Thiết kế chương trình rất phù hợp để đạt được những mục tiêu ngắn hạn nhưng bị hạn chế bởi một số thiếu sót sau đây: việc chỉ tập trung vào hoạt động trồng rừng đã dẫn tới bỏ qua những x
Tổng quan chương trình giai đoạn 2006-2010 9
Giai đoạn 2006–2010, chương trình tiếp tục được triển khai mạnh mẽ tại các tỉnh đã thực hiện chương trình của Hiệp hội/Hội CTĐ Nhật Bản trước đó (xem hình 3); tuy nhiên, việc trồng cây ngập mặn vẫn bị giới hạn ở quy mô trồng dặm và sự đa dạng hóa loài cây, trong đó hướng tập trung chính là trồng tre và phi lao Thiết kế chương trình được xây dựng nhằm đạt 5 mục tiêu cụ thể.
(xem hình 4) với một ngân sách 1,78 triệu USD, khoảng 125.000 người hưởng lợi tại 222 xã đã được hỗ trợ
Chương trình gồm ba hợp phần chính là trồng rừng ngập mặn, phòng ngừa thảm họa và nâng cao nhận thức Hoạt động trồng rừng ngập mặn tập trung vào trồng dặm rừng ngập mặn tại tất cả các tỉnh, trồng tre dọc các con đê sông (tập trung ở Hải Phòng và Thái Bình) và trồng cây phi lao dọc bờ biển cũng như tại các xã ven sông, đặc biệt ở Nghệ An và Hà Tĩnh; tổng cộng có 62 xã tham gia hợp phần này Hợp phần phòng ngừa thảm họa triển khai tập huấn cho giáo viên và học sinh, lãnh đạo xã và cán bộ CTĐ địa phương Hợp phần nâng cao nhận thức tập trung vào việc cung cấp các công cụ phòng ngừa thảm họa để các gia đình có thể chuẩn bị tốt hơn trước thiên tai, đồng thời nhấn mạnh vai trò bảo vệ bền vững của rừng ngập mặn.
Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và các hội CTĐ tỉnh thể hiện sự nhất trí cao với việc tiếp tục triển khai chương trình và đã xây dựng kế hoạch cho tương lai, tập trung hơn nữa vào hoạt động trồng rừng Hội CTĐ Nhật Bản cho biết đã dành một lượng vốn nhất định cho phần mở rộng của chương trình, từ đó tạo thêm động lực và nguồn lực thực hiện Một trong những mục đích của đánh giá này là đưa ra các đề xuất và khuyến nghị về việc có nên mở rộng chương trình hay không, và nếu được chấp thuận thì sẽ được tiến hành như thế nào Những khuyến nghị sẽ nêu rõ các yếu tố thực thi, tính bền vững, hiệu quả và tác động đối với cộng đồng, nhằm hỗ trợ quyết định và kế hoạch hành động trong thời gian tới.
Trồng bảo vệ Đánh giá chương trình trồng rừng ngập mặn và phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng, 2006 - 2010
Trồng bảo vệ / Tháng 04 năm 2011
Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế động trồng rừng ngập mặn không thực hiện được.
Bên cạnh trọng tâm trồng rừng mở rộng, các chương trình còn triển khai nhiều hoạt động khác không trực tiếp liên quan đến trồng rừng, trước tiên là giới thiệu hợp phần “phòng ngừa thảm họa trong trường học” trên phạm vi rộng nhằm đảm bảo tính bền vững của một phần chương trình Thứ hai, cán bộ CTĐ và lãnh đạo Ủy ban Nhân dân được tập huấn về lập kế hoạch và các công cụ phòng ngừa thảm họa Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch còn tiến xa và tiếp cận sâu hơn nhiều vào hoạt động giảm thiểu rủi ro thảm họa bằng cách xây dựng chương trình dựa trên kết quả khảo sát về rủi ro do Hội CTĐ Thái Bình và CTĐ Nam Định thực hiện Do đó từ năm 2001 đến năm 2005, chương trình có một hệ thống công cụ bao gồm tài chính vi mô, nước sạch và vệ sinh môi trường, thậm chí là di dời một cộng đồng dân cư đặc biệt dễ bị tổn thương ở xã Hải Lý, Nam Định.
2006-2010: Tiếp tục thực hiện với chỉ một nhà tài trợ
Nhờ sự hỗ trợ chính thức của Chính phủ Việt Nam, việc bảo vệ rừng ngập mặn được thực hiện có hệ thống từ năm 2006 Công tác bảo vệ rừng ngập mặn được chi trả bằng các nguồn ngân sách dành cho bảo tồn, hiện nay là một chế độ thanh toán cho hoạt động bảo vệ và quản lý rừng ngập mặn.
150.000 đồng, tương đương với 7,50 USD cho một hecta mỗi năm), đến cuối năm
Vào năm 2005, Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch đã dừng hỗ trợ cho Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Ban đầu, Hội Chữ thập đỏ Nhật Bản dự định tiếp tục hỗ trợ chỉ ở 6 tỉnh thường xuyên thuộc chương trình Tuy nhiên, đến năm 2007, Nhật Bản đã bổ sung thêm hỗ trợ cho các tỉnh trước đây thuộc chương trình của Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch theo lời đề nghị của các tỉnh này.
Trong suốt quá trình 17 năm tồn tại, khoảng 8,88 triệu USD được chi cho chương trình (số liệu hàng năm tổng hợp lại, không được tổng hợp hàng năm)
110 xã ven biển tham gia trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng dọc hệ thống đê biển, trong khi 56 xã dọc theo các con sông tham gia trồng tre; tổng thể gần 300 xã đã được tiếp cận thông qua các hợp phần của dự án.
Chương trình phòng ngừa thảm họa trong trường học và cho cán bộ được triển khai nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng ứng phó và các biện pháp an toàn cho giáo viên, học sinh và đội ngũ quản trị, đồng thời củng cố năng lực ứng phó thảm họa ở cấp cơ sở Khoảng 30.000 hộ gia đình tham gia trồng rừng, góp phần cải thiện sinh kế và tăng khả năng thích ứng với rủi ro thiên tai Trong suốt quá trình triển khai dự án, chương trình đã đến với khoảng 350.000 người hưởng lợi.
Hiện nay Việt Nam có khoảng 8.961 ha rừng ngập mặn, chiếm 4,27% tổng diện tích rừng ngập mặn cả nước; 23,80% diện tích rừng ngập mặn ở 8 tỉnh tồn tại ngày hôm nay là kết quả của một chương trình, theo Hawkins 2010:4.
1.2 Tổng quan chương trình giai đoạn 2006 - 2010
Giai đoạn 2006–2010, chương trình được triển khai mạnh mẽ tại các tỉnh đã thực hiện chương trình của Hiệp hội/Hội CTĐ Nhật Bản trước đó (xem hình 3) Tuy nhiên, việc trồng cây ngập mặn vẫn bị hạn chế ở phạm vi trồng dặm và sự đa dạng hóa các loại cây, trong đó tre và phi lao là hướng tập trung chính Thiết kế chương trình được xây dựng nhằm đạt 5 mục tiêu cụ thể.
(xem hình 4) với một ngân sách 1,78 triệu USD, khoảng 125.000 người hưởng lợi tại 222 xã đã được hỗ trợ
Chương trình gồm ba hợp phần: trồng rừng ngập mặn, phòng ngừa thảm họa và nâng cao nhận thức Hoạt động trồng rừng ngập mặn bao gồm trồng dặm rừng ở các khu vực ngập mặn trên toàn tỉnh; trồng tre dọc các con đê sông (tập trung ở Hải Phòng và Thái Bình); và trồng cây phi lao dọc bờ biển cũng như tại các xã ven sông, đặc biệt ở Nghệ An và Hà Tĩnh, với 62 xã tham gia Hợp phần phòng ngừa thảm họa triển khai tập huấn cho giáo viên, học sinh, lãnh đạo xã và cán bộ CTĐ địa phương Hợp phần nâng cao nhận thức tập trung vào các công cụ phòng ngừa thảm họa mà các gia đình có thể sử dụng để chuẩn bị tốt hơn trước thiên tai, đồng thời nhấn mạnh vai trò bảo vệ bền vững của rừng ngập mặn.
Các Hội CTĐ Việt Nam và các hội CTĐ tỉnh thể hiện sự nhất trí cao với việc tiếp tục triển khai chương trình và đã xây dựng kế hoạch cho tương lai, tập trung hơn nữa vào hoạt động trồng rừng Hội CTĐ Nhật Bản cho biết họ đã dành một nguồn vốn nhất định cho phần mở rộng này Vì vậy mục đích của đánh giá là đưa ra các đề xuất, khuyến nghị xem chương trình có nên được mở rộng hay không, và nếu có thì được tiến hành như thế nào Những khuyến nghị dưới góc độ này của đoàn đánh giá được trình bày ở phần bốn.
Hình 2 trình bày bản đồ vùng hoạt động của chương trình, với các khu vực đánh dấu đỏ là những xã có hoạt động trồng rừng được triển khai; để xem bản đồ chi tiết của từng tỉnh, tham khảo Phụ lục B.
Việt Nam / CTĐ Đan Mạch CTĐ
Việt Nam/ CTĐ Hiệp hội/
CTĐ không có thông tin không có thông tin
• Xây dựng năng lực còn hạn chế
• Xây dựng năng lực còn hạn chế
• Trồng rừng ngập mặn, tre, phi lao
• Đánh giá rủi ro toàn diện
• Cách tiếp cận rủi ro còn hạn chế
• Xây dựng năng lực vừa phải
• Trồng rừng ngập mặn, tre, phi lao
• Đánh giá rủi ro toàn diện
• Cách tiếp cận rủi ro còn hạn chế
• Xây dựng năng lực vừa phải
• Xây dựng năng lực mạnh mẽ
• Trồng rừng ngập mặn, tre, phi lao
• Đánh giá rủi ro trên diện rộng
• Tiếp cận toàn bộ tại các xã được lựa chọn
• Xây dựng năng lực mạnh mẽ
Hình 3 trình bày tổng quan các hướng tập trung chính của chương trình theo các giai đoạn, dựa trên phỏng vấn với các bên liên quan chủ chốt tham gia chương trình (Hiệp hội, Hội Chữ Thập đỏ Đan Mạch, TƯ Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam và các hội CTĐ tỉnh) và các báo cáo đánh giá trước đây Những thông tin này được dùng chủ yếu để so sánh nhằm chỉ ra các khuynh hướng và sự khác biệt giữa các phương pháp tiếp cận Để biết thêm thông tin, tham khảo nội dung chính.
2006-2010: Tiếp tục thực hiện với chỉ một nhà tài trợ
Nhờ sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam, việc bảo vệ rừng ngập mặn được thực hiện một cách chính thức từ năm 2006 và đi kèm với cơ chế chi trả cho công tác bảo vệ nhằm đảm bảo nguồn lực và động lực cho công tác bảo tồn Hiện tại, cơ chế chi trả này được duy trì và ngày càng được mở rộng, giúp tăng cường quản lý và bảo vệ hệ sinh thái rừng ngập mặn, đồng thời đóng góp vào việc chống biến đổi khí hậu, bảo vệ bờ biển và đảm bảo sinh kế cho cộng đồng ven biển.
Mục tiêu đánh giá 11
Đánh giá chương trình trồng rừng ngập mặn và phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng, 2006 - 2010
Trồng bảo vệ / Tháng 04 năm 2011
Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế
Cuối cùng, một tập hợp các câu hỏi trọng tâm được nêu ra nhằm định hướng cho quá trình đánh giá sau này Bên cạnh bốn vấn đề được đề cập trong Điều khoản tham chiếu, đoàn đánh giá quyết định đưa yếu tố bền vững vào báo cáo, xem đây như một mấu chốt để đánh giá sự thành công lâu dài của chương trình.
(1) Để đánh giá quá trình thực hiện và những thành quả đã đạt được (kết quả) theo những mục tiêu của Chương trình Trồng rừng ngập mặn/
Phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 3 (2006 – 2010)
Để đánh giá tác động dài hạn (hiệu quả) của chương trình trong cộng đồng, bài viết tập trung vào đo lường các kết quả lâu dài mà chương trình mang lại và đồng thời xác định các đóng góp của chương trình đối với xây dựng sự an toàn và bền vững cho nhóm cộng đồng mục tiêu trong suốt giai đoạn từ năm 1994 đến 2010.
Để phân tích lại lợi ích và hiệu quả của các khoản đầu tư thông qua phân tích chi phí–lợi ích, nhằm đẩy mạnh tính hiệu quả kinh tế trong quá trình lập kế hoạch cho các dự án ở thời điểm hiện tại và trong tương lai, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn để tối ưu hóa các quyết định đầu tư và nguồn lực.
Liên quan tới giai đoạn 2006–2010, báo cáo này trình bày toàn bộ quá trình và tham chiếu cho đánh giá (xem báo cáo A – Phá vỡ con sóng) nhằm xác định bốn yếu tố: a) sự cần thiết và sự phù hợp, b) hiệu suất, c) hiệu quả và d) độ bao phủ Mỗi vấn đề được làm rõ như sau.
Sự cần thiết và phù hợp
Báo cáo sẽ tập trung vào những mục tiêu Trồng rừng ngập mặn /
Phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng phù hợp đối với những khía cạnh nào trong ưu tiên cho những nhóm đối tượng cần hướng đến
Việc cân bằng giữa nhu cầu của người dân địa phương và yêu cầu của nhà tài trợ sẽ giúp xem xét các cách tiếp cận khác nhau để phù hợp hơn với những nhu cầu cụ thể, từ đó tăng hiệu quả của dự án và sự hài lòng của cả cộng đồng lẫn nguồn lực tài trợ Khi hai bên cùng xác định rõ ưu tiên, kỳ vọng và tiêu chí đánh giá, các phương án triển khai có thể được tối ưu hóa để đáp ứng đúng mục tiêu, đảm bảo tính bền vững và tạo giá trị lâu dài cho cộng đồng địa phương và nhà tài trợ.
Phương pháp tiếp cận lợi ích - chi phí trong tính hiệu suất được sử dụng để đánh giá hiệu quả các kết quả trồng rừng ngập mặn và PNTH dựa trên sự tham gia của cộng đồng, với mục tiêu tối ưu chi phí ở mức thấp nhất có thể Đánh giá sẽ xác định xem các kết quả có xứng đáng với chi phí bỏ ra hay không và chỉ ra những cách cụ thể có thể áp dụng để đạt được các kết quả tương tự với chi phí thấp hơn Quá trình này đo lường hiệu suất bằng các chỉ số lợi ích sinh thái – xã hội – kinh tế, từ đó hỗ trợ quyết định đầu tư, triển khai và cải thiện các hoạt động trồng rừng ngập mặn dựa trên bằng chứng thực tiễn và các phương pháp tối ưu chi phí. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Khám phá [Pollinations.AI](https://pollinations.ai/redirect/kofi) giúp tối ưu hóa nội dung SEO cho chủ đề rừng ngập mặn và đánh giá lợi ích – chi phí dễ dàng hơn!
Hiệu quả của giai đoạn 3 được đánh giá dựa trên mức độ chương trình đã đạt được các kết quả mong đợi, xem xét kỹ mục tiêu Trồng rừng ngập mặn/PNTH dựa vào cộng đồng và các chỉ báo liên quan Để tính hiệu quả, cần nêu ra một số bài học quan trọng nhằm rút kinh nghiệm cho các chương trình Giảm thiểu rủi ro thảm họa dựa vào cộng đồng trong tương lai, đồng thời đánh giá độ bao phủ của tác động và sự tham gia của cộng đồng để đảm bảo tính bền vững và mở rộng phạm vi ảnh hưởng.
Trồng rừng ngập mặn/PNTH dựa vào cộng đồng được đặt ra với mục tiêu giảm thiểu rủi ro thảm họa cho cộng đồng Để đo lường hiệu quả triển khai, một cuộc đánh giá độ bao phủ sẽ được tiến hành nhằm xác định các xã, huyện được lựa chọn và xem chúng có đáp ứng các mục tiêu đã đề ra của chương trình hay không.
Bảo vệ cộng đồng và hệ thống đê tốt hơn là một thành công của chương trình này.
Phương pháp đánh giá 13
Các chuyến thăm và làm việc tại từng tỉnh bắt đầu bằng một cuộc thảo luận nhóm với cán bộ Hội chữ thập đỏ tỉnh và các sở ban ngành liên quan đến chương trình (Sở GD&ĐT, Sở NN&PTNT và Ban Phòng chống lụt bão) Bất cứ khi nào có mặt các cán bộ từ các Sở, Ban, Ngành, họ được ưu tiên phỏng vấn trước để có thể làm các công việc khác và để cho cuộc thảo luận cởi mở hơn với cán bộ Hội CTĐ Sau các cuộc họp cấp tỉnh, đoàn đánh giá được cán bộ Hội CTĐ tỉnh đưa đến từng xã.
Buổi làm việc tại xã bắt đầu bằng một cuộc thảo luận nhóm với cán bộ Hội CTĐ và đại diện Ủy ban nhân dân, đi thăm khu vực trồng rừng và kết thúc bằng việc phỏng vấn hộ dân; để thu thập dữ liệu hiệu quả, đoàn thường chia làm hai nhóm khi có thể Phỏng vấn hộ dân được thực hiện bởi tất cả thành viên trong đoàn có khả năng nói tiếng Việt, hầu hết thời gian không có sự hiện diện của cán bộ Hội CTĐ, tuy nhiên những người tham gia trồng rừng được Hội CTĐ các cấp mời đến tham gia Đoàn tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại hộ dân hoặc nơi họ làm việc và cũng cân nhắc lựa chọn để đảm bảo những người không tham gia trồng rừng nhưng sống ở khu vực gần bờ biển hoặc bờ sông chịu tác động thiên tai tương tự như người tham gia trồng rừng Đồng thời, đoàn nỗ lực hết sức để đảm bảo cân bằng giới giữa những người được phỏng vấn.
Xét một cách tổng thể, khảo sát hộ gia đình đã vượt chỉ tiêu 360 với 372 người tham gia trả lời câu hỏi (xem biểu đồ) Tuy nhiên, 25% người thuộc xã đối chứng đã không đạt được mục tiêu, nguyên nhân là việc trồng rừng ở những khu vực có thể trồng được (điều kiện tương đối giống với khu vực đã trồng rừng) gần như đã hoàn thành, còn khá ít bãi đất trống tồn tại để trồng rừng ngập mặn Mặc dù thực tế này cho thấy độ bao phủ của chương trình, nhưng cũng là thách thức đối với phương pháp so sánh dọc được xây dựng nhằm đánh giá tác động.
Quá trình đánh giá bao gồm ba bước: chuẩn bị, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu Chuẩn bị cho đánh giá bắt đầu giữa tháng 12, ngay sau khi các tài liệu chính như báo cáo đánh giá trước đây, đề xuất dự án và khung thời gian được chuyển giao cho đoàn đánh giá để xem xét Dựa trên thông tin và mục tiêu được nêu trong Điều khoản tham chiếu, một thiết kế nghiên cứu được xây dựng nhằm thực hiện công việc một cách nghiêm túc, đáng tin cậy, thời gian hợp lý, hiệu quả và thực tế.
Chúng tôi đã lựa chọn kết hợp giữa các phương pháp định tính và định lượng để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu Ở chiều định tính, chúng tôi tiến hành phỏng vấn những người nắm thông tin chính, thực hiện phỏng vấn sâu và đi thăm vùng của chương trình để nắm bắt bối cảnh và động lực; ở chiều định lượng, phỏng vấn hộ gia đình được xem là xương sống của nghiên cứu, cung cấp dữ liệu có tính đại diện và khả năng khái quát cao Đồng thời, chúng tôi xem xét lại và tích hợp các tài liệu quan trọng khác ban đầu chưa có trong quá trình thu thập dữ liệu để bảo đảm sự đầy đủ và tin cậy của phân tích.
Trong quá trình chuẩn bị, hai việc trọng yếu là chọn mẫu khảo sát và thiết kế bảng hỏi Về việc lựa chọn tỉnh tham gia đánh giá, đoàn sẽ dựa trên đề xuất của Hiệp hội và bổ sung Thái Bình do vai trò của tỉnh này là một tỉnh khởi xướng chương trình; các tỉnh được xem xét gồm Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh và Thái Bình Các xã được lựa chọn bao gồm cả những xã tham gia chương trình ít nhất 10 năm để đánh giá tác động và những xã đã tham gia chương trình trong suốt 5 năm qua để đánh giá giai đoạn III.
Một vấn đề nữa cần quan tâm là tất cả các loại cây trồng (cây ngập mặn, tre, phi lao) phải được phản ánh qua các mẫu được chọn
Hơn một nửa số xã được đoàn đánh giá đến thăm và làm việc đã được lựa chọn độc lập bởi đoàn, trong khi phần còn lại được Hội Chữ thập đỏ các tỉnh lựa chọn Việc chọn địa điểm cũng bao gồm cả những xã không nằm trong chương trình hoặc được gọi là xã đối chứng.
Việc lựa chọn người trả lời câu hỏi phỏng vấn tại hộ gia đình được thực hiện theo một công thức xác định: 50% là người tham gia trồng rừng ở các xã triển khai chương trình, 25% là người không tham gia trồng rừng ở các xã thuộc chương trình, và 25% là người ở xã đối chứng Ban đầu đoàn đánh giá đặt mục tiêu phỏng vấn 600 hộ, nhưng sau điều chỉnh giảm xuống 360 hộ do khó đạt được mục tiêu 600 hộ trong quỹ thời gian điều tra Trung bình, kích thước mẫu cho mỗi xã khoảng 60 hộ.
Vấn đề quan trọng thứ hai trong suốt giai đoạn chuẩn bị là bảng hỏi (xem phụ lục
D) Bảng hỏi này gồm có 40 câu hỏi (hầu hết là những câu trả lời trắc nghiệm)
Bảng câu hỏi đầu tiên dài hơn và đã được điều chỉnh sau ngày phỏng vấn đầu tiên, nhằm làm rõ các yếu tố liên quan đến việc lựa chọn người hưởng lợi, tập huấn nâng cao nhận thức và kết quả thu được Đối với các cuộc thảo luận nhóm, một bộ câu hỏi cơ bản được lựa chọn để thu thập dữ liệu có hệ thống Để thu được dữ liệu định lượng một cách hiệu quả, hội CTĐ các tỉnh, huyện, xã được cung cấp một bảng câu hỏi ngắn và điền thông tin trước khi đoàn đánh giá đến làm việc.
Thu thập dữ liệu sơ bộ ban đầu được thực hiện thông qua phỏng vấn những người nắm thông tin chính và chuyến đi đánh giá tới 6 tỉnh như đã nêu Các buổi phỏng vấn với người nắm thông tin chính được tiến hành với các cá nhân có liên quan chặt chẽ với chương trình và/hoặc những người có thể cung cấp những thông tin về chính sách của chính phủ (theo danh sách ở bên trái) Một số buổi phỏng vấn cho thấy cần nắm được toàn bộ lịch sử của chương trình để có cái nhìn toàn diện Đánh giá chương trình trồng rừng ngập mặn và phòng ngừa thảm họa dựa vào cộng đồng được thực hiện trong khuôn khổ giai đoạn 2006–2010.
Phỏng vấn người cung cấp thông tin chính Ông Phí Hồ Anh Tuấn
Hội CTĐ Việt Nam, ‘97-’11 Ông Nguyễn Thanh Kỳ
Hội CTĐ Việt Nam, ‘92-’02 Ông Đặng Văn Tạo
Hiệp hội ‘97-’11 Ông Bhupinder Tomar
Hiệp hội ‘09-’11 Ông Jorgen Kristensen
Cán bộ Hội CTĐ Đan Mạch ‘94 - ’05
Bà Lê Thị Vân Anh
Hội CTĐ Đan Mạch ‘01-’05 Ông Phan Hồng Anh
MERD Ông Đặng Quang Minh, Ông Bùi Quang Huy,
Bộ NN & PTNT Ông Ian Wilderspin
Trồng bảo vệ / Tháng 04 năm 2011
Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế
Xã dự án, người trồng rừng
Xã dự án, người không trồng rừng
Người trả lời phỏng vấn tại hộ gia đình (Mẫu72)
Những chuyến thăm và làm việc tại mỗi tỉnh bắt đầu bằng một cuộc thảo luận nhóm với cán bộ Hội Chữ thập đỏ tỉnh và các sở ban ngành liên quan đến chương trình, gồm Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Ban phòng chống lụt bão Khi các cán bộ của các cơ quan này có mặt, họ được ưu tiên phỏng vấn trước để có thể làm việc khác và để cuộc thảo luận với Hội CTĐ diễn ra một cách cởi mở hơn Sau các cuộc họp ở cấp tỉnh, đoàn đánh giá được Hội CTĐ tỉnh dẫn đến từng xã để tiếp tục công tác và giám sát tiến độ.
Một buổi làm việc tại xã được bắt đầu bằng cuộc thảo luận nhóm giữa cán bộ Hội CTĐ và đại diện của Ủy ban nhân dân, sau đó đoàn đi thăm khu vực trồng rừng và kết thúc bằng việc phỏng vấn tại hộ dân Để thu thập dữ liệu hiệu quả, đoàn thường chia thành hai nhóm khi có thể Việc phỏng vấn tại các hộ dân được thực hiện bởi tất cả thành viên trong đoàn có khả năng nói tiếng Việt; hầu hết các trường hợp, cán bộ Hội CTĐ không hiện diện Tuy nhiên, lưu ý rằng những người tham gia trồng rừng được Hội CTĐ các cấp mời tham gia Đoàn đánh giá trực tiếp đến từng hộ dân hoặc nơi họ làm việc để tiến hành phỏng vấn Đoàn cũng cân nhắc lựa chọn nhằm bảo đảm những người không tham gia trồng rừng ở xã nhưng sống gần biển hoặc gần sông và do vậy chịu tác động thảm họa tương tự người tham gia trồng rừng được đưa vào mẫu phỏng vấn Hơn nữa, đoàn đã nỗ lực hết sức để đảm bảo cân bằng giới giữa những người được phỏng vấn.
Xét tổng thể, khảo sát hộ gia đình đã vượt mục tiêu 360 và có 372 người tham gia trả lời câu hỏi (xem biểu đồ) Tuy nhiên, 25% người thuộc xã đối chứng không đạt được kết quả vì việc trồng rừng ở những khu vực có điều kiện tương tự với khu vực đã trồng rừng gần như đã hoàn thành, còn lại khá ít bãi đất trống để trồng rừng ngập mặn Dù thực tế này cho thấy mức độ phủ sóng của chương trình, nó cũng đặt thách thức lên phương pháp so sánh dọc được xây dựng để đánh giá tác động.
Quy trình đánh giá được triển khai qua ba bước chính: chuẩn bị, thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu Quá trình chuẩn bị bắt đầu từ giữa tháng 12, ngay sau khi các tài liệu thiết yếu như báo cáo đánh giá trước đây, đề xuất dự án và khung thời gian được bàn giao cho đoàn đánh giá để xem xét Dựa trên thông tin và mục tiêu nêu trong Điều khoản tham chiếu, một thiết kế nghiên cứu được xây dựng nhằm thực hiện các nhiệm vụ một cách nghiêm túc, đáng tin cậy, đúng tiến độ, hiệu quả và thực tế.
Chúng tôi đã lựa chọn kết hợp hài hòa giữa các phương pháp định tính và định lượng để đảm bảo tính toàn diện cho nghiên cứu: về mặt định tính, phỏng vấn những người nắm thông tin chính, phỏng vấn sâu và đi thăm vùng triển khai của chương trình được thực hiện; về mặt định lượng, phỏng vấn hộ gia đình là xương sống của nghiên cứu này Đồng thời, các tài liệu quan trọng khác mà ban đầu chưa có cũng được rà soát và bổ sung.