,8 Thấp hơn 6,50 Thấp hơn 9,30
13 Cống Chợ Giữa – huyện Châu Thành 31/3 0,3 Tăng 0,1 Thấp hơn 7,00 Thấp hơn 9,90
V Sông Tra
14 Cống Rạch Tôm - huyện Châu Thành 31/3 4,1 Tăng 0,8 Thấp hơn 5,90 Thấp hơn 10,0
Trang 4Dự báo:
Theo bản tin số ngày 31/3/2022 của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam: Xâm nhập mặn trong tháng 4 có xu thế giảm, nguồn nước ngọt trên dòng
chính tăng; ranh mặn 1,0 g/l trên sông Vàm Cỏ vào sâu từ 60 – 70 km
Theo bản tin tuần báo số 13-KTTVLA ngày 31/3/2022 của Đài Khí tượng Thủy văn Long An dự báo nguồn nước:
Độ mặn vùng hạ lưu sông thuộc tỉnh Long An tiếp tục lên trong 2 – 3 ngày đầu, sau đó xuống theo triều ở mức xấp xỉ và thấp hơn so với cùng kỳ năm
2021 Hầu hết độ mặn lớn nhất tại các trạm xuất hiện vào đầu tuần
- Khu vực huyện Cần Đước không lấy được nước ngọt kể cả vào lúc triều thấp
- Khu vực Tân Trụ, Châu Thành có thể lấy nước lúc chân triều thấp từ ngày 05 đến ngày 07/4/2022
- Trên sông Vàm Cỏ Tây, từ Tân An trở lên có khả năng lấy được nước vào lúc triều thấp từ 31/3 đến 07/4/2022
- Trên sông Vàm Cỏ Đông, khu vực lân cận Bến Lức, An Thạnh trở lên có khả năng lấy được nước vào lúc triều thấp từ 04/4 đến 07/4/2022
- Khu vực Đức Hòa, Thủ Thừa, Tuyên Nhơn có thể lấy nước bình thường
3 Kiến nghị
Đề nghị Trung tâm Quản lý khai thác công trình thủy lợi Long An phối hợp với Phòng Nông nghiệp và PTNT, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp các huyện phía Nam và thành phố Tân An thường xuyên theo dõi chặt chẽ diễn biến độ mặn và có
kế hoạch vận hành các cống đầu mối hợp lý, kiểm tra và có kế hoạch xử lý triệt để các cửa cống bị rò rỉ để phủ bạt, thay thế các ron cửa cống bị hư hỏng để tránh tình trạng nước mặn xâm nhập vào bên trong nội đồng nhằm đảm bảo nguồn nước tưới phục vụ sản xuất nông nghiệp và cấp nước sinh hoạt cho người dân
Đề nghị UBND các huyện phía Nam và thành phố Tân An chỉ đạo các cơ quan chuyên môn ở địa phương thường xuyên theo dõi, cập nhật tình hình chất lượng nước trên website Phòng, chống thiên tai của tỉnh (http://pctt.longan.gov.vn)
và trên các bản tin dự báo, cảnh báo về nguồn nước, xâm nhập mặn của cơ quan chuyên môn: Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam (http://www.siwrr.org.vn), Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Long An để kịp thời thông tin, tuyên truyền rộng rãi đến người dân trên các đài truyền thanh huyện, xã về tình hình chất lượng nguồn nước trên các tuyến sông và trong nội đồng, đồng thời khuyến cáo người dân không lấy nước ở các khu vực đã bị nhiễm mặn; tranh thủ lấy nước, tích trữ nước vào ao, đồng ruộng, các trang thiết bị có thể trữ nước (bồn chứa, túi chứa nước…) khi nguồn nước còn dồi dào và nước mặn chưa xâm nhập vào các kênh, rạch nội đồng,
Trang 5sử dụng nước tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí và làm ô nhiễm nguồn nước nhằm đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước tưới phục vụ sản xuất và sinh hoạt an toàn./
Nơi nhận:
- TT Tỉnh ủy (b/c);
- UBND tỉnh (b/c);
- Sở NN và PTNT Tiền Giang;
- Các Sở: Giao thông Vận tải,Tài Nguyên và
MT; Thông tin và Truyền thông, Xây dựng (phối
hơp);
- GĐ, các PGĐ Sở (b/c);
- Phòng KH, XDCT Sở;
- UBND các huyện, thị xã Kiến Tường
và TP Tân An;
- Phòng NN và PTNT các huyện,
Phòng Kinh tế thị xã Kiến Tường và TP Tân An;
- Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp các huyện,
thị xã Kiến Tường và TP Tân An;
- Trung tâm QLKTCTTL LA;
- Trung tâm DVNN tỉnh;
- CC Chăn nuôi, Thú y và Thủy sản;
- CC TT BVTV và QLCLNS;
- LĐ CC PTNT và TL;
- Báo, Đài PT và TH Long An (đưa tin);
- Lưu: VT, QLCT và PCTT.
CHI CỤC TRƯỞNG
Võ Kim Thuần