Đặc biệt xuất phát từ giá trị thương mại của đối tượng sở hữu côngnghiệp, các chủ thể kinh doanh thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp của đối thủ cạnh tranh đây được
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG
KHOA LUẬT
BÀI TIỀU LUẬN
MÔN: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
Đề tài: Pháp luật và thực trạng về cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu
trí tuệ tại Việt Nam Nhóm : 04
Giảng viên : Trương Thị Dạ Thảo
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Chúng em xin cam đoan Bài tiểu luận do nhóm 04 tự nghiên cứu và thực hiện.Chúng em đã kiểm tra dữ liệu theo quy định hiện hành
Kết quả Bài tiểu luận là trung thực và không sao chép từ bất kỳ báo cáo của nhómkhác
Các tài liệu được sử dụng có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 05 năm 2022
Trang 4MỤC LỤ
CHƯƠNG 1 CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ 5
TRANH CHẤP VÈ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 5
1.1 Cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh 5
1.1.1Cạnh tranh 5
1.1.2 Cạnh tranh không lành mạnh 6
1.2 Tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 11
1.3 Sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 14
1.4 Cơ sở pháp luật quốc tế về cạnh tranh không lành mạnh 16
1.5 Cơ sở Pháp luật Việt Nam về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ 17
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ CÁCH GIẢI GIẢI QUYẾT THỰC TRẠNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM 19
2.1 Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam 19
2.2 Thực trạng giải quyết cạnh tranh không lành mạnh 20
2.2.1Những số liệu ban đầu 20
2.2.2Thực tranh các hình thức giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 22
2.2.3 Một số nhận xét rút ra từ thực trạng tranh chấp và thực trạng giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh 24
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIẢI QUYẾT HIỆU QUẢ CÁC TRANH CHẤP VÊ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM 24
3.1 Dự báo về sự gia tăng hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam 24
3.1.1Sự gia tăng về số lượng 25
3.1.2 Sự gia tăng về tính phức tạp, khó lường 25
3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm giải quyết các tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam trong thời gian tới 25
3.2.1 Giải pháp lâu dài 25
3.2.2 Giải pháp trước mắt 26
KÉT LUẬN 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường ở nước ta đã phát triển được hơn 20 năm và đối với nền văn minhcủa nhân loại thì phát minh ấy được xem có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất ,có thể xem là vĩđại nhất của nhân loại Tính đến thời điểm hiện tại chưa thể tìm ra được kiểu tổ chức kinh tếnào có hiệu quả hơn kinh tế thị trường bởi nó luôn mang đến những thách thức đối với sựnhạy bén và sáng tạo của con người thông qua môi trường cạnh tranh Cạnh tranh luôn làyếu tố sống còn của mọi doanh nghiệp, và khi doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện thì cạnhtranh càng trở nên quan trọng hơn trong cuộc cách mạng công nghệ 4.0, tập trung vào giá trịcốt lõi của mỗi doanh nghiệp Đặc biệt, tài sản sở hữu trí tuệ đã trở thành nhân tố quan trọngthúc đẩy hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp trên thị trường và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân
Nhằm bảo vệ cho những nỗ lực sáng tạo của chủ thể đã tạo ra đối tượng sở hữu côngnghiệp, các chủ thể sáng tạo sẽ được trao những ưu tiên độc quyền trong một thời hạn nhấtđịnh Các chủ thể sáng tạo có thể thực hiện những độc quyền này tuy nhiên việc sử dụng các
sự độc quyền trên có thể gây ra những tác động tiêu cực cho khả năng tiếp cận hàng hoá củangười tiêu dùng, cho sự lưu chuyển bình thường của hàng hoá, dịch vụ trên thị trường và chomôi trường cạnh tranh lành mạnh Chủ thể nắm giữ quyền sở hữu công nghiệp được trao sựđộc quyền, vì vậy họ dễ dàng lạm dụng quyền để cản trở hoạt động thương mại, gây tổn hạicho người tiêu dùng Đặc biệt xuất phát từ giá trị thương mại của đối tượng sở hữu côngnghiệp, các chủ thể kinh doanh thường nghĩ đến việc sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
của đối thủ cạnh tranh (đây được coi như một trong những thành quả đầu tư của đối thủ cạnh tranh) để kiếm lời và gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh
Vì vậy, việc xuất hiện các hành vi cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệptrong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là tất yếu Những hành vi này vừa vi phạm pháp luật cạnh tranhvừa vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ và được chia thành hai loại: hành vi hạn chế cạnh tranh
và hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp Khi nềnkinh tế càng phát triển thì loại việc này càng nhiều Thực tế này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽgiữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ, sự cân bằng giữa bảo hộ quyền sở hữutrí tuệ và chính sách đảm bảo cạnh tranh lành mạnh
Trang 6CHƯƠNG 1 CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH VÀ
TRANH CHẤP VÈ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
1.1 Cạnh tranh và cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1Cạnh tranh
Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau củađời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, vănhoá, thể thao và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh
Theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó các đối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đổi về phía mình” Theo Từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là “ cố gắng giành
phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợiích như nhau”
Trong khoa học kinh tế, đến nay các nhà khoa học dường như chưa thoả mãn với bất
cứ khái niệm nào về cạnh tranh Bởi lẽ, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện và tồntại trong nền kinh tế thị trường, ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh vàgắn với mọi chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường Do đó, cạnh tranh được nhìnnhận ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào ý định và hướng tiếp cận nghiên cứu của cácnhà khoa học
Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cuốn “Các hoạt độnghạn chế cạnh tranh và hoạt động thương mại không lành mạnh” của Tổ chức thống nhất, tín
thác vì người tiêu dùng (Ấn Độ) đã diễn tả: “Cạnh tranh trên thị trường là quá trình ở đó nhà cung cấp cố gắng ganh đua để giành khách hàng bằng các phương thức, biện pháp khác nhau”.
Theo Từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992 thì "cạnh tranh" được hiểu là "sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình" Từ điển tiếng Việt
Bách khoa tri thức phổ thông cũng giải thích cạnh tranh theo nghĩa kinh tế là: Hoạt độngtranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanhtrong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
Mặc dù được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau
về cạnh tranh song nhìn chung theo các cách giải thích trên, trong khoa học kinh tế cạnh
Trang 7tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đíchlôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng Cạnh tranh có thể xuất hiện giữa nhữngngười bán hàng và cũng có thể xuất hiện giữa những người mua hàng nhưng cạnh tranh giữanhững người bán hàng là phổ biến.
Cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp trước hết là việc cạnh tranh, bên
cạnh đó còn có đặc điểm riêng biệt gắn liền với quyền sở hữu công nghiệp Đó là, đối với cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp, việc cạnh tranh liên quan đến sử dụng
và chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp Hành vi cạnh tranh bất hợp pháp liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp vi phạm cả pháp luật cạnh tranh và pháp luật sở hữu trí tuệ.Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp là hành vi có những đặc điểm sau đây: do doanh nghiệp tiến hành trong quá trình kinh doanh; trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh; liên quan đến sử dụng hoặc chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng
Định nghĩa được thừa nhận rộng rãi nhất hiện nay quy định tại Điều 10 BIS Công ước
Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp “Bất cứ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”.
Đặc điểm cạnh tranh không lành mạnh
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh do các chủ thể
kinh doanh trên thị trường thực hiện, nhằm mục đích lợi nhuận Có thể phân tích vấn đề nàytrên hai khía cạnh:
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi có tính chất đối lập, đi
ngược lại các nguyên tắc, thông lệ tổt trong kinh doanh, có thể hiểu là những quy tắc xử sựchung đã được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong hoạt động kinh doanh trên thị trường
Thứ ba, hành vi cạnh tranh bị kết luận là không lành mạnh và cần phải ngăn chặn khi
nó gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho doanh nghiệp khác
Trang 8• Quyền sở hữu trí tuệ
“ Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến tác giả, quyền sở hữ công nghiệp và quyền dổi mới giống câytrồng” (Theo Điều 4, khoản 1 LSHTT 2005)
• Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp là hành
vi có những đặc điểm sau đây: do doanh nghiệp tiến hành trong quá trình kinh doanh; trảivới các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh; liên quan đến sử dụng hoặcchuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi íchNhà nước, của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng
Nhìn chung, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên cũng đều xuất phát từnhững hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với một số đối tượng sở hữu côngnghiệp (chẳng hạn như: nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, ) Trên thực tế, hành vicạnh tranh không lành mạnh chủ yếu liên quan đến việc sử dụng chỉ dẫn thương mại gâynhầm lẫn cho người tiêu dùng nhằm mục tiêu lợi nhuận Chỉ dẫn thương mại là các dấu hiệu,thông tin nhằm hướng dẫn thương mại hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thươngmại, biểu tượng kinh doanh, khẩu hiệu kính doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hànghoá, nhãn hàng hoá Hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại bao gồm các hành vi gắn chỉ dẫnthương mại đó lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch kinhdoanh, phương tiện quảng cáo; bán, quảng cáo để bán, tàng trữ để bán, nhập khẩu hàng hoá
có gắn chỉ dẫn thương mại đó
Ví dụ:
Trang 9Đây là trường hợp không lành mạnh thuộc Điểm d Khoản 1 Điều 130 Luật SHTT “d) Đăng
ký, chiếm giữ quyền sử dụng hoặc sử dụng tên miền trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu, tên thương mại được bảo hộ của người khác hoặc chỉ dẫn địa lý mà mình không
có quyền sử dụng nhằm mục đích chiếm giữ tên miền, lợi dụng hoặc làm thiệt hại đến uy tín, danh tiếng của nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý tương ứng.” Bởi vì nhãn hiệu
Thegioididong chỉ được bảo hộ tổng về tên miền thegioididong.com mà không bảo hộ mỗi chữ thegioididong nên nhiều cá nhân tổ chức đã lợi dụng điểm này để sử dụng các nhãn hiệutương tự đến mức gây nhầm lẫn
1.3 Sự cần thiết phải giải quyết tranh chấp về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Có thể nói quyền sở hữu trí tuệ là một loại tài sản đặc biệt, được nhà nước và pháp luật bảo hộ Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không những ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền (là chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ hoặc tổ chức,
cá nhân được chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ) mà còn có ảnh hưởng đến các quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng và gây tổn hại cho lợi ích của xã hội Những hành vi cạnh tranh không lành mạnh này trong một số trường hợp cụ thể có thể coi là hành
vi vi phạm hành chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính, vì đã vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Cụ thể bằng các quy định của pháp luật, Việt Nam xác định những hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và quy định các chế tài xử lý những hành vi vi phạm đó, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củachủ thể quyền, người thứ ba và của xã hội
1.4 Cơ sở pháp luật quốc tế về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là một công cụ chính sách nhằm thúc đẩy đổi mới, có lợi cho người tiêu dùng thông qua việc phát triển hàng hóa, dịch vụ mới, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nói một cách khác, người sáng tạo hay chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ được luật pháp cho phép thụ hưởng những đặc quyền nhất định trong một thời hạn cụ thể, nhằm bù đắp lại những chi phí trong quá trình nghiên cứu và đổi mới Trên cơ sở đó, các vănbản pháp lý nhằm xác định mối quan hệ giữa chính sách cạnh tranh và sở hữu trí tuệ đã đượccác quốc gia ban hành và áp dụng
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ nói chung
chứa đựng các yếu tố sau:
1 Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh tước đoạt thành quả kinh doanh, lợi dụng danh tiếng và uy tín của đối thủ cạnh tranh;
Trang 102 Gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, hoạt động kinh doanh, xuất xứ, tính chất, đặc điểm hàng hóa/dịch vụ;
3 Gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh.
Cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại quốc tế được ghi nhận từ rất sớm trong các công ước quốc tế Công ước Paris về bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp (được sửa đổi tại Brussels năm 1910) đã đưa ra định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh tại Điều 10bis Theo đó: “bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh” Đồng thời, Điều 10 bis Công ước Paris đưa ra một danh sách không đầy đủ bao gồm ba hình thức cạnh tranh không lành mạnh bị cấm, đó là:
1 Mọi hành vi nhằm gây ra sự nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào, với cơ sở,
hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh;
2 Những tuyên bố sai trái trong công việc kinh doanh nhằm làm mất uy tín của cơ
sở, hàng hóa hay hoạt động kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh;
3 Những chỉ dẫn hoặc tuyên bố sử dụng trong quá trình kinh doanh nhằm lừa dối
công chúng về bản chất, quy trình sản xuất, đặc điểm, sự phù hợp về mục đích, hoặc số lượng của hàng hóa
Trong thực tế, có những hành vi không được liệt kê tại Điều 10 bis Công ước Paris
nhưng được pháp luật và/hoặc tòa án các nước coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh, lợi dụng thành quả đầu tư của doanh nghiệp khác
Cụ thể, vào tháng 2/1989, tại Nhật Bản, Ủy ban Thương mại đã ban hành Hướng dẫn
về quy định thực hành thương mại không lành mạnh đối với bằng sáng chế và các thỏa thuậncấp phép Sự cân bằng giữa cấp phép quyền sở hữu trí tuệ và luật cạnh tranh ở châu Âu đượcthể hiện ở Quy định số 2349/844 và Quy định số 556/895, sau đó được thay thế bằng Quy định số 240/96 ngày 31/1/1996 với các điều khoản đơn giản hơn Tháng 9/1998, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển cũng đã công bố một báo cáo đầy đủ liên quan tới cạnh tranh
và quyền sở hữu trí tuệ
Từ đó khẳng định, việc xem xét, đánh giá các hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ phải được thực hiện theo nguyên tắc lập luận hợp lý trong mối quan
hệ tổng hòa của các yếu tố liên quan, trong từng vụ việc cụ thể
1.5 Cơ sở Pháp luật Việt Nam về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là một trong cácdạng hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ Về mặt khoa học pháp lý, hành vi cạnh tranh