+ Hệ thần kinh: Ốc nhồi có 2 hạch não nằm trên hành miệng.. giữa hai hạch thần kinh có cầu nối với nhau vắt qua hành miệng và có các dây thần kinh đi đến tua đầu và mắt.. - Hạch thần kin
Trang 1+ Hệ hô hấp: Ốc nhồi có đặc điểm là vừa có phổi vừa có mang Bên trái xoang áo là phổi thông với ngoài qua xiphông hút Phần bên phải của xoang áo là xoang mang, thông ra ngoài theo xiphông thoát Trong xoang mang có một dãy lá mang chạy song song với đoạn ruột thẳng
+ Hệ bài tiết: Gồm một tuyến Bojanus màu đen sẫm phủ trên đoạn ruột cạnh bao tim và
đổ ra đáy xoang áo
+ Hệ sinh dục: Ốc nhồi là động vật phân tính, có thể phân biệt ốc nhồi đực và cái qua hình dạng ngoài Con cái lớn hơn, đỉnh vỏ thấp và không nhọn như ốc đực
- Cơ quan sinh dục đực gồm một tuyến tinh nhỏ màu trắng nằm cạnh ruột xoắn gần dạ dày ống dẫn tinh nhỏ, màu trắng chạy qua tuyến gan - tụy và dưới trực tràng, đổ vào túi chứa tinh dẫn đến cơ quan giao phối Cơ quan giao phối có rãnh hình máng để dẫn tinh trùng
- Cơ quan sinh dục cái gồm một tuyến trứng hình khối nhỏ màu trắng, nằm cạnh tuyến anbumin ống dẫn trứng màu trắng chạy xuyên qua tuyến anbumin rồi theo chiều từ trái sang phải, hướng về phía trước đổ ra ngoài qua lỗ sinh dục cái
+ Hệ thần kinh: Ốc nhồi có 2 hạch não nằm trên hành miệng giữa hai hạch thần kinh có cầu nối với nhau vắt qua hành miệng và có các dây thần kinh đi đến tua đầu và mắt
- Hai khối hạch chân nằm ở hai bên dưới hành miệng, mỗi khối hạch này là do một hạch áo và một hạch chân gắn lại với nhau Hai khối hạch chân bên có cầu nối với nhau và với hạch não
- Hạch thần kinh trên ruột có dây thần kinh điều khiển mang, áo và osphradi, nối hạch chân - áo Còn có khối hạch phủ tạng nối với hạch trên ruột
Hình 5.3 Hệ tiêu hoá và tuần hoàn cña ốc nhồi
Trang 2Cơ quan cảm giác của ốc nhồi là một đôi mắt và cơ quan cảm giác hóa học là osphradi nằm gần miêng Ngoài ra còn có cơ quan thăng bằng nằm trong một hốc màu vàng
2 Nghiên cứu trai sông
Vị trí phân loại
Loài Sinanodonta jourdyi hay S woodiana
Họ Unionidae
Phân bộ Schizodonta
Bộ Eulamellibranchia
Lớp hai mảnh vỏ - Bivalvia, ngành Thân mềm (Mollusca)
2.1 Kỹ thuật nghiên cứu
+ Muốn nghiên cứu nội quan phải tách Trai ra khỏi vỏ: Dùng dao lach nhẹ vào khe bụng Trai, tách rời áo Trai ra khỏi vỏ ở chỗ đường viền áo và cắt đứt 2 khối cơ khép vỏ nằm ở phía đầu và đuôi của con vật
+ Muốn quan sát hệ tuần hoàn phải tiêm dung dịch màu pha trong gelatin nóng chảy trong nước ấm Vị trí tiêm là tâm thất hay động mạch trước Chú ý là trước khi tiêm phải giết chết Trai hay gây mê thì mới có hiệu quả
+ Muốn quan sát hệ sinh dục phải lột lớp áo và cơ bao phủ
+ Muốn quan sát hệ tiêu hóa phải ghim chặt Trai vào tư thế thẳng đứng trong chậu mổ
Từ từ lột bỏ áo, cơ và hệ sinh dục thì sẽ thấy hệ tiêu hóa Chú ý là đường đi của hệ tiêu hóa Trai rất phức tạp do đó phải giao phối thật cẩn thận
+ Muốn quan sát hệ thần kinh thì giao phối Trai đã định hình bằng formalin thì tốt hơn Trai còn sống vì hệ thần kinh của Trai đã định hình sẽ cứng và có màu sắc phân biệt rõ hơn so với Trai còn sống
2.2 Nội dung nghiên cứu
a) Quan sát hình dạng ngoài
Vỏ trai bao bọc bên ngoài cơ thể gồm nhiều lớp khác nhau: Ngoài cùng là lớp sừng (conchiolin) màu nâu sẫm, tiếp đến là lớp đá vôi dày, màu trắng, trong cùng là lớp xà cừ có màu sắc lóng lánh, sặc sỡ
Vỏ Trai gồm 2 mảnh bằng nhau, xếp đối xứng trái, phải, dính với nhau ở phía lưng Chỗ
2 vỏ dính với nhau có dây chằng và bản lề, đó cũng chính là đỉnh vỏ, là nơi được tạo ra sớm nhất của Trai Khi Trai lớn dần thì các vòng vỏ càng lớn, tạo ra các đường cong càng lớn xung quanh đỉnh vỏ và được gọi là đường tuổi Phân biệt phía đầu là vỏ hơi lồi, phía đuôi hơi nhọn (hình 5.4)
Hai mảnh vỏ được khép chặt nhờ 2 khối cơ khép vỏ lớn và khỏe Thấy rõ ở mặt trong của vỏ Trai Mặt trong của vỏ còn thấy rõ đường viền của áo Trai, nối liền 2 vết bám của khối
cơ khép vỏ (hình 5.5)
Trang 3Nhìn chung cơ thể Trai giống như một quyển sách mà 2 bìa sách là 2 vỏ, còn các tờ giấy bên trong là áo, mang và thân Trai Sau khi bỏ vỏ thì ngoài cùng là áo, tiếp đến là mang (gồm
2 lá, lá mang ngoài và lá mang trong) và thân Trai ở giữa Nhìn từ phía lưng còn thấy bao tim, trong đó có 1 đoạn ruột chạy qua tâm thất Trước bao tim có 2 dải màu hồng làm thành hình chữ "V" ngược, đó là cơ quan Keber Dưới xoang bao tim có hai vệt dài màu đen thẫm, đó là thận Phía dưới thận là chân Khoảng trống nằm giữa 2 tấm áo là xoang áo Về phía sau, 2 mép áo khớp lại với nhau tạo thành hai ống hình phễu gọi là xiphông, xiphông hút ở dưới, xiphông thoát ở trên
b) Nghiên cứu các nội quan
+ Hệ tiêu hóa: Gồm có miệng, thực quản, dạ dày, ruột giữa, ruột sau và khối gan tụy thực quản là một ống lớn thông với phần trước của dạ dày Dạ dày không có hình dạng nhất định và có thể tích khá lớn (hình 5.6) Tiếp theo là ruột giữa khá dài, cuộn thành nhiều khúc: đoạn đầu ruột chạy từ dạ dày hướng ra phía sau và xuống dưới, đoạn cuối cùng nằm gần song song đọan đầu nhưng theo chiều ngược lại, từ dưới lên trên, hướng về phía trước Tiếp theo là ruột sau, có một đoạn chui qua tâm thất Hậu môn nằm gần xiphông thoát, trong xoang áo + Hệ hô hấp: Có 4 lá mang, mỗi bên thân có 2 lá Mỗi lá mang gồm 2 tấm mang (tấm ngoài và tấm trong), mỗi tấm do nhiều sợi mang ghép lại mà thành
Hình 5.4 Vỏ Trai sông nhìn bên ngoài
Hình 5.5 Mặt trong của vỏ Trai sông
Trang 4+ Hệ tuần hoàn: Là hệ tuần hoàn hở, gồm 1 tâm thất và 2 tâm nhĩ, các động mạch và tĩnh mạch cùng với các khe xoang Xoang bao tim khá lớn, có thành mỏng, nằm phía sau lưng Tâm thất hình quả lê, nằm giữa xoang bao tim, phần sau lớn hơn phần trước Hai tâm nhĩ hình tam giác, đỉnh của chúng tiếp xúc với hai bên tâm thất, ở đó có lỗ nhĩ thất
Hệ động mạch: Phần gốc của động mạch trước bao phủ hai bên của ống ruột sau Phần gốc của động mạch sau nằm dưới ruột sau Từ động mạch trước có các nhánh đi vào khối gan tụy, cơ khép vỏ trước, thùy miệng, mang, thận, chân và áo Bờ mép áo có động mạch chứa máu từ tâm thất theo động mạch trước và động mạch sau (hình 5.7)
Hệ tĩnh mạch ở bờ mép áo Máu từ đây chảy theo hai hướng trước và sau rồi trở về tĩnh mạch mang Từ các khe xoang máu được dẫn tới các tĩnh mạch tới mang Ở mang, sau khi thực hiện quá trình trao đổi ô xy, máu theo các tĩnh mạch rời mang trở về tĩnh mạch mang, từ
đó đổ vào tâm nhĩ (hình 5.8)
Hình 5.6 Cấu tạo nội quan của Trai sông
Hình 5.7 Hệ động mạch của Trai sông
Trang 5+ Hệ bài tiết là thận màu đen thẫm, nằm dưới xoang bao tim và cơ quan Keber nằm viền bao phía trước xoang bao tim, màu hồng, có hình chữ "V" Sản phẩm bài tiết của cơ quan Keber đổ vào xoang bao tim, rồi từ đó qua thận đổ ra ngoài
+ Hệ thần kinh gồm 3 đôi hạch (hạch não - bên, hạch chân và hạch phủ tạng) Ngoài ra
còn có các dây thần kinh
- Đôi hạch não - bên hình tam giác, màu vàng da cam, nằm dưới thành cơ thể, ở hai bên miệng gần với gốc thùy miệng Chúng nối với nhau bởi cầu nối nằm ngay trên thực quản Từ hạch thần kinh não - bên có dây thần kinh đi tới cơ khép vỏ trước, thùy miệng đi tới cơ khép
vỏ trước, thùy miệng và áo
- Đôi hạch phủ tạng dính với nhau nằm ngay dưới bụng của cơ khép vỏ, gần hậu môn
Từ đây có các dây thần kinh đi tới bụng và mang Giữa hạch não - bên và phủ tạng có dây thần kinh não - phủ tạng Phía trước hai dây này xa nhau, còn về phía sau thì 2 dây này càng gần nhau (hình 5.9)
Hình 5.9 Hệ thần kinh của Trai sông
Hình 5.8 Hệ tĩnh mạch của Trai sông
Trang 6Đôi hạch thần kinh chân nằm sâu trong khối cơ chân Muốn thấy được đôi hạch này thì phải giải phẩu dọc cơ chân Đôi hạch này liên hệ với nhau bằng một cầu nối ngắn, từ mỗi hạch chân đều có dây thần kinh điều khiển hoạt động của chân và các dây thần kinh liên hệ với các hạch thần kinh khác
Cơ quan cảm giác quan trọng nhất là bình nang, nằm cạnh hạch chân Đó là một túi nhỏ, vách túi là các tế bào các tế bào cảm giác có chất keo bao bọc Trong túi có bình thạch Bình nang chịu sự điều khiển của hạch thần kinh não - bên Ngoài ra Trai còn có các tế bào cảm giác phân bố trên lớp biểu bì của thùy miệng và các xiphông
+ Hệ sinh dục: Trai sông là động vật phân tính (con đực nhỏ và dẹp, con cái lớn và dày hơn) Đôi tuyến sinh dục nằm trong phần thân, bao quanh hệ thống ruột, mỗi tuyến có một lỗ thông với xoang áo ngay sau lỗ thận Tuyến sinh dục đực màu trắng sữa, tuyến sinh dục cái màu vàng nâu vào mùa sinh sản thấy các ấu trùng của Traisông (glochidium) chứa đầy trong các lá mang
Khi nghiên cứu cấu tạo của trai sông cần lưu ý tới tính chất đối xứng hai bên rõ rệt, sự thích nghi với đời sống trong bùn, cát Điều này cho thấy Trai sông khác hẳn với các nhóm động vật Thân mềm khác như Song kinh, Ốc sên, Duốc biển )
Câu hỏi đánh giá
1 Nêu các đặc điểm về hình dạng ngoài và cấu tạo nội quan chứng tỏ Ốc nhồi là nhóm động vật mất đối xứng cơ thể?
2 Trình bày cấu tạo cơ quan tiêu hóa, hô hấp và bài tiết của ốc nhồi thích nghi với điều kiện sống bò dưới đáy nước, ăn chất cặn bã hữu cơ và thực vật?
3 Đặc điểm cấu tạo cơ quan thần kinh và sinh dục của ốc nhồi và nêu mức độ tiến hóa thần kinh (dạng thần kinh có hạch không phân đốt) của ốc nhồi?
4 Nêu đặc điểm thể hiện tính chất đối xứng 2 bên điển hình của Trai sông qua cấu tạo vỏ cơ thể, hệ hô hấp ?
5 Trình bày các đặc điểm chứng minh trai sông thích nghi với lối sống vùi trong cát hay đào hang trong cát, bùn?
Trang 7Bài 6.
Kỹ thuật thực hành động vật Có xương sống, Nghiên cứu cá Lưỡng tiêm và cá Miệng tròn
I Kỹ thuật thực hành động vật Có xương sống
1 Kỹ thuật giải phẫu
1.1 Yêu cầu
Đối với động vật Có xương sống, do kích thước cơ thể lớn, vỏ da phát triển, các hệ cơ quan hoàn chỉnh, nhất là hệ cơ và xương nên có yêu cầu về kỹ thuật giải phẫu khác hơn so với động vật Không xương sống
Kỹ thuật giải phẩu rất cần thiết để hoàn thành nhanh, đúng với yêu cầu của bài Yêu cầu của kỹ thuật giải phẫu là:
+ Vận dụng được những kiến thức lý thuyết vào việc tìm kiếm, quan sát và phân tích các hệ cơ quan
+ Cần rèn luyện tính cẩn thận, kiên trì, tỉ mỉ và chính xác
+ Sử dụng đúng dụng cụ giải phẫu, sắp xếp hợp lý và thuận tiện cho việc sử dụng Sau
khi giải phẫu xong cần kiểm tra dụng cụ và rửa sách, lau khô và bảo quản cẩn thận
1.2 Các dụng cụ thường dùng và cách sử dụng
+ Dao mổ sắc dùng để rách da, cắt cơ con vật
+ Kéo thẳng dùng để cắt da, cơ xương, những dây chằng hoặc các tổ chức cứng, dai nối các cơ quan với nhau
+ Kéo mũi cong để tách gỡ riêng biệt các bộ phận trong một cơ quan hoặc các cơ quan
mà không làm ảnh hưởng đến các cơ quan bên cạnh
+ Kẹp dùng làm căng các chi tiết cấu tạo cho dễ cắt, dễ gỡ, bóc một số lá phủ tạng hoặc kẹp chặt các mạch máu bị đứt khi chưa kịp buộc chỉ
+ Kim mũi mác dùng để tách các cơ quan, gỡ ruột… khi những cơ quan này dính với nhau bằng màng mỏng
+ Kim mũi nhọn dùng để chọc tủy và xác định vị trí các nội quan Ngoài ra giúp cho quá trình căng da con vật hay cố địng tạm thời các nội quan
Ngoài ra cần có thêm một số dụng cụ khác tuỳ theo đối tượng mẫu vật Ví dụ kéo cứng, khoẻ không cần sắc quá để cắt xương hay đục nhỏ để khoét xương
1.3 Thao tác khi giải phẫu
+ Cầm dao mổ và cầm kẹp đúng quy định và thuận chiều Những động tác giải phẫu cần phải chính xác và chắc chắn Để đạt được yêu cầu đó cần có tư thế thoải mái, chân tì xuống đất, khuỷu tay tì lên bàn, ống tay tì vào thành chậu mổ đảm bảo cho điểm tựa vững chắc còn tay kia linh hoạt