1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO cáo GIỮA kỳ môn KINH DOANH QUỐC tế đề tài sự KHÁC BIỆT TRONG văn hóa

43 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Khác Biệt Trong Văn Hóa
Người hướng dẫn Trần Thị Vân Trang
Trường học Trường Đại học Tôn Đức Thắng
Chuyên ngành Kinh doanh Quốc tế
Thể loại Báo cáo giữa kỳ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 839,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhữngnăm 1870, nhà nhân loại học Edward Tylor đã định nghĩa văn hóa như là “một tổngthể phức tạp bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và các khả n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGÀNH KINH DOANH QUỐC TẾ

BÁO CÁO GIỮA KỲ MÔN: KINH DOANH QUỐC TẾ

Đề tài: SỰ KHÁC BIỆT TRONG VĂN HÓA

Nhóm: 3

Giảng viên hướng dẫn: Trần Thị Vân Trang

Trang 2

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM 3 MÔN: KINH DOANH QUỐC TẾ CA 2 THỨ 4 S

Đ óng góp

Nộidung mục 1, 2

Tổnghợp và kiểmtra

100%

2 Huỳnh Thị Tú

Ngọc

72001614

Tìm, trảlời Case Study

Rút rabài học

100%

3 Nguyễn Nhật

Văn

72001640

PowerPoint

100%

4 Nguyễn Minh

Đăng

72000556

Thuyếttrình

100%

5 Hoàng Thị Ngọc

Ngà

72001611

Nộidung mục 6, 7,8

Kiểm tralại

100%

6 Nguyễn Thái

Hoài An

72001578

Nộidung mục 3, 4,5

Kiểm tralại

100%

001825

Làm báocáo

100%

Trang 3

8 Nguyễn Nhật

Minh

72001608

PowerPoint

100%

9 Nguyễn Lê Ngọc

Hoa

72001590

Thuyếttrình

100%

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

Trang 5

-LỜI CAM ĐOAN

Chúng em xin cam đoan Báo cáo giữa kỳ do nhóm 3 tự mình nghiên cứu vàthực hiện theo quy định hiện hành của trường Đại học Tôn Đức Thắng Kết quả củabài báo cáo giữa kỳ là trung thực và không sao chép từ bất kỳ báo cáo của nhómkhác cũng như các nguồn tài liệu khác

Các tài liệu được sử dụng trong Báo cáo giữa kỳ có nguồn gốc, xuất xứ rõràng Nếu vi phạm, nhóm em xin chịu trách nhiệm theo quy định hiện hàng củatrường

Nhóm trưởng

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN 1: SỰ KHÁC BIỆT TRONG VĂN HÓA 6

1 Văn hóa là gì? 6

1.1 Định nghĩa của văn hóa? 6

1.2 Giá trị và chuẩn mực trong văn hóa 7

1.2.1 Giá trị (Values) 7

1.2.2 Chuẩn mực (Norms) 7

1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa, xã hội và các quốc gia 9

1.4 Các yếu tố quyết định văn hóa 10

2 Cấu trúc xã hội là gì? 11

2.1 Cá nhân và nhóm 12

2.1.1 Cá nhân 12

2.1.2 Nhóm 13

2.2 Sự phân tầng xã hội 15

2.2.1 Di động xã hội (tức sự di chuyển qua lại giữa các giai tầng) 16

2.2.2 Tầm quan trọng của các tầng lớp xã hội trong bối cảnh kinh doanh 18

3 Tôn giáo và hệ thống đạo đức 19

3.1 Cơ Đốc giáo 19

3.2 Đạo hồi 20

3.3 Ấn Độ giáo 23

3.4 Phật giáo 24

3.5 Nho giáo 25

4 Ngôn ngữ 26

5 Giáo dục 27

6 Văn hóa và nơi làm việc 29

7 Sự thay đổi văn hóa 33

8 Ứng dụng trong quản trị 35

8.1 Sự hiểu biết đa văn hóa 36

8.2 Văn hóa và lợi thế cạnh tranh 37

Trang 7

Phần 2: Case Study 38

1 Giới thiệu Case Study 38

2 Trả lời Case Study 38

Phần 3: Bài học kinh nghiệm 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 8

PHẦN 1: SỰ KHÁC BIỆT TRONG VĂN HÓA

1 Văn hóa là gì?

1.1 Định nghĩa của văn hóa?

Từ trước đến nay, có rất là nhiều các định nghĩa khác nhau về văn hóa đượcđưa ra bởi các nhà khoa học hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau Trong nhữngnăm 1870, nhà nhân loại học Edward Tylor đã định nghĩa văn hóa như là “một tổngthể phức tạp bao gồm kiến thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục

và các khả năng khác mà con người với tư cách là thành viên của một xã hội nhấtđịnh có được” Bên cạnh định nghĩa về văn hóa được đưa ra bởi nhà nhân loại họcEdward Tylor như trên thì cũng đã có hơn hàng trăm định nghĩa khác nhau về vănhóa được ra sau đó Tuy nhiên, nổi bật nhất vẫn là định nghĩa về văn hóa của GeertHofstede (một chuyên gia trong quản trị sự khác biệt trong môi trường đa văn hóa)

và của bộ đôi nhà xã hội học Zvi Namenwirth và Robert Weber Đối với GeertHofstede, ông đã định nghĩa văn hóa như là “một chương trình chung của tâm trí đểphân biệt nhóm người này với nhóm người khác, v.v Văn hóa, theo nghĩa này, gồmcác hệ thống giá trị; và các giá trị nằm trong các khối của văn hóa” Còn đối với hainhà xã hội học Zvi Namenwirth và Robert Weber, họ xem văn hóa như “một hệthống các suy nghĩ, ý niệm, lí tưởng và lập luận mà hệ thống này sẽ tạo thành mộtlối sống, phong cách sống”

Trong môn học kinh doanh quốc tế này, văn hóa sẽ được định nghĩa theonhà nhân loại học Hofstede và hai nhà xã hội học Namenwirth và Weber Cụ thể:văn hóa sẽ được định nghĩa là: “một hệ thống các giá trị và chuẩn mực được chia sẻcho nhau giữa một nhóm người và khi được kết hợp với nhau sẽ tạo thành một lốisống, một phong cách, một lí tưởng sống”

Bên cạnh đó, còn có một thuật ngữ rất phổ biến và rất liên quan đến văn hóa

là “xã hội” Xã hội ở đây “ý chỉ và đề cập đến một nhóm người chia sẻ một bộ giátrị và chuẩn mực chung” Một quốc gia có thể có một hay nhiều hơn một xã hội vàthậm chí có một số xã hội có thể tồn tại ở rất nhiều quốc gia khác nhau

Trang 9

1.2 Giá trị và chuẩn mực trong văn hóa.

1.2.1 Giá trị (Values).

Trong định nghĩa trên, “các giá trị” ở đây chính là “những ý nghĩ, ý niệm và

ý tưởng trừu tượng về những gì một nhóm người tin là tốt đẹp, đúng đắn và đáng đểmong muốn, khát khao” Nói cách khác, “giá trị” chính là những giả định về cáchmọi thứ phải như thế nào mới là đúng, là tốt

Như đã biết, nền tảng của một nền văn hóa là giá trị và giá trị đặt ra các bốicảnh để thiết lập và điều chỉnh các chuẩn mực xã hội Giá trị có thể bao gồm cả thái

độ của xã hội đối với các khái niệm về sự tự do cá nhân, các đặc điểm nhân khẩuhọc, sự thật, sự công bằng, sự trung thực, sự trung thành, các trách nhiệm với xãhội, các nghĩa vụ với tập thể, vị trí và vai trò của người phụ nữ, tình yêu, tình dục,hôn nhân và nhiều điều khác nữa Tuy nhiên, giá trị ở đây không phải là khái niệmtrừu tượng, nó cũng sẽ bao gồm một số ý nghĩa tình cảm đáng kể

Ví dụ: con người sẵn sàng tranh luận, chiến đấu và hi sinh vì độc lập, tự do

1.2.2.1 Phong tục tập quán (Folkways).

Phong tục tập quán (Folkways) là các quy ước thông thường trong cuộcsống hằng ngày và các hành động của phong tục tập quán thường ít mang ý nghĩa

Trang 10

như cách ăn mặc phù hợp ở các tình huống khác nhau, cách hành xử tốt ngoài xãhội, cách ăn uống sao cho đúng, hành vi như thế nào là phù hợp đối với hàng xómláng giềng và nhiều vấn đề khác nữa xoay quanh cuộc sống hàng ngày Mặc dù,phong tục tập quán xác định cách con người được kỳ vọng sẽ hành động Tuy nhiên,đôi khi vi phạm chúng cũng không phải là một vấn đề gì đó được coi là quan trọng.Nghĩa là có những người xâm phạm phong tục tập quán thông thường sẽ bị ngườixung quanh suy nghĩ như những kẻ quái gở hoặc thô lỗ; tuy nhiên, họ sẽ khôngđược nhận định như là người xấu hoặc người tốt.

Ví dụ: ở nhiều quốc gia, nếu người ngoại quốc xâm phạm đến phong tục tậpquán của họ thì đôi khi người ngoại quốc vẫn sẽ được tha thứ

Ngoài ra, một ví dụ điển hình khác về phong tục tập quán (folkways) liênquan đến thái độ của mọi người đối với thời gian ở các quốc gia như sau: mọi người

ở các nền văn hóa như Hoa Kỳ và Bắc Âu có sự nhận thức rất sâu sắc đối với thờigian và coi thời gian quý như là tiền bạc, có thể được tiêu xài, tiết kiệm hoặc bị lãngphí Còn đối với người ở các nền văn hóa Ả Rập, Latinh và Châu Phi thì họ coitrọng việc tương tác với mọi người quan trọng hơn thời gian và họ có thể sẽ khônghoạt động theo một lịch trình định sẵn Vì vậy, khi hai doanh nhân người Mỹ vàngười Mỹ Latinh quyết định gặp nhau mà doanh nhân người Mỹ Latinh đến trễ và

để họ chờ thì đó có thể được xem là thiếu tôn trọng họ; tuy nhiên, đối với người MỹLatinh thì họ không có ý đó mà họ chỉ đơn thuần là hoàn thành việc tương tác vớimột đối tác và cộng sự khác và xem việc này quan trọng hơn là tuân theo một lịchtrình dài dòng Vấn đề này xảy ra chính là bởi sự khác biệt về nhận thức về tầmquan trọng của thời gian trong phong tục tập quán của hai doanh nhân người Mỹ vàngười Mỹ Latinh này

Tiếp theo, trong phong tục tập quán (folkways) sẽ bao gồm các nghi lễ vàcác hành vi mang tính chất tượng trưng, biểu tượng Các nghi lễ và biểu tượng lànhững biểu hiện dễ thấy nhất của một nền văn hóa và là biểu hiện ra bên ngoài củanhững giá trị sâu sắc hơn của phong tục tập quán

Trang 11

Ví dụ: khi gặp một giám đốc điều hành doanh nghiệp nước ngoài, giám đốcđiều hành Nhật Bản sẽ cầm danh thiếp của mình bằng cả hai tay và cúi chào khi đưadanh thiếp cho người nước ngoài Hành vi này mang tính biểu tượng văn hóa củaNhật Bản sâu sắc Thẻ chỉ định thông tin cấp bậc rất quan trọng của giám đốc điềuhành Nhật Bản và cúi chào là dấu hiệu của sự tôn trọng, cúi người càng sâu thì lòngtôn kính dành cho một người khác càng lớn Người nước ngoài nhận thẻ từ giámđốc điều hành người Nhật Bản thì tương tự cũng sẽ cúi đầu trong quá trình nhận và

sẽ đọc thẻ đã nhận nếu không thì sẽ bị xem là thô lỗ trong văn hóa Nhật Bản

1.2.2.2 Tập tục (Mores).

Tập tục (Mores) là những chuẩn mực được xem như là trung tâm cho cáchoạt động của một xã hội và cho đời sống xã hội của nó Chúng mang nhiều ý nghĩahơn so với phong tục tập quán (Folkways) Vì vậy, vi phạm có thể mang lại hậu quảnghiêm trọng hơn so với phong tục tập quán (Folkways)

Tập tục (Mores) có thể bao gồm các nhân tố như bản cáo trạng và sự lên ánđối với nạn trộm cắp, ngoại tình, loạn luân và ăn thịt người Trong nhiều xã hội, một

số tập tục (Mores) đã được sử dụng để làm thành luật Vì vậy, rất nhiều xã hội tiêntiến đều có các bộ luật chống lại nạn trộm cắp, ngoại tình, loạn luân và ăn thịtngười Tuy nhiên thì cũng có nhiều điểm khác biệt về tập tục giữa các nền văn hóa

Ví dụ: ở Mỹ, uống rượu được chấp nhận rộng rãi và được xem là bìnhthường, trong khi ở Ả Rập Xê Út, uống rượu được coi là vi phạm nghiêm trọng và

có thể bị phạt tù

1.3 Mối quan hệ giữa văn hóa, xã hội và các quốc gia.

Như chúng ta đã định nghĩa ở trên, “một xã hội” là một nhóm người chia sẻchung một tập hợp các giá trị và chuẩn mực, tức là những người bị ràng buộc vớinhau bởi một nền văn hóa chung Tuy nhiên, không nhất thiết phải có mối quan hệtương ứng một - một nghiêm ngặt giữa một xã hội và một quốc gia-nhà nước Quốcgia-nhà nước là tác phẩm sáng tạo chính trị Chúng có thể chứa một nền văn hóađơn lẻ hoặc một số nền văn hóa

Trang 12

Ví dụ: Trong khi quốc gia Pháp có thể được xem như là hiện thân chính trịcủa một nền văn hóa Pháp thì quốc gia Canada lại có sự tồn tại của ít nhất ba nềnvăn hóa trong quốc gia này - văn hóa Anglo, văn hóa "Quebecois" nói tiếng Pháp vàvăn hóa Mỹ bản địa Cũng tương tự như vậy, nhiều quốc gia ở Châu Phi cũng có sựtồn tại của các nền văn hóa khác nhau giữa các bộ lạc (như được trưng bày vào đầunhững năm 1990 khi Rwanda hòa vào một cuộc nội chiến đẫm máu giữa hai bộ tộc,Tutsis và Hutus) Tuy nhiên, Châu Phi không đơn độc trong vấn đề này cùng vớiChâu Phi là Ấn Độ với rất nhiều nhóm văn hóa riêng biệt với lịch sử và truyềnthống phong phú riêng biệt Và ngược lại ở trên thang đo này, đó là sự tồn tại củacác nền văn hóa mà bao trùm nhiều quốc gia.

Ví dụ: Một nền văn hóa Hồi giáo được chia sẻ bởi các công dân của nhiềuquốc gia khác nhau ở Trung Đông, Châu Á và Châu Phi Và điều này cũng đã đượcgiải thích bởi quan điểm này về các nền văn hóa được mở rộng của SamuelHuntingson về quan điểm về một thế giới bị chia cắt thành các nền văn minh khácnhau

Tuy nhiên, khi nói về văn hóa, mọi thứ cũng có thể rất phức tạp vì có thể nói

về văn hóa ở các cấp độ khác nhau

Ví dụ: Có lý khi nói về "xã hội Mỹ" và "văn hóa Mỹ" ở cấp độ chung nhất,cao nhất nhưng khi xem ở mức độ chi tiết hơn thì bên trong xã hội Mỹ lại tồn tạithêm nhiều nền văn hóa nữa

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa văn hóa và đất nước thường không rõ ràng

Cụ thể là ngay cả khi một quốc gia có thể được đặc trưng bởi một nền văn hóa đồngnhất tương ứng duy nhất, thì nền văn hóa đó thường cũng sẽ là bức tranh ghép củanhiều nền văn hóa phụ (tiểu văn hóa) khác

1.4 Các yếu tố quyết định văn hóa.

Các giá trị và chuẩn mực của văn hóa không phải khi xuất hiện thì đã hìnhthành đầy đủ mà chúng phát triển theo thời gian để đáp ứng các yếu tố khác nhautheo thời gian, bao gồm cả các triết lý kinh tế và chính trị thịnh hành qua các giai

Trang 13

đoạn cũng như cấu trúc xã hội của một xã hội và tôn giáo, ngôn ngữ và giáo dụcthống trị lúc đó Tóm lại, các yếu tố quyết định văn hóa sẽ bao gồm 6 yếu tố:

Ngoài ra, chuỗi tác động này sẽ xảy ra theo hai chiều Một là các yếu tố nhưtriết lí chính trị và kinh tế, cấu trúc xã hội, tôn giáo, ngôn ngữ, giáo dục ảnh hưởng

rõ ràng đến các giá trị và chuẩn mực trong văn hóa Hai là các giá trị và chuẩn mựctrong văn hóa cũng sẽ tác động ngược lại các yếu tố: cấu trúc xã hội, tôn giáo, vàcác yếu tố trên

2 Cấu trúc xã hội là gì?

Cấu trúc xã hội của một xã hội đề cập đến sự tổ chức xã hội cơ bản của nó.Mặc dù cấu trúc xã hội bao gồm nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng có hai khía cạnhđặc biệt quan trọng được dùng để giải thích sự khác biệt giữa các nền văn hóa thôngqua cấu trúc xã hội

Thứ nhất là mức độ mà đơn vị cơ bản của các tổ chức xã hội là cá nhân,

chứ không phải là nhóm (đối lập với nhóm)

Trang 14

Ví dụ: Nhìn chung, các xã hội phương Tây có xu hướng nhấn mạnh tính ưuviệt của một cá nhân, trong khi các xã hội ở các nước như Việt Nam, Cuba, … thìnhấn mạnh sự ưu việt của nhóm.

Thứ hai là mức độ mà một xã hội được phân tầng thành các giai cấp hoặc

tầng lớp Cụ thể là: một số xã hội được đặc trưng bởi mức độ phân tầng xã hộitương đối cao và tính di động giữa các tầng lớp tương đối thấp (ví dụ: Ấn Độ);trong khi, các xã hội khác được đặc trưng bởi mức độ phân tầng xã hội thấp và tính

di động cao giữa các tầng lớp (ví dụ: Mỹ)

2.1 Cá nhân và nhóm.

Nhóm là sự liên kết của hai hoặc nhiều cá nhân có chung các nét riêng biệt

và tương tác với nhau theo những cách có cấu trúc sao cho phù hợp với các kỳ vọngchung về hành vi của nhau Đời sống xã hội của con người là đời sống nhóm Các

cá nhân sẽ sống trong gia đình, tham gia vào các nhóm làm việc, các nhóm xã hội,các nhóm giải trí, Mặc dù có thể tìm thấy các nhóm tất cả các xã hội, nhưng đốivới các xã hội khác nhau thì tùy theo mức độ mà nhóm được xem như là phươngtiện chính của tổ chức xã hội hay là không Cụ thể là: trong một số xã hội, khả năng

và thành tích với tư cách cá nhân được coi là quan trọng hơn với tư cách thành viênnhóm và ở một số xã hội thì ngược lại

2.1.1 Cá nhân.

Nói đến cá nhân thì phải nói đến chủ nghĩa cá nhân với tư cách là triết họcchính trị Tuy nhiên, chủ nghĩa cá nhân không chỉ là một triết lý trừu tượng màtrong nhiều xã hội phương Tây, cá nhân là khối cơ bản của tổ chức xã hội Điều này

ở trong xã hội phương Tây không chỉ phản ảnh trong cách tổ chức chính trị và kinh

tế mà còn ở cách mà mọi người nhận thức về bản thân và mối quan hệ với nhữngngười khác ngoài xã hội và kinh doanh

Ví dụ: hệ thống giá trị của nhiều xã hội phương Tây nhấn mạnh đến thànhtích cá nhân

Sự nhấn mạnh vào thành tích và hiệu suất cá nhân trong nhiều xã hộiphương Tây có cả mặt có lợi và có hại

Trang 15

Về mặt lợi:

Ở các quốc gia thống nhất, sự nhấn mạnh vào thành tích và hiệu suất cánhân thể hiện sự ngưỡng mộ chủ nghĩa cá nhân và đề cao một tinh thần kinh doanhvững chắc và hiệu quả hơn

Ví dụ: lợi ích của việc này là mức độ hoạt động kinh doanh cao ở Hoa Kỳ

và các xã hội phương Tây khác cao hơn nhiều so với các xã hội khác Cụ thể: các cánhân khởi nghiệp ở Hoa Kỳ đã tạo ra nhiều sản phẩm mới và cách kinh doanh mới(máy tính cá nhân, máy photocopy, phần mềm máy tính, công nghệ sinh học, siêuthị và cửa hàng bán lẻ) nhiều hơn nhiều so với các xã hội tôn sùng chủ nghĩa tậpthể Vì vậy, người ta có thể lập luận rằng sự năng động của nền kinh tế Hoa Kỳ nhờrất nhiều vào triết lý của chủ nghĩa cá nhân

Về mặt hại:

Tác hại của chủ nghĩa cá nhân dễ thấy nhất là mức độ di chuyển (nhảy việc)cao từ công ty này sang công ty khác của các nhà quản lý của các công ty Mặc dùviệc chuyển từ công ty này sang công ty khác có thể tốt cho những nhà quản lý cánhân đang cố gắng xây dựng một bản sơ yếu lý lịch ấn tượng, nhưng đó không hẳn

là điều tốt cho các công ty Việc thiếu trung thành và gắn kết với một công ty và có

xu hướng tiếp tục tìm kiếm một đề nghị tốt hơn của các nhà quản lý có thể dẫn đếnviệc các nhà quản lý khi tuyển dụng thì có kỹ năng chung tốt nhưng thiếu kiến thức,kinh nghiệm và mạng lưới quan hệ có được từ nhiều năm làm việc trong cùng mộtcông ty Một nhà quản lý hiệu quả thì phải có kinh nghiệm, kiến thức cụ thể vàmạng lưới quan hệ rộng để tìm ra giải pháp tốt nhất cho các vấn đề Vì vậy, cáccông ty có thể bị ảnh hưởng nếu người quản lý của họ thiếu các điều trên Tuynhiên, một khía cạnh tích cực của tính di động cao của các nhà quản lý là bắt buộccác nhà quản lý phải tiếp xúc với các cách thức kinh doanh và môi trường làm việcthậm chí là lĩnh vực khác nhau Và khả năng so sánh các phương pháp và kĩ thuậtkinh doanh khác nhau giúp các nhà quản lý xác định cách thức các phương pháp và

kỹ thuật tốt để áp dụng nhằm phát triển và tăng sinh lợi cho công ty

Trang 16

2.1.2 Nhóm.

Nhóm là sự liên kết của hai hoặc nhiều cá nhân có chung các nét riêng biệt

và tương tác với nhau theo những cách có cấu trúc sao cho phù hợp với các kỳ vọngchung về hành vi của nhau

Trái ngược với sự nhấn mạnh và quan tâm của phương Tây dành cho cánhân thì nhóm là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội trong rất nhiều xã hội khác và xãhội sẽ định ra các giá trị và địa vị khác nhau của cá nhân theo nhóm mà họ thuộc về

Ví dụ: ở Nhật Bản, địa vị xã hội của một cá nhân theo truyền thống sẽ đượcxác định phần nhiều bởi vị thế của nhóm, nơi mà người đó thuộc về hơn là thànhtích cá nhân của người đó Trong xã hội Nhật Bản truyền thống, nhóm là gia đìnhhoặc ngôi làng mà một cá nhân thuộc về Ngày nay, nhóm thường là các nhóm làmviệc hoặc tổ chức kinh doanh mà một cá nhân trực thuộc Cụ thể: có nhiều nghiêncứu kinh điển về xã hội Nhật Bản đã lưu ý cách điều này thể hiện trong cuộc sốnghàng ngày và ủng hộ nhận định trên

Ví dụ: Khi một người Nhật gặp mặt với người khác và khẳng định vị trí củabản thân trong xã hội, anh ta có xu hướng ưu tiên giới thiệu tổ chức hơn là nghềnghiệp riêng Thay vì nói "tôi là người kế toán" hoặc "tôi là nhân viên nộp hồ sơ",anh ấy có thể nói "tôi đến từ nhóm xuất bản B" hoặc "tôi thuộc công ty S"

Bên cạnh đó, sự nhấn mạnh vào nhóm hơn là cá nhân ở nhiều xã hội, cụ thể

là các các xã hội ở Châu Á cũng đem lại rất nhiều mặt lợi và cả mặt hại

Về mặt lợi:

Vị trí ưu tiên của nhóm mà một cá nhân thuộc về thường phát triển thànhmột tình cảm gắn bó sâu sắc, trong đó sự đồng nhất với nhóm trở thành tất cả quantrọng trong cuộc sống của một người Một giá trị trung tâm của văn hóa Nhật Bản làtầm quan trọng của thành viên nhóm Điều này có thể có những tác động có lợi chocác công ty kinh doanh

Sự đồng nhất mạnh mẽ với nhóm được cho là tạo ra áp lực cho hành độngtập thể thống nhất và tự nỗ lực phấn đấu lẫn nhau để hoạt động và làm việc mạnh

mẽ hơn Ngoài ra, nếu giá trị của một cá nhân được liên kết chặt chẽ với thành tích

Trang 17

của cả nhóm (ví dụ: doanh nghiệp) thì điều này sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ cho cácthành viên trong nhóm làm việc cùng nhau vì lợi ích chung.

Thêm nữa, nhiều người cho rằng thành công của một số doanh nghiệp NhậtBản trong nền kinh tế toàn cầu một phần dựa vào khả năng đạt được sự gắn bó chặtchẽ giữa các cá nhân trong một công ty và giữa các công ty với nhau Điều nàyđược thể hiện rõ ràng trong sự phổ biến rộng rãi của các nhóm làm việc tự quảntrong các tổ chức ở Nhật Bản; và điều này dẫn đến sự hợp tác chặt chẽ giữa cácchức năng khác nhau trong các công ty Nhật Bản (ví dụ như giữa tiếp thị, sản xuất,R&D, ); và dẫn đến sự hợp tác tốt hơn và hiệu quả hơn giữa một công ty và cácnhà cung cấp của nó về các vấn đề như thiết kế, kiểm soát chất lượng và giảm hàngtồn kho Trong tất cả những trường hợp này, sự hợp tác chặt chẽ đã được thúc đẩybởi nhu cầu cải thiện hoạt động của nhóm (tức là công ty kinh doanh) Ngoài ra,tính ưu việt của nhóm so với sự nhấn mạnh vào cá nhân là không khuyến khích cácnhà quản lý và nhân viên di chuyển từ công ty này sang công ty khác

Ví dụ: việc làm suốt đời trong một công ty cụ thể từ lâu đã trở thành tiêuchuẩn trong một số lĩnh vực nhất định trong nền kinh tế của Nhật Bản (ước tính chothấy từ 20% đến 40% tổng số nhân viên Nhật Bản được đảm bảo gắn kết với việclàm chính thức hoặc không chính thức suốt đời) Qua nhiều năm, các nhà quản lý vànhân viên xây dựng kiến thức, kinh nghiệm và mạng lưới các mối quan hệ kinhdoanh giữa các cá nhân với nhau rộng hơn nhiều Vì vậy, tất cả những điều này cóthể giúp các nhà quản lý thực hiện công việc hiệu quả hơn và đạt được sự hợp tácvới những người khác

Về mặt hại:

Tuy nhiên, nhóm không phải lúc nào cũng đem lại cái lợi Cũng giống như

xã hội Hoa Kỳ được đặc trưng bởi sự năng động và tinh thần kinh doanh rắn rỏi,phản ánh được tính ưu việt của các giá trị gắn liền với chủ nghĩa cá nhân

Ví dụ: Một số người cho rằng xã hội Nhật Bản được đặc trưng bởi sự thiếunăng động, quá máy móc và thiếu tinh thần kinh doanh tương ứng Mặc dù hậu quả

Trang 18

Kỳ có thể sẽ tiếp tục tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới hơn Nhật Bản và tiếp tụcthành công hơn trong việc tiên phong cho các sản phẩm hoàn toàn mới và sáng tạo

ra các cách thức kinh doanh mới

2.2 Sự phân tầng xã hội.

Tất cả các xã hội đều được phân tầng trên cơ sở thứ bậc (cấp bậc) thành cácphạm trù xã hội - nghĩa là thành các giai tầng xã hội Các giai tầng này thường đượcxác định dựa trên các đặc điểm như nền tảng gia đình, nghề nghiệp và thu nhập Cụthể là: các cá nhân được sinh ra thì họ sẽ trở thành một thành viên của giai tầng màcha mẹ họ thuộc về Những cá nhân sinh ra trong một giai tầng nằm ở phía trên của

hệ thống phân cấp xã hội thì có cơ hội sống tốt hơn so với những người sinh ratrong một giai tầng nằm ở phía dưới của hệ thống phân cấp Họ sẽ có khả năng đượcgiáo dục tốt hơn, sức khỏe tốt hơn, mức sống cao hơn và cơ hội làm việc tốt hơn

Mặc dù tất cả các xã hội đều giống nhau ở chỗ là đều được phân tầng ở mộtmức độ nào đó, nhưng chúng sẽ được phân biệt khác nhau theo hai cách liên quan

Thứ nhất, các xã hội khác xa nhau về mức độ di chuyển qua lại giữa cáctầng lớp xã hội

Thứ hai, chúng khác nhau về tầm quan trọng gắn liền với các tầng lớp xãhội trong bối cảnh kinh doanh

2.2.1 Di động xã hội (tức sự di chuyển qua lại giữa các giai tầng).

Thuật ngữ “di động xã hội” đề cập đến mức độ mà các cá nhân có thể dichuyển ra khỏi các giai tầng mà họ được sinh ra Mức độ di động xã hội thay đổiđáng kể giữa các xã hội

Trong các hệ thống phân tầng thì hệ thống phân tầng cứng nhắc nhất là chế

độ đẳng cấp Hệ thống đẳng cấp là một hệ thống phân tầng khép kín, trong đó vị trí

xã hội được quyết định bởi gia đình nơi mà một người được sinh ra, và sự thay đổi

vị trí xã hội của người đó thường không thể thực hiện được trong suốt cuộc đời củahọ

Thường thì tương ứng với một địa vị trong hệ thống đẳng cấp sẽ là một nghềnghiệp cụ thể Thành viên của một đẳng cấp này có thể là thợ đóng giày và thành

Trang 19

viên của đẳng cấp khác có thể là những người bán thịt, Và những nghề đó gắnliền với đẳng cấp tương ứng và được truyền từ đời này sang đời khác trong gia đình.Mặc dù số lượng các xã hội có chế độ đẳng cấp đã giảm đi nhanh chóng trong thế

kỷ XX, nhưng một phần nào đó vẫn còn tồn tại

Ví dụ: Ấn Độ có bốn đẳng cấp chính và vài nghìn đẳng cấp phụ Và mặc dù,

sự kiện chế độ đẳng cấp chính thức bị bãi bỏ vào năm 1949, hai năm sau khi Ấn Độgiành độc lập, nó vẫn còn tồn tại trong xã hội nông thôn ở Ấn Độ, nơi mà sự chiếmđóng và các cơ hội nghề nghiệp vẫn còn liên quan đến đẳng cấp

Khác với chế độ đẳng cấp, hệ thống giai cấp tuy cũng là một hình thức phântầng xã hội nhưng ít cứng nhắc hơn vì trong đó khả năng di động xã hội là cao Hệthống giai cấp là một dạng phân tầng mở, trong đó vị trí của một người được quyếtđịnh từ khi sinh ra có thể được thay đổi thông qua sự nỗ lực, thành tích hoặc maymắn của chính họ Vì vậy, những cá nhân được sinh ra trong một tầng lớp ở dướicùng của hệ thống phân cấp có thể làm việc theo cách của họ để đi lên cách tầng lớpcao hơn; ngược lại, những cá nhân sinh ra trong một lớp ở trên cùng của hệ thốngphân cấp có thể trượt xuống

Bên cạnh đó, trong khi nhiều xã hội có hệ thống giai cấp, tính di động xã hộitrong một hệ thống giai cấp sẽ khác nhau giữa các xã hội

Ví dụ: một số nhà xã hội học đã lập luận rằng nước Anh có cấu trúc giai cấpcứng nhắc hơn so với một số xã hội phương Tây khác, chẳng hạn như Hoa Kỳ.Trong lịch sử, xã hội Anh được chia thành ba giai cấp chính: tầng lớp trên, được tạothành từ những cá nhân mà gia đình của các dòng họ đều có của cải, danh tiếng vàđôi khi là quyền lực; tầng lớp trung lưu, những người kiếm sống bằng nghề thủcông Tầng lớp trung lưu được chia nhỏ thành tầng lớp trung lưu trên và tầng lớptrung lưu thấp Những thành viên của tầng lớp trung lưu trên tham gia vào các côngviệc quản lý quan trọng và những nghề có uy tín (ví dụ: luật sư, kế toán, bác sĩ)trong khi, đối với tầng lớp trung lưu thấp hơn, những thành viên của họ tham giavào công việc văn thư (ví dụ: giao dịch viên ngân hàng) và những nghề ít uy tín hơn

Trang 20

Ngoài ra, hệ thống giai cấp cũng thể hiện sự khác biệt đáng kể giữa cơ hộitrong cuộc sống của các thành viên thuộc các tầng lớp khác nhau Các tầng lớp trên

sẽ được hưởng nhiều cơ hội trong cuộc sống hơn

Ví dụ: các tầng lớp trên và trung lưu thường gửi con cái của họ đến mộtnhóm chọn lọc hoặc các trường tư thục, nơi chúng sẽ không lẫn với những đứa trẻthuộc tầng lớp thấp hơn và nơi chúng tiếp thu nhiều điều tốt và chuẩn mực xã hộiđánh dấu chúng là người thuộc tầng lớp cao hơn Thuộc về xã hội các trường tư nàycũng có quan hệ chặt chẽ với các trường đại học danh tiếng nhất, chẳng hạn nhưOxford và Cambridge Cho đến gần đây, Oxford và Cambridge đã đảm bảo một sốchỗ học cho sinh viên tốt nghiệp từ các trường tư thục này Đã từng đến một trườngđại học danh tiếng, con cái của tầng lớp thượng lưu và trung lưu sau đó có cơ hộituyệt vời để được mời làm việc tại các công ty, ngân hàng, công ty môi giới và công

ty luật do các thành viên của tầng lớp thượng lưu và trung lưu điều hành

Ngược lại, các thành viên của tầng lớp dưới thường ít cơ hội trong cuộcsống hơn

Ví dụ: ở Anh đi học tại các trường công lập Phần lớn rời đi ở tuổi 16, vànhững người tiếp tục học lên cao gặp khó khăn hơn khi được nhận vào các trườngđại học tốt nhất Khi họ đến, họ nhận thấy rằng việc sở hữu giọng nói của tầng lớpthấp hơn và thiếu các kỹ năng xã hội đã đánh dấu họ thuộc tầng lớp xã hội thấp hơn,điều này khiến họ khó tiếp cận với những công việc uy tín nhất và khiến họ khóthay đổi vận mệnh của họ

Cũng bởi vì vậy, nhiều hệ thống giai cấp đã tồn tại từ thế hệ này sang thế hệkhác, và tính di động xã hội bị hạn chế rất nhiều Mặc dù khả năng di chuyển lêncác tầng lớp trên là có thể, nhưng nó sẽ khó đạt được trong một thế hệ Ngoài ra,mặc dù một cá nhân từ tầng lớp lao động trở lại có thể đã thiết lập một mức thunhập phù hợp với tư cách thành viên của tầng lớp trung lưu trên nhưng người đó cóthể không được những người khác thuộc tầng lớp đó chấp nhận bởi vì tiếng nói và

lý lịch Tuy nhiên, bằng cách gửi con cái của mình đến "đúng trường", cá nhân đó

có thể đảm bảo rằng con cái của họ dễ được chấp nhận hơn

Trang 21

đoạn cũng như cấu trúc xã hội của một xã hội và tôn giáo, ngôn ngữ và giáo dục thống trị lúc đó Tóm lại, các yếu tố quyết định văn hóa sẽ bao gồm 6 yếu tố:

 Triết lý kinh tế

Ngày đăng: 28/12/2022, 16:15

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w