1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: Vai trò định hướng XHCN của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam pot

227 739 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai trò định hướng XHCN của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam
Trường học Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Kinh tế học, Chính trị học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng những thứ đó, "tác động ngược lại của quyền lực Nhà nước đối với sự phát triển của kinh tế có thể có ba loại: nó có thể tác động theo cùng một hướng với sự phát triển kinh tế, lúc đ

Trang 2

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Định hướng XHCN là một vấn đề được Đảng ta chính thức nêu ra từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đây là một chủ đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, trọng yếu, giữ vai trò chỉ dẫn và chi phối các hoạt động tư tưởng, lý luận và thực tiễn, được toàn Đảng, toàn dân ta hết sức quan tâm Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước hết sức phức tạp, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, đang đứng trước những thời cơ và vận hội to lớn cũng những thách thức và nguy cơ không thể xem thường thì vấn đề định hướng XHCN ngày càng giữ vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với thực tiễn hôm nay và tương lai mai sau của đất nước

Giữ vững định hướng XHCN là một nguyên tắc của công cuộc đổi mới Sự thành công hay thất bại của công cuộc đổi mới đó ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào việc giữ vững định hướng đó hay không Do vậy, làm rõ thực chất của định hướng XHCN, tính đúng đắn của nó, những điều kiện và vai trò các nhân tố thực hiện định hướng để từ đó tạo cơ sở khoa học cho hoạch định các đường lối, chủ trương, chính sách trong công cuộc đổi mới, nhằm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là điều quan trọng và cần thiết

Vì thế việc nghiên cứu “Vai trò định hướng XHCN của Nhà nước đối với

sự phát triển nền kinh tế Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vừa cơ bản,

vừa cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu:

Vấn đề định hướng XHCN nói chung, vai trò của Nhà nước nói riêng trong thực hiện định hướng được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học ở nhiều cấp, nhiều ngành Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu độc lập của các nhà khoa học cũng như công trình nghiên cứu tập thể các vấn đề nói trên dưới nhiều góc độ khác nhau Ví dụ:

Trang 3

+ Một số chương trình, đề tài thuộc các chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước

- Chương trình KX01 “Những vấn đề lý luận về CNXH và về con đường đi lên CNXH ở nước ta” do GS.TS Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm

- Đề tài KX05-04 “Đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn quá độ lên CNXH” do GS PTS Nguyễn Ngọc Long chủ nhiệm

- Đề tài KX03-04 “Cơ chế thị trường và vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế nước ta hiện nay” do GS TS Lương Xuân Quỳ làm chủ nhiệm

+ Một số cuốn sách chuyên khảo:

- Định hướng XHCN ở Việt Nam, Một số vấn đề lý luận cấp bách, của ông Trần Xuân Trường

- Một số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Đức Bách, Nhị Lê, Lê Văn Yên

- Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam của ông Lê Đăng Doanh

- Kinh tế Việt Nam trước thế kỷ XXI, cơ hội và thách thức của Nguyễn Minh Tú

- Đổi mới hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, của các tác giả Vũ Đình Bách, Ngô Đình Giao

Ngoài ra còn các công trình nghiên cứu được công bố trên nhiều tạp chí, thông tin chuyên đề:

- Hội thảo “Một số vấn đề về định hướng XHCN ở nước ta” đăng trên Tạp chí Cộng sản từ số 4 tháng 2/1996 đến số 7 tháng 4/1996

Trang 4

- Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới chính sách kinh tế và đổi mới chính sách xã hội của Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí triết học số 3/1996

Mặc dù các công trình nghiên cứu, tài liệu, bài viết đã đề cập khá nhiều đến các khía cạnh khác nhau có liên quan trực tiếp đến đề tài: quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ chính trị TBCN, bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, vai trò của các nhân tố chủ quan trong việc lựa chọn và thực hiện định hướng XHCN Song chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống dưới góc độ triết học về “Vai trò định hướng XHCN của Nhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay”

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án:

b Nhiệm vụ của luận án:

Để đạt được mục đích trên, luận án có nhiệm vụ:

- Phân tích một cách có hệ thống lý luận Mác - Xít về quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế với tư cách là phương pháp luận nền tảng cho việc xem xét vai trò của Nhà nước trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Trang 5

- Phân tích một số các học thuyết kinh tế, một số mô hình kinh tế thị trường hiện đại nhằm khẳng định vai trò ngày càng tăng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

- Phân tích và chứng minh việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là con đường tất yếu, hợp quy luật vận động của lịch sử trong thời đại ngày nay

- Làm rõ nội dung và phương thức định hướng XHCN của Nhà nước đối với

sự phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Trên cơ sở phân tích thực tiễn hơn 10 năm đổi mới, luận án làm rõ thực trạng, những vấn đề phát sinh và một số phương hướng nhằm tiếp tục nâng cao vai trò của Nhà nước trong định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu, luận án lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận, phương pháp luận; luận án sử dụng các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, kết quả các công trình nghiên cứu có liên quan

Luận án sử dụng chủ yếu các phương pháp của CNDVBC và CNDVLS đặc biệt là các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp thống nhất lôgíc và lịch sử, phương pháp thống nhất lý luận và thực tiễn

5 Cái mới của luận án:

- Góp phần nghiên cứu tương đối có hệ thống mối quan hệ giữa Nhà nước

Những kết quả đạt được trong luận án sẽ góp phần vào thực tiễn nghiên cứu

và giảng dạy môn triết học Mác - Lênin, có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho môn kinh tế chính trị học và một số môn khác trong phạm vi liên quan đến đề tài

Trang 6

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án bao gồm 3 chương, 7 tiết

Trang 7

Chương 1 vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế

1.1 Nhà nước với kinh tế

Lịch sử phát triển của xã hội loài người có giai cấp cho thấy mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế là một tất yếu khách quan Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, mối quan hệ kinh tế - Nhà nước, về thực chất, là biểu hiện tập trung nhất mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng (CSHT) và kiến trúc thượng tầng (KTTT) của xã hội, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị

Khi nghiên cứu đời sống xã hội, các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin

đã chỉ ra rằng con người "muốn sống được thì trước hết cần phải có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo và một vài thứ khác nữa Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là việc sản xuất ra những tư liệu để thoả mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra đời sống vật chất và đó là một hành vi lịch sử, điều kiện cơ bản của mọi lịch sử mà hiện nay cũng như hàng ngàn năm về trước, người ta phải thực hiện hàng ngày, hàng giờ chỉ để nhằm duy trì đời sống con người " 1

Như vậy, sản xuất vật chất là hành vi lịch sử đầu tiên và cũng là hành vi mang tính chất vĩnh cửu của con người Và "trong sự sản xuất ra đời sống của mình, con người ta có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý chí của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội - tức là cái cơ sở hiện thực, trên đó xây dựng lên một KTTT pháp lý và chính trị "2

Cái cơ sở hiện thực Mác chỉ ra ở đây chính là cơ sở hạ tầng của một xã hội

ở một giai đoạn lịch sử nhất định, chính là sự tổng hợp của toàn bộ những quan hệ sản xuất cùng tồn tại trong giai đoạn lịch sử đó: Những quan hệ sản xuất thống trị, những quan hệ sản xuất tàn dư của xã hội trước và những quan hệ sản xuất mầm

1

C Mác - Ph Ăngghen, Tuyển tập, t1, NXB Sự thật H 1980, tr 286-287

Trang 8

mống của xã hội tương lai Đặc trưng của CSHT ở mỗi xã hội cụ thể là do kiểu quan hệ sản xuất thống trị quyết định, còn các kiểu quan hệ sản xuất khác - kiểu quan hệ sản xuất tàn dư, kiểu quan hệ sản xuất mầm mống cũng có những vai trò

vị trí nhất định Các kiểu quan hệ sản xuất đó (thống trị, tàn dư, mầm mống) trong CSHT vừa thống nhất lại vừa đấu tranh với nhau tạo nên sự phong phú đa dạng và phức tạp của CSHT

CSHT của mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau là khác nhau Sự khác nhau đó

là do tính chất của kiểu quan hệ sản xuất thống trị quy định Trong xã hội có đối kháng giai cấp, CSHT của xã hội cũng có tính chất đối kháng Do địa vị kinh tế, do mối quan hệ đối với tư liệu sản xuất (TLSX) của các giai cấp khác nhau, đối kháng nhau, nên sự tồn tại của mâu thuẫn và đấu tranh trong CSHT là điều không thể tránh khỏi

Cơ sở hạ tầng của xã hội đang trong thời kỳ quá độ, trong điều kiện tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau thì tính chất của nó phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế , phụ thuộc vào tỷ trọng của chúng Đặc trưng chung của CSHT quá độ là kết cấu kinh tế đa thành phần, tính chất đan xen, quá độ Kết cấu đó làm cho nền kinh tế vừa sống động, vừa phong phú lại vừa phức tạp, vừa đấu tranh lại vừa hợp tác giữa các thành phần kinh tế Tuy nhiên, trong điều kiện đó thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo sẽ chi phối các thành phần kinh tế khác, tác động trực tiếp đến xu hướng chung của toàn bộ đời sống xã hội, thực hiện sự định hướng cho nền kinh tế

Như vậy, CSHT là tổng hợp những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh

tế của một xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng bao giờ cũng có cấu trúc phức tạp, nhất

là trong điều kiện mang tính chất quá độ, đan xen nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau Và bao giờ, trong mỗi giai đoạn lịch sử - xã hội nhất định luôn có một thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo chi phối, quy định đặc trưng cho CSHT của giai đoạn đó

KTTT là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng của xã hội (chính trị, pháp quyền, triết học, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật ), những thiết chế tương ứng và

Trang 9

những quan hệ nội tại của chúng được hình thành trên một CSHT nhất định Tức là các yếu tố của KTTT đều hình thành trên cơ sở của cơ cấu kinh tế của xã hội, do

cơ cấu kinh tế ấy quy định và là sản phẩm của cơ cấu ấy “Cơ cấu kinh tế của xã hội lúc nào cũng là cái cơ sở hiện thực là cái xét đến cùng, giải thích toàn bộ thượng tầng kiến trúc là những thể chế pháp luật và chính trị cũng như những quan niệm tôn giáo, triết học và các quan niệm khác của mỗi thời kỳ lịch sử nhất định”3

Mỗi yếu tố của KTTT đều có những đặc điểm riêng, quy luật phát triển riêng nhưng không tách rời nhau, mà liên hệ tác động qua lại lẫn nhau và cùng liên

hệ với CSHT bởi lẽ chúng đều được nảy sinh từ CSHT, phản ánh CSHT Những bộ phận của KTTT như Nhà nước và pháp luật, các đảng phái chính trị và các hệ tư tưởng chính trị có liên hệ trực tiếp với CSHT, còn các yếu tố khác như triết học, tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật thì ở xa CSHT và phản ánh CSHT một cách gián tiếp

Cũng như CSHT, KTTT của xã hội có giai cấp đối kháng là một hệ thống có kết cấu hết sức phức tạp, không thuần nhất: bao gồm những quan điểm, tư tưởng cùng những thiết chế của giai cấp thống trị, những quan điểm của giai cấp bị trị, những quan niệm tồn tại dưới dạng tàn dư do KTTT của xã hội ở giai đoạn trước

để lại, những quan điểm, tổ chức của các tầng lớp trung gian và cả những quan điểm, những tổ chức của những giai cấp mới đang trong quá trình hình thành Trong cơ cấu đó, bộ phận chủ yếu chi phối, có tính quyết định tính chất của KTTT

ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định chính là hệ tư tưởng, quan điểm chính trị và thể chế của giai cấp đang giữ địa vị thống trị Giai cấp nào chiếm giữ địa vị thống trị

về kinh tế, tức nắm được những TLSX chủ yếu của xã hội, thì tất nhiên trong đời sống chính trị và tinh thần giai cấp ấy cũng chiếm địa vị thống trị Và do đó, tính chất của hệ tư tưởng của giai cấp ấy cũng quy định luôn cả tính chất của KTTT trong giai đoạn lịch sử đó

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, do trong CSHT tồn tại những quan hệ đối kháng nên KTTT cũng mang tính chất đối kháng Các giai cấp trong xã hội do

Trang 10

địa vị của họ trong hệ thống sản xuất của xã hội khác nhau, đối kháng nhau mà cách nhìn nhận của họ đối với đời sống xã hội, những quan điểm chính trị, pháp quyền, tôn giáo, đạo đức, triết học của họ cũng rất khác nhau Sự đối kháng đó được biểu hiện ở sự xung đột về quan điểm ở cuộc đấu tranh tư tưởng của các giai cấp

Bộ phận có quyền lực mạnh nhất của KTTT của xã hội có đối kháng giai cấp là Nhà nước - cơ quan quyền lực đặc biệt của xã hội, công cụ sắc bén của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xã hội về mặt chính trị, pháp lý Chính nhờ có Nhà nước mà những quan niệm, quan điểm, hệ tư tưởng của giai cấp thống trị mới trở thành cái thống trị trong toàn bộ đời sống xã hội

CSHT và KTTT là hai mặt cơ bản của đời sống xã hội Giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại với nhau, trong đó CSHT giữ vai trò quyết định

CSHT với tính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực sản sinh ra KTTT tương ứng, quy định tính chất của KTTT Sự đa dạng, phong phú, phức tạp và sống động của KTTT chính là sự phản ánh tính đa dạng, phong phú, phức tạp của CSHT đã sản sinh ra nó Trong tác phẩm "Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapác" C Mác đã viết: "Cả một KTTT, những cảm giác, những ảo tưởng, những lối suy nghĩ

và quan niệm sống khác nhau và độc đáo đã mọc lên trên những hình thức sở hữu khác nhau, trên các điều kiện sinh hoạt xã hội Toàn thể giai cấp tạo ra và hình thành nên tất cả những cái đó trên cơ sở những điều kiện vật chất của mình và trên những quan niệm xã hội tương ứng" 4 Khi có những biến đổi căn bản trong CSHT thì sớm muộn cũng dẫn đến những thay đổi căn bản trong KTTT Khi CSHT có thay đổi nhưng chưa phải là những thay đổi căn bản thì ở KTTT chỉ có những biến đổi mang tính điều chỉnh nhất định Ta có thể thấy rõ điều này trong lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản trong hơn năm thế kỷ qua Hình thức đầu tiên của CNTB là CNTB tự do cạnh tranh Trong hình thức này, TLSX của xã hội được

"phân chia" cho nhiều chủ sở hữu với qui mô nhỏ và vừa Các nhà máy xí nghiệp,

Trang 11

các quá trình sản xuất được tổ chức theo qui mô phù hợp với hình thức sở hữu đó Khi CNTB tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền, khi CNTB phát triển lên giai đoạn chủ nghĩa đế quốc với nét đặc trưng là sự thống trị của các tổ chức độc quyền thì nền sản xuất xã hội có nhiều biến đổi to lớn: quy mô sản xuất

xã hội không còn bó hẹp trong các quy mô nhỏ và vừa Nhờ vào sự tích tụ tập trung tư bản mà các công ty cổ phần, các xí nghiệp khổng lồ ra đời và tiếp sau đó

là những công ty độc quyền quốc gia và xuyên quốc gia Những hình thức mới của sản xuất xã hội trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa cho thấy tính chất xã hội hoá của nền sản xuất xã hội đã phát triển đến cao độ và tương ứng với nó là hình thức mới của sở hữu tư bản - hình thức tập thể Từ những biến đổi trong cơ cấu kinh tế -

xã hội đã dẫn đến những biến đổi trong KTTT, đặc biệt trong Nhà nước - yếu tố cơ bản và quan trọng của KTTT của xã hội có giai cấp Sự thay đổi của Nhà nước được thể hiện từ cách thức tổ chức đến nội dung, tính chất, phương thức hoạt động trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh vực kinh tế Nếu trong giai đoạn tự do cạnh tranh Nhà nước chỉ tồn tại với tư cách "người lính" canh gác cho nền sản xuất TBCN, cho chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa nhỏ và vừa thì chuyển sang giai đoạn

đế quốc chủ nghĩa, do những biến đổi trong nền sản xuất xã hội, do những biến đổi trong chế độ sở hữu và do đó trong sự phân công lao động xã hội cũng như phân phối những sản phẩm do xã hội tạo ra mà Nhà nước ngày càng can thiệp sâu hơn vào kinh tế ở giai đoạn này tư bản tài chính đã cấu kết với bộ máy Nhà nước, biến Nhà nước thành công cụ riêng của các tập đoàn tư bản tài chính và làm cho Nhà nước trở thành Nhà nước độc quyền Như vậy, các yếu tố của KTTT, đặc biệt

là Nhà nước, với tư cách là cơ quan quyền lực đặc biệt của tổ chức chính trị xã hội,

là yếu tố cơ bản của KTTT của xã hội có giai cấp, đã có những biến đổi to lớn Nhà nước từ chỗ đứng ngoài nền sản xuất xã hội đã trở thành một chủ sở hữu, một nhà sản xuất kinh doanh Dù có những biến đổi to lớn như vậy, nhưng xét về bản chất giai cấp, chức năng cơ bản thì Nhà nước ấy vẫn là Nhà nước của giai cấp tư sản, là người bảo vệ cho quyền sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa

Trang 12

KTTT ra đời từ CSHT, bị quy định bởi CSHT tương ứng nhưng nó không phải là sản phẩm hoàn toàn thụ động Trong đời sống xã hội, KTTT luôn tác động mạnh mẽ đến CSHT Trong thư gửi Joseph Bloch ở Komigsbog, Ph Ăngghen viết:

"Theo quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyết định lịch sử, xét đến cùng là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực Chúng ta tự làm nên lịch sử của chúng

ta, nhưng trước hết là với những tiền đề và trong những tiền đề và điều kiện ấy thì chính những điều kiện kinh tế giữ vai trò cuối cùng Nhưng những tiền đề và điều kiện chính trị và tất cả cái truyền thống đang ám ảnh đầu óc con người cũng đóng một vai trò, tuy không phải quyết định "5 Bốn năm sau đó, năm 1894, Ăngghen đã nhắc lại một cách cụ thể hơn luận điểm trên trong thư ông viết cho W Borgius ở Breslau: "Sự phát triển về mặt chính trị, pháp luật, tôn giáo, văn học, nghệ thuật dựa vào sự phát triển kinh tế Nhưng tất cả những sự phát triển đó đều tác động lẫn nhau và cùng tác động đến cơ sở kinh tế Hoàn toàn không phải điều kiện kinh tế là nguyên nhân duy nhất chủ động, còn mọi thứ khác chỉ có tác dụng thụ động"6

Sự tác động mạnh mẽ của KTTT đến CSHT thể hiện rõ nét nhất ở sự tác động của chính trị, của Nhà nước đối với kinh tế

Theo Ăngghen, với tư cách là một cơ quan quyền lực của xã hội, Nhà nước

có trong tay một loạt các công cụ thuế khoá, chính sách buôn bán để tác động vào kinh tế Bằng những thứ đó, "tác động ngược lại của quyền lực Nhà nước đối với sự phát triển của kinh tế có thể có ba loại: nó có thể tác động theo cùng một hướng với sự phát triển kinh tế, lúc đó sự phát triển kinh tế sẽ nhanh hơn; nó có thể

đi ngược lại hướng phát triển kinh tế, và trong trường hợp này, ở các dân tộc lớn,

nó sẽ tan vỡ sau một thời gian nhất định, hay là nó có thể ngăn cản một vài xu hướng phát triển nào đấy của nền kinh tế và quy định những hướng phát triển khác Trong trường hợp này rốt cuộc rồi cũng dẫn đến một trong hai trường hợp trên"7

Trang 13

xã hội cộng sản nguyên thuỷ không có Nhà nước, lúc đó các quan hệ xã hội và ngay cả xã hội nữa, kỷ luật, tổ chức lao động đều duy trì được là nhờ có sức mạnh của phong tục, tập quán, nhờ có uy tín và sự kính trọng đối với những bộ não của thị tộc, hoặc đối với phụ nữ - địa vị của phụ nữ không chỉ ngang với nam giới mà còn cao hơn nữa và lúc đó không có một hạng người riêng biệt, hạng người chuyên môn thống trị Sở dĩ ở đây chưa có Nhà nước là vì nền sản xuất của xã hội còn rất thấp kém Với những công cụ lao động hết sức thô sơ: cái que, cái gậy, viên đá , với chế độ công hữu, đất đai là tài sản của toàn thể bộ lạc, tất cả mọi thành viên của toàn thể bộ lạc phải tham gia vào quá trình lao động sản xuất, làm chung, ăn chung, không có của cải dư thừa để tích luỹ, để dành

Tuy nhiên, cũng như mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới, xã hội không đứng im, ngưng trệ mà nó luôn trong quá trình vận động, biến đổi và phát triển Sự vận động, biến đổi, phát triển của xã hội bắt nguồn từ trong quá trình sản xuất vật chất Xã hội loài người từ chỗ sử dụng những công cụ có sẵn trong tự nhiên hoặc qua sơ chế đến chỗ biết sử dụng những công cụ bằng kim loại Chính việc sử dụng những công cụ lao động mới này đã làm cho nền sản xuất xã hội phát triển, của cải được tạo ra ngày một nhiều hơn, phong phú hơn, kinh nghiệm lao động được tích luỹ nhiều hơn, phân công lao động xã hội được thực hiện: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt Nhờ vậy khả năng phát triển kinh tế độc lập của mỗi gia đình trong bộ lạc hình thành và trên thực tế đã xuất hiện gia đình theo chế độ gia trưởng Gia đình là một nhóm làm kinh tế bao gồm nhiều thế hệ con cháu của ông tổ Họ sống

Trang 14

chung với nhau và cùng lao động, cùng sử dụng của cải chung dưới sự quản lý của người chủ gia đình Sự xuất hiện gia đình theo chế độ gia trưởng đã làm rạn nứt chế độ thị tộc và gia đình riêng lẻ đã trở thành lực lượng đối lập với thị tộc Về vấn

đề này, sau khi nghiên cứu về chế độ thị tộc Hi Lạp, Ph Ăngghen đã viết: "Như vậy, trong chế độ Hy Lạp ở thời đại anh hùng, chúng ta thấy tổ chức thị tộc cổ đang còn tồn tại hoàn toàn sung sức, nhưng đồng thời chúng ta cũng thấy chế độ

ấy đã bắt đầu suy sụp Chế độ phụ quyền, với việc để lại tài sản cho con cái đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự tích luỹ của cải trong gia đình và biến gia đình thành một thế lực đối lập với thị tộc"8

Cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội, lao động của một người đã tạo ra lượng của cải nhiều hơn mức cần thiết để duy trì cuộc sống của chính bản thân họ Do vậy, xuất hiện những điều kiện vật chất cho sự chiếm đoạt ra đời Một nhóm người trong thị tộc đã sử dụng quyền lực của mình - quyền lực mà thị tộc đã giao cho họ một cách tự nguyện trước đây để điều hành sự hoạt động của thị tộc làm công cụ để chiếm đoạt những đất đai mầu mỡ, những đàn gia súc đông đúc, những chiến lợi phẩm thu được trong chiến tranh làm của riêng, để bảo vệ những lợi ích riêng của mình và đồng thời để bắt những người khác trong cộng đồng phaỉ phục tùng họ Thứ quyền lực ấy, lúc này trở thành vật cha truyền con nối và ngày càng mạnh lên sau những cuộc chiến tranh Các cơ quan quyền lực xã hội của thị tộc trước đây như Hội đồng bộ lạc và các thủ lĩnh quân sự dần dần tách khỏi dân

cư, biến thành các cơ quan thống trị bộ lạc mình và các bộ lạc khác Một nhóm người thân cận, tin cậy được hình thành bên cạnh người cầm đầu thị tộc bộ lạc Lúc đầu họ chỉ là những vệ binh, dần về sau họ được hưởng những đặc quyền đặc lợi và đó chính là mầm mống của đội quân thường trực của Nhà nước sau này

Như vậy là trong đời sống kinh tế - xã hội đã xảy ra những biến đổi vô cùng

to lớn Tổ chức xã hội thị tộc đã tỏ ra bất lực trước những thay đổi đó Tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâu thuẫn nội tại và nó chỉ có thể thích hợp với kiểu xã hội ấy mà thôi Trong xã hội đó, ngoài dư luận xã hội ra không có

Trang 15

bất kỳ một phương tiện cưỡng chế nào cả, mọi quyền lực được thực thi một cách

tự nguyện, tự giác Nhưng cho đến đây "một xã hội mới đã ra đời, một xã hội do toàn bộ những điều kiện kinh tế của sự tồn tại của nó mà phải chia ra thành những người tự do và nô lệ, thành những kẻ giàu có đi bóc lột và những người nghèo khổ

bị bóc lột, một xã hội không những không thể điều hoà lại một lần nữa những mặt đối lập đó, mà còn buộc phải đẩy chúng đi đến chỗ ngày càng găy gắt Tổ chức thị tộc đã không còn tồn tại nữa Nó đã bị sự phân công ấy tức là sự phân chia của

xã hội thành giai cấp, phá tan Nó đã bị Nhà nước thay thế"9

Và thế là Nhà nước đã xuất hiện từ ngay chính trong lòng xã hội do sự phát triển của bản thân xã hội, do nhu cầu cần thiết phải ổn định xã hội để tồn tại và phát triển Tuy nhiên, sự xuất hiện của Nhà nước ở các nước khác nhau trên thế giới là khác nhau do những điều kiện kinh tế, xã hội và môi trường khác nhau Trong "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước" Ăngghen phân tích sự ra đời của Nhà nước chiếm hữu nô lệ ở ba trung tâm lớn: Aten, Rôma

và của người Giécmanh Theo đó, ở mỗi trung tâm, sự hình thành Nhà nước có những nét đặc trưng riêng ở Aten, theo Ăngghen, nơi đã hình thành Nhà nước dưới hình thức thuần tuý nhất, cổ điển nhất, Nhà nước "nảy sinh chủ yếu và trực tiếp từ sự đối lập giai cấp đã phát triển ngay trong nội bộ thị tộc" ở Rôma sự thắng lợi của giới bình dân trong cuộc đấu tranh chống tầng lớp quý trộc của thị tộc đã dẫn đến sự hình thành Nhà nước Còn đối với người Giécmanh "Nhà nước nảy sinh trực tiếp từ việc chinh phục những đất đai rộng lớn của người khác"

Sự hình thành Nhà nước ở phương Đông và phương Tây cũng có những nét

cơ bản khác nhau Nếu như ở phương Tây Nhà nước thường hình thành trực tiếp

từ nhu cầu điều chỉnh xung đột giai cấp đã trở nên gay gắt không thể điều hoà được bằng các tổ chức thị tộc, thì ở phương Đông, bên cạnh cơ sở phân hoá xã hội

là tiền đề vật chất không thể thiếu được, "nhân tố thuỷ lợi và bảo vệ, bản thân nó không thể sản sinh ra Nhà nước, nhưng nó có thể thúc đẩy quá trình hình thành

Trang 16

Nhà nước và quy định thêm tính chất, chức năng của Nhà nước đó."10 Đặc điểm chung đó trong sự hình thành Nhà nước ở phương Đông cũng có ở Việt Nam, hơn nữa ở Việt Nam đặc điểm đó còn để lại dấu ấn sâu đậm trong quá trình lịch sử về sau Các nhà sử học Việt Nam đã khẳng định: "yêu cầu tự vệ chống giặc ngoại xâm cùng với yêu cầu thuỷ lợi của nền kinh tế nông nghiệp đã có tác động rất mạnh vào quá trình hình thành Nhà nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Nhà nước đó

ra đời có phần sớm hơn so với điều kiện chín muồi của sự phân hoá xã hội" 11

Như vậy, dù xuất hiện ở đâu, vào thời điểm nào, dưới hình thức nào và mang những đặc điểm cụ thể gì thì Nhà nước quyết không phải là một quyền lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội Nhà nước là sản phẩm của một xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định và tất cả mọi quyền lực xã hội và tất cả mọi bạo lực chính trị đều bắt nguồn từ những tiền đề kinh tế, từ phương thức sản xuất và trao đổi của xã hội nhất định trong lịch sử 12 Nhà nước ra đời từ sự phát triển của kinh

tế, do sự phát triển của kinh tế quy định Đó là nguyên lý bất di bất dịch Vì vậy, chính ở đây, khi phân tích nguồn gốc của Nhà nước chúng ta đã thấy ngay rằng trong bản thân nó đã chứa đựng chức năng điều tiết kinh tế, đã bao hàm khả năng tác động đến kinh tế Theo nghĩa đó V.I Lênin đã chỉ rõ: "Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế" 13, "là kinh tế cô đọng lại"14 và "bạo lực (nghĩa là quyền lực Nhà nước) cũng là một tiềm lực kinh tế"15

Thứ hai: Bất kỳ Nhà nước nào trong lịch sử cũng mang bản chất giai cấp Mọi hành vi hoạt động của Nhà nước đều do bản chất giai cấp quy định

Trên đây chúng ta đã rút ra kết luận cơ bản là Nhà nước ra đời từ nguyên nhân kinh tế, nó là sản phẩm của mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được trong xã hội có đối kháng giai cấp Ra đời trong xã hội đó, Nhà nước là bộ máy bạo lực dùng để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với các giai cấp khác, là

Trang 17

công cụ để bảo vệ quyền lợi mà trước hết là quyền lợi kinh tế của giai cấp thống trị "Nhà nước là Nhà nước của giai cấp có thế lực nhất, của cái giai cấp thống trị

về mặt kinh tế và nhờ có Nhà nước, mà cũng trở thành giai cấp thống trị về mặt chính trị và do đó có thêm được những phương tiện mới để đàn áp và bóc lột giai cấp bị áp bức"16

Xuất hiện trong xã hội có đối kháng giai cấp, với tư cách là "một lực lượng tựa hồ như đứng trên xã hội, có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó nằm trong vòng "trật tự"17 nhưng Nhà nước chưa bao giờ và không bao giờ trong lịch sử xã hội có giai cấp lại không mang bản chất giai cấp Nhà nước điều hoà xung đột giai cấp, đảm bảo cho xã hội loài người có thể tồn tại được, nhưng sự điều hoà đó diễn ra trong khuôn khổ lợi ích và phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị Điều đó đúng với xã hội chiếm hữu nô lệ, phong kiến và cả

xã hội tư sản Trong "Vấn đề về nhà ở", khi đề cập tới Nhà nước tư sản, Ăngghen

đã viết: "Nhà nước không phải là cái gì khác hơn là quyền lực tổng hợp có tổ chức của những giai cấp hữu sản, những địa chủ và những nhà tư bản, đối lập với những giai cấp bị bóc lột, những nông dân và công nhân Điều gì mà cá nhân những nhà

tư bản không muốn thì Nhà nước của họ cũng không muốn"18

Nhà nước mang bản chất giai cấp, Nhà nước là bộ máy thống trị của giai cấp thống trị về kinh tế, là công cụ dùng để bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị Cho nên, trong mọi trường hợp, nếu bất kỳ một lực lượng xã hội nào, một xu thế phát triển nào của lịch sử, bất luận xu thế đó có phù hợp với tiến trình phát triển khách quan của lịch sử đi chăng nữa thì giai cấp thống trị vẫn sử dụng Nhà nước

để chống lại chúng, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp mình Chính điều đó lý giải vì sao khi tác động vào kinh tế Nhà nước lại có thể làm cho nó vận động tiến lên theo hướng này hay hướng khác, thậm chí thụt lùi

Thứ ba: Sau khi ra đời Nhà nước đã thực hiện những chức năng nhất định- chức năng đối nội và chức năng đối ngoại

Trang 18

Chức năng đối nội của Nhà nước là sự thể hiện quyền lực của nó trong mọi lĩnh vực hoạt động của xã hội Trong đó Nhà nước có hai chức năng sau: Một là, chức năng chuyên chính, trấn áp, bảo vệ sự tồn tại của Nhà nước, bảo vệ lợi ích căn bản của giai cấp thống trị khỏi mọi sự tấn công từ phía giai cấp bị thống trị và các tầng lớp khác trong xã hội Hai là, chức năng tổ chức xây dựng xã hội tạo nên một trật tự xã hội nhất định để xã hội có thể tồn tại và phát triển được: duy trì trật

tự xã hội, quản lý về kinh tế, giáo dục, văn hoá

Chức năng đối ngoại, thể hiện ở quan hệ của Nhà nước đối với các quốc gia khác trên trường quốc tế Trong chức năng này, tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể mà Nhà nước có thể:

+ Bảo vệ đất nước, chống mọi sự tấn công và xâm lược từ bên ngoài;

+ Mở rộng lãnh thổ bằng cách phát động chiến tranh xâm lược;

+Thiết lập quan hệ hữu nghị hợp tác trên nguyên tắc các bên tham gia cùng

có lợi đồng thời bảo đảm được an ninh, chủ quyền của mỗi quốc gia

Các chức năng đối nội và đối ngoại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng bị chi phối bởi lợi ích cuả giai cấp cầm quyền Nghĩa là các hoạt động diễn ra trên hai lĩnh vực đó đều là những hoạt động có định hướng, phản ánh ý chí, lợi ích của giai cấp thống trị Tuy nhiên, khẳng định như vậy không có nghĩa là trong mọi Nhà nước đều không có sự kết hợp giữa những hoạt động thể hiện lợi ích giai cấp với những hoạt động thể hiện lợi ích chung của toàn xã hội Khi nghiên cứu lịch

sử, người ta thấy bất kỳ Nhà nước nào cũng đều phải thực hiện những chức năng chung - những chức năng đảm bảo lợi ích chung cho toàn xã hội Những chức năng này xuất hiện do sự phát triển của sản xuất, do yêu cầu của phân công lao động xã hội Tính chất giai cấp và tính chất xã hội hoà quện vào nhau và cùng tham gia quy định hoạt động của Nhà nước Vì "ở khắp nơi, chức năng xã hội là cơ

sở của sự thống trị chính trị; và sự thống trị cũng chỉ kéo dài chừng nào nó còn thực hiện chức năng xã hội của nó"19

18

C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập18, NXB CTQG- S H 1995 tr.352

Trang 19

Nhấn mạnh mối quan hệ giữa tính giai cấp và tính xã hội của Nhà nước thể hiện qua các chức năng như trên không có nghĩa là đi đến xoá bỏ tính giai cấp của

nó Nhà nước đã, đang và sẽ mang tính giai cấp Mọi hoạt động của Nhà nước, xét đến cùng đều do lợi ích giai cấp chi phối Nếu sự khác biệt lợi ích trong xã hội mất

đi, nếu "Nhà nước thực sự trở thành đại biểu của toàn thể xã hội thì bản thân nó trở thành thừa"20, thì Nhà nước cũng sẽ không tồn tại với tư cách là Nhà nước nữa Điều đó một lần nữa giải thích vì sao sự tác động của Nhà nước đến kinh tế, đến CSHT lại phong phú, đa dạng, phức tạp đến như vậy đồng thời giải thích vì sao Nhà nước lại có thể hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển của kinh tế

Sự tác động của Nhà nước đến CSHT kinh tế đã diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử kể từ khi nó xuất hiện đến nay

Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, do những nguyên nhân kinh tế mà Nhà nước chiếm hữu nô lệ đã ra đời Ngay sau khi ra đời, Nhà nước chiếm hữu nô lệ, dưới sự cầm quyền của Sôlông, Cli-xten chẳng hạn, đã dùng quyền lực thực thi nhiều biện pháp khác nhau nhằm một mặt xoá bỏ tàn tích của xã hội cộng sản nguyên thuỷ, mặt khác tạo dựng củng cố và phát triển xã hội chiếm hữu nô lệ

Sôlông (khoảng 638 - 558 trước công nguyên) được coi là một nhà cải cách

vĩ đại Theo sự đánh giá của các nhà sử học, cải cách của ông đã làm thay đổi hẳn chế độ chính trị và xã hội cũ của Aten, đánh đòn nặng nề vào tàn tích của chế độ thị tộc và sự thống trị của giai cấp quý tộc, tạo điều kiện cho sự phát triển của chế

độ tư hữu, đặt cơ sở cho nền dân chủ chủ nô Aten21 Sôlông đã làm những gì? Trước tiên ông "xâm phạm chế độ sở hữu" bằng cách tuyên bố xoá bỏ mọi nợ nần, giải phóng cho những người bị buộc phải làm nô lệ vì nợ nần, quy định mức sở hữu ruộng đất, tức là đem lại quyền sở hữu cho những người nông dân Liền sau

đó ông thực hành một loạt những biện pháp kinh tế và tác động khác nhằm khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp như cải cách chế độ tiền tệ, thừa nhận quyền tự do di sản cho bất kỳ ai theo ý muốn (trước đó tài

20

C Mác - Ph Ăngghen, Toàn tập, Tập20, NXB CTQG H 1984 tr.389

Trang 20

sản của người quá cố thuộc quyền sở hữu của thị tộc của người đó) Cải cách quan trọng nhất của Sôlông là nhằm vào thủ tiêu những đặc quyền đặc lợi của quý tộc, xác định địa vị của mỗi công dân theo mức tài sản của họ Với những nội dung

đó, cải cách của Sôlông đã giáng đòn chí tử vào chế độ cộng sản nguyên thuỷ, vào cái xã hội đã sinh ra nó tức chế độ công hữu, đưa chế độ tư hữu - cơ sở kinh tế của

xã hội chiếm hữu nô lệ vào cuộc sống, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển vững chắc của xã hội chiếm hữu nô lệ

Tuy vậy, những cải cách của Sôlông đã không thủ tiêu được hoàn toàn những tàn tích của chế độ thị tộc: chế độ sở hữu lớn cũng như những ảnh hưởng chính trị của tầng lớp quý tộc vẫn còn chiếm ưu thế; việc chia lại ruộng đất cho nông dân cũng đã không thực hiện được Cuộc cải cách của Sôlông không triệt để

Sự xoá bỏ hoàn toàn những cơ sở, điều kiện của xã hội thị tộc, của phương thức sản xuất cũ phải chờ đến cải cách của Cli-xten

Vừa lên cầm quyền, Cli-xten liền thực hành ngay một loạt cải cách mà tính chất của nó, theo Ăngghen, là cách mạng Trong "Nguồn gốc của gia đình, của chế

độ tư hữu và của Nhà nước" Ăngghen viết: "Cuộc cách mạng của Cli-xten (509 trước công nguyên) lật đổ hẳn họ [tầng lớp quý tộc] đồng thời lại lật đổ cả tàn tích cuối cùng của chế độ thị tộc nữa"22 Sở dĩ được đánh giá cao như vậy là vì Cli-xten đã phân chia tất cả công dân Aten theo những khu vực hành chính Bằng cách

đó, ông đã xoá bỏ được sợi dây cuối cùng níu kéo sự tồn tại của xã hội thị tộc: sợi dây huyết thống - sợi dây vốn đã không bền chặt, vì cái cơ sở kinh tế của nó - một

cơ sở kinh tế mang tính thuần nhất chỉ dựa trên chế độ công hữu, đã bị xâm phạm bởi các cải cách của Sôlông trước đó Cuộc cải cách của Cli-xten đã làm thay đổi toàn bộ xã hội Aten từ cơ cấu của bản thân chính quyền Nhà nước cho đến đời sống kinh tế xã hội, đã làm tạo ra một xã hội chiếm hữu nô lệ điển hình

Như vậy, trong giai đoạn đầu, Nhà nước chiếm hữu nô lệ đã bằng quyền lực

để thực hiện cải cách nhằm một mặt xoá bỏ mối quan hệ, các tàn tích của xã hội

Trang 21

cộng sản nguyên thuỷ, mặt khác thiết lập nên cơ sở kinh tế cho xã hội mới - xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ tư hữu

Sau khi đã thiết lập được cơ sở kinh tế vững chắc cho sự tồn tại của xã hội chiếm hữu nô lệ, Nhà nước chủ nô lại tiếp tục sử dụng quyền lực của mình can thiệp vào đời sống kinh tế xã hội Pháp luật quy định nô lệ phải làm việc, không được phản đối (pháp luật cổ đại Trung quốc), nếu nô lệ không vâng lời có thể bị cắt tai, nô lệ bỏ trốn thì bản thân và những người che dấu cho họ bị xử tử hình (luật Hăm Murabi), nô lệ ốm đau thì chủ nô được phép bỏ cho chết dần, nô lệ bỏ chốn thì những người trong gia đình bị xử tử hình (luật La mã) Đồng thời pháp luật cũng đảm bảo cho tính tuyệt đối của quyền tư hữu đối với nô lệ và mọi tài sản khác của chủ nô, quyền cha truyền con nối nô lệ và những tài sản đó (luật La Mã) chống lại mọi sự xâm phạm quyền tư hữu đó bằng các hình phạt như tử hình đối với tôị ăn cắp hoa quả (luật Paracông thế kỷ thứ VII trước công nguyên) bị đối

xử như nô lệ đối với những người tự do phạm tội ăn cắp và bị giết chết sau khi bị hành hạ đối với nô lệ phạm cùng tội ăn cắp (luật La mã) Và do vậy, đương nhiên

là ở đó luật pháp cũng đảm bảo cho tính tuyệt đối của quyền chiếm hữu toàn bộ của caỉ vật chất do sức lao động của nô lệ tạo ra

Sự can thiệp của Nhà nước trong xã hội CHNL đối với kinh tế như vậy là mang tính gián tiếp ở đây, Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh, không tham gia vào việc quy định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, cần tạo ra bao nhiêu sản phẩm và sản xuất cho ai; Nhà nước, bằng cách ban bố pháp luật, kiểm tra giám sát việc thi hành luật pháp mà tạo ra môi trường cho quá trình sản xuất Đương nhiên, để đảm bảo cho các hoạt động của mình được diễn ra, Nhà nước cũng buộc các chủ nô phải có những đóng góp nhất định

Trong xã hội CHNL, vào thời kỳ hình thành và phát triển sự tác động của Nhà nước đối với kinh tế bằng hình thức trên đã tạo điều kiện cho nền sản xuất xã hội Nhưng càng về sau, nhất là vào khoảng thế kỷ thứ II, thứ III, cũng chính sự can thiệp của của Nhà nước, cũng chính môi trường pháp lý mà Nhà nước đã tạo ra cho nền kinh tế lại trói buộc sự phát triển của lực lượng sản xuất, đã tạo ra một lực

Trang 22

lượng sản xuất với tính chất và trình độ hết sức đơn giản, với những người lao động chây ì, chậm chạp, lười biếng và những công cụ lao động nặng nề thô kệch (để đối phó với sự phá hoại của nô lệ) Những người chủ nô sử dụng nô lệ để tiến hành lao động sản xuất nhưng không hề quan tâm đến việc cải tiến phương pháp canh tác Chủ nô chiếm đoạt toàn bộ thành quả lao động của nô lệ nhưng không đảm bảo việc cung cấp những tư liệu sinh hoạt tối thiểu cho họ Tình trạng ngược đãi nô lệ, xem họ như những công cụ biết nói, như trâu ngựa, dùng roi vọt cưỡng bức họ làm việc đã không thể làm cho năng suất lao động nâng lên "Nô lệ đãlàm cho năng suất ruộng đất giảm sút nghiêm trọng Họ bị cưỡng bách làm việc như trâu ngựa và sống một cuộc đời khổ ải không khác gì loài vật Họ cày cấy bừa bãi, khi gieo hạt họ cố ý gieo lung tung, làm lãng phí rất nhiều hạt giống; họ gặt lúa đem về sân nhà chủ mà không chú ý xem lúa đã chín chưa Thậm chí trong khi gánh lúa về nhà chủ, họ tìm cách thu giấu lúa đi hoặc cố ý làm làm rơi vãi lúa ở dọc đường"23 Để cứu vãn tình thế đảm bảo cho sự tồn tại của mình, dần dần các chủ nô đã cấp nhà, giao đất, nông cụ, súc vật kéo, giống má cho nô lệ và sau mỗi

vụ họ lại thu một phần lớn hoa lợi cho chủ Bằng cách đó nô lệ đã biến thành lệ nông

Tuy nhiên, sự ra đời của chế độ lệ nông cũng không làm cho PTSX chiếm hữu nô lệ phục sinh, không làm cho lực lượng sản xuất phát triển So với những người nô lệ, lệ nông có một chút tự do hơn và do đó có tinh thần tự nguyện sản xuất hơn Nhưng những người lệ nông, về mặt pháp lý vẫn là nô lệ, về kinh tế họ

bị trói chặt vào mảnh đất mà chủ nô giao cho, và "nói đúng ra, họ không phải là người nô lệ, nhưng cũng không phải là người tự do" Hơn nữa, dù có thay đổi trong cách quản lý tổ chức sản xuất và phân phối sản phẩm của quá trình sản xuất để phương thức sản xuất CHNL có những biểu hiện "phục sinh", nhưng bằng sức mạnh của mình, Nhà nước lại can thiệp quá thô bạo vào khâu phân phối, bắt lệ nông phải đóng sưu cao thuế nặng, đóng góp sức người sức của phục vụ cho bộ máy quan liêu ngày càng phình to và sự tiêu sài hoang phí của nó, cho nên những

Trang 23

biểu hiện "phục sinh" đó cũng qua đi nhanh chóng để lại đằng sau nó những cánh đồng hoang hoá, những thành thị tiêu điều, nền kinh tế xác xơ Xã hội CHNL lâm vào khủng hoảng Xã hội phong kiến ra đời thay thế nó

Sự tan rã một cách mau chóng của xã hội CHNL và sự hình thành xã hội phong kiến diễn ra chủ yếu nhờ những biến đổi to lớn xảy ra trong đời sống kinh

tế, chủ yếu biểu hiện ở ba mặt sau:

- Lãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội

- Nông nô hoá giai cấp nông dân

- Trang viên hoá nền kinh tế

Những biến đổi to lớn trong đời sống kinh tế - xã hội châu Âu thời kỳ đó sở

dĩ diễn ra nhanh chóng là vì Nhà nước đã ban hành và thực hiện một loạt những chính sách khác nhau mà tiêu biểu là chính sách phân phong ruộng đất từ thời Saclơ Mácten thế kỷ VII đến Saclơmanhơ thế kỷ IX ở xứ Gôlơ Khác với chế độ phong tặng ruộng đất trước kia, chính sách phân phong ruộng đất của Saclơ Mácten là chính sách ban cấp ruộng đất có điều kiện Ruộng đất ban cấp chỉ được

sử dụng hết đời chứ không được truyền cho con cháu Nhưng sang đến thế kỷ IX, dưới thời Saclơmanhơ, do kết quả của chiến tranh chinh phục mà chính sách ban cấp ruộng đất có phần lới rộng hơn Người được nhận đất ban cấp với diện tích rộng hơn, được phép truyền cho con cháu Nhờ vậy mà giai cấp phong kiến được hình thành ngày một đông đảo hơn

Sự tác động của Nhà nước vào kinh tế không chỉ thấy ở La mã, Gôlơ thờ cổ, trung đại mà còn thấy phổ biến ở các nơi khác ở phương Đông, ngay từ thời cổ đại, sự can thiệp, tác động của Nhà nước vào kinh tế có phần sâu sắc hơn Do phải chịu nhiều tác động của thiên tai, chiến tranh xâm lược, các cộng đồng người ở phương Đông phải thường xuyên tập hợp, đoàn kết lực lượng để chống thiên tai, ngoại xâm Lực lượng đảm nhiệm công việc tổ chức cộng đồng làm những công việc đó không phải ai khác mà là các tổ chức Nhà nước Như vậy, ở đây ngoài những yếu tố mang tính chất chung của lịch sử xã hội loài người như sự phân hoá giai cấp trong xã hội, điều mà C Mác và Ph Ăngghen đã không ít lần đề cập đến,

Trang 24

quy định sự ra đời của Nhà nước, trong xã hội phương Đông những công việc mang tính chất chung như bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chống thiên tai cũng là nguyên nhân cơ bản (nếu không muốn nói là nguyên nhân quyết định) của sự ra đời Nhà nước Chính vì lẽ đó mà trong một chừng mực nhất định

có thể nói vai trò kinh tế của Nhà nước phương Đông trong buổi bình minh của nó mang đậm tính chất xã hội Nói cách khác, tính chất đó còn bị chi phối chủ yếu bởi lợi ích quốc gia, dân tộc chứ không phải chủ yếu là lợi ích giai cấp như ở phương Tây và ở một số giai đoạn phát triển sau này của nó

ở Việt Nam, sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế diễn ra rất sớm Từ thời Hùng Vương dựng nước, thời kỳ mà theo các nhà sử học, Nhà nước còn đang trong hình thức phôi thai, sự can thiệp của Nhà nước Việt Nam vào kinh tế đã rõ nét Nhà nước giữ vai trò chỉ huy xây dựng các công trình công cộng như đắp đê chống lũ, xây dựng hệ thống kênh ngòi, làm đường sá Từ sau khi nhân dân ta giành được độc lập và bắt tay vào xây dựng quốc gia phong kiến độc lập, sự can thiệp của Nhà nước vào quá trình kinh tế đã góp phần giải phóng sức sản xuất (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp), tạo điều kiện cho quan hệ sản xuất phong kiến ra đời

Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV, các triều đại Ngô, Đinh, tiền Lê, Lý, Trần và Lê

sơ đều tập trung sự chú ý của mình vào vấn đề ruộng đất, cơ sở quan trọng nhất của phương thức sản xuất phong kiến Trước đó, ruộng đất ở Việt Nam tồn tại dưới hai hình thức chủ yếu: đất công thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và đất tư thuộc quyền sở hữu của tư nhân Các triều đại phong kiến nói trên đã đưa ra những chính sách làm thay đổi mối quan hệ của hai hình thức sở hữu này

Nhà Đinh đã thực hiện chế độ phong cấp ruộng đất-chế độ ban thưởng ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước cho các quan lại, quý tộc, người có công với triều đình Sang thời Lý, Lê chính sách này có những thay đổi căn bản Thời Lý, ruộng phong cấp được chia làm hai loại: ruộng thực ấp và thực phong Ruộng thực phong ràng buộc người dân ở đó với quý tộc, còn ruộng thực ấp không chỉ ràng buộc dân với quý tộc mà còn ràng buộc họ với Nhà nước Do vậy, thời Lý

Trang 25

ruộng thực ấp được chú ý hơn Thời Trần, chính sách phong cấp ruộng đất phát triển theo hướng có lợi cho sự ra đời chế độ tư hữu ruộng đất Ruộng đất phân phong không còn chia làm hai loại như trước mà được hiểu như chế độ thực phong thời Lý Chính vì vậy mà nhiều thái ấp của quý tộc Trần ra đời Bên cạnh việc phong thái ấp, nhà Trần còn cho phép vương hầu, quý tộc chiêu mộ dân nghèo khai hoang lập điền trang Khác với các thái ấp, các điền trang thuộc quyền sở hữu của quý tộc

Cuối thời Trần, điền trang, thái ấp đều được mở rộng, nhiều nông dân biến thành nông nô, nô tỳ chịu sự áp bức bóc lột nặng nề Quan hệ nông nô, nô tỳ lúc đó

đã đi ngược lại xu thế phát triển của sản xuất xã hội do vậy đã kìm hãm sức sản xuất, đẩy nhà Trần lâm vào khủng hoảng kinh tế chính trị và đi đến sụp đổ Sự sụp

đổ của nhà Trần là một bằng chứng lịch sử cho thấy vai trò quyết định của kinh tế trong mối quan hệ với Nhà nước, đồng thời cho thấy khi Nhà nước tác động ngược với xu thế phát triển khách quan của kinh tế - xã hội thì sớm hay muộn nó cũng sẽ

bị diệt vong

Nhà Hồ thay thế nhà Trần, Hồ Quý Ly đã ban hành chính sách "hạn điền"

và "hạn nô" Với chính sách này chế độ điền trang thái ấp, nông nô, nô tỳ vẫn được thừa nhận nhưng số điền trang, thái ấp, nông nô, nô tỳ của quý tộc Trần đã chuyển sang tay Nhà nước Bằng cách đó nhà Hồ mong muốn tăng quyền lực kinh tế, chính trị của mình lên Tuy nhiên, về thực chất, chính sách "hạn điền", "hạn nô" không góp phần giải phóng sức sản xuất đang bị kìm hãm mà ngược lại còn làm cho tình trạng này trầm trọng thêm Chính vì vậy, nhà Hồ cũng giống như nhà Trần

đã bị tước bỏ quyền thống trị trong xã hội

Dưới thời Lê sơ, năm 1477 nhà nước ban hành chính sách "lộc điền" Theo chính sách này chỉ có vua và quan tứ phẩm trở lên mới được hưởng "lộc điền"

"Lộc điền" có một phần ruộng đất được cấp vĩnh viễn còn phần lớn chỉ được cấp cho sử dụng Chính sách "lộc điền" đã đánh dấu một bước phát triển trong kinh tế Việt Nam Nhờ có chính sách này quan hệ địa chủ tá điền ra đời thay thế cho quan

Trang 26

Có nhiều ý kiến cho rằng ruộng tư ở Việt Nam xuất hiện khá sớm, ngay từ thời Bắc thuộc Nhưng dưới chế độ phong kiến thời Lý ruộng tư mới được công nhận về pháp lý

Sang thời Trần, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách tạo điều kiện cho

sự phát triển của ruộng tư Nhà nước đánh thuế ruộng tư nhẹ hơn so với ruộng công, bán ruộng công làm ruộng tư, bồi thường cho chủ ruộng nếu Nhà nước lấy ruộng của họ sử dụng

Đến thế kỷ XV, thời Lê sơ, ruộng tư có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn Nhà Lê đã ban hành nhiều chính sách phát triển ruộng tư Nhà nước tạo điều kiện, ủng hộ tình trạng "chiếm công vi tư" Luật Hồng Đức cho phép biến quyền chiếm giữ lâu năm thành quyền sở hữu, quy định các hình thức bán đợ, bán vĩnh viễn ruộng đất trong nhân dân

Như vậy, từ thế kỷ X đến thế kỷ XV ruộng công và ruộng tư luôn trong tình trạng biến động Tình trạng này do nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản

và quan trọng nhất là những chính sách cụ thể của các triều đại phong kiến từ Ngô đến Lê đã ban hành Tình trạng đó ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp Bên cạnh những chính sách ruộng đất kể trên, các triều đại phong kiến còn quan tâm đến một số việc khác liên quan đến phát triển nông nghiệp

Thời Lý - Trần, Nhà nước cho xây dựng các công trình thuỷ lợi lớn như đê

Cơ Xá (thời Lý), đê Quai Vạc (thời Trần) Nhà vua trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các quan chức chuyên trách trông coi hệ thống đê điều Nhà nước rất chú ý bảo vệ sức lao động nông nghiệp Năm 1010, vua Lý ra chiếu bắt những người dân lưu vong phải trở về quê cũ làm ăn Các vua thời Lý - Trần thực hiện chính sách

Trang 27

"ngụ binh ư nông", "sử dân dĩ thời" nhằm sử dụng tốt mọi lực lượng vào sản xuất nông nghiệp

Từ việc xem xét một số chính sách của các triều đại phong kiến Việt Nam

từ thế kỷ X đến thế kỷ XV trên đây ta thấy khi Nhà nước đề ra được các chính sách phù hợp với xu thế phát triển chung của sản xuất (thời Lý - Trần, lê sơ) thì sản xuất phát triển mạnh, xã hội ổn định và phát triển, ngược lại, nếu chính sách đề ra không giải quyết được mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển sản xuất và các lực lượng đang kìm hãm nó (thời kỳ cuối của các triều đại và nhất là thời nhà Hồ) thì sản xuất xã hội đình trệ và sớm hay muộn dẫn đến sự tan rã của các triều đại ấy

Như vậy, trong sự phát triển của nền sản xuất xã hội kể từ khi Nhà nước xuất hiện cho đến thời phong kiến, bằng các chính sách, bằng ý chí, quyền lực của mình Nhà nước đã luôn tác động vào kinh tế và sự tác động của Nhà nước đã có thể làm kinh tế phát triển lúc nhanh, lúc chậm, thậm chí có lúc còn thụt lùi Nhà nước đã dùng bạo lực để cưỡng bức kinh tế, chiếm đoạt đa số những sản phẩm do nhân dân lao động tạo nên Nhưng, bên cạnh việc cưỡng bức kinh tế Nhà nước mà đặc biệt Nhà nước phương Đông đã có công tập hợp lực lượng nhân dân xây dựng kết cấu hạ tầng cho sản xuất, khuyến khích việc di dân, khai khẩn đất hoang để mở rộng diện tích canh tác Tuy nhiên, xét trong tổng thể, cùng với sự phát triển của

xã hội, của chế độ tư hữu, trong quá trình tác động vào kinh tế của Nhà nước tính nhân loại, dân tộc của nó dần dần bị chìm xuống, bị che lấp bởi tính giai cấp Mọi

sự thăng trầm, phát triển hay ngưng trệ của nền kinh tế đều bị chi phối trực tiếp bởi lợi ích của các thế lực cầm quyền, và do đó nó thường gắn với sự thăng trầm của các triều đại Điều đó diễn ra trong tất cả các hình thái kinh tế - xã hội và trong cả thời kỳ mang tính quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản và trong thời kỳ đầu của xã hội tư bản

ở phương Tây, vào thế kỷ XV - XVIII, thời kỳ quá độ từ xã hội phong kiến sang xã hội tư bản, sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội đặt ra yêu cầu tất yếu phá bỏ quan hệ sản xuất phong kiến, phá bỏ mô hình điền trang thái ấp khép kín Tính tất yếu kinh tế này được biểu hiện về mặt xã hội bằng tất yếu ra đời Nhà

Trang 28

nước tư sản Thông qua các cuộc cách mạng tư sản, giai cấp tư sản đã lật đổ chính quyền phong kiến thiết lập nên chính quyền của mình, một công cụ bạo lực mạnh

mẽ cho phép tiếp tục xoá bỏ mọi tàn tích phong kiến cả trong sản xuất cũng như trong tất cả các mặt của đời sống xã hội, tạo điều kiện cho PTSX tư bản chủ nghĩa

ra đời nhanh chóng

Để PTSX tư bản chủ nghĩa ra đời được cần có hai điều kiện: Một là, phải có

số đông những người bị tước đoạt hết TLSX, buộc phải bán sức lao động của mình

để kiếm sống, trở thành người làm thuê, một thứ hàng hóa đặc biệt; Hai là, phải tích luỹ được một số tiền lớn vào tay giai cấp tư sản để tiến hành sản xuất kinh doanh theo phương thức sản xuất TBCN Hai điều kiện đó đã hình thành, theo ý kiến của C Mác, nhờ bàn tay "bà đỡ" của Nhà nước Điều đó thể hiện rõ trong lịch

sử nước Anh - một hình mẫu điển hình của quá trình hình thành PTSX tư bản theo kiểu cổ điển

ở Anh, vào thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản đã diễn ra quá trình "cừu ăn thịt người" Đó là quá trình đẩy người nông dân ra khỏi ruộng đất của họ bằng vũ lực, biến họ thành những người lang thang, và rồi cũng bằng vũ lực, bằng những

"đạo luật kỳ quái" Nhà nước Anh đã ghép họ vào một kỷ luật cần thiết cho chế độ làm thuê, biến họ thành những người vô sản Đi đôi với quá trình "vô sản hoá" người nông dân, Nhà nước cũng đã đưa ra chính sách tiền tệ hết sức nghiêm ngặt nhằm tăng tích luỹ tư bản: thu hút, cướp bóc vàng từ nước ngoài đem về, đề ra các chính sách không cho thương nhân trong và ngoài nước mang tiền ra khỏi nước Anh Nhờ các biện pháp tích cực và hà khắc đó mà quá trình tích luỹ tư bản được đẩy nhanh, chủ nghĩa tư bản Anh ra đời và phát triển nhanh hơn

Như vậy, kể từ khi ra đời cho đến giai đoạn lịch sử này, Nhà nước đã không ngừng tác động đến kinh tế, hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển kinh tế Công cụ tác động chủ yếu của Nhà nước là các chính sách, đạo luật phù hớp với lợi ích của lực lượng thống trị Sự tác động đó cho thấy cơ chế tác động là Nhà nước chủ yếu nằm trên guồng máy kinh tế của xã hội, tác động gián tiếp vào guồng máy ấy

Trang 29

Sang thế kỷ XVIII, sự phát triển chóng mặt của PTSX tư bản chủ nghĩa sau khi đã cởi bỏ được những khuôn khổ chật hẹp của PTSX phong kiến, của chế độ phong kiến, đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại Sự thay thế QHSX phong kiến - đại diện lợi ích của bọn vua chúa phong kiến bằng QHSX tư bản chủ nghĩa - đại diện cho lợi ích của giai cấp tư sản đã làm đảo lộn tính chất của những quan hệ xã hội, trong đó cơ bản nhất là quan hệ kinh tế - chính trị, kinh tế - Nhà nước Thực tế đó còn đòi hỏi phải có những học thuyết chỉ đạo sản xuất kinh doanh của nhà tư bản, làm cơ sở cho chính sách của Nhà nước

tư sản Chính vì vậy, giai đoạn này đã nảy sinh nhiều học thuyết kinh tế tư sản Mở đầu cho hàng loạt học thuyết bàn về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế TBCN

là học thuyết của trường phái cổ điển với đại biểu xuất sắc như Ađam Xmith (1723

- 1790) Ađam Xmith đã dựa trên thực tiễn sinh động của PTSX tư bản chủ nghĩa thế kỷ XVIII đưa ra lý thuyết "bàn tay vô hình" và nguyên lý "Nhà nước không can thiệp vào hoạt động kinh tế" Ađam Xmith cho rằng tổ chức nền sản xuất hàng hoá cần diễn ra theo nguyên tắc tự do, vì hoạt động của nền kinh tế do chính hệ thống các quy luật kinh tế khách quan (ông gọi là "trật tự tự nhiên") chi phối Theo ông, cái chi phối quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và trao đổi là lợi ích Mỗi người khi theo đuổi những lợi ích của mình cũng đồng thời hành động theo các quy luật kinh tế khách quan đang chi phối hành động của họ Từ đó, ông cho rằng Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế, không nên phá vỡ cái

"trật tự tự nhiên" của kinh tế Theo ông, Nhà nước có chức năng cơ bản là bảo vệ quyền sở hữu tư bản, thông qua luật pháp đảm bảo hoạt động cho các nhà kinh doanh, đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài, chống các phần tử trong nước nhằm đảm bảo môi trường ổn định cho nền kinh tế phát triển nhanh Nói cách khác, ông coi Nhà nước là "người bảo vệ", "lính canh gác cho nền kinh tế"

Mặc dù gạt bỏ vai trò kinh tế của Nhà nước nhưng Ađam Xmít cũng phải thừa nhận rằng đôi khi Nhà nước cũng cần đảm nhiệm những nhiệm vụ kinh tế nhất định như chăm lo tới việc đào sông, đắp đường, duy trì ngọn hải đăng trên biển tức là tham gia xây dựng kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, giải quyết các

Trang 30

công việc mà tự mỗi cá nhân các nhà sản xuất kinh doanh không thể đảm đương được

Lý thuyết "bàn tay vô hình" của Ađam Xmít là sự tổng kết thực tiễn của ông Sau khi ra đời, nó đã được ủng hộ nhiệt liệt của giới sản xuất kinh doanh tư bản Nền kinh tế thị trường tư bản được "tự do " vận động Nhưng sự vận động "tự do"

đó đã dẫn đến một kết quả mang tính hai mặt: một mặt, đã làm cho phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, chuyên môn hoá ngày càng cao, kích thích cải tiến

kỹ thuật, công nghệ, làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, mặt khác, do tính tự phát nền kinh tế đã lâm vào tình trạng khủng hoảng, suy thoái

Vào những năm đầu của thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng kinh tế 1900 - 1903, đặc biệt là cuộc tổng khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 - 1933 đã chứng tỏ học thuyết "tự điều tiết" của trường phái cổ điển có nhiều điểm thiếu chính xác Lý thuyết "bàn tay vô hình" của Ađam Xmít không thể đảm bảo cho nền kinh tế phát triển lành mạnh Trong khi đó, trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất phát triển ngày càng cao đã đặt ra nhu cầu cần thiết phải có sự can thiệp ngày càng tăng của Nhà nước vào kinh tế Trong bối cảnh đó, lý thuyết kinh tế TBCN có những điều chỉnh mới Học thuyết kinh tế của John Maynard Keynes (1884 - 1946) ra đời

Theo J.M Keynes tính chất không ổn định của nền kinh tế, khối lượng thất nghiệp ngày càng tăng trong xã hội tư bản không phải là vốn có mà do các chính sách kinh tế lỗi thời, bảo thủ, nhất là không có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh

tế Vì vậy, để định hướng nền kinh tế phát triển cân đối hài hoà, Nhà nước cần phải can thiệp vào thị trường, phải trực tiếp đứng trong guồng máy kinh tế và phải điều tiết từ bên trong bằng các công cụ tài chính - tín dụng, lưu thông tiền tệ cả ở tầm vĩ mô và vi mô ở tầm vĩ mô, Nhà nước sử dụng các công cụ như lãi suất, tín dụng, điều tiết lưu thông tiền tệ, chống lạm phát, thuế bảo hiểm, trợ cấp, đầu tư phát triển ở tầm vi mô, Nhà nước trực tiếp phát triển các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh và dịch vụ công cộng để giải quyết việc làm và góp phần ổn định nền kinh tế

Trang 31

Trong bối cảnh bất ổn định của nền kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ, học thuyết của Keynes được xem như một cứu cánh Các nước tư bản đã vận dụng học thuyết này vào thực tiễn kinh tế của mình với hy vọng bằng sự can thiệp của Nhà nước sẽ khắc phục được khủng hoảng, thất nghiệp, tạo ra sự ổn định cho phát triển kinh tế xã hội

Song những chấn động lớn trong nền kinh tế tư bản vẫn xảy ra Khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát ngày càng gia tăng Nền kinh tế tư bản chủ nghĩa lại lâm vào khủng hoảng, bế tắc Tình trạng đó khiến cho người ta phê phán Keynes một cách găy gắt, từ bỏ học thuyết của ông để đi tìm một lối thoát mới Kết qủa là một loạt học thuyết kinh tế khác nhau đã ra đời Các học thuyết đó đều bàn về vai trò của Nhà nước trong kinh tế, mong muốn tìm ra phương thức để Nhà nước tác động vào kinh tế một cách có hiệu quả Một trong số những học thuyết đó là "Chủ nghĩa tự do mới" Tư tưởng cơ bản của học thuyết này là thực hiện cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước ở mức độ nhất định

Những người tự do mới đã nhìn thấy những khiếm khuyết trong học thuyết của Keynes Họ phê phán Keynes, từ bỏ học thuyết của ông nhưng họ cũng không quay trở lại với Ađam Xmít Bởi lẽ họ thừa nhận cả quy luật kinh tế khách quan và tính tất yếu phải có sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế Theo họ, việc Nhà nước đã can thiệp sâu rộng vào kinh tế, cả ở tầm vĩ mô lẫn vi mô đã khiến cho nền kinh tế không thể vận hành theo các quy luật kinh tế vốn có của nó Để nền kinh tế

có thể phát triển bình thường, những người tự do mới yêu cầu "Nhà nước ít hơn và thị trường nhiều hơn" Chủ nghĩa tự do mới phát triển mạnh mẽ ở Mỹ, Pháp với khuynh hướng và nội dung cơ bản sau:

- Những người tự do mới thuộc phái trọng tiền ở Mỹ (còn gọi là trường phái Chicagô) với những ngươì đứng đầu như Miltoh Friedman, Henry Simons, Geogrye Stigler cho rằng nền kinh tế TBCN là nền kinh tế thường xuyên ở trạng thái cân bằng động Đó chính là hệ thống tự điều chỉnh, hoạt động dựa trên các quy luật vốn có của nó Do vậy, về cơ bản các hoạt động kinh tế phải được "tự do" vận hành theo quy luật của thị trường Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường TBCN

Trang 32

cũng gặp nhiều căn bệnh nan giải, và trong số các căn bệnh đó thì lạm phát là căn bệnh nguy hiểm, nan giải nhất Để tránh và hạn chế phần nào những căn bệnh đó,

để hướng nền kinh tế theo những mục tiêu định sẵn cần có sự tác động của Nhà nước thông qua chính sách tiền tệ Nhà nước thông qua việc điều tiết mức cung tiền tệ mà điều chỉnh tốc độ thay đổi của lượng sản phẩm quốc gia, từ đó đưa đất nước phát triển theo định hướng của mình

Những người theo phái trọng cung ở Mỹ như Arthus Laffter, Jede Winniski, Norman Ture, Paul Craig Roberto, khác với những người trọng tiền Họ cho rằng, nhiệm vụ chính của Nhà nước là chống lạm phát, đã khẳng định vai trò của Nhà nước là ở chỗ điều tiết mặt cung của nền kinh tế Theo họ, khối lượng sản xuất là kết quả của chi phí, mà những chi phí này lại đem lại cho nền kinh tế tính kích thích Do vậy, nhiệm vụ của Nhà nước là xây dựng các điều kiện để các yếu

tố kích thích kinh tế xuất hiện, qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển Trong số các chính sách góp phần tạo ra yếu tố kích thích kinh tế thì chính sách khuyến khích dân cư tiết kiệm thu nhập hiện tại để tăng thu nhập tương lai và chính sách thuế hợp lý nhằm kích thích tăng thu nhập toàn xã hội là quan trọng nhất

Các nhà tự do mới ở Pháp mà tiêu biểu là Jark Leon Ruyeffer lại cho rằng

sự điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế chỉ có hiệu quả thông qua kế họach hoá định hướng cho sự phát triển Các kế hoạch này không thể là những "kế hoạch cứng nhắc về kinh tế vì mọi quyết định kinh tế được tạo thành không chỉ từ những nhân tố bên trong mà cả nhân tố bên ngoài đất nước" 24, mà phải là các kế hoạch tổng thể, kế hoạch dự báo về kinh tế vĩ mô

Nếu như các nhà tự do mới tìm kiếm vai trò của Nhà nước ngay trong các hoạt động của nền sản xuất thì các nhà kinh tế học Bắc Âu lại tìm thấy sự tác động của Nhà nước đối với kinh tế thông qua việc xây dựng mô hình kinh tế thị trường

xã hội, việc đảm bảo những phúc lợi chung cho xã hội Theo họ, nguồn gốc động lực của sự phát triển xã hội chính là ở sự đảm bảo những phúc lợi chung Muốn tạo

24

Hoạt động của kinh tế thị trường và vai trò của Nhà nước, NXB CTQG, H

Trang 33

được động lực đó Nhà nước phải nắm được mọi nguồn thu nhập và điều tiết các nguồn thu nhập đó tạo ra "ngôi nhà chung" cho tất cả mọi người

Những người theo trường phái thể chế, nhất là trường phái thể chế mới như J.K Galbraeth, D Bell, G Myrdal, A Gable, D Perrouse lại cho rằng động lực phát triển xã hội nằm ngay trong các thể chế Đó là các hiện tượng xã hội như gia đình, nhà nước, tổ chức độc quyền, các nghiệp đoàn Đó cũng là những biểu hiện của tâm lý xã hội, phương thức xử sự và tư duy đã trở thành thói quen, phong tục tập quán của một nhóm người hay cả một dân tộc Đó cũng chính là biểu hiện về luật pháp, luân lý và để cho các thể chế đó có thể phát huy được tác dụng của mình cần có vai trò của Nhà nước trong việc thiết lập và tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các thể chế đó hoạt động

Quan điểm được xem là khá toàn diện trong việc xác định vai trò của Nhà nước đối với sự phát triển kinh tế là quan điểm của trường phái chính hiện đại - một trường phái được hình thành trên cơ sở của hai trường phái Keynes chính thống và "cổ điển mới" Quan điểm này được trình bày khá rõ trong cuốn "Kinh tế học" của Paul A Samuenlson Trong tác phẩm này Samuelson đã nêu ba loại hình kinh tế: kinh tế tập quán, kinh tế chỉ huy, kinh tế thị trường Sau khi phân tích đặc trưng của từng loại hình kinh tế ông đi đến kết luận: "không một nền kinh tế hiện đại nào của con người là một trong những hình thức thuần tuý như trên" "các xã hội là những nền kinh tế hỗn hợp với những nhân tố thị trường, chỉ huy và truyền thống Do đó, khi điều chỉnh một nền kinh tế hỗn hợp mà không cần cả chính phủ lẫn cơ chế thị trường cũng giống như vỗ tay bằng một bàn tay"25 Nếu để cho cơ chế thị trường tự vận động thì "bàn tay vô hình sẽ đưa nền kinh tế tới những sai lầm, những khuyết tật, khủng hoảng, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội Do đó, cần có bàn tay của nhà nước, nhà nước phải can thiệp vào kinh tế để ngăn chặn khủng hoảng, thất nghiệp, tạo việc làm đầy đủ nhưng đồng

Trang 34

thời phải giữ trong khuôn khổ khôn ngoan của cạnh tranh"26 Để thực hiện vai trò

đó, theo ông, Nhà nước cần thực hiện tốt các chức năng sau đây:

Thứ nhất: Nhà nước thiết lập khuôn khổ pháp luật, hành lang pháp lý cho nền kinh tế thị trường hoạt động Nói theo cách khác, Nhà nước đề ra các quy tắc trò chơi kinh tế mà các doanh nghiệp và người tiêu dùng và cả bản thân chính phủ cũng phải tuân thủ một cách nghiêm túc

Thứ hai: Nhà nước sửa chữa những thất bại của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả: chống độc quyền, chống ô nhiễm môi trường, chống sự tàn phá tài nguyên thiên nhiên, sản xuất ra các hàng hoá công cộng

Thứ ba: Nhà nước đảm bảo sự công bằng của xã hội thông qua các chính sách thuế (mà quan trọng nhất là thuế luỹ tiến được áp dụng cho thuế thu nhập và thuế kế thừa), hệ thống hỗ trợ thu nhập cho người già cả, ốm đau, thất nghiệp

Thứ tư: Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, chống lạm phát, suy thoái bằng các công cụ thuế, các khâu chi tiêu, lãi suất, thanh toán chuyển nhượng, khối lượng tiền tệ và những quy định hay kiểm soát27

Tóm lại, từ việc nghiên cứu mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế ta có thể rút

ra một số vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng sau đây:

Một là, trong mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế, giữa chính trị và kinh

tế "chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế" Song vị trí hàng đầu đó của chính trị so với kinh tế phải dựa trên tiền đề về vai trò quyết định của kinh tế đối với chính trị

Hai là, giữa kinh tế và chính trị có tính độc lập tương đối Chính tính độc lập tương đối này đã tạo điều kiện cho chính trị, cho Nhà nước có thể tác động thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nhưng mặt khác, cũng chính điều đó có thể làm xuất hiện sự kìm hãm của Nhà nước đối với sự phát triển của kinh tế

1.2 vai trò định hướng sự phát triển nền kinh tế thị trường của Nhà nước

26

Paul Samuelson và William D Nordhans, Kinh tế học, tập 1, tr.63

Trang 35

Lịch sử kinh tế thế giới đã trải qua hàng ngàn năm hình thành, biến đổi và phát triển Lịch sử đó cho thấy kể từ khi Nhà nước ra đời, bất kỳ một hoạt động nào của nó cũng đều trực tiếp hay gián tiếp tác động đến kinh tế, có khả năng điều khiển, định hướng kinh tế phát triển theo những mục tiêu nhất định Lịch sử đó cũng cho thấy, nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của Nhà nước đối với phát triển kinh tế càng tăng Sang thế kỷ XX, do những biến đổi của bản thân nền kinh

tế thế giới, nhất là của nền kinh tế TBCN, các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều học thuyết về vai trò của Nhà nước đối với kinh tế Các giai cấp cầm quyền ở các quốc gia khác nhau đã vận dụng các học thuyết đó vào quá trình phát triển kinh tế xã hội ở quốc gia mình Trong từng giai đoạn phát triển lịch sử cụ thể các học thuyết

đó đã giúp các quốc gia vận dụng nó đạt được những kết quả nhất định

ở Mỹ, lịch sử hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường đã gắn liền với vai trò định hướng của Nhà nước liên bang Nhà nước liên bang đã can thiệp, kiểm soát nền kinh tế từ nhiều góc độ, trên nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó biểu hiện ở chỗ:

- Chính phủ tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường Sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường Mỹ cho thấy không phải

ai khác mà chính là chính phủ liên bang đã tạo điều kiện cho việc hình thành một thị trường nội địa thống nhất bằng một loạt hoạt động kinh tế của mình

Hành vi đầu tiên của Nhà nước Hoa Kỳ, hành vi được coi là có ấn tượng nhất trong sự phát triển kinh tế thị trường ở Mỹ là việc ban hành các đạo luật có liên quan tới kinh doanh đất và bất động sản Hành vi này đã đem lại kết quả mang tính hai mặt: thứ nhất, về pháp lý, đất đai và các bất động sản khác được công nhận là hàng hoá giống như các loại hàng hoá khác trên thị trường Thứ hai, Nhà nước qua đó tạo được cho ngân sách một khoản tiền lợi từ thu thuế

Hành vi lịch sử thứ hai để khẳng định vai trò của Nhà nước trong định hướng phát triển kinh tế trước thế kỷ XX là việc xây dựng hệ thống đường sắt xuyên lục địa sau nội chiến Nhờ hệ thống đường sắt này mà thị trường nội địa

Trang 36

thống nhất của Mỹ được thiết lập, đưa kinh tế Mỹ vào một giai đoạn phát triển mới với nhịp điệu nhanh và mạnh hơn

- Sang thế kỷ XX, vai trò của Nhà nước Mỹ trong định hướng phát triển nền kinh tế càng tỏ ra sâu rộng hơn:

Thứ nhất, Nhà nước liên bang chịu trách nhiệm xây dựng và khống chế hoạt động của kết cấu hạ tầng nền kinh tế như đường giao thông, phương tiện vận chuyển, thông tin liên lạc và năng lượng

Thứ hai, Nhà nước liên bang tạo ra môi trường tự do cạnh tranh, xây dựng các đạo luật chống độc quyền Theo nhiều tác giả thì "Mỹ là nước có số lượng các công ty độc quyền lớn nhất thế giới và cũng có số lượng các đạo luật chống độc quyền nhiều nhất thế giới"28 Tuy nhiên, xuất phát từ chỗ lợi ích của các nhà chính trị và lợi ích của các nhà kinh doanh lớn, của các công ty khổng lồ gắn bó chặt chẽ với nhau (nếu không muốn nói chính là một - là lợi ích của giai cấp cầm quyền) mà

"dù trong các đạo luật chống độc quyền có hạn chế hoạt động của các công ty này đến đâu đi nữa kể cả việc cấm các công ty bàn bạc và thống nhất giá cả với nhau trước khi đem bán, thì kẽ hở của các đạo luật cứ lộ ra một cách ngẫu nhiên hoặc cố ý"29 có lợi cho giới doanh nghiệp

Thứ ba, Nhà nước lên bang kiểm soát các hoạt động kinh tế bằng các công

cụ tài chính, tiền tệ, hệ thống tổ chức ngân hàng hai cấp - ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại, trong đó ngân hàng trung ương vừa thực hiện chức năng dự trữ, vừa điều tiết và kiểm soát tiền tệ được cung ứng thông qua hệ thống ngân hàng thương mại

Như vậy, cả trong lý thuyết (phái trọng tiền, trọng cung ) và trên thực tiễn,

ta thấy ở Mỹ, lúc này hay lúc khác, dù thừa nhận (từ thế kỷ XX đến nay) hay không thừa nhận (từ khi Nhà nước Liên bang được thành lập), Nhà nước Mỹ đã bằng luật pháp, trợ giúp, bằng các công cụ kinh tế vĩ mô như tài chính, tiền tệ tác động vào

Trang 37

kinh tế, hướng nền kinh tế đó phát triển theo mô hình kinh tế thị trường kiểu Mỹ - một mô hình kinh doanh tiêu dùng với với sự điều tiết của Nhà nước - một mô hình kinh tế mà một mặt đã tạo ra lượng sản phẩm khổng lồ có khả năng đáp ứng được những nhu cầu phong phú, đa dạng của người tiêu dùng, mặt khác lại tạo ra những tiêu cực, những "mặt trái của cơ chế thị trường" như làm giàu bất chính, trộm cướp, băng hoại đạo đức

Trong khi người Mỹ, bằng sức mạnh của Nhà nước, đã tạo dựng mô hình kinh tế thị trường kiểu Mỹ thì ở Bắc Âu những người Thuỵ Điển đã xây dựng nền kinh tế của mình theo mô hình "phúc lợi xã hội" (còn gọi là mô hình Thuỵ Điển)

Mô hình Thuỵ Điển, về mặt lý luận được bắt nguồn từ tư tưởng "ngôi nhà cho mọi người" của P.A Hansson, cựu thủ tướng Thuỵ Điển, Chủ tịch Đảng xã hội

- dân chủ Thuỵ Điển vào những năm 1932 - 1946 Cơ sở của "mô hình Thuỵ Điển"

là thừa nhận sự thống trị của sở hữu tư nhân và thị trường tự do có điều tiết trong lĩnh vực sản xuất, là thực hiện những nguyên tắc bình đẳng chung đảm bảo xã hội cho nhân dân ở mức độ cao và có việc làm đầy đủ Nói cách khác, "mô hình Thuỵ Điển là sự cố gắng kết hợp nền sản xuất vật chất TBCN với những nguyên tắc phân phối chung mang tính chất XHCN"30

Để thực hiện được mục đích đã đề ra, để xây dựng được mô hình "phúc lợi

xã hội" trong thực tiễn Đảng xã hội - dân chủ Thuỵ Điển đã sử dụng Nhà nước như một công cụ chính yếu Bằng tất cả quyền lực của mình, Nhà nước có thể can thiệp vào tất cả các khâu hoặc vào một trong những khâu nào đó của nền sản xuất mà Nhà nước cho là có lợi nhất để đạt được mục đích của mình ở đây, Nhà nước Thuỵ Điển đã can thiệp vào khâu phân phối lại thu nhập xã hội thông qua và bằng công cụ thuế Thông qua việc điều chỉnh cơ cấu thuế và chi tiêu, Nhà nước Thuỵ Điển hướng nền kinh tế vào việc thực hiện các mục tiêu xã hội: thu hẹp khoảng cách người giàu và người nghèo bằng cách đem lại cho mọi thành viên trong xã hội một phúc lợi như nhau được tạo ra từ nguồn thu nhập chủ yếu là thuế Phải thưà nhận mục tiêu mà các nhà lãnh đạo Đảng cầm quyền Thuỵ Điển - Đảng dân

Trang 38

chủ - xã hội lúc bấy giờ là hết sức tiến bộ Tuy nhiên, những biện pháp mà họ sử dụng để đạt được mục tiêu lại chứa đựng nhiều yếu tố bất hợp lý, mang tính chất duy tâm, duy ý chí Lợi dụng sức mạnh của chính trị, của chính quyền Nhà nước trong xã hội, Nhà nước Thuỵ Điển đã dùng pháp luật, dùng công cụ thuế để can thiệp vào khâu phân phối với ý định thực hiện nguyên tắc phân phối mang tính chất XHCN Với sức mạnh quyền lực của mình, Nhà nước đã ban hành một chế

độ thuế khoá với mức thuế so với các tiêu chuẩn ở châu Âu là quá cao Năm 1989 khoản thu từ thuế bằng 56% GNP, mức cao nhất trong trế giới các nước công nghiệp ở châu Âu mức trung bình là 41% Đối với mỗi người dân của Thuỵ Điển, nếu tính trung bình thì gánh nặng thuế là 73% (tính cả thuế giá trị bổ sung và tiền lương)

Phải nói rằng cái đặc trưng nhất của "mô hình Thuỵ Điển" khiến nó khác hẳn các mô hình kinh tế khác, trước hết là ở mức độ đảm bảo xã hội cao Hệ thống bảo trợ xã hội ở Thuỵ Điển được coi là một trong những hệ thống rộng rãi và hào phóng nhất thế giới Khi sinh con, bố hoặc mẹ được nghỉ 450 ngày vẫn hưởng lương Mỗi gia đình, không phụ thuộc vào thu nhập, được nhận 5820curon trong một năm cho một đứa con dưới 16 tuổi Những gia đình đông con sẽ được nhận thêm các khoản trợ cấp khác

Hệ thống y tế và bảo vệ sức khoẻ của Thuỵ Điển rất thuận tiện và không mất tiền Hàng năm, Nhà nước chi cho lĩnh vực này chiếm 9,2% GNP Hàng năm Nhà nước chi hơn 70 tỷ curon cho công tác bảo trợ đối với những người già, chi phí liên quan đến đấu tranh chống thất nghiệp chiếm trên 2% GNP và 7% ngân sách Nhà nước Các chi phí công cộng với mức độ phúc lợi xã hội đặc biệt cao, khoảng 31,6%GNP, trong khi đó ở Cộng hoà liên bang Đức, một quốc gia xây dựng nền kinh tế thị trường theo mô hình "kinh tế thị trường xã hội", cũng nhằm đáp ứng những yếu tố xã hội, chỉ xấp xỉ 25%, ở Anh là 20%31

Trong thời đại ngày nay, khi mà thế giới tư bản vẫn coi mục tiêu lợi nhuận

là mục tiêu số một và thực hiện điều đó bằng bất cứ biện pháp nào có thể thì việc

Trang 39

đảm bảo xã hội ở mức cao như Thuỵ Điển là một việc làm đáng khâm phục Tuy nhiên, như trên đã trình bày, để đạt được mục đích của mình, chính quyền Nhà nước Thuỵ Điển đã không dựa trên cơ sở nền sản xuất phát triển cao, mà bằng việc đánh thuế nặng, thực thi phân phối không theo nguyên tắc lao động mà theo nguyên tắc "cưỡng bức" bằng sức mạnh quyền lực của mình Chính sự "cưỡng bức" đó đã đụng chạm đến lợi ích của các nhà sản xuất kinh doanh, làm thui chột tính tích cực, sáng tạo trong lao động, làm giảm động lực phát triển kinh tế Người lao động trở thành chây lười, thích nghỉ hơn thích làm việc, thích ốm hơn thích khoẻ, ưa hưởng lương thất nghiệp hơn là bỏ công đi tìm việc làm Họ đua nhau che dấu thu nhập, trốn thuế, phát triển "kinh tế ngầm" Các nhà tư bản không muốn đầu

tư vào sản xuất trong nước mà chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao và ít chuyển các khoản tiền lời về nước để tránh bị đánh thuế,

Việc duy trì một nền kinh tế dựa trên chế độ thuế khoá năng nề, mức chi dùng công cộng cao đã triệt tiêu dần các động lực phát triển kinh tế, đẩy nền kinh

tế vào khủng hoảng, lạm phát Sự bất ổn trong lĩnh vực kinh tế này đã tác động mạnh mẽ đến KTTT, đến đời sống chính trị của xã hội Thuỵ Điển, làm cho những người dân chủ - xã hội, những người khởi xướng mô hình này bị bật ra khỏi các chức vụ chủ chốt của chính phủ, nhường chỗ cho phái bảo thủ Trên thực tế, hiện nay chính phủ Thuỵ Điển cũng đang điều chỉnh lại mô hình kinh tế của mình

Khảo sát quá trình xây dựng mô hình kinh tế thị trường xã hội của Thuỵ Điển ta thấy:

Thứ nhất: Trong đời sống xã hội, Nhà nước có vai trò hết sức to lớn Bằng sức mạnh quyền lực của mình, bằng luật pháp, bằng các công cụ kinh tế vĩ mô, Nhà nước có thể hướng nền kinh tế phát triển theo mục đích nhất định, có thể xây dựng được những mô hình kinh tế phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình

Thứ hai: Một mô hình kinh tế được xây dựng nên bằng ý chí, nguyện vọng, sức mạnh quyền lực của giai cấp cầm quyền nhưng nó có thể tồn tại được hay không? Nếu có, nó tồn tại như thế nào, có tiếp tục phát triển được hay không? lại

là vấn đề không phụ thuộc vào giai cấp cầm quyền mà phụ thuộc vào chính bản

Trang 40

thân nền kinh tế Việc Nhà nước Thuỵ Điển cố gắng xây dựng nền kinh tế theo

"mô hình phúc lợi xã hội" với mục đích đảm bảo sự công bằng, bình đẳng cho các thành viên của nó, xoá bỏ khoảng cách giàu nghèo tức là cố gắng xây dựng một

xã hội vì con người trong khuôn khổ của CNTB là việc làm hết sức đáng trân trọng, mang tính nhân bản sâu sắc Song, từ góc độ mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị ta lại thấy đây là mô hình mang nặng tính không tưởng Những khủng hoảng trì trệ trong sự phát triển kinh tế của mô hình đó cho phép kết luận như vậy

Để có thể thực hiện những đảm bảo xã hội ở mức độ cao, các nhà lãnh đạo của chính phủ Thuỵ Điển đã không dựa trên một nền sản xuất ở trình độ phát triển cao

mà dùng biện pháp "nhanh" và "dễ" nhất (nhanh và dễ vì nó được thực hiện bằng sức mạnh quyền lực, bằng ý chí của giai cấp cầm quyền) Thực chất của biện pháp này là sử dụng chế độ thuế khoá và phương pháp phân phối mà họ cho rằng mang tính xã hội chủ nghĩa - lấy bớt của người giàu để san sẻ cho người nghèo Tuy nhiên, cách đảm bảo xã hội này, cách tạo ra sự công bằng xã hội này lại không gắn với sự bình đẳng xã hội Về thực chất đó là sự cào bằng, san đều Chính vì vậy phương pháp này đã hạn chế, triệt tiêu tác dụng của động lực lợi ích

Thứ ba: "Mô hình Thuỵ Điển", về thực chất vẫn là mô hình được xây dựng dựa trên và phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, mặc dù nó có tính nhân đạo cao Nói cách khác, trong quá trình thực hiện chức năng của mình mặc dù chính phủ Thuỵ Điển đã rất chú trọng giải quyết các vấn đề mang tính nhân loại, nhưng cái chi phối quá trình đó xét đến cùng vẫn là tính giai cấp Trong khi cố gắng tạo

ra sự bình đẳng, công bằng xã hội bằng cách dùng quyền lực can thiệp vào khâu phân phối, họ vẫn duy trì chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Việc duy trì chế độ tư hữu mâu thuẫn với nguyên tắc phân phối của Thuỵ Điển đã làm nảy sinh mâu thuẫn không thể điều hoà được giữa lợi ích cá nhân nhà tư bản và lợi ích xã hội Từ đó đã dẫn đến khủng hoảng trong sự phát triển kinh tế, buộc các nhà lãnh đạo phải có những cải cách, sửa đổi theo hướng có lợi cho giai cấp cầm quyền, giai cấp tư sản

Ngày đăng: 23/03/2014, 18:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
36. Đảng cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯ Đảng lần thứ 8 (khoáVII) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành TƯ Đảng lần thứ 8 (khoáVII)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
44. Đỗ Minh Hợp, Cơ chế thị trường và mối quan hệ tiền hàng trong “chính sách kinh tế mới” của V.I Lênin, Triết học 2-1995, 10-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: chính sách kinh tế mới
51. V.I Lênin, Toàn tập, T20, 52. V.I Lênin, Toàn tập, T36, 53. V.I Lênin, Toàn tập, T42, 54. V.I Lênin, Toàn tập, T43, 55. V.I Lênin, Toàn tập, T45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I Lênin
91. Chiêm Tế, Lịch sử thế giới cổ đại, Tập 2 NXB Giáo dục, H. 1971.. Nguyễn Văn Thảo, Bản chất của Nhà nước ta: của dân, do dân, vì dân, Cộng sản 17/ 9- 1996, 21-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại, Tập 2
Tác giả: Chiêm Tế
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1971
1. Nguyễn Đức Bách, Lê Văn Yên, Nhị Lê, Một số vấn đề về định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Lao động, H. 19998 Khác
2. Đặng Biên, Thế nào là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, Cộng sản số 7, 4-1996 Khác
7. Các mô hình kinh tế thị trường trên thế giới, NXB Thống kê, H. 1994 Khác
8. Phạm Thị Cần, Vai trò Nhà nước với quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, Giáo dục lý luận 1-1996, 32-37 Khác
9. Quang Cận, Về đặc điểm nổi bật và xu thế chủ yếu của thế giới ngày nay, Cộng sản 16/8-1997, 27-29 Khác
10, Bùi Ngọc Chưởng, Kinh tế thị trường và định hướng XHCN, Cộng sản, 12-94 Khác
11. Nguyễn Trọng Chuẩn, Mối quan hệ biện chứng giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính sách xã hội, Cộng sản 3-1996, 13-17 Khác
12. Hoàng Công, Có thể giữ được định hướng XHCN trong cơ chế thị trường hay không? Cộng sản 11/6-1996, 15-17 Khác
13. Cơ chế thị trường và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam, NXB Thống kê, H. 1994 Khác
14. Cơ chế thị trường và vai trò của Nhà nước trong quản lý nền kinh tế nước ta hiện nay, Đề tài KX 03-04, Lương Xuân Quỳ chủ nghiệm Khác
15. Lương Minh Cừ, Sự liên kết và tính chất đan xen của các hình thức sở hữu trong nền kinh tế, Cộng sản 6-1996, 5-8 Khác
16. Lương Minh Cừ, Về các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta hiện nay, Triết học 3/1998, 12-13 Khác
17. Nguyễn Sinh Cúc, Kinh tế thị trường định hướng XHCN, NXB Thống kê, H. 1995 Khác
18. Nguyễn Sinh Cúc, Quốc tế hoá: từ ý tưởng của Mác - Ăngghen đến hiện thực của thế giới hiện đại, Cộng sản số 6/3-1998, 21-24 Khác
19.Phạm Như Cương , Tham nhũng và chống tham nhũng nhìn từ góc độ Nhà nước, Triết học 2- 1997, 15-17 Khác
20. Nguyễn Chí Dĩnh (chủ biên), Vai trò Nhà nước trong phát triển kinh tế các nước ASEAN, NXB Thống kê, H. 1993 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w