1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

phân tích công nợ và khản năng thanh toán

61 391 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Công Nợ Và Khả Năng Thanh Toán
Trường học Học Viện Tài Chính
Chuyên ngành Kế Toán & Tài Chính
Thể loại Báo cáo môn học
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 431,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

phân tích công nợ và khản năng thanh toán

Trang 1

PHẦN 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỀ TÀI PHÂN TÍCH CÔNG NỢ VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

Một số khái niệm cơ bản về công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Công nợ

Công nợ là khái niệm chỉ quyền lợi được thu hay nghĩa vụ phải trả cho các cá nhân hay tổ chức phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Công nợ bao gồm các khoản phải thu và các khoản nợ phải trả

* Nợ phải trả

Theo VAS 01 thì nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của

mình Nợ phải trả xác định nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp khi doanh nghiệp nhận

về một tài sản, tham gia một cam kết hoặc phát sinh các nghĩa vụ pháp lý với tổ chức hay cá nhân xác định Nợ phải trả phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua và sự tồn tại của nghĩa vụ nợ này khôg phụ thuộc vào bất cứ sự kiện không chắc chắn nào trong tương lai Các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp phải đảm bảo hai tiêu chuẩn: có đủ điều kiện chắc chắn là doanh nghiệp sẽ phải dùng một lượng tiền chi ra để trang trải cho những nghĩa vụ hiện tại mà doanh nghiệp phải thanh toán và các khoản nợ này phải được xác định một cách đáng tin cậy Nợ phải trả được phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung nợ phải trả được phân loại theo thời hạn thanh toán ngắn hạn hoặc dài hạn Nợ phải trả bao gồm các loại chính sau:

- Vay: đây là một hình thức huy động vốn của doanh nghiệp Vay gồm có vay

ngắn hạn và dài hạn, vay ngắn hạn thường để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động còn thiếu hoặc để đầu tư chứng khoán ngắn hạn, vay dài hạn thường để đầu tư cho tài sản dài hạn Để vay vốn doanh nghiệp có thể vay của các chủ nợ, ngân hàng, phát hành trái phiếu

- Nợ phải trả người bán: là khoản phát sinh trong quá trình mua hàng hóa, vật tư hoặc nhận cung ứng dịch vụ để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh

nghiệp

- Người mua ứng tiền trước: là số tiền nhận ứng trước của khách hàng để doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ Khoản tiền ứng trước này sẽ là một khoản nợ phải trả của doanh nghiệp đối với người bán

- Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải nộp Nhà nước các khoản thuế đã được quy định như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp, lệ phí , nếu doanh

nghiệp chưa nộp vào ngân sách nhà nước sẽ hình thành khoản thuế phải nộp Nhà nước

- Phải trả người lao động: bao gồm các khoản tiền lương, tiền phụ cấp, trợ cấp phải trả cho người lao động làm việc tại doanh nghiệp Các khoản phụ cấp, trợ cấp gồm: trợ cấp độc hại, trợ cấp khu vực, trợ cấp bảo hiểm xã hội,

- Chi phí phải trả: bao gồm các khoản ghi nhận vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ nhưng thực tế chưa chi trả trong kỳ để đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và hci phí Bao gồm: trích trước chi phí sửa chữa lớn, trích trước chi phí tiền lương cho công nhân sản xuất, trích trước chi phí lãi vay

- Phải trả nội bộ: là khoản nợ phải trả giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới hoặc giữa các đơn vị cấp dưới có tổ chức đơn vị kế toán riêng với nhau

- Phải trả theo tiến độ kế hoạch hợp đồng xây dựng:

- Các khoản phải trả khác: bao gồm các khoản phải trả của doanh nghiệp mà chưa được phản ánh vào các tài khoản từ TK331 đến TK 337, thể hiện các nghiệp vụ chủ yếu: giá trị tài sản thừa chưa xử lý hoặc đã xử lý, số tiền trích các khoản trích theo lương, các khoản phải trả do kỹ quỹ ký cược với các đơn vị bên ngoài,

Trang 2

- Các khoản dự phòng phải trả: bao gồm các khoản dự phòng trợ cấp mất việc, phải trả dài hạn.

* Nợ phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp và được thể hiện bằng việc

doanh nghiệp có quyền nhận tiền, sản phẩm, hàng hóa từ khách hàng, tổ chức hay cá nhân khác trong quá trình hoạt động kinh doanh Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm các khoản như sau:

- Nợ phải thu khách hàng: đây là khoản nợ được hình thành từ chính sách bán chịu trong quá trình buôn bán hoặc cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp, là bộ phận chiếm tỷ trọng lớn trong tổng khoản mục phải thu nhất là ở các doanh nghiệp thương mại

- Trả trước cho người bán: đây là khoản ứng trước của doanh nghiệp cho người cung cấp để mua hàng hóa hay được cung cấp dịch vụ

- Nợ phải thu nội bộ: đây là khoản phát sinh trong quan hệ thanh toán giữa đơn vị cấp trên với các đơn vị cấp dưới, giữa các đơn vị nội bộ có tổ chức kế toán riêng trong một công ty hoặc tổng công ty về giao vốn, bán hàng nội bộ, chi hộ theo quy chế của từng đơn vị

- Tạm ứng: là khoản phải thu của doanh nghiệp đối với người lao động của mình khi doanh nghiệp ứng tiền để người lao động thực hiện nhiệm vụ kinh doanh được giao

- Phải thu khác: bao gồm nhiều khoản phải thu ngoài phạm vi các khoản nợ phải thu ở trên như: giá trị các tài sản thiếu đang chờ xử lý; các khoản phải thu bồi thường từ các cá nhân hay tổ chức đã được quy trách nhiệm bắt bồi thường; các khoản chi như chi phí sản xuất, chi dự án mà chưa được cấp có thẩm quyền duyệt phải thu hồi; các khoản chi phát sinh khi cổ phần hóa: hỗ trợ thôi việc, đào tạo lao động

Khả năng thanh toán

Tình hình tài chính của một doanh nghiệp chịu ảnh hưởng và tác động trực tiếp lên tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp Để chúng ta có thể thấy rõ được tình hình tài chính hiện tại và tương lai cần xác định các chỉ tiêu phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp Vậy khả năng thanh toán của doanh nghiệp là gì? Khả năng

thanh toán của doanh nghiệp là khả năng trang trải các khoản công nợ được bảo đảm bằng tiền và tài sản của doanh nghiệp Khả năng thanh toán còn là nhân tố phản ánh trực tiếp rủi ro phá sản của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán quá thấp có thể đối mặt với sự mất khả năng thanh toán trầm trọng, có nguy cơ phá sản cao.Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Tầm quan trọng của việc phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán trong doanh nghiệp

Công nợ bao gồm các khoản phải thu và nợ phải trả, đây là một vấn đề rất phức tạp nhưng lại hết sức quan trọng, vì nó tồn tại trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mọi doanh nghiệp Sự tăng hay giảm của các khoản phải thu cũng như các khoản nợ phải trả có tác động rất lớn đến việc bố trí cơ cấu nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng như tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh Việc

bố trí cơ cấu nguồn vốn cho chúng ta thấy được sức mạnh tài chính của doanh nghiệp khi mà tỷ lệ nợ của doanh nghiệp quá cao thì mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi các nguồn lực bên ngoài, phụ thuộc rất lớn đến các chủ

nợ, doanh nghiệp không chủ động được các nguồn vốn để đảm bảo hoạt động kinh

doanh, điều này sẽ không tốt và ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Để nắm được tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu và nợ phải trả của doanh

nghiệp, cần thiết phải đi sâu xem xét phân tích chỉ tiêu về các khoản nợ phải thu và các khoản nợ phải trả Trên cơ sở đó chúng ta có thể thấy được xu hướng vận động của các khoản phải thu cũng như các khoản phải trả như thế nào để từ đó có kế hoạch điều chỉnh

cơ cấu tài chính hợp lý cũng như đưa ra các biện pháp hiệu quả nhất để thu hồi công nợ,

Trang 3

hạn chế nợ quá hạn,nợ khó đòi tăng cao Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài ,đảm bảo khả năng thanh toán, tránh nguy cơ phá sản.

Ý nghĩa của việc phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán trong doanh nghiệp

Đối với nhà quản lý doanh nghiệp

Việc phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán giúp nhà quản lý doanh nghiệp biết được xu hướng vận động của tình hình công nợ, khả năng thanh toán, các khoản phải thu, nợ phải trả Từ đó tìm hiểu nguyên nhân sự biến động đó, nhận định nó tốt hay xấu để có biện pháp để duy trì hay nâng cao các chỉ tiêu này, đẩy mạnh công tác thu hồi các khoản phải thu, có các kế hoạch trả các khoản nợ, điều chỉnh cơ cấu vốn hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán tốt giảm thiểu rủi ro phá sản

Đối với chủ sở hữu

Chủ sở hữu là những người giao vốn cho doanh nghiệp hoạt động và có thể chịu rủi ro, nếu chủ sở hữu trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh thì họ sẽ chịu trách nhiệm về tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhưng nếu chủ sở hữu tách biệt với người quản lý thì chủ sở hữu cần biết đến tình hình tài chính chung cũng như tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp để quyết định có cấp vốn cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động nữa hay không hay ngừng hoạt động hoặc bán cổ phiếu (nếu trong công ty cổ phần) Một doanh nghiệp có tình trạng nợ phải thu lớn và dây dưa kéo dài thì xem như doanh nghiệp đó làm ăn không hiệu quả, không quản lý tốt công tác thu hòi nợ phải thu

Đối với các chủ nợ

Chủ sở hữu là những người giao vốn cho doanh nghiệp hoạt động và có thể chịu rủi ro, nếu chủ sở hữu trực tiếp quản lý hoạt động kinh doanh thì họ sẽ chịu trách nhiệm về tình hình hoạt động của doanh nghiệp nhưng nếu chủ sở hữu tách biệt với người quản lý thì chủ sở hữu cần biết đến tình hình tài chính chung cũng như tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp để quyết định có cấp vốn cho doanh nghiệp tiếp tục hoạt động nữa hay không hay ngừng hoạt động hoặc bán cổ phiếu (nếu trong công ty cổ phần) Một doanh nghiệp có tình trạng nợ phải thu lớn và dây dưa kéo dài thì xem như doanh nghiệp đó làm ăn không hiệu quả, không quản lý tốt công tác thu hòi nợ phải thu

Nội dung phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán trong doanh nghiệp

Nội dung phân tích tình hình công nợ

Phân tích tình hình công nợ phải thu

Khoản phải thu là những khoản tiền mà khách hàng và những bên liên quan đang

nợ doanh nghiệp vào thời điểm lập báo cáo, các khoản nợ này sẽ được trả và được coi là tài sản của doanh nghiệp Khoản nợ phải thu là những khoản của doanh nghiệp bị đơn vị khác chiếm dụng Khoản nợ phải thu bao gồm cả khoản nợ phải thu ngắn hạn và nợ phải thu dài hạn Các khoản phải thu của doanh nghiệp bao gồm: khoản phải thu khách hàng, trả trước cho người bán, thuế VAT được khấu trừ, phải thu nội bộ, tạm ứng, phải thu khác,

Tùy vào đặc điểm kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, quan hệ của doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác, thời kỳ kinh daonh… mà tỷ trọng của khoản phải thu trong tổng tài sản có tỷ trọng khác nhau Để đánh giá khoản này ta thông qua chỉ tiêu tỷ lệ giữa tổng giá trị các khoản phải thu và tổng tài sản như sau:

Tỷ lệ giữa tổng giá trị khoản

phải thu và tổng tài sản =

Tổng giá trị các khoản phải thu

x 100%Tổng tài sản

Trang 4

Chỉ tiêu này phản ánh tình hình và mức độ vốn kinh doanh của doanh nghiệp đang

bị các đơn vị khác tạm thời chiếm dụng Tùy từng doanh nghiệp mà chỉ tiêu này có thể cao hay thấp Một số nhân tố tác động lên chỉ tiêu này như sau:

+ Phương thức bán hàng của doanh nghiệp: thông thường ở các doanh nghiệp bán lẻ, bán hàng thu tiền ngay thì tỷ trọng khoản phải thu chiếm tỷ trọng thấp Ngược lại ở các doanh nghiệp bán buôn, bán sĩ thì tỷ trọng khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn

+ Khả năng quản lý nợ của doanh nghiệp, chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp: thể hiện qua các điều khoản tín dụng (tiêu chuẩn tín dụng, thời hạn tín dụng, tỷ lệ chiết khấu nếu trả trước hạn) và hạn mức tín dụng tối đa cho phép đối với từng khách hàng Ở những doanh nghiệp mà kỳ hạn tín dụng dài, số dư nợ định mức cho khách hàng cao thì các khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn Để đánh giá tính hợp lý của chỉ tiêu này cần đặt trong mối quan hệ doanh thu của doanh nghiệp

+ Khả năng thanh toán của khách hàng: bao gồm các thông tin thu thập cũng như sự phân tích về khả năng thanh toán của khách hàng như: uy tín trong thanh toán, khả năng trả nợ, vốn, điều kiện kinh doanh, tài sản đảm bảo, quan hệ với doanh nghiệp, và các biệ pháp xử lý các khoản nợ phải thu quá hạn Nếu khoản phải thu chiếm tỷ trọng lớn mà nguyên nhân không xuất phát từ hai truờng hợp trên thì tỷ trọng này càng cao càng thể hiện tình hình sử dụng vốn chưa được tốt, vốn bị đơn vị khác chiếm dụng

nhiều

Trong các khoản phải thu thì tỷ trọng khoản phải thu khách hàng trong tổng khoản phải thu thường chiếm tỷ trọng lớn nhất Vì thế ta cần chú trọng kỹ hơn đến các khoản phải thu khách hàng, xem xét chi tiết đến từng khách hàng của doanh nghiệp, đặc biệt là các khách hàng có số dư khoản phải thu khách hàng lớn Để làm được điều này ta cần tính chỉ tiêu Tỷ trọng giữa khoản phải thu của từng khách hàng K trong tổng khoản phải thu khách hàng

Tỷ trọng giữa khoản phải thu

khách hàng K trong tổng khoản phải

thu khách hàng

Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp càng bị một khách hàng chiếm dụng vốn nhiều, điều này là không tốt vì doanh nghiệp đã sử dụng vốn không hiệu quả, đặc biệt nếu khách hàng không có khả năng thanh toán nợ thì doanh nghiệp sẽ mất đi một lượng vốn lớn Để hạn chế tỷ lệ này tăng cao thì doanh nghiệp nên cấp hạn mức tín dụng cho từng khách hàng sau khi đã phân tích kỹ càng, cụ thể

Không chỉ xem xét, phân tích tình hình các khoản phải thu chúng ta còn cần phân tích đến các khoản nợ phải trả Nếu quản lý không tốt các khoản phải thu sẽ đem đến nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp mà ngay cả việc yếu kém trong quản lý các khoản phải trả cũng tác động không nhỏ đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp Nếu mua chịu quá nhiều trong khi lượng hàng bán ra không nhiều, doanh nghiệp lại không có các biện pháp tăng tốc độ luân chuyển dòng tiền thì sẽ làm tình hình tài chính của doanh nghiệp xấu đi, có thể dẫn đến thiếu nguồn tiền thanh toán cho nhà cung cấp Chính vì vậy

chúng ta cần phân tích để nắm rõ hơn tình hình công nợ phải trả

Phân tích tình hình công nợ phải trả

Khoản nợ phải trả là những khoản nợ phát sinh trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp phải trả, phải thanh toán cho các chủ nợ trong thời hạn nhất

Trang 5

định và được coi là nguồn vốn của doanh nghiệp Nguồn vốn này bao gồm các khoản nợ ngắn hạn cũng như nợ dài hạn, nguồn vốn do đi vay và nguồn vốn trong thanh toán Nguồn vốn đi vay gồm các khoản tiền doanh nghiệp vay của ngân hàng hay vay của các đối tượng khác với cam kết hay những điều kiện nhất định Nguồn vốn trong thanh toán gồm các khoản mà doanh nghiệp tạm thời chiếm dụng và sử dụng trong thời gian chưa đến hạn trả tiền cho chủ nợ và các đối tượng khác như: phải trả cho ngời bán, thuế và các khoản phải nộp cho Nhà nước, phải trả người lao động, phải trả nội bộ, các khoản phải trả khác…

Để đánh giá các khoản phải trả trong tổng tài sản ta thông qua chỉ tiêu tỷ suất nợ Chỉ tiêu này phản ánh mức độ nợ trong tổng tài sản của doanh nghiệp, cho thấy trong tổng tài sản sở hữu thực chất của doanh nghiệp là bao nhiêu

Tỷ suất nợ = Tổng nợ phải trả x 100%

Tổng tài sản

Tỷ suất nợ càng cao thể hiện tính tự chủ của doanh nghiệp càng thấp, mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp vào chủ nợ càng lớn và khả năng tiếp nhận các khoản vay nợ càng khó một khi doanh nghiệp không thanh toán kịp thời các khoản nợ đến hạn Đối với các chủ nợ, tỷ suất nợ là một tiêu chí quan trọng để đánh giá khả năng cho doanh nghiệp vay vốn, tỷ suất này càng cao thì khả năng thu hồi nợ càng thấp Do vậy, các chủ

nợ thường thích những doanh nghiệp có tỷ suất nợ thấp, giảm thiểu rủi ro trong thu hồi nợ

Trong một doanh nghiệp thường có nhiều khoản nợ phải trả nhưng trong doanh nghiệp thương mại thì Nợ phải trả nhà cung cấp thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khoản nợ phải trả Để nắm được tỷ trọng này cũng như sự biến động của nó ta cần tính Tỷ trọng giữa khoản phải trả cho từng nhà cung cấp trong tổng khoản phải trả

Tỷ trọng giữa khoản phải trả nhà cung

cấp K trong tổng khoản phải trả =

Khoản phải trả nhà cung cấp K

x 100%Tổng khoản phải trả

Dựa vào tỷ trọng này ta có thể biết được đâu là nhà cung cấp chính cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có cái nhìn bao quát về các nhà cung cấp từ đó có các chính sách thanh toán nợ, tạo dựng và giữ gìn uy tín trong quan hệ lâu dài với nhà cung cấp.Ngoài các chỉ tiêu đã tính ở trên chúng ta có thể tính thêm chỉ tiêu tỷ lệ nợ ngắn hạn so với tài sản ngắn hạn:

Tỷ lệ giữa nợ ngắn hạn so với

tài sản ngắn hạn =

Nợ ngắn hạn

x 100%

Tài sản ngắn hạn

Tỷ số giữa các khoản phải thu và các khoản nợ phải trả

Ngoài phân tích cụ thể riêng tình hình công nợ phải thu và công nợ phải trả chúng

ta còn cần có cái nhìn chung về tình hình biến động chung của cả hai khoản công nợ này Ta sử dụng tỷ số giữa các khoản phải thu và các khoản nợ phải trả Tỷ số này cho chúng ta thấy được mối quan hệ chiếm dụng vốn giữa doanh nghiệp với các chủ nợ cũng như với các khách hàng nợ Nếu tỷ số giữa các khoản phải thu so với các khoản nợ phải trả lớn hơn 100% chứng tỏ số vốn mà doanh nghiệp bị chiếm dụng lớn hơn số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng và ngược lại

Tỷ số giữa khoản phải thu

so với khoản nợ phải trả =

Tổng các khoản phải thu

x 100%

Tổng các khoản nợ phải trảDựa vào tỷ số này doanh nghiệp đưa ra các chính sách cụ thể để trả nợ cho các chủ nợ cùng như thu hồi nợ phải thu nhằm hạn chế thấp nhất các khoản chiếm dụng vốn của các cá nhân, đơn vị khác Các khoản công nợ dù là phải thu hay phải trả đều là những khoản phát sinh tất yếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ở mỗi ngành kinh doanh khác nhau có đặc điểm khác nhau, ở mỗi doanh nghiệp cũng có các đặc điểm đặc thù, chiến lược riêng tùy thuộc vào mỗi giai đoạn của quá trình kinh doanh

Trang 6

do vậy chúng ta cần xem xét tình hình riêng cũng như mối quan hệ giữa các khoản công nợ trong điều kiện nhất định để có được cái nhìn chính xác nhất về tình hình công nợ của doanh nghiệp.

Ta còn có thể tính thêm chỉ tiêu sau:

Tỷ số giữa khoản phải thu ngắn hạn

so với khoản nợ phải trả ngắn hạn =

Tổng các khoản phải thu NH

x 100%Tổng các khoản nợ phải trả NH

Do tính chất quan trọng của nợ ngắn hạn nên chúng ta cần tính thêm chỉ tiêu này để biết hiện tại ở doanh nghiệp tương quan tỷ lệ giữa khoản phải thu ngắn hạn và khoản nợ phải trả ngắn hạn là bao nhiêu, xác định được trong ngắn hạn doanh nghiệp đang sư dụng ngắn hạn từ bên ngoài nhiều hơn hay đang bị chiếm dụng vốn nhiều hơn, từ đó xác định được tính chủ động hay bị động trong cơ cấu nợ ngắn hạn Nếu tương quan này bị chi phối chủ yếu bởi các khoản công nợ đã xác định thời hạn thanh toán cụ thể thì là cơ cấu nợ chỉ động Ngược lại nếu doanh nghiệp không xác định được cụ thể thời hạn thanh toán thì là cơ cấu nợ mang tính chất thụ động và doanh nghiệp khó có thể điều chỉnh tình hình cơ cấu nợ

Nội dung phân tích khả năng thanh toán trong doanh nghiệp

Phân tích khả năng thanh toán trong doanh nghiệp bao gồm phân tích các chỉ tiêu

về tình hình công nợ: các khoản phải thu và tình hình thu nợ, các khoản phải trả và khả năng chi trả Đây là nhóm chỉ tiêu được sự quan tâm của nhà quản trị, chủ sở hữu và đặc biệt là đối với các nhà cho vay Khả năng thanh toán của một doanh nghiệp đo lường khả năng đảm đương với các nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải huy động vốn từ các chủ sở hữu, vay vốn hay chiếm dụng vốn tạm thời từ các cá nhân, đơn vị khác, hay nhà cung cấp để cung cấp để đảm bảo hoạt động kinh doanh diễn ra bình thường Hầu hết doanh nghiệp nào cũng vay nợ để duy trì, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, đặc biệt trong doanh nghiệp thương mại thì các khoản nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn Nhưng để huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh từ vay nợ cũng khiến doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn như: vay nợ quá nhiều rất nguy hiểm cho doanh nghiệp cho dù thời hạn trả nợ chưa đến, việc mắc nợ sẽ kéo theo các khoản chi phí phải trả cố định hàng năm như hoàn trả nợ gốc và tiền lãi, khi doanh nghiệp nợ quá nhiều sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp tục đi vay Nếu doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn của nhà cung cấp thì nhà cung cấp sẽ không chịu bán hàng cho doanh nghiệp nữa Như vậy uy tín của doanh nghệp sẽ bị ảnh hưởng theo chiều hướng không tốt

Khi doanh nghiệp huy động vốn từ nguồn vốn vay hay chiếm dụng tạm thời từ các tổ chức các nhân khác thì doanh nghiệp sẽ phải trả nợ Nếu doanh nghiệp không có đủ khả năng để thanh toán các khoản nợ đến hạn này thì sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể không thể hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đúng hạn và có thể dẫn tới tình trạng ngừng hoạt động Một doanh nghiệp không đảm bảo khả năng thanh toán có thể dẫn tới nhiều hậu quả không tốt đến nhiều đối tượng:

+ Đối với doanh nghiệp: thiếu hụt về tài chính sẽ hạn chế sự phát triển, hạn chế cơ hội nắm bắt như: mua hàng hóa với giá hấp dẫn, hưởng chiết khấu theo giá bán buôn Sự không đảm bảo trong thanh toán có thể làm doanh nghiệp mất quyền kiểm soát.+ Đối với chủ nợ của doanh nghiệp: với khả năng thanh khoản xấu có thể dẫn tới việc chẫm trễ trong việc thanh toán tiền gốc và lãi cho các chủ nợ, trong trường hợp xấu chủ nợ có thể mất một phần hoặc toàn bộ nợ phải thu

+ Đối với các khách hàng: khách hàng có thể không được hưởng những điều kiện trong thanh toán như cũ, các điều kiện bán chịu của doanh nghiệp cho khách hàng có thể bị thay đổi, thời hạn thanh toán có thể bị rút ngắn

Chính vì vậy đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp là vấn đề cấp thiết giúp doanh nghiệp có cái nhìn tổng quan về khả năng thanh toán của mình, đánh giá rủi

Trang 7

ro, đưa ra các chính sách để cải thiện hay duy trì khả năng thanh toán hiện tại Ngoài ra đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp còn giúp các nhà đầu tư, các chủ nợ đánh giá về khả năng thanh toán của doanh nghiệp từ đó đưa ra các quyết định đầu tư hay cho vay hợp lý, tránh rủi ro khi thu hồi nợ Để đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, ta dựa vào khả năng hoán chuyển thành tiền các tài sản của doanh nghiệp Hệ số chung có thể đưa ra đánh giá khả năng thanh toán của doanh

nghiệp như sau:

Khả năng thanh toán chung (K) = Số tiền có thể dùng để trả nợ

Nợ ngắn hạn phải trảKhả năng thanh toán chung là ở dang tỷ số so sánh cân bằng vì vậy trường hợp tốt nhất là hệ số bằng 1 Nếu khác đi là dẫn đến hai cực: thiếu khả năng thanh toán hoặc thừa vốn, gây ứ đọng Áp dụng công thức tổng quát trên ta có các chỉ tiêu cụ thể sau:

Khả năng thanh toán hiện hành

Khả năng thanh toán hiện hành thể hiện mối quan hệ so sánh giữa tài sản ngắn hạn

và các khoản nợ ngắn hạn

Khh = Tài sản ngắn hạn

Nợ ngắn hạnDựa vào khả năng thanh toán hiện hành ta biết tại một thời điểm nhất định ứng với một đồng nợ ngắn hạn thì doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn làm bảo đảm thanh toán Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp tiến dần đến đủ và dư thừa khả năng để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn Tuy nhiên, nếu chỉ tiêu này quá cao không hẳn là tốt, mặc dù nó chỉ cho thấy sự dồi dào đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp nhưng có thể dẫn đến việc quản lý và sử dụng không hiệu quả các loại tài sản, làm cho tình hình tài chính của doanh nghiệp không lành mạnh, chưa tận dụng tốt các nguồn tài trợ mà không phải trả lãi từ các nhà cung cấp Chỉ tiêu này quá thấp sẽ là gánh nặng cho việc trả các khoản nợ ngắn hạn, lúc này doanh nghiệp không đủ khả năng

để thanh toán các khoản nợ đã đến hạn, dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán Theo các nhà cho vay chỉ tiêu này phải đạt được từ 2,0 trở lên thì tốt

Một số hạn chế của chỉ tiêu này:

+ Chỉ tiêu này cho ta thấy khả năng đảm đương trách nhiệm nợ với các chủ nợ ngắn hạn trong trường hợp xét đến sự thanh lý tài sản ngắn hạn để trả nợ và không cần tới một khoản vay mượn thêm nào Tất nhiên trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động bình thường thì không thể thanh lý tài sản ngắn hạn để trả nợ trừ khi doanh nghiệp buộc giải thể hoặc phá sản Chính vì vậy việc thanh lý tài sản ngắn hạn để trả nợ trong điều kiện kinh doanh bình thường là không khả thi, chỉ tiêu này đã bỏ qua nguyên tắc kế toán Hoạt động liên tục của doanh nghiệp Nó xem xét dựa trên tình trạng doanh nghiệp ngừng hoạt động hơn là tình trạng phát triển liên tục

+ Ngoài ra chỉ tiêu này được tính dựa trên số liệu thời điểm (thường là số liệu cuối niên độ kế toán) nên nó chưa thể hiện chính xác khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong cả quá trình kinh doanh Các số liệu cuối kỳ của doanh nghiệp được lập trên Bảng cân đối kế toán có thể đã được làm chưa chính xác và bị bóp méo theo ý muốn của người quản lý

+ Ở tử số ta thấy tài sản ngắn hạn gồm rất nhiều loại tài sản khác nhau với khả năng thanh khoản khác nhau Hàng tồn kho, khoản phải thu có khả năng thanh khoản kém nhất trong các loại tài sản và còn tùy thuộc vào tình hình kinh doanh, đặc điểm ngành nghề kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Nên đây chỉ là một công cụ thô đo lường khả năng thanh toán, một doanh nghiệp có tài sản ngắn hạn chủ yếu là tiền mặt và khoản phải thu khách hàng sẽ có khả năng chuyển nhượng hơn so với một doanh nghiệp có tài sản ngắn hạn chủ yếu là hàng tồn kho

Trang 8

+ Khả năng thanh toán hiện hành còn phụ thuộc vào tình hình nhập tiền vào quỹ và các khoản ngân quỹ có thể huy động được (như hạn mức tín dụng ) Nhưng ở chỉ tiêu này đã không đề cập đến khả năng huy động tín dụng.

Trong công thức này tử số là tài sản ngắn hạn gồm rất nhiều loại tài sản với khả năng thanh khoản khác nhau Hàng tồn kho có khả năng thanh khoản kém nhất và đặc biệt sẽ càng khó hơn đối với hàng tồn kho đã bị kém phẩm chất Việc nhóm gộp chung các loại tài sản khác nhau với khả năng thanh khoản khác nhau đã hạn chế cái nhìn về khả năng thanh toán của doanh nghiệp Để khắc phục hạn chế và bổ sung thêm công cụ tính toán giúp nhà phân tích có cái nhìn đầy đủ, chính xác hơn về khả năng thanh toán ta sử dụng chỉ tiêu khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán nhanh

Khả năng thanh toán tức thời

Với hai chỉ tiêu về khả năng thanh toán trên, ta xem rằng khoản phải thu có khả năng thanh khoản nhanh thành tiền để trả nợ ngắn hạn, việc thu hồi các khoản này chỉ là vấn đề thời gian Trong môi trường kinh tế hoàn hảo thì điều này có thể chính xác

nhưng trong nền kinh tế thị trường nói chung và thị trường tài chính nói riêng chưa được phát triển như hiện nay, chỉ số phản ánh khả năng thanh toán thích hợp hơn cả là chỉ số được tính toán dựa trên vốn bằng tiền Ta có công thức sau:

Nợ ngắn hạnChỉ tiêu này đo lường mức độ đáp ứng nhanh của vốn lưu động trước các khoản nợ ngắn hạn Khoản này có thể dùng trả ngay các khoản nợ đến hạn là tiền và các chứng khoán ngắn hạn Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện khả năng thanh toán càng cao, tình hình tài chính khả quan Thông thường chỉ tiêu này thường biến động trong khoảng từ 0,5 đến 1 Nếu chỉ tiêu này quá nhỏ (< 0,5) thì doanh nghiệp nhất định sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ đến hạn, và vào thời điểm cần gấp, doanh nghiệp có thể buộc phải sử dụng các biện pháp bất lợi như bán vội cổ phiếu đầu tư để có đủ tiền thanh toán Tuy nhiên chỉ tiêu này quá lớn lại gây tình trạng mất cân đối của vốn lưu động vì tập trung quá nhiều vào vốn bằng tiền và chứng khoán ngắn hạn có thể không hiệu quả.Khi phân tích các chỉ tiêu khả năng thanh toán người phân tích còn phải kết hợp với các yếu tố khác như: môi trường kinh doanh, tình hình chung của nền kinh tế, đặc điểm ngành nghề mà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, cơ cấu tài sản, thông tin cụ thể hơn về số vòng quay của một số tài sản lưu động Ta khó có thể tìm ra được một hệ số chuẩn để so sánh mà chỉ có thể so sánh các chỉ tiêu này qua thời gian hoặc với doanh nghiệp khác cùng loại hình, quy mô với doanh nghiệp đang phân tích

Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán ở trên đều còn tồn tại nhiều hạn chế giống như chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành Từ ba công thức về khả năng thanh toán ở trên ta thấy chưa có sự chính xác về mức độ cấp thiết còn mang tính chung

Trang 9

chung: về nợ ngắn hạn có rất nhiều thời hạn khác nhau nhưng đều được gộp chung lại trong một nhóm, thời gian quay vòng vốn thật sự của nợ ngắn hạn là không thể xác định; khả năng hoán chuyển thành tiền của hàng tồn kho, khoản phải thu khó đánh giá tùy thuộc vào cái nhìn cái mỗi doanh nghiệp Vì vậy ta không thể chỉ dựa vào 3 chỉ tiêu trên để nhận xét chính xác về khả năng thanh toán của doanh nghiệp nên ta cần tính toán thêm các chỉ tiêu sau đây.

Số vòng quay hàng tồn kho, số ngày một vòng quay hàng tồn kho

Chỉ tiêu phân tích:

Hhàng = Giá trị hàng tồn kho bình quânGiá vốn hàng bán

Số vòng quay hàng tồn kho là chỉ tiêu phản ánh tốc độ luân chuyển hàng hoá nhanh hay chậm, hay cho biết thời gian hàng hoá nằm trong kho trước khi bán ra Thời gian này càng giảm thì khả năng hoán chuyển thành tiền của hàng tồn kho càng nhanh Chính vì vậy mà số vòng quay hàng tồn kho ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp Mặt khác, chỉ tiêu này còn phản ánh chất lượng và chủng loại hàng hoá kinh doanh có phù hợp trên thị trường hay không

Chỉ tiêu số vòng quay của hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh thường được đánh giá là tốt, hoạt động quản lý hàng tồn kho được đánh giá là tốt, hàng tồn kho càng mới và khả năng hoán chuyển thành tiền cao Ngoài ra, đứng trên góc độ của vốn luân chuyển thì một doanh nghiệp có hệ số quay vòng cao thường đòi hỏi đầu tư thấp hơn hàng tồn kho so với doanh nghiệp khác có cùng mức doanh thu nhưng có hệ số quay vòng thấp Nhưng nếu số vòng quay hàng tồn kho rất cao thì việc duy trì mức tồn kho thấp có thể khiến cho mức tồn kho đó không đủ đáp ứng các hợp đồng tiêu thụ của kỳ sau, và điều này có thể gây ảnh hưởng không tốt cho công việc kinh doanh của doanh nghiệp, lúc này doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng cạn trữ Số vòng quay hàng tồn kho thấp là dấu hiệu của việc duy trì nhiều hàng hóa lỗi thời, quá hạn và chậm luân chuyển, khi hàng hóa quá lạc hậu doanh nghiệp có thể phải mang thanh lý làm giảm giá trị hàng tồn kho Vì vậy khi tính toán chỉ tiêu này ta nên xem xét giá trị hàng tồn kho có phản ánh chính xác với giá trị thực của nó hay không, xem xét đến tính hợp lý khi ước tính khoản mục Dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Nếu doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng khác nhau và ngành nghề khác biệt thì phải tính số vòng quay hàng tồn kho cho từng nhóm hàng cụ thể xem có mất cân đối hay không, điều này cũng giúp chỉ ra doanh nghiệp có duy trì quá mức một loại hàng tồn kho nào đó hay không

Ngoài ra chúng ta còn có một công cụ khác tương tự số vòng quay hàng tồn kho nhưng được biểu diễn theo đơn vị ngày, đó là Số ngày một vòng quay hàng tồn kho.Nhàng = Thời gian kỳ phân tích

Số vòng quay hàng tồn kho

= Giá trị hàng tồn kho bình quân x Thời gian kỳ phân tích

Giá vốn hàng bánThời gian kỳ phân tích có thể là tháng (tương đương 30 ngày), quý (tương đương

90 ngày) hoặc năm (tương đương 360 ngày)

Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho và khả năng chuyển hoá thành tiền của hàng tồn kho Nếu số ngày của một vòng quay hàng tồn kho quá lớn làm tăng chi phí sử dụng vốn, vốn ứ đọng nhiều và tăng chi phí hàng tồn kho khiến cho doanh nghiệp có nguy cơ phải giảm giá mạnh hàng tồn kho để giả phóng lượng hàng này gây ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh chung

Số vòng quay nợ phải thu, số ngày một vòng quay nợ phải thu

Chỉ tiêu phân tích:

= Doanh thu thuần + Thuế VAT đầu ra

Trang 10

Số vòng quay các

khoản phải thu Số dư bình quân khoản phải thu khách hàng

Số dư bình quân các khoản

Số dư phải thu đầu kỳ + số dư phải thu

cuối kỳ2

Số vòng quay các khoản phải thu khách hàng phản ánh tốc độ hoán chuyển các khoản phải thu khách hàng thành tiền để đảm bảo cho thanh toán và hoạt động của doanh nghiệp.Ta có thể áp dụng chỉ tiêu này để tính chung cho cả doanh nghiệp hoặc một số khách hàng quan trọng

Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả của việc đi thu hồi nợ Chỉ tiêu này càng cao phản ánh tốc độ thu hồi các khoản nợ càng nhanh, điều này đựơc đánh giá là tốt vì khả năng hoán chuyển các khoản phải thu thành tiền càng nhanh, đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ đến hạn Tuy nhiên chỉ tiêu này quá cao cũng không tốt vì nó đồng nghĩa với thời hạn tín dụng bán chịu ngắn hay kỳ thanh toán ngắn, do đó có thể ảnh hưởng đến sản lượng tiêu thụ làm giảm hiệu quả kinh doanh Nên khi đánh giá khả năng chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền cần xem xét đến chính sách tín dụng bán hàng của doanh nghiệp

Để đánh giá khả năng chuyển hoá thành tiền của các khoản phải thu cụ thể hơn ta kết hợp phân tích với chỉ tiêu Số ngày một vòng quay khoản phải thu Chỉ tiêu phân tích:

Số ngày một vòng

quay khoản phải thu =

Thời gian kỳ phân tích

Số vòng quay các khoản phải thu

Số ngày quy ước của thời gian kỳ phân tích thường theo tháng, quý hoặc năm: + 1 tháng là 30 ngày

+ 1 quý là 90 ngày

+ 1 năm là 360 ngày

Chúng ta thường phân tích theo quy mô năm nên thời gian kỳ phân tích là 360 ngày Chỉ tiêu này thể hiện số ngày bình quân của một chu kỳ nợ Chỉ tiêu càng nhỏ thể hiện tốc độ hoán chuyển các khoản phải thu thành tiền càng nhanh, điều này cho thấy việc thu hồi công nợ là tốt, doanh nghiệp i bị khách hàng chiếm dụng vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động được nguồn vốn đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi Tuy nhiên số ngày trung bình để thu được các khoản phải thu sẽ có ý nghĩa hơn nếu biết được kỳ hạn tín dụng của doanh nghiệp áp dụng chung hoặc riêng cho từng khách hàng

Ngoài các chỉ tiêu ở trên chúng ta cần xem xét đến các chỉ tiêu phản ánh mức độ bảo đảm nợ và có thêm công cụ để phân tích về khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Hệ số bảo đảm nợ dài hạn

Đây là chỉ tiêu biểu hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ giá trị tài sản dài hạn với nợ dài hạn Chỉ tiêu phân tích:

Kdh = Tài sản dài hạnNợ dài hạnDựa vào chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành chúng ta biết được khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn dựa trên tài sản ngắn hạn thì chỉ tiêu này giúp chúng ta xem xét được khả năng trả nợ dài hạn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng lớn thì càng chứng tỏ khả năng thanh toán nợ dài hạn của doanh nghiệp tốt, hoạt động tài chính của doanh nghiệp là khả quan và lành mạnh

Tỷ lệ lãi thuần trả lãi vay

Chỉ tiêu phân tích:

Tỷ lệ lãi thuần trả lãi vay = Lợi nhuần thuần sau thuế

Trang 11

Chi phí lãi vayChỉ tiêu tỷ lệ lãi thuần trả lãi vay biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận thuần sau thuế thu nhập doanh nghiệp với chi phí trả lãi vay của doanh nghiệp Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ khả năng thanh toán ngắn hạn trả lãi vay củ doanh nghiệp rất khả quan Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 chứng tỏ khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp đang gặp khó khăn, doanh nghiệp không đủ khả năng trả lãi vay từ lợi nhuận thu về của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Phương pháp phân tích

Phương pháp chi tiết

Gồm có các trường hợp sau:

Chi tiết theo thời gian: để đánh giá sự biến động, xu thế của chỉ tiêu phân tích.Chi tiết theo không gian: để đánh giá mức đóng góp của các bộ phận kinh doanh trong kết quả tổng hợp của cả công ty

Chi tiết theo yếu tố cấu thành: để đánh giá yếu tố biến động của các yếu tố cấu thành

Phương pháp so sánh

Ta sử dụng phương pháp này để đánh giá kết quả, xác định vị trí, xu hướng của chỉ tiêu cần phân tích Ta cần so sánh cả về lượng tuyệt đối cũng như số tương đối

Phương pháp loại trừ

Phương pháp này được sử dụng để xác định xu thế, mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chỉ tiêu phân tích khi loại trừ ảnh hưởng của các chỉ tiêu còn lại Phương pháp này gồm hai phương pháp cụ thể là Phương pháp thay thế liên hoàn và Phương pháp số chênh lệch

Phương pháp liên hệ cân dối

Đây là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế khi tồn tại mối quan hệ cân bằng giữa hai mặt của các yếu tố, quá trình kinh doanh

Nguồn thông tin sử dụng

Để có thể tiến hành phân tích ta cần phải có dữ liệu, vậy thu thập dữ liệu để phân tích ta thường thu thập từ các nguồn chính sau đây:

Thông tin từ hệ thống kế toán

Thông tin từ hệ thống kế toán cung cấp là thông tin cơ bản nhất cho công tác phân tích Kế toán sẽ cung cấp thông tin ban đầu cho người sử dụng và tùy vào mục đích phân tích mà người phân tích sẽ dựa vào số liệu ban đầu, tìm hiểu nguyên nhân từ đó đề

ra các định hướng hoạt động và các giải pháp thực hiện các định hướng đó

Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là nguồn cung cấp thông tin cơ bản nhất về tài sản và nguồn vốn tại một thời điểm nào đó, thường là cuối năm Ta có thể dựa vào bảng cân đối kế toán để tìm hiểu kĩ hơn về tình hình các khoản nợ của công ty kể cả khoản phải thu cũng như nợ phải trả trong ngắn hạn và dài hạn, biết được khả năng thanh toán của công ty, tình hình nợ khó đòi… Điều này rất quan trọng đối với những người quan tâm đến tình hình tài chính của công ty, giúp họ có các quyết định trong điều hành hoạt động kinh doanh, đầu tư, cho vay Để có thể nắm rõ hơn tình hình hoạt động kinh doanh của công

ty bên cạnh sử dụng bảng cân đối kế toán ta còn sử dụng đến Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Thuyết minh báo cáo tài chính và các báo cáo kế toán khác mà bộ máy kế toán của công ty cung cấp

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Để phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán ta sử dụng một số chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu,… để có cài nhìn tổng quan hơn về tình hình công nợ, xem xét tính cân đối phù hợp trong sự biến động của doanh thu và các chỉ tiêu khác như khoản phải thu, thuế phải nộp…

Trang 12

Thuyết minh báo cáo tài chính và các báo cáo kế toán nội bộ khác

Để phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán ta sử dụng một số chỉ tiêu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh như doanh thu,… để có cài nhìn tổng quan hơn về tình hình công nợ, xem xét tính cân đối phù hợp trong sự biến động của doanh thu và các chỉ tiêu khác như khoản phải thu, thuế phải nộp…

Các nguồn thông tin khác

Bên cạnh việc sử dụng các thông tin do kế toán trong công ty cung cấp người phân tích còn sử dụng các thông tin từ các nguồn khác để có cái nhìn đa chiều, có nhận định đúng đắn và khách quan hơn Các nguồn thông tin này có thể là từ sách báo, tạp chí chuyên ngành có liên quan, tạp chí kế toán, các thông tin từ các website uy tín, thông tin từ các ngân hàng có liên quan đến công ty… để có các thông tin chung về nền kinh tế, thuế, tiền tệ, ngành nghề kinh doanh của công ty, thông tin về pháp luật, doanh nghiệp Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình công nợ và khả năng thanh toán trong doanh nghiệp

Các nhân tố bên trong

Bao gồm các nhân tố thuộc về doanh nghiệp, nằm trong chính bản thân doanh nghiệp và doanh nghiệp có khả năng tác động lên để thay đổi Các nhân tố bên trong bao gồm các nhân tố chính sau:

Cơ cấu tổ chức quản lý

Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp là hệ thống các mối quan hệ quy định quyền hạn và nghĩa vụ riêng lẻ và tác động qua lại của các bộ phận, cá nhân với nhau Cơ cấu tổ chức quy định rõ nguồn lực và nguồn nhân lực để thực hiện nhiệm vụ nhất định Một cơ cấu tổ chức hợp lý sẽ giúp các bộ phận và các cá nhân trong doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, hiểu rõ quyền hạn cũng như nhiệm vụ của mình trong doanh nghiệp từ đó thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, giúp tổ chức bộ máy quản lý không cồng kềnh, mỗi một bộ phận và các nhân đều giữ vai trò riêng trong doanh nghiệp và là mắt xích không thể thiếu trong mối quan hệ này Đối với tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp liên quan đến nhiều bộ phận và cá nhân trong doanh nghiệp: từ cấp cao như Hội đồng quản trị, tổng giám đốc phê duyệt các hợp đồng mua bán lớn, các chính sách kế hoạch mua bán hàng hóa, các biên bản xử lý công nợ khó đòi đến các bộ phận, phòng ban có liên quan như phòng kế toán, kinh doanh, quản lý công nợ và từng cá nhân có liên quan trực tiếp đến vấn đề này Cơ cấu tổ chức quản lý xác định cụ thể tình hình phân cấp quản lý tài chính trong doanh nghiệp: quy định rõ ràng hạn mức bán chịu đối với từng loại khách hàng, tổng số dư nợ được phép thực hiện đối với từng khách hàng hay toàn bộ các khách hàng, thẩm quyền ký duyệt trong hạn mức giá trị hợp đồng là bao nhiêu, quy định thẩm quyền thanh toán trong một mức nhất định cho các cá nhân cụ thể, Cơ cấu tổ chức quản lý càng hợp lý thì càng đem lại hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Yếu tố lao động

Trong các nguồn lực của doanh nghiệp yếu tố lao động là một yếu tố quan trọng, quyết định lớn đến kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Để quản lý tốt tình hình công nợ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp thì đòi hỏi đội ngũ nhân viên có trình độ cao, có khả năng theo dõi, tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình công nợ và có các biện pháp hiệu quả để đảm bảo tốt tình hình công nợ và khả năng thanh toán, lành mạnh tình hình công nợ cũng như tình hình tài chính, đảm bảo khả năng thanh toán tốt

Chính sách bán hàng và quản lý công nợ

Trong suốt quá trình hoạt động của mình doanh nghiệp đã đưa ra nhiều chính sách nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Riêng đối với vấn đề công nợ và khả năng thanh toán cũng cần có những chính sách cụ thể và hợp lý để thúc đẩy tình hình bán hàng, tăng lợi nhuận, quản lý tốt công nợ và đảm bảo khả năng thanh toán Ở mỗi doanh nghiệp khác nhau thì đề ra các chính sách khác nhau nhưng đều tập trung vào các việc chính như: đối

Trang 13

với haotj động bán hàng cần có các chính sách bán hàng hợp lý để thu hút khách hàng, thực hiện tốt từ khâu tìm hiểu nhu cầu khách hàng đến khi cung cấp hàng hóa hay dịch vụ đảm bảo khách hàng mua được hàng đúng nhu cầu với giá cả và chất lượng tốt nhất, bên cạnh đó doanh nghiệp cần áp dụng linh hoạt các chính sách quảng cáo, khuyến mãi, quan tâm đến các chinh sách bán chịu, chiết khấu cho khách hàng; đối với hoạt động mua hàng cần quy định rõ trách nhiệm xác định nhu cầu mua, thẩm quyền mua và ký duyệt, thường xuyên cập nhật chính sách giá của nhà cung cấp ; với các chính sách mua và bán hàng hợp lý và hiệu quả sẽ tác động đến tình hình công nợ của doanh nghiệp và doanh nghiệp cũng cần có các chính sách quản lý công nợ cụ thể trong đó quan trọng nhất phải xác định được hạn mức và thẩm quyền bán chịu, quy định rõ tỷ lệ nợ quá hạn nợ khó đòi phải thu của khách hàng và tỷ lệ nợ vay ngân hàng, có các chính sách thúc đẩy thu hồi công nợ và hạn chế sự phát sinh của công nợ khó đòi mới, và các quy định về xử lý công nợ tồn đọng.

Nguồn vốn của doanh nghiệp

Doanh nghiệp muốn tồn tại và duy trì hoạt động của mình cần có nguồn vốn

thường xuyên và tạm thời đủ lớn Nguồn vốn doanh nghiệp có thể huy động được bằng nhiều cách thức khác nhau với chi phí sử dụng vốn cũng khác nhau nhưng đều nhằm huy động được một nguồn vốn ổn định đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra bình thường Một nguồn vốn tốt, cơ cấu vốn hợp lý sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo tính độc lập tương đối với các chủ nợ, khả năng tự chủ về tài chính tốt, đảm bảo cân bằng tài chính trong ngắn hạn và dài hạn, có khả năng trang trải các khoản nợ đến hạn Hoạt động tài chính tốt sẽ có khả năng thanh toán dồi dào, giảm công nợ, vốn kinh doanh ít bị chiếm dụng cũng như có thể tận dụng được nguồn vốn chiếm dụng từ các cá nhân và tổ chức khác Ngược lại nếu hoạt động tài chính không tốt sẽ dẫn đến tình hình công nợ khó đòi cao, khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thấp, các khoản công nợ kéo dài Doanh nghiệp cũng cần chú ý giữ gìn và nâng cao uy tín trong thanh toán các khoản nợ phải trả đến hạn, nâng cao cái nhìn tốt đẹp về doanh nghiệp từ phía các đối tác làm ăn các chủ nợ và các nhà đầu tư Điều này giúp doanh nghiệp dễ dàng huy động vốn hơn khi cần mở rộng hoạt động kinh doanh của mình

Bên cạnh các nhân tố bên trong thì còn có các yếu tố bên ngoài phạm vi của doanh nghiệp ảnh hưởng đến tình hình công nợ và khả năng thanh toán Các nhân tố bên ngoài chủ yếu gồm các nhân tố sau:

Các nhân tố bên ngoài

Khách hàng

Khách hàng của doanh nghiệp bao gồm nhiều thành phần khác nhau từ các cá nhân đến các tổ chức, từ các doanh nghiệp nhà nước đến các tổ chức kinh doanh ngoài nhà nước và với mục đích khác nhau, có khách hàng mua về để sử dụng hay được cung cấp dịch vụ, có khách hàng mua về để bán lại Nhưng tóm lại doanh nghiệp nào cũng cần xác định được các khách hàng và nhu cầu của họ để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng, tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp Dựa vào nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp xây dựng các chiến lược và kế hoạch kinh doanh phù hợp Khách hàng của doanh nghiệp bao gồm nhiều thành phần khác nhau và tình hình tài chính của họ cũng khác nhau, có nhiều khách hàng có thể muốn doanh nghiệp bán sản phẩm, hàng hóa, hay cung cấp dịch vụ nhưng không phải khách hàng nào cũng đủ khả năng thanh toán Chính vì vậy để đảm báo quyền lợi của mình, tránh rủi ro khách hàng không thanh toán được nợ khi bán hàng doanh nghiệp cần điều tra để nắm bắt rõ thông tin về khách hàng của mình nhất là khả năng thanh toán từ đó ra quyết định chấp nhận hay từ chối bán hàng, nếu chấp nhận thì phải xác định bán thu tiền ngay hay bán chịu với hạn mức bán chịu xác định

Nhà cung cấp

Trang 14

Trong công nợ phải trả thì khoản phải trả cho nhà cung cấp thường chiếm tỷ trọng lớn nhất nên mối quan hệ giao dịch giữa doanh nghiệp và các nhà cung cấp là rất quan trọng Các nhà cung cấp sẽ cung ứng các yếu tố đầu vào như: nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, máy móc, thiết bị, dịch vụ cho doanh nghiệp để doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Ngược lại doanh nghiệp sẽ thanh toán cho các yếu tố đã mua từ nhà cung cấp, là khách hàng của nhà cung cấp Mối quan hệ tác động qua lại này ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của doanh nghiệp nên doanh nghiệp cần duy trì quan hệ lâu dài, thường xuyên và tốt đẹp với một số nhà cung cấp quan trọng Các nhà cung cấp này sẽ cung ứng cho doanh nghiệp những yếu tố doanh nghiệp cần đặc biệt trong những tình huống khó khăn như khi khan hiếm yếu tố đầu vào Lựa chọn nhà cung cấp là một nhiệm vụ quan trọng, doanh nghiệp cần chọn được nhà cung cấp sao cho họ có thể cung ứng được những yếu tố mà doanh nghiệp cần, đúng số lượng, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, với giá cả tốt nhất, và với thời hạn tín dụng mua chịu mà doanh nghiệp có thể đáp ứng được Duy trì quan hệ thân thiết với một số nhà cung cấp cố định và giữ tốt uy tín trong thanh toán giúp doanh nghiệp có thể mua hàng với thời hạn mua chịu lâu hơn nên có khả năng chiếm dụng vốn tạm thời từ nhà cung cấp nhiều hơn Tuy nhiên doanh nghiệp cũng nên thường xuyên tìm kiếm các nhà cung cấp mới để được hưởng những chính sách mua hàng ưu đãi hoặc mua được hàng hóa, dịch vụ với giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn, tận dụng tối đa cơ hội từ các nhà cung cấp.

Đối thủ cạnh tranh

Trong môi trường kinh doanh như hiện nay luôn tồn tại những doanh nghiệp khác cùng kinh doanh trong một lĩnh vực với doanh nghiệp, họ là các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Chính vì cùng hoạt động trên một lĩnh vực kinh doanh, cung cấp mặt hàng, dịch vụ tương tự nhau nên sẽ tồn tại sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp và các đối thủ cạnh tranh Để thu hút khách hàng doanh nghiệp cần thực hiện các chính sách bán hàng ưu đãi như: giảm giá, khuyến mãi, cải tiến chất lượng mẫu mã sản phẩm hàng hóa, gia tăng hạn mức bán chịu nhất là khi đối thủ cạnh tranh có các chính sách tốt hơn của doanh nghiệp Nhưng thực hiện các chính sách ưu đãi này doanh nghiệp cũng nên tính toán hiệu quả mà nó đem về, thực hiện các kế hoạch và chính sách phải được cân nhắc kỹ càng như không nên để thu hút nhiều khách hàng quá bằng cách bán chịu quá nhiều với thời hạn lâu sẽ làm nợ phải thu phát sinh lớn và tồn lâu, nguồn vốn bị đơn vị khác chiếm dụng, làm tiền thu về ít, khả năng thanh toán tức thời và nhanh bị ảnh hưởng không tốt

Một số yếu tố khác

Ngoài các nhân tố trên thì nhân tố môi trường kinh tế, chính trị, xã hội cũng có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính của doanh nghiệp như: chính sách tiền tệ của nhà nước, lãi vay ngân hàng, những biến động trên thị trường thế giới Doanh nghiệp phải

tổ chức, huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp

Trang 15

PHẦN 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÔNG NỢ VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY CP KIM KHÍ MIỀN TRUNG

A Giới thiệu về công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Giới thiệu sơ lược về Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Quá trình thành lập và phát triển của công ty CP Kim Khí Miền Trung

Quá trình thành lập

Năm 1995 công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung được hình thành từ hai công ty là: công ty kim khí Đà Nẵng và công ty vật tư thứ liệu Đà Nẵng Để đáp ứng yêu cầu kinh doanh trong môi trường ngày càng phức tạp và cạnh tranh, tạo một lợi thế vững đủ sức cạnh tranh trên thị trường nên ngày 20/12/1994 Bộ Công nghiệp đã ban hành quyết định số 1065 QĐ/TCCBĐT về việc sáp nhập hai công ty trên thành một công ty lấy tên

là: công ty kim khí và vật tư tổng hợp miền Trung Công ty đi vào hoạt động ngày

01/01/1995 theo giấy phép kinh doanh số 109669 của Ủy ban kế hoạch tỉnh Quảng

Nam-Đà Nẵng cấp ngày 29/12/1994

Năm 2004, công ty được đổi tên thành công ty Kim khí Miền Trung theo quyết

định số 221/QĐ-TTC ngày 10/02/2004 của Hội đồng quản trị Tổng công ty thép Việt Nam và giữ nguyên tên gọi này tới thời điểm cổ phần hoá

Ngày 30/09/2005 Bộ Công nghiệp ra quyết định số 3088/QĐ-BCN về việc phê

duyệt phương án chuyển công ty Kim khí Miền Trung thành công ty cổ phần Kim khí

Miền Trung Ngày 01/01/2006 công ty được cổ phần hoá và đi vào hoạt động dưới hình

thức công ty cổ phần theo giấy phép kinh doanh số 3203000847 do Sở kế hoạch và đầu

tư Đà Nẵng cấp ngày 28/12/2005 Đây là bước ngoặt đánh dấu một mốc chuyển đổi quan trọng trong lịch sử hoạt động Công ty, tạo thế chủ động cho Công ty trên con

đường hội nhập và phát triển

Tên doanh nghiệp : Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Tên giao dịch tiếng Anh: Central Vietnam Metal Corporation – CEVIMETAL.Trụ sở chính đặt tại : 16 Thái Phiên, Quận Hải Châu, Thành Phố Đà Nẵng

Quá trình phát triển

Những ngày đầu khi mới đi vào hoạt động công ty đã gặp rất nhiều khó khăn Sau khi sát nhập công ty hoạt động với cơ cấu tổ chức mới, số lượng công nhân viên nhiều chất lượng không đồng đều và nhất là trong thời kỳ đất nước chuyển mình theo cơ chế thị trường càng khiến công ty khó khăn hơn trong việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của mình Với sự giúp đỡ của Tổng công ty thép Việt Nam, sự đoàn kết của đội ngũ cán bộ công nhân viên, chủ trương chính sách hợp lý của ban lãnh đạo, tận dụng tốt nguồn vốn từ việc sát nhập công ty từng bước vượt qua khó khăn để ổn định và phát triển Công ty đã xây dựng và đưa vào hoạt động Nhà máy cán thép với công suất 20.000 – 30.000 tấn/năm

Sau khi cổ phần hóa công ty đã có nhiều thay đổi cơ bản về cấu trúc tổ chức và một số chức năng cơ bản Hiện nay công ty đã có địa bàn tiêu thụ rộng lớn, ngoài Văn phòng công ty còn có 13 Đơn vị trực thuộc trải rộng trên khắp cả ba miền của đất nước,

Trang 16

hoạt động theo sự phân cấp và ủy quyền của công ty, là cầu nối tin cậy giữa khách hàng với ngành công nghiệp Thép Việt Nam và thế giới Nhờ có hệ thống các đơn vị trực thuộc rộng khắp và sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt, công ty luôn thực hiện đầy đủ

và kịp thời các cam kết với khách hàng và đã tạo được uy tín và vị thế trong hoạt động kinh doanh sắt thép trong và ngoài nước Công ty ngày càng phát triển, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống cho đội ngũ cán bộ công nhân viên, đóng góp ngày càng nhiều vào ngân sách của Nhà nước

Công ty cổ phần Kim khí Miền Trung hiện đang áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng phù hợp ISO 9001:2000 (Tổ chức SGS - Anh Quốc chứng nhận) sản phẩm thép miền Trung thương hiệu “MT” của công ty đã nhận được các giải thưởng Sao vàng Đất Việt và Cúp vàng Đà Nẵng năm 2004

Năm 2007 và 2008 Công ty Cổ phần kim khí Miền Trung được xếp hạng trong Top 500 Doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam do báo điện tử VietNamNet kết hợp với Công

ty Cổ phần Báo cáo đánh giá Việt Nam (VietNam Report) công bố

Chức năng và nhiệm vụ của công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Chức năng

- Tổ chức kinh doanh, xuất nhập khẩu các mặt hàng kim khí phôi thép, phế liệu kim loại, thép xây dựng dân dụng và công nghiệp Kinh doanh, xuất nhập khẩu kim khí; Đầu tư kinh doanh khách sạn, văn phòng cho thuê và chung cư cao tầng Kinh doanh dịch vụ cho thuê kho bãi

- Cung cấp thép xây dựng các loại cho các công trình

- Đại lý phân phối sản phẩm cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước

1.1.1 Nhiệm vụ

- Tổ chức kinh doanh các mặt hàng theo chức năng của công ty, tiếp nhận hàng hóa của công ty trực thuộc tại Đà Nẵng và các nơi khác, kinh doanh có lợi nhuận ngày càng cao

- Tiếp nhận và sử dụng vốn từ tổng công ty thép cấp có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn; đồng thời huy động vốn kịp thời và hợp lý từ các nguồn khác Điều tra nghiên cứu thị trường nắm bắt được nhu cầu về sử dụng thép xây dựng và các hàng hóa cùng loại để có chính sách bán hàng và dự trữ hàng thích hợp Dự báo và thông tin nhanh về nhu cầu sử dụng các mặt hàng kim khí ở khu vực miền Trung – Tây Nguyên

- Xây dựng các kế hoạch ngắn hạn, trung hạn và dài hạn trình lên cấp trên – tổng công ty thép Việt Nam để được phê duyệt và tiến hành triển khai kế hoạch được duyệt

- Duy trì và cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng có hiệu quả dựa theo nền tảng tiêu chuẩn chất lượng ISO 9001:2000 Không ngừng nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ công nhân viên, đào tạo bổ sung các kỹ năng cho nhân viên, nâng cao trình độ quản lý để kế thừa và phát huy năng lực hiện có, đáp ứng yêu cầu kinh doanh ngày càng khó khăn, phức tạp

- Thực hiện tốt các chính sách, các quy định và tổ chức quản lý cán bộ, sử dụng lao động, bảo vệ tài sản, an ninh chính trị nội bộ, xã hội, chấp hành mọi quy định của pháp luật với hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo vệ môi trường

Thông tin chung về tình hình hoạt động của công ty CP Kim Khí Miền Trung

Thông tin chung về kết quả kinh doanh trong thời gian gần đây: (ĐVT: triệu đồng)Chỉ

Vốn

điều lệ

Trang 17

22,1%

18,9%

1123438

60,9%

18,5%

20,6%

1183239

62,5%16,9%20,6%

44,2%

55,8%

100%

96137233

41,2%

58,8%

100%

82151233

35,2%64,8%100%

Ngày 10/8/2009, cổ phiếu công CP Kim Khí Miền Trung (mck: KMT) chính thức được đưa vào giao dịch trên thị trường UPCoM và trở thành cổ phiếu thứ 13 trên thị trường Với khối lượng ĐKGD 8.870.885 cổ phiếu tương ứng vốn điều lệ 88,708 tỷ đồng, công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung đã nâng quy mô đăng ký giao dịch trên thị trường UPCoM lên hơn 171 triệu cổ phiếu Tỷ lệ cổ tức dự kiến năm 2009 là 7%

Đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức công tác kế toán tại công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Sơ đồ bộ máy quản lý

Đại hội đồng cổ đông

Hôi đồng quản trị

Tổng giám đốc

GĐ chất lượngCác phó tổng giám đốc

Phòng

KTTC

Phòng XNK

Trang 18

Chú thích: Quan hệ chỉ đạo

Quan hệ chất lượng

Quan hệ phối hợp

Quan hệ kiểm soát

Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận

Đại hội đồng cổ đông: là cơ quan có thẩm quyền cao nhất của công ty bao gồm tất

cả các cổ đông có quyền bỏ phiếu hoặc người được cổ động ủy quyền

Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý công ty gồm 05 thành viên do Đại hội đồng

cổ đông bầu hoặc bãi nhiệm Mỗi thành viên trong hội đồng quản trị có nhiệm kỳ 04 năm Đây là cơ quan có đầy đủ thẩm quyền hạn để thực hiện tất cả các quyền nhân danh công ty trừ những quyền thuộc về Đại hội đồng cổ đông

Tổng giám đốc: Tổng giám đốc chịu trách nhiệm toàn diện trong hoạt động sản

xuất kinh doanh của công ty trước pháp luật và Hội đồng quản trị, trực tiếp quản lý công tác tài chính của công ty Nhiệm vụ và quyền hạn của tổng giám đốc do hội đồng quản trị uỷ nhiệm Nhiệm kỳ của tổng giám đốc là 04 năm Tổng giám đốc chính là người đại diện theo pháp luật của công ty

Ban kiểm soát: là tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất –

kinh doanh, quản trị và điều hành công ty Ban kiểm soát gồm 03 thành viên do Đại hội đồng cổ đông bầu và bãi nhiệm với đa số phiếu bằng hình thức trực tiếp hoặc bỏ phiếu kín, trong đó phải có ít nhất 01 thành viên có chuyên môn về kế toán

Các phó tổng giám đốc: các phó tổng giám đốc của công ty là người tham mưu

cho Tổng giám đốc trong công tác quản trị công ty, xử lý các công việc được giao khi Tổng giám đốc vắng mặt

* Các phòng ban của công ty:

- Phòng kế hoạch kinh doanh: Xây dựng các kế hoạch hàng năm giao cho các đơn

vị, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch của các đơn vị; tổ chức công tác marketing, nghiên cứu thị trường; theo dõi và quản lý các hợp đồng kinh tế của công ty Tham mưu cho Hội đồng quản trị, tổng giám đốc về các lĩnh vực: công tác kinh doanh,

kế hoạch, tổng hợp, thống kê, báo cáo, quản lý các kho hàng hóa Tham mưu cho tổng

giám đốc về các lĩnh vực tổ chức kinh doanh và nghiên cứu thị trường tiêu thụ thép, kim

khí Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các mặt hàng hoạt động có liên quan đến

lĩnh vực kinh doanh đối với các đơn vị trực thuộc công ty Chấp hành luật pháp nhà nước, các quy định của tổng công ty thép Việt Nam và công ty về các lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu thị trường

- Phòng kế toán tài chính: Tiến hành theo dõi ghi chép, kiểm tra, giám sát hoạt

động sản xuất – kinh doanh bằng các nghiệp vụ; chấp hành nghiêm túc chế độ kế toán hiện hành; cung cấp thông tin chính xác, trung thực, kịp thời và đầy đủ để làm cơ sở cho việc định hướng, tăng cường quản lý cho việc sản xuất kinh doanh; tiến hành kiểm tra định kỳ các đơn vị trực thuộc Tham mưu cho cấp trên lĩnh vực kế toán và tài chính

- Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho cấp trên (hội đồng quản trị, tổng giám

đốc) về các lĩnh vực của công tác tổ chức, nhân sự, hành chính, bảo vệ trong toàn công

ty Đảm nhận công tác thi đua khen thưởng, kỷ luật, tuyển dụng, đào tạo nâng bậc

lương, xây dựng kế hoạch tiền lương, kiểm tra phân phối tiền lương, tiên thưởng và các chế độ khác trong toàn công ty

Trang 19

- Phòng đầu tư phát triển: Tham mưu cho cấp trên về các lĩnh vực: công tác đầu

tư phát triển đặc biệt đầu tư vào các dự án, công tác kỹ thuật, công tác xây dựng cơ bản, công tác công nghệ thông tin, công tác quản lý chất lượng (ISO)

- Ban thu hồi công nợ và pháp chế hợp đồng kinh tế: Tham mưu cho cấp trên về

công tác thu hồi công nợ khó đòi, đề xuất các biện pháp xử lý công nợ, công tác pháp chế hợp đồng kinh tế và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng kinh tế

- Phòng xuất nhập khẩu: Tìm hiểu thị trường trong và ngoài nước từ đó xây dựng

các kế hoạch và tổ chức thực hiện phương án kinh doanh xuất nhập khẩu, thực hiện các

hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu khi được ủy thác Tham mưu cho Tổng giám đốc

trong quan hệ đối ngoại, chính sách xuất nhập khẩu theo luật về kinh doanh xuất nhâp khẩu của Việt Nam và quốc tế

- Các đơn vị trực thuộc: Thực hiện chức năng kinh doanh trên cơ sở triển khai các

chiến lược của công ty và các kế hoạch được giao, tiến hành hoạt động kinh doanh độc lập và chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc về kết quả hoạt động của mình

Tổ chức bộ máy kế toán tại công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán

Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung áp dụng mô hình tổ chức hệ thống thông tin kế toán phân tán Với mô hình phân tán bộ máy kế toán của công ty được tổ chức và sắp xếp theo phương thức chỉ đạo chức năng

Quan hệ chức năng

Chức năng và nhiệm vụ của từng phần hành

Kế toán trưởng: là người chịu trách nhiệm trước lãnh đạo công ty và cơ quan nhà

nước về hoạt động kế toán tài chính; có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc ký kết các hợp đồng kinh tế và các vấn đề về tài chính; cùng phòng KHKD tham gia các phương án kinh doanh của công ty; nắm chắc những thay đổi về luật, chế độ, chính sách có liên quan để giải quyết tốt các tình huống phát sinh phù hợp với chế độ kế toán hiện hành

Phó phòng kế toán phụ trách tổng hợp: là người trực tiếp hướng dẫn và đôn đốc

các nhân viên kế toán khác; kiểm tra báo cáo nhanh, báo cáo quyết toán của các đơn vị trực thuộc; lập các báo cáo nhanh về tình hình tài chính theo yêu cầu quản lý; tổng hợp

Kế toán trưởng

PP kế toán phụ

trách tổng hợp

PP kế toán phụ trách công nợ, thuế

và các khoản phải thu

Kế toán tiền mặt

và các khoản thanh toán

Kế toán TSCĐ

Kế toán ngân hàng

Thủ quỹ

Phụ trách kế toán tại các đơn vị trực thuộc

Trang 20

các báo cáo sổ sách của văn phòng công ty kết hợp với các báo cáo của các đơn vị trực thuộc gửi lên để lập các báo cáo tổng hợp.

Phó phòng kế toán phụ trách công nợ và thuế: là người theo dõi, quản lý tình hình

công nợ chung trong công ty; từ đó đề xuất các biện pháp thu hồi công nợ của công ty đối với khách hàng cũng như các khoản công ty cần thanh toán; theo dõi các khoản phải trả Nhà nước, lập báo cáo thuế hàng tháng, quyết toán thuế hàng năm

Kế toán mua hàng và các khoản phải trả: là người theo dõi tổng hợp và chi tiết

hàng mua vào theo mặt hàng, nhà cung cấp, đơn đặt hàng, thanh toán theo VNĐ hay tiền ngoại tệ; tính thuế GTGT của hàng hóa mua vào, đồng thời theo dõi các khoản phải trả và việc thanh toán cho nhà cung cấp; lập các báo cáo về tình hình nhập xuất tồn kho hàng hóa

Kế toán tiền mặt và các khoản thanh toán: là người theo dõi các khoản thanh toán

bằng mặt và các khoản thanh toán qua ngân hàng; kiểm tra đối chiếu với các báo cáo quỹ tại văn phòng công ty và các báo cáo về tiền mặt của các đơn vị trực thuộc gửi lên; đồng thời theo dõi tình hình thanh toán lương và cá khoản trích theo lương, tình hình tạm ứng và thanh toán tạm ứng của cán bộ nhân viên công ty

Kế toán bán hàng và các khoản phải thu: là người theo dõi tổng hợp và chi tiết

tình hình bán hàng; kê khai thuế GTGT đầu ra của hàng hóa đã bán; theo dõi tình hình thanh toán của khách hàng

Kế toán tài sản cố định: là người theo dõi tình hình chung cũng như tình hình biến

động của TSCĐ về nguyên giá, giá trị khấu hao, giá trị còn lại, bộ phận sử dụng, mục đích sử dụng, thanh lý hay sử chữa TSCĐ…

Kế toán ngân hàng: là người có nhiệm vụ giao dịch với ngân hàng, theo dõi tình

hình biến động của tiền gửi và tiền vay của công ty ở các ngân hàng, theo dõi tình hình biến động lãi suất ở các ngân hàng

Thủ quỹ: là người có trách nhiệm thu và kiểm tra thu tiền theo đúng quy định; chi

theo lệnh của được cấp trên duyệt; nộp tiền vào ngân quỹ hằng ngày tránh để tồn quỹ vượt mức quy định; đảm bảo không để mất tiền; có quyền từ chối chi khi chưa có phiếu chi

Kế toán tại các đơn vị trực thuộc: các đơn vị trực thuộc tiến hành sản xuất kinh

doanh theo chỉ đạo thống nhất của công ty Kế toán tại các đơn vị trực thuộc có trách nhiệm thu thập, xử lý, thông tin về các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị mình; hàng quý lập và gửi báo cáo kế toán lên văn phòng công ty

Hình thức sổ kế toán

- Với đặc thù về đặc điểm sản xuất kinh doanh phức tạp, quy mô công ty lớn và tình hình phân cấp tài chính nên công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung đã áp dụng hình

thức Nhật ký - chứng từ Trình tự ghi chép theo hình thức Nhật ký chứng từ

Chứng từ gốc và các bảng phân bổ

Nhật ký chứng từ

Sổ cái

Báo cáo kế toán

Sổ quỹ kiêm báo cáo quỹ

Báo cáo tổng hợp chi tiết

Trang 21

Chú thích: Ghi hàng ngày

Ghi định kỳ vào cuối tháng (cuối quý)Quan hệ đối chiếu, kiểm tra

- Từ năm 2000 công ty đã áp dụng phần mềm kế toán vào công tác kế toán Phần

mềm được lựa chọn và sử dụng là phần mềm kế toán Fast Accounting.

Trình tự ghi sổ kế toán:

Chú thích: Nhập số liệu hàng ngày

In sổ, báo cáo theo yêu cầu

Kiểm tra, đối chiếu trực tiếpPhần mềm kế toán Fast Accounting là phần mềm khá phổ biến và đã được chỉnh sửa phù hợp với đặc điểm kinh doanh của công ty Hằng ngày khi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh kế toán căn cứ vào chứng từ gốc để phản ánh vào phần hành tương ứng của mình Cuối tháng các phần hành kế toán có liên quan sẽ đối chiếu số liệu với nhau, sau đó sẽ in ra các sổ để lưu trữ và lưu trữ trong máy tính Dựa trên số liệu này kế toán tổng hợp sẽ quản trị theo yêu cầu quản lý Cuối mỗi quý công ty sẽ lập báo cáo tài chính cho văn phòng công ty và báo cáo tài chính chung cho toàn công ty Phần mềm kế toán giúp nhân viên kế toán có thể in ra các báo cáo bất kỳ thời điểm nào (trừ những báo cáo liên quan đến việc khóa sổ kế toán) Để đảm bảo thông tin được phản ánh chính xác công ty đã tiến hành các thủ tục kiểm soát trong quá trình ghi sổ như sau: Kế toán các phần hành sẽ tự kiểm tra tính hợp lý, hợp lệ và hợp pháp của các chứng từ gốc; máy vi tính sẽ tự động kiểm tra các thông số do kế toán viên nhập các phần hành vào; cuối mỗi ngày, mỗi tháng kế toán các phần hành có liên quan sẽ đối chiếu số liệu với nhau; kế toán trưởng, kế toán tổng hợp phải kiểm tra lại các số liệu trên các sổ sách, báo cáo trước khi phê duyệt

Đặc điểm hoạt động của Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Đặc điểm hàng hóa, dịch vụ kinh doanh

Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung là một doanh nghiệp hoạt động chủ yếu là thương mại Công ty mua các mặt hàng kim khí trong nước hoặc nhập khẩu từ nước ngoài về để bán cho các đơn vị trực thuộc, các khách hàng khác của công ty Sản phẩm kinh doanh chủ yếu của công ty là các mặt hàng thép xây dựng, phôi thép, thép phế liệu,

- Báo cáo tài chính

- Báo cáo quản trị

Sổ kế toán

- Sổ kế toán tổng hợp

+ Nhật ký chứng từ

+ Bảng kê + Sổ cái

- Sổ kế toán chi tiết + Sổ và thẻ kế toán chi tiết

Trang 22

thép thành phẩm, ngoài ra công ty còn kinh doanh các dịch vụ cho thuê văn phòng và kho bãi Mặt hàng kinh doanh của công ty khá cồng kềnh gây khó khăn trong bốc dỡ, vận chuyển và tốn chi phí kho bãi Mặt hàng kim khí cần được bảo quản tốt nhất là trong điều kiện tồn kho lâu và điều kiện thời tiết khắc nghiệt tránh tình trạng xuống cấp về chất lượng nên tốn chi phí bảo quản lớn Đây cũng là mặt hàng đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng cao nên cần chú ý về mặt chất lượng cũng như giá cả Sau dây là một số thông tin về sản phẩm, hàng hóa thép của công ty:

Thép xây dựng: gồm thép cuộn tròn, thép cây, thép cuộn trơn… do các nhà máy trong nước sản xuất Thép xây dựng từ phi 6 đến phi 32 chiếm chủ yếu trong doanh số bán hàng của công ty Phôi thép: gồm phôi thép chất lượng Q195, 20MnSi,… để phục vụ cho việc cán thép được nhập khẩu chủ yếu từ nước ngoài (Nga, Trung Quốc,…) và một số công ty trong nước ( Công ty thép Đình Vũ…)

Thép cây, thép vằn: gồm các loại như D10-D32 phục vụ cho các công trình dân dụng, xây dựng các công trình yêu cầu khả năng chịu lực cao

Thép phế liệu: gồm phế lon ép bánh, ống cắt,… phục vụ cho các nhà máy sản xuất thép để luyện phôi, chủ yếu được nhập khẩu từ nước ngoài ( Mỹ, Nga,…)

Thép chính phẩm: gồm thép hình chữ U, L, I phục vụ cho công việc gia công cơ khí, các cơ sở đóng tàu, được nhập khẩu từ nước ngoài (Nga, Trung Quốc,…) và một số công ty trong nước ( công ty thép Miền Nam, công ty gang thép Thái Nguyên…)

Đặc điểm các nhà cung cấp

Với bề dày gần 30 năm hoạt động trong lĩnh vực, kinh doanh thép và với khối lượng tiêu thụ bình quân 120.000 Tấn / năm, Công ty hiện là nhà phân phối hàng đầu cho các nhà máy thép trong nước thông qua mạng lưới kinh doanh phân bố khắp cả nước Các nhà cung cấp chính của công ty gồm: Công ty Thép Miền Nam (SSC), Công

ty Liên Doanh Sản xuất Thép VINAUSTEEL (Thép Việt Úc), Công ty Thép VPS (Thép Việt Hàn), Công ty SX Thép Úc - SSE (Thép Úc - SSE), Công ty VINAKYOEI (Thép Việt Nhật), Công ty Gang Thép Thái Nguyên (TISCO), Thép Hoà Phát và một số sản phẩm của các Nhà máy khác

Đặc điểm khách hàng

Công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung là một công ty khá lớn có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp cả nước nên có lượng khách hàng khá đông trên cả ba miền đất nước và được phân thành ba loại khách hàng như sau:

- Khách hàng chính phủ: là đơn đặt hàng của các công ty xây lắp, công trình trọng

điểm của nhà nước như: công trình thuỷ điện Yaly, các công ty xây dựng cầu đường.+ Ưu điểm: Đây là những đơn vị nhà nước nên khi giao dịch, buôn bán có sự bảo lãnh của cơ quan chủ quản, do đó công ty tránh được nợ khó đòi, bán với số lượng lớn+ Nhược điểm: do đặc điểm xây dựng những công trình quốc gia, sau khi hoàn thành mới được nghiệm thu và quyết toán nên thanh toán nợ chậm, dẫn đến tình trạng công ty bị chiếm dụng vốn

- Khách hàng buôn bán: là những khách hàng mua đi bán lại như các công ty tổng

hợp, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hộ tư nhân, khách hàng cá nhân,…

+ Ưu điểm: thường xuyên có quan hệ lâu dài với công ty

+ Nhược điểm: khả năng thanh toán phụ thuộc lớn vào tình hình kinh doanh nên thường diễn ra tình trạng nợ phải thu khách hàng lâu và nợ khó đòi chiếm tỷ trọng lớn

- Khách hàng mua sử dụng: gồm các công ty tư nhân mua để xây dựng công trình

nhỏ, nhà ở, khách hàng cá nhân Vì đây là đối tượng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số bán ra nên công ty chú ý đến việc mở rộng thị trường, đặc biệt là bố trí hợp lý

hệ thống các cửa hàng nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn loại khách hàng này, tăng doanh số cũng như doanh thu bán hàng

Các chính sách về quản lý công nợ

Trang 23

Do đặc điểm hàng hóa kinh doanh, đặc điểm khách hàng nên công ty cần có các chính sách cụ thể để quản lý công nợ tránh thát thoát vốn Để quản lý công nợ Hội đồng quản trị lưu ý Tổng giám đốc phải chỉ đạo quyết liệt việc đôn đốc, thu hồi, xử lý công nợ, đồng thời chấn chỉnh công tác quản lý không để phát sinh các công nợ khó đòi mới không có khả năng thu hồi làm thất thoát vốn Định kỳ hàng tháng tổng giám đốc phải báo cáo tình hình công nợ cho Hội đồng quản trị.

- Đối với nợ phải thu khách hàng: Công ty quy định mức dư nợ phải thu khách hàng dựa trên một mức phù hợp giữa tổng dư nợ và tổng doanh thu đảm bảo đạt được các mục tiêu kinh doanh và tưng bước lành mạnh hóa tình hình tài chính của công ty.Tỷ lệ nợ quá hạn, nợ khó đòi phải thu khách hàng: hằng năm phải có kế hoạch, biện pháp rút ngắn tỷ lệ này, yêu cầu mức thực hiện của năm sau phải tốt hơn năm trước ít nhất là 10% Không để phát sinh công nợ khó đòi mới, riêng đối với các công nợ khó đòi cũ phải thực hiện giảm theo kế hoạch từng quý, năm của Hội đồng quản trị

- Đối với nợ vay ngân hàng: tổng nợ vay ngân hàng không được vượt quá thẩm quyền theo quy định của điều lệ công ty

* Phân loại công nợ: để dễ dàng trong quá trình quản lý công nợ công ty phân loại công nợ như sau:

- Nợ luân chuyển: là nợ còn nằm trong thời gian thỏa thuận của hợp đồng

- Nợ quá hạn: là nợ đã quá thời hạn thanh toán nhưng dưới 30 ngày so với thỏa thuận trong hợp đồng

- Nợ khó đòi: là nợ quá hạn trên 30 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán, đã đòi nhiều lần nhưng chưa đòi được hoặc có dấu hiệu diễn biến xấu

Các khoản nợ khó đòi cần được lập lên danh sách để gửi về phòng kế toán theo dõi, tiến hành khiếu kiện, khiếu nại theo quy định

Đặc điểm phân cấp tài chính ở công ty cổ phần Kim Khí Miền Trung

Tình hình phân cấp tài chính của công ty thể hiện rõ nét nhất trong các quy bán hàng, thanh toán tiền hàng và quản lý các khoản công nợ giữa công ty với các đơn vị trực thuộc Vì thế cần tăng cường công tác quản lý và thu hồi công nợ, đảm bảo hạ thấp

tỷ lệ nợ trên doanh số bán hàng Điều kiện để giám đốc chi nhánh, giám đốc xí nghiệp, giám đốc nhà máy, cửa hàng trưởng thực hiện phân cấp bán trả chậm của công ty:

- Điều kiện 1: khách hàng mua trả chậm phải có tài sản thế chấp hoặc có sự bảo

lãnh của ngân hàng để đảm bảo cho việc thanh toán

- Điều kiện 2: Nếu khách hàng không đủ điều kiện 1 thì Tổng giám đốc công ty

giao uỷ quyền cho giám đốc chi nhánh, giám đốc xí nghiệp, giám đốc nhà máy, cửa hàng trưởng được phép thẩm định uy tín và khả năng thanh toán của khách hàng để quyết định cho việc bán hàng trả chậm hay không Mọi thất thoát tiền hàng bán trả chậm

ở điều kiện 1, 2 điều phải tự đền bù bằng tài sản cá nhân của người ra quyết định

Việc bán hàng trả chậm được thực hiện khi khách hàng chấp nhận thanh toán lãi vay cho chi phí sử dụng vốn của công ty trong thời gian trả chậm Chi phí sử dụng vốn này phải được ghi rõ trong hợp đồng hay biên bản thoả thuận

Công ty nghiêm cấm các đơn vị cửa hàng của công ty cùng bán trả chậm cho một khách hàng thuộc diện tư nhân Để thực hiện điều này, hàng tháng phòng Kế toán – tài chính thống nhất với phòng kinh doanh thị trường thông báo danh sách các khách hàng thuộc diện nói trên và chỉ định cho một đơn vị, cửa hàng được quan hệ mua bán theo hạn mức tối đa cho phép bán trả chậm Các đơn vị khác không dược chỉ định thì không được phép bán trả chậm cho các đơn vị nói trên

Trang 24

B Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của công ty cổ

phần Kim Khí Miền Trung

Đánh giá khái quát về hoạt động kinh doanh và tình hình tài chính của công ty cổ phần

kim khí Miền Trung

Tình hình tài sản của công ty

Ta có bảng tỷ lệ tài sản trong tổng tài sản như sau: (Đvt: Đồng)

Tổng tài sản của công ty biến động tăng mạnh vào năm 2007 nhưng sau đó lại

giảm vào năm 2008 Nhìn vào bảng ta thấy tài sản ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong

tổng tài sản, luôn trên 70% tổng tài sản Tài sản của công ty giảm năm 2008 chủ yếu do

tài sản ngắn hạn giảm

Vào thời điểm quý II/2009 thì tài sản ngắn hạn của công ty là 140.135.591.148

đồng chiếm 72,29% tổng tài sản, tăng lên so với thời điểm cuối năm 2008; tài sản dài

hạn là 53.703.436.734 đồng tương ứng chiếm 27,71% tổng tài sản Cả hai loại tài sản

đều tăng so với cuối năm 2008 nhưng tốc độ tăng của tài sản ngắn hạn nhanh hơn tài sản

Tổng

nguồn vốn

185.448.942.984

9

5Tổng nguồn vốn của công ty tăng mạnh vào năm 2007 nhưng lại giảm vào năm

2008 tỷ trọng nợ phải trả tăng nhẹ vào năm 2007 nhưng lại giảm mạnh vào năm 2008

Vốn chủ sở hữu có xu hướng tăng và tăng rất mạnh vào năm 2008 do phát hành cổ

phiếu

Vào thời điểm quý II/2009 nợ phải trả của công ty là 87.460.967.810 đồng tương

ứng chiếm 45,12% tổng nguồn vốn và nguồn vốn chủ sở hữu là 106.387.060.072 đồng

(chiếm 54,88% tổng tài sản) Sau 3 năm vốn chủ sở hữu tăng thì vào quý II/2009 giảm

nhẹ do giảm lợi nhuận chưa phân phối, sự gia tăng nợ phải trả vào thời điểm này kéo

theo tỷ trọng nợ phải trả tăng cao trong tổng nguồn vốn so với năm 2008 Nợ ngắn hạn

vào quý II/2009 tăng mạnh chủ yếu do sự gia tăng của các khoản vay và nợ ngắn hạn

Phân tích tình hình công nợ

Phân tích tình hình công nợ phải thu

Trang 25

BẢNG PHÂN TÍCH CÁC KHOẢN PHẢI THU (Đvt: Đồng)C

hỉ tiêu Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008

26.111.790.156

Trang 26

5 Các khoản phải thu khác 22.261.133.668 12,00 465.414.377 0,19 5.663.321.833 3,22

6 Dự phòng các khoản phải thu

4 Phải thu dài hạn khác 1.735.841.211 0,94 802.085.763 0,33 567.361.533 0,32

C Tổng khoản phải thu 84.203.127.789 45,41 93.952.618.39

Trang 27

Nhìn bảng phân tích tỷ lệ khoản phải thu trong tổng tài sản ta thấy được tình hình biến động của tỷ lệ này Tỷ lệ tổng khoản phải thu trên tổng tài sản có xu hướng giảm dần, trong năm 2006 là 45,41%, năm 2007 là 38,67 % và trong năm 2008 chỉ còn

32,57% Điều này phản ánh tình hình tốt của các khoản phải thu, tỷ lệ tổng khoản phải thu trong tổng tài sản không quá cao, nguồn vốn bị chiếm dụng của công ty giảm đi, tỷ

lệ vốn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh thực chất tăng lên Để đạt được kết quả này là do tốc độ tăng của tổng khoản phải thu bé hơn tốc độ tăng của tổng tài sản, năm 2007 tổng khoản phải thu tăng 9.749.490.609 đồng trong khi tổng tài sản tăng lên 57.487.685.845 đồng so với năm 2006, năm 2008 tổng khoản phải thu giảm đi 36.818.081.247 so với năm 2007 và tổng tài sản giảm 66.981.029.364 đồng

Tốc độ tăng của tổng khoản phải thu năm 2007 so với năm 2006 chỉ là 11,58% trong khi đó tốc độ tăng của doanh thu thuần là 27,28% Ta có thể thấy được doanh thu của công ty đã tăng mạnh trong năm 2007 do hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả (đạt 107,5% so với kế hoạch được đề ra năm 2007) nhưng các khoản phải thu tăng không tương ứng chứng tỏ công ty đã quản lý tốt công tác thu hồi các khoản phải thu hạn chế phát sinh các khoản phải thu dài hạn, đặc biệt là các khoản phải thu khách hàng Năm 2008 tốc độ tăng của doanh thu là 15,63% nhưng tốc độ tăng của tổng các khoản phải thu lại giảm 39,19% so với năm 2007, về mặt giá trị các khoản phải thu cũng giảm mạnh và giảm 36.818.081.247 so với năm 2007 Công ty đã quản lý tốt tình hình thu hồi các khoản phải thu trong 3 năm gần đây Phân tích cụ thể như sau:

* Năm 2007:

- Các khoản phải thu ngắn hạn tăng 19.339.196.231 đồng so với năm 2006 tương ứng tăng 31,6 % chủ yếu do sự tăng mạnh mẽ của các khoản phải thu khách hàng ngắn hạn Trong đó:

+ Phải thu khách hàng ngắn hạn tăng 9.013.841.654 đồng so với năm 2006 tương ứng tăng 22,82% Có sự tăng mạnh mẽ như vậy là do dự đoán tình hình biến động thất thường của giá cả cuối năm 2007 đầu năm 2008 nên nhiều khách hàng của công ty đã mua hàng hóa của đơn vị vào những tháng cuối năm 2007 và chưa thanh toán kịp, đây là khoản tăng mang tính chất thời điểm, nhưng điều này cũng phản ánh công ty chưa thực hiện tốt khâu kiểm soát thanh toán của khách hàng, vốn của công ty bị khách hàng chiếm dụng nhiều vào thời điểm cuối năm, điều này sẽ khiến cho người sử dụng các báo cáo tài chính của công ty có cái nhìn không chính xác về tình hình tài chính của công ty Nhưng xét đến tốc độ tăng của doanh thu thuần đạt đến 27,28% thì ta thấy công ty đã cố gắng trong công tác thu hồi nợ, giảm ứ đọng vốn

+ Trả trước cho người bán 36.624.521.956 đồng tương ứng tăng 239.484% so với năm 2007 Nguyên nhân là do cuối năm 2007 phát sinh nhiều nghiệp vụ trả trước cho người bán, hàng hóa mua chưa về nhập kho nhiều, có sự gia tăng đột biến khoản mục này vì:

s Công ty dựa vào tình hình giá cả mặt hàng thép biến động thất thường trên thị trường vào trong năm 2007 và đầu năm 2008 Công ty dự đoán rằng giá cả mặt hàng thép sẽ tăng vào năm 2008 nên đã quyết định mua hàng hóa về dự trữ cuối năm 2007

s Thị trường thép thế giới và khu vực, nhất là thị trường Trung Quốc có nhiều biến động khó lường, giá phôi thép và thép phế có giảm nhẹ một vài nhịp, còn lại tăng liên tục từ đầu năm đến cuối năm đặc biệt vào thời điểm cuối năm 2007 Đúng như đã công

bố, bắt đầu từ 1/6/2007, Trung Quốc nâng thuế suất thuế xuất khẩu với phôi thép lên 15%, thép thành phẩm 10% và bỏ chính sách hoàn thuế VAT cho thép thành phẩm xuất khẩu Giá phôi thép và thép của Trung Quốc nói riêng và trên thế giới nói chung bắt đầu

"leo thang" từ 485 USD/tấn trong tháng 5/2007 giá phôi tăng dần lên 530 USD cuối tháng 6/2007, sau đó liên tiếp tăng vượt 600 USD vào tháng 9/2007 và chạm mức 700

Trang 28

USD/tấn vào cuối năm Khi giá phôi tăng thì giá thép trong nước cũng ngay lập tức tăng theo với mức tương đương.

s Thị trường Việt Nam đặc biệt chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những thay đổi chính sách điều tiết vĩ mô của Chính phủ Trung Quốc thông qua việc cắt bỏ hoàn thuế VAT 8% cho phép thành phẩm và tăng thuế xuất khẩu đối với phôi thép Lúc này giá phôi thép nhập khẩu từ Trung Quốc còn cao hơn giá thép thành phẩm nhập khẩu nên các công ty kinh doanh thép của Việt Nam nói chung và công ty CP kim khí miền Trung nói riêng đã tận dụng thời cơ này nhập khẩu nhiều thép của Trung Quốc về bán đặc biệt là thép cuộn

s Bên cạnh đó giá nguyên liệu tăng cao, nhất là giá xăng dầu, đẩy giá thành sản xuất và chi phí lưu thông tăng cao, vì vậy giá bán thép cũng được các nhà sản xuất điều chỉnh tăng nhiều lần trong năm

s Đặc biệt, việc khai thác nguồn hàng gặp nhiều khó khăn

Các nguyên nhân trên đã khiến cho yếu tố đầu vào của công ty như nguyên vật liệu trực tiếp phục vụ sản xuất thép là phôi thép tăng giá mạnh, chi phí mua thép thành phẩm về bán cũng tăng giá mạnh, việc khó khăn trong tìm nguồn cung cấp và sự đòi hỏi thanh toán ngay của nhà cung cấp buộc công ty phải ứng trước một khoản lớn cho các nhà cung cấp để đảm bảo mua được hàng hóa, nguyên liệu Thật vậy, giá cả bình quân 1kg thép cuối năm 2007 công ty mua là 10.000 đồng thì sang năm 2008 giá cả tăng lên tới 14.500-15.000 đồng/1kg thép Tuy nhiên với sự gia tăng đột biến của khoản trả trước cho nhà cung cấp này khiến cho một lượng vốn lớn của công ty bị nhà cung cấp chiếm dụng, và công ty cần nhanh chóng tìm đầu ra cho lượng hàng hóa đã mua về tránh bị tồn kho nhiều và lâu sẽ làm giảm chất lượng hàng hóa, quản lý tốt công tác thu hồi các khoản phải thu của khách hàng

+ Các khoản phải thu khác giảm21.795.719.291 đồng tương ứng giảm 97,91% vì năm 2007 công ty đã thu đủ số tiền 20.910.1125.578 đồng phải thu từ Tổng công ty thép Việt Nam phát sinh năm 2006 do Tổng công ty thép Việt Nam góp vốn vào khi công ty chuyển sang hình thức cổ phần vào năm 2006

+ Dự phòng các khoản phải thu khó đòi tăng 790,21% Công ty đã áp dụng theo thông tư 13/2006 TT-BTC để lập các khoản dự phòng phải thu khó đòi, lập dự phòng tổn thất từ các khoản phải thu quá hạn thanh toán, và một số khoản phải thu từ khách hàng… không có khả năng thanh toán tăng cao hơn so với năm 2006

- Các khoản phải thu dài hạn giảm 9.589.705.622 tương ứng giảm 41,7%, trong đó chủ yếu là khoản phải thu khách hàng dài hạn

+ Phải thu dài hạn khách hàng giảm 8.655.950.174 đồng tương ứng giảm 40,71%

so với năm 2006 Đây chính là các khoản nợ phải thu khách hàng quá hạn của công ty Biểu hiện này là tốt vì công ty giảm được tỷ lệ chiếm dụng vốn dài hạn của khách hàng, công ty có chính sách theo dõi thanh toán của khách hàng tốt hơn, giảm thiểu được các khoản nợ quá hạn Công ty đã áp dụng nghiêm các chính sách bán chịu, có các biện pháp thu hồi nợ dài hạn hiệu quả vì thế phải thu dài hạn khách hàng giảm xuống rõ rệt

* Năm 2008:

- Các khoản phải thu ngắn hạn giảm xuống còn 50.348.603.092 đồng tức là giảm 30.194.080.110 đồng tương ứng giảm 37,49% so với năm 2007 chủ yếu do sự suy giảm khoản trả trước cho người bán Tình hình cụ thể như sau:

+ Phải thu khách hàng ngắn hạn giảm 8.530.134.094 đồng tương ứng 17,58% so với năm 2007 Nguyên nhân do công ty tích cực thu hồi nợ tồn đọng của năm trước, đồng thời giảm bớt các khoản bán chịu trong năm Trong năm 2008, công ty chủ yếu bán hàng theo phương thức thu tiền ngay, công ty dựa trên tất cả thông tin từ các nguồn khác nhau và nguyên tắc phân tích vị thế khách hàng, kế toán viên quản lý công nợ tiến hành tổng kết, phân tích và đánh giá lại khách hàng hàng tháng Do việc thực hiện đánh

Trang 29

giá mang tính chất thường xuyên rất thuận tiện cho quản lý các khoản nợ, theo dõi phát hiện ra nợ quá hạn để có chính sách thu tiền hiệu quả giảm thiểu được khoản phải thu khách hàng.

+ Trả trước cho người bán giảm 26.111.790.156 đồng tương ứng giảm 71,27% so với năm 2007 Điều này phản ánh tốt tình hình công ty trả trước tiền mua hàng cho người cung cấp, vốn của công ty bị nhà cung cấp chiếm dụng giảm xuống, công ty sử dụng vốn có hiệu quả hơn

+ Các khoản phải thu khác tăng 5.197.907.456 đồng tương ứng tăng 1.116,83% Trong các khoản phải thu khác chiếm tỷ trọng lớn nhất là khoản phải thu từ chênh lệch tài sản góp vốn vào nhà máy cán thép Miền Trung đến 3.242.657.477 đồng Trước đây nhà máy cán thép Miền Trung là một bộ phận của Công ty cổ phần kim khí Miền Trung nhưng cuối năm 2008 nhà máy cán thép Miền Trung đã được đem đi góp vốn liên

doanh

- Các khoản phải thu dài hạn giảm 6.624.001.137 đồng tương ứng giảm 49,4% so với năm 2007 và nguyên nhân chủ yếu do phải thu khách hàng dài hạn tiếp tục giảm mạnh, điều này là tốt cho công ty vì giảm bớt được tình trạng chiếm dụng vốn dài hạn Tình hình cụ thể như sau:

+ Phải thu dài hạn khách hàng giảm 6.389.276.907 đồng xấp xỉ giảm 50,67% so với năm 2007 Nguyên nhân là do công ty tiếp tục có nhiều biện pháp để tăng cường khâu quản lý thanh toán của khách hàng, tránh để phát sinh khoản nợ quá hạn mới, thu hồi các khoản nợ quá hạn cũ, hạn chế phát sinh các khoản phải thu dài hạn khách hàng Điều này cũng phản ánh tốt tình hình thanh toán của khách hàng đối với công ty Đối với các khoản nợ quá hạn, công ty thực hiện thu tiền theo từng giai đoạn theo mức độ tăng dần về cả biện pháp áp dụng gắt gao và chi phí thu nợ Đầu tiên công ty sẽ gọi điện nhắc nhở, fax, gửi thư nếu khách hàng chấp nhận thanh toán khoản nợ thì doanh nghiệp

sẽ cử người đến nhận Ngược lại, công ty cho nhân viên thu nợ đến gặp trực tiếp khách hàng đòi nợ và nhận tiền Nếu sau một năm, công ty vẫn chưa nhận được tiền hàng thì tiến hành các thủ tục pháp lý nhờ các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại vì khách hàng vi phạm hợp đồng kinh tế về điều khoản thời hạn thanh toán

Trong các khoản phải thu ta thấy tỷ lệ các khoản phải thu ngắn hạn trong tổng tài sản cao hơn nhiều và có xu hướng tăng mạnh hơn so với tỷ lệ các khoản phải thu dài hạn trong tổng tài sản Năm 2007 tỷ lệ các khoản phải thu ngắn hạn trong tổng tài sản là 33%, gấp 2,7 lần so với tỷ lệ các khoản phải thu dài hạn trong tổng tài sản, đến năm

2007 tỷ lệ các khoản phải thu ngắn hạn gấp hơn 6 lần tỷ lệ các khoản thu dài hạn trong tổng tài sản và đến năm 2008 là 7,4 lần

Tại công ty có nhiều khoản phải thu nhưng chiếm tỷ trọng cao nhất là các khoản phải thu khách hàng Vì vậy chúng ta sẽ xem xét đến khoản phải thu khách hàng

* Phân tích tình hình phải thu khách hàng:

Ta có bảng tổng hợp như sau:

Trang 30

Bảng tổng hợp chi tiết khoản phải thu khách hàng bình quân tại tại từng thời điểm (TK131) (Đvt: đồng)

C

hỉ tiêu

Số dư Nợ Số dư

3.073.24 4.865

77.772.32 5.623

3.822.00 3.661

113.965.2 56.666

21.331.90 6.404

60.615.43 7.110

10.537.04 0.763 30

/6

111.115.5 54.062

1.172.79 0.495

87.277.27 6.765

4.057.49 8.238

86.026.00 1.083

7.911.737 954

64.921.69 3.464

5.568.944 824 30

/9

185.832.1 75.118

1.438.00 1.604

158.507.1 62.958

1.722.80 7.913

66.048.93 3.742

3.282.388 470

85.082.01 7.245

1.813.446 236 31

/12

66.760.76 5.171

2.599.67 7.097

68.118.65 6.651

7.639.85 6.907

46.199.24 5.650

3.258.270 526

Bảng tổng hợp chi tiết tài khoản phải thu khách hàng (TK131) của Văn phòng công ty tại từng thời điểm (Đvt: đồng)

Ch

ỉ tiêu

Số dư Nợ Số dư Có Số dư Nợ Số dư Có Số dư Nợ Số dư Có Số dư Nợ Số dư Có 31

/3

40.455.545 968

1.548.44 0.782

31.695.66 1.685

1.541.67 0.662

60.635.53 7.709

2.961.78 9.951

14.625.72 7.408

2.246.39 9.538 30

/6

53.147.237 449

636.846.

808

42.480.47 6.142

3.372.95 3.762

19.401.61 5.970

1.126.27 8.431

14.292.90 8.991

1.447.40 6.813 30

/9

129.820.62 3.471

779.225.

545

99.954.37 0.263

1.317.21 6.816

15.163.82 3.157

262.718.

897

32.150.78 1.366

455.938 401 31

/12

23.242.161 053

488.437.

374

16.921.61 4.149

547.010.

133

9.367.461 956

2.671.55 9.155

Ngày đăng: 23/03/2014, 17:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng kê Sổ chi tiết - phân tích công nợ và khản năng thanh toán
Bảng k ê Sổ chi tiết (Trang 20)
BẢNG PHÂN TÍCH CÁC KHOẢN PHẢI THU (Đvt: Đồng) - phân tích công nợ và khản năng thanh toán
vt Đồng) (Trang 25)
BẢNG PHÂN  TÍCH TỶ LỆ CÁC KHOẢN PHẢI THU TRONG TỔNG TÀI SẢN - phân tích công nợ và khản năng thanh toán
BẢNG PHÂN TÍCH TỶ LỆ CÁC KHOẢN PHẢI THU TRONG TỔNG TÀI SẢN (Trang 26)
BẢNG PHÂN TÍCH CÁC KHOẢN PHẢI TRẢ - phân tích công nợ và khản năng thanh toán
BẢNG PHÂN TÍCH CÁC KHOẢN PHẢI TRẢ (Trang 34)
BẢNG PHÂN TÍCH TỶ LỆ CÁC KHOẢN MỤC - phân tích công nợ và khản năng thanh toán
BẢNG PHÂN TÍCH TỶ LỆ CÁC KHOẢN MỤC (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w