Trong số đó, có nhiều biện pháp đã trở thành thường quy tại các bệnh phòng như: rửa tay với dung dịch sát khuẩn, mang găng vô trùng trước và sau khi chăm sóc người bệnh, cho người bệnh n
Cơ sở lý luận
Viêm phổi là tình trạng viêm nhu mô phổi do nhiễm trùng gây ra, là định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất; ngoài ra còn có các cách định nghĩa khác như phát hiện tác nhân gây viêm phổi, hoặc dựa trên hình ảnh thâm nhiễm phổi trên X-quang và các tiêu chuẩn lâm sàng Trên lâm sàng, hầu hết chuyên gia đồng ý rằng chẩn đoán viêm phổi được xác nhận khi có bằng chứng lâm sàng kèm với thâm nhiễm trên X-quang phổi Viêm phổi cộng đồng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Viêm phổi thở máy là viêm phổi mới xuất hiện ít nhất 48 giờ sau đặt nội khí quản và thở máy [3]
1.1.1.2 Đặc điểm viêm phổi do thở máy
Viêm phổi do thở máy là trường hợp đặc biệt của viêm phổi bệnh viện vì:
- Tỷ lệ tử vong cao: 48 % [12]
Pathogenic bacteria responsible for infections are multidrug-resistant organisms with high virulence, primarily including Pseudomonas aeruginosa, Staphylococcus aureus, Klebsiella pneumoniae, Acinetobacter, and Enterobacter species Most have endogenous origins, making prevention challenging, while a portion originates exogenously from the hospital environment.
Trong thực tế lâm sàng, nhiều bệnh nhân ở giai đoạn rất nặng mắc suy kiệt, suy din dưỡng và suy giảm sức đề kháng sau phẫu thuật lớn ở ngực hoặc bụng Những trường hợp này dễ bị nhiễm khuẩn nặng, sốc nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn máu, có thể gây hôn mê hoặc mất tỉnh táo do dùng thuốc an thần và giảm đau Bên cạnh đó, bệnh phổi và tình trạng suy hô hấp khiến bệnh nhân phải thở máy kéo dài nhiều ngày, dẫn đến yếu và liệt cơ hô hấp, đồng thời làm tăng nguy cơ nhiễm bẩn ống thở [12].
Bệnh nhân cần phải can thiệp bằng các dụng cụ: hút đờm, khí dung, máy thở, ống sonde dạ dày, ống dẫn lưu bàng quang
Bệnh nhân được sử dụng kháng sinh, thuốc ức chế miễn dịch, thuốc giảm axít dạ dày tăng khả năng định cư, kháng kháng sinh của vi khuẩn
Việc chuẩn đoán viêm phổi liên quan thở máy thường là muộn, khó điều trị, do đó có tỷ lệ tử vong cao [12]
1.1.1.3 Nguồn chứa, nơi cư trú của vi sinh vật gây viêm phổi thở máy
Tác nhân gây viêm phổi thở máy chia làm 2 loại: căn nguyên có nguồn gốc nội sinh và căn nguyên có nguồn gốc ngoại sinh Trong đó:
* Căn nguyên có nguồn gốc nội sinh xuất phát từ:
1- Các chất tiết từ vùng hầu họng
2- Dịch dạ dày bị trào ngược
* Căn nguyên có nguồn gốc ngoại sinh xuất phát từ:
1- Các dụng cụ hỗ trợ hô hấp hoặc bàn tay nhân viên y tế bị ô nhiễm
2- Các dụng cụ hỗ trợ hô hấp như bình làm ẩm oxy, máy khí dung, máy nội soi phế quản, máy thở là các ổ chứa vi khuẩn, có thể từ dụng cụ đến người bệnh, từ người bệnh này đến người bệnh khác, từ một vị trí của cơ thể đến đường hô hấp dưới của cùng một người bệnh qua bàn tay hoặc qua dụng cụ
3- Bóng giúp thở (ambu) là nguồn đưa vi khuẩn vào phổi người bệnh qua mỗi lần bóp bóng vì bóng rất khó rửa sạch và làm khô giữa các lần dùng, ngoài ra bóng còn bị nhiễm khuẩn thông qua bàn tay của nhân viên y tế
4- Các máy khí dung thường dùng để phun các loại thuốc giãn phế quản, corticoid cũng là nguồn gây viêm phổi thở máy vì máy bị nhiễm khuẩn qua bàn tay nhân viên y tế, bộ phận chứa thuốc bị nhiễm khuẩn do không được khử khuẩn thích hợp giữa các lần dùng
5- Dây thở cùng với bộ phận làm ẩm là nguồn chứa vi khuẩn gây viêm phổi thở máy, nước lắng đọng ở đường ống và tụ lại ở bộ phận bẫy nước làm cho dây thở nhanh chóng bị nhiễm khuẩn, thường là do vi khuẩn xuất phát từ vùng miệng và hầu Vì thế cần dẫn lưu tốt nước trong đường ống để tránh cho nước bị nhiễm khuẩn trong đường ống chạy vào phổi người bệnh
1.1.1.4 Các biện pháp phòng ngừa viêm phổi thở máy
Căn cứ vào đặc điểm sinh học của tác nhân gây viêm phổi thở máy, nguồn lây và phương thức lây truyền, các biện pháp kiểm soát và phòng ngừa đã được xây dựng nhằm hạn chế mắc và lan truyền cho người bệnh Năm 2005, CDC Mỹ công bố các hướng dẫn điều trị dựa trên bằng chứng để dự phòng nhiễm khuẩn liên quan tới dụng cụ chăm sóc y tế, nhấn mạnh vai trò của các thiết bị y tế xâm lấn như lối vào cho vi sinh vật khi bệnh nhân ở trạng thái đặc biệt Các nghiên cứu cho thấy việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa VAP mang lại thành công, cải thiện thực hành tại khoa hồi sức ICU, với sự tham gia tuyên truyền bằng tranh, bài viết và phản hồi cho nhân viên y tế nhằm nhắc nhở mọi người thực hiện hàng ngày Một số bệnh viện đã giảm tỷ lệ VAP xuống còn 1/1000 ngày thở máy nhờ các can thiệp thích nghi và đúng hướng Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của phương pháp phòng ngừa VAP, trong khi việc giảm hít sặc, ngăn nhiễm khuẩn chéo từ tay nhân viên, khử khuẩn và tiệt khuẩn dụng cụ hô hấp đúng cách, cùng giáo dục cho nhân viên y tế và người bệnh vẫn chưa được thực hiện đầy đủ tại nhiều bệnh viện Nghiên cứu cải tiến hút đờm tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho thấy nhóm dùng ống hút một lần có tỷ lệ viêm phổi thở máy giảm 48% so với nhóm dùng ống hút tái sử dụng.
Hiện nay, WHO và CDC đều đưa nội dung gói giải pháp vào các hướng dẫn phòng ngừa viêm phổi thở máy Nội dung gói giải pháp được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện và nguồn lực của từng cơ sở y tế khi thực hiện các biện pháp phòng ngừa chủ yếu, tập trung vào chăm sóc hô hấp cho người bệnh thở máy.
1.1.2 Chăm sóc hô hấp người bệnh thở máy
Chăm sóc hô hấp là quá trình bảo vệ hệ hô hấp khỏi các tác nhân xâm nhập và yếu tố gây hại, từ đó ngăn ngừa nhiễm khuẩn và các biến chứng cho đường thở Mục tiêu của chăm sóc hô hấp là duy trì chức năng cơ học của hệ hô hấp ở mức bình thường, đảm bảo phổi và các cơ hô hấp hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả Việc chăm sóc hô hấp đúng cách bao gồm vệ sinh đường thở, cải thiện môi trường sống và nhận diện sớm các dấu hiệu bất thường để phòng ngừa các bệnh lý hô hấp và bảo vệ sức khỏe hô hấp toàn diện.
Chăm sóc hô hấp qua nội khí quản ở người bệnh thở máy là quá trình chăm sóc khi sự thông khí tự nhiên của người bệnh không đảm bảo chức năng hô hấp và cần có sự trợ giúp của máy thở để đẩy khí vào phổi qua ống nội khí quản, làm tăng áp lực đường thở Ống nội khí quản là một ống được đặt vào đường thở nhằm thông đường thở một cách hiệu quả và nhanh chóng, và được chỉ định trong một số trường hợp như tắc đường thở cấp tính hoặc suy hô hấp.
1.1.2.2 Ảnh hưởng của thở máy qua ống nội khí quản trên người bệnh
Thở máy qua ống nội khí quản là hình thức thông khí nhân tạo xâm nhập cho bệnh nhân, nhằm hỗ trợ hoặc thay thế nhịp thở tự nhiên Quá trình này có thể duy trì một phần hoặc toàn bộ nhịp thở của người bệnh tùy mức độ suy hô hấp và mục tiêu điều trị, đồng thời đảm bảo cung cấp oxy và loại bỏ CO2 cho cơ thể.
Thông khí nhân tạo xâm nhập được chỉ định khi thông khí nhân tạo không xâm nhập không còn chống chỉ định hoặc thất bại: ngừng thở, suy hô hấp cấp có tăng CO2 máu, suy hô hấp có giảm oxy máu, suy hô hấp mạn lệ thuộc thở máy, hoặc mệt cơ hô hấp gây tăng công thở và/hoặc tăng nhu cầu tiêu thụ oxy, đòi hỏi chủ động kiểm soát thông khí [7] Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực và hiệu quả trong cấp cứu và hồi sức tích cực, thông khí nhân tạo xâm nhập có nhiều tác dụng không mong muốn do máy thở có thể là nguồn vi khuẩn gây bệnh viêm phổi thở máy, và hệ thống máy thở, bộ phận làm ẩm của máy thở nếu không được tiệt khuẩn triệt để sẽ là nơi lý tưởng để vi khuẩn gây bệnh phát triển [19].
Việc có mặt của ống nội khí quản phá vỡ hàng rào bảo vệ của cơ thể, gây chấn thương và phản ứng viêm tại hầu họng và quanh bóng chèn, từ đó làm tăng khả năng hít phải mầm bệnh gây nhiễm khuẩn bệnh viện từ khu vực hầu họng lên đường hô hấp dưới Việc đặt lại ống nội khí quản cũng là yếu tố nguy cơ viêm phổi thở máy Phát hiện này cho thấy nguy cơ hít phải vi khuẩn từ chất tiết hầu họng vào đường hô hấp dưới ở những bệnh nhân có rối loạn chức năng dưới thanh môn hoặc suy giảm ý thức sau vài ngày đặt ống nội khí quản.
Lượng dịch tiết tích tụ trong lòng ống nội khí quản có thể bị hít xuống đường hô hấp dưới Đặt ống nội khí quản làm mất lớp vi nhung mao trên niêm mạc khí quản nên đường thở không đẩy được vi khuẩn ra ngoài Thở máy áp lực dương khiến các vi khuẩn có xu hướng bị đẩy xuống đường hô hấp dưới Trong quá trình đặt ống nội khí quản để thông khí nhân tạo, một lớp màng sinh học vi khuẩn (chủ yếu gram âm và nấm) hình thành bên trong lòng ống Dịch tiết và đờm có thể thấm qua khu vực bóng chèn ống nội khí quản mang theo vi khuẩn xuống đường hô hấp dưới Do đó, người bệnh có thể gặp nhiều biến chứng như tổn thương đường thở, xẹp phổi, viêm phổi liên quan đến thở máy, viêm phổi do hít phải và viêm phổi do các vi khuẩn cư trú gây bệnh [21].
Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng viêm phổi thở máy
Nhiễm khuẩn bệnh viện ở trẻ em có tỷ lệ nghịch với lứa tuổi: tuổi càng nhỏ càng dễ mắc nhiễm khuẩn, và mức độ nhiễm khuẩn này không đồng đều giữa các khoa, với một số khoa có tỷ lệ cao hơn Theo Cobb [20], tỷ lệ nhiễm khuẩn ở khoa điều trị tích cực trẻ em cao gấp 2-5 lần so với phòng điều trị thường.
Viêm phổi do thở máy là một trong những nhiễm trùng bệnh viện phổ biến nhất Theo số liệu tại khoa điều trị tích cực, phần lớn nhiễm khuẩn bệnh viện là viêm phổi mắc phải, chiếm khoảng 12,9% tổng số bệnh nhân nhập viện vào khoa điều trị tích cực.
Viêm phổi mắc phải ở bệnh nhân đặt nội khí quản và hô hấp hỗ trợ có tỷ lệ tử vong cao, khoảng 48%, đặc biệt ở trẻ sơ sinh và ở bệnh nhân có hội chứng ARDS, với tỷ lệ tử vong có thể lên tới 70–90% [20] Viêm phổi thở máy là nhiễm khuẩn bệnh viện phổ biến nhất, thường gặp tại các đơn vị hồi sức tích cực ở cả nước phát triển và đang phát triển Tuy nhiên, tỷ lệ viêm phổi thở máy khác nhau giữa các cơ sở y tế và giữa các khu vực Các nghiên cứu gần đây cho thấy viêm phổi thở máy vẫn là thách thức lớn đối với các bệnh viện Châu Âu; ở Pháp, khoảng 25,5% bệnh nhân thở máy mắc viêm phổi thở máy và tỷ suất trên 1000 ngày thở máy dao động từ 11,1 đến 22,6 [19].
Ở Việt Nam, tình hình viêm phổi bệnh viện và viêm phổi thở máy đã được nhiều bệnh viện quan tâm đánh giá Kết quả điều tra toàn quốc năm 2005 trên 19 bệnh viện cho thấy viêm phổi bệnh viện chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhiễm khuẩn bệnh viện, 55,4%; tỷ lệ viêm phổi thở máy đặc biệt cao ở nhóm bệnh nhân tại khoa hồi sức tích cực, với 43–63,5/1000 ngày thở máy Viêm phổi bệnh viện chiếm 41,9% trong tổng số nhiễm khuẩn bệnh viện theo nghiên cứu của Trương Anh Thư tại các bệnh viện lớn ở miền Bắc Tỷ lệ viêm phổi thở máy của các đơn vị điều trị tích cực ở Việt Nam cũng dao động từ 19–50%.
Trong nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2006 do Lê Hồng Trường thực hiện, tỷ lệ viêm phổi thở máy được ghi nhận là 32,06% Tại Bệnh viện Gia Định năm 2009, ở nhóm bệnh nhân sau phẫu thuật phải thở máy, tỷ lệ này lên tới 46,5% Hai dữ liệu này cho thấy sự khác biệt đáng kể về nguy cơ viêm phổi thở máy giữa hai thời điểm và hai cơ sở y tế, với tỷ lệ cao hơn ở Gia Định.
Trong năm 2008, tại khoa điều trị tích cực của Bệnh viện Thống Nhất (TP Hồ Chí Minh), 52,5% bệnh nhân thở máy sau 48 giờ tiến triển thành viêm phổi bệnh viện (VAP), và tỷ lệ tử vong do VAP được xác định ở mức 40,4% Tại các bệnh viện miền Bắc, tỷ lệ mắc viêm phổi thở máy ở các đơn vị hồi sức tích cực cũng ở mức cao Năm 2009, Trần Hữu Thông thực hiện nghiên cứu căn nguyên gây VAP và ghi nhận tỷ lệ VAP tại khoa cấp cứu và hồi sức tích cực Bệnh viện Bạch Mai là 38,9%, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Quang năm 2011 cho thấy con số này tăng lên 55,3% Theo Phạm Thị Thu Thủy, tỷ lệ viêm phổi thở máy năm 2016 là 24%.
Ở Bệnh viện Nhi Trung ương, nghiên cứu của Lê Thanh Duyên (2008) về tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa hồi sức cấp cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn chung lên tới 52%, trong đó viêm phổi bệnh viện chiếm 82,6%; theo Phạm Anh Tuấn (2016) tỷ lệ viêm phổi thở máy ở trẻ thở máy sau mổ tim mở là 12,5%, với tỷ suất mới mắc viêm phổi thở máy đạt 24,5 trên 1.000 ngày thở máy; và nghiên cứu của Lê Kiến Ngãi (2011) tại các khoa điều trị tích cực của Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy tỷ lệ mắc viêm phổi thở máy là 26,7%.
Các nghiên cứu công bố cho thấy viêm phổi thở máy ở người lớn cao hơn ở trẻ em, nhưng hậu quả cuối cùng của viêm phổi thở máy ở trẻ em—như tỷ lệ tử vong, mức độ nặng của bệnh, thời gian thở máy và thời gian nằm viện—thường nghiêm trọng hơn rất nhiều so với người lớn Kết quả các nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ mắc viêm phổi thở máy ở bệnh nhi thở máy dao động từ 2,72% đến 20%, và tỷ lệ mắc mới viêm phổi thở máy từ 2,9 đến 18,7 trên 1.000 ngày thở máy [6].
1.2.2 Thực trạng kiến thức về chăm sóc dự phòng viêm phổi thở máy
Nhiều nghiên cứu cho thấy nắm vững kiến thức và thực hành hiệu quả các biện pháp dự phòng viêm phổi thở máy có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong liên quan đến viêm phổi thở máy trong các khoa hồi sức tích cực Việc đào tạo liên tục và tuân thủ các chuẩn phòng ngừa VAP đóng vai trò then chốt trong cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân thở máy tại khoa hồi sức tích cực.
Các thử nghiệm cho thấy nâng đầu giường cao làm giảm nguy cơ hít dịch vị vào phổi và giảm nguy cơ viêm phổi liên quan thở máy Phân tích đa biến cho thấy yếu tố nguy cơ liên quan đến viêm phổi thở máy giảm 67% ở các bệnh nhân được duy trì tư thế nằm nửa ngồi trong 24 giờ đầu thở máy Ảnh hưởng của việc duy trì tư thế đầu cao 30–45° đã được chứng minh qua các nghiên cứu quan sát và thử nghiệm lâm sàng; Alexiou và cộng sự cho thấy tỷ lệ mắc viêm phổi thở máy ở nhóm đặt đầu giường ở 45° thấp hơn đáng kể so với nhóm nằm đầu ngửa (337 bệnh nhân so với 1081 bệnh nhân) Nghiên cứu này cung cấp thêm bằng chứng rằng tư thế đầu cao từ 15–30° không đủ để ngăn ngừa viêm phổi liên quan thở máy Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu ở đây là người lớn và chưa có nghiên cứu nào trên trẻ em.
Trong một nghiên cứu cắt ngang tại 11 đơn vị chăm sóc đặc biệt của các bệnh viện trực thuộc trường đại học y khoa Iran, 120 điều dưỡng được đánh giá trong 4 tháng từ 7–10/2014 về mức tuân thủ các biện pháp phòng ngừa viêm phổi do thở máy, thông qua quan sát và bảng kiểm, cho thấy tỷ lệ tuân thủ là 56,32% Bằng chứng này cho thấy kiến thức và thực hành dự phòng viêm phổi thở máy của điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ VAP Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức và thực hành dự phòng VAP sẽ cung cấp thông tin thiết yếu để cải thiện kiến thức và thực hành, từ đó giảm nhiễm khuẩn bệnh viện và giảm gánh nặng cho bệnh nhân cũng như hệ thống y tế.
Nghiên cứu của Hà Văn Thư và Lê Thị Thanh Thủy năm 2016 nhằm đánh giá kiến thức, thực hành dự phòng viêm phổi thở máy của điều dưỡng khoa hồi sức tích cực bệnh viện Bạch Mai kết quả cho thấy 62,2% điều dưỡng có kiến thức phòng ngừa viêm phổi thở máy đạt Về thực hành: quy định về thay dây máy thở, sử dụng hệ thống hút đờm kín, đặt nội khí quản theo đường miệng, vệ sinh máy thở đã được thực hiện tốt Một số thực hành chưa tuân thủ đầy đủ gồm: đánh răng 2 lần/ ngày với dung dịch Chlorhexidine, đo áp lực bóng chèn, đổ nước cốc ngừng trước mỗi lần chăm sóc, thay đổi tư thế người bệnh, đặt người bệnh tư thế đầu cao Nghiên cứu cho thấy có 47,8% điều dưỡng có kiến thức phòng ngừa viêm phổi thở máy chưa đạt, một số quy định phòng ngừa viêm phổi thở máy chưa được thực hiện tốt [5]
Tại bệnh viện Nhi trung ương, một nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy thở trong phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn của Đặng Thị Thu Hương [4] cho thấy rằng kiến thức sử dụng máy thở trong phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn của 45 cán bộ y tế bệnh viện Nhi Trung ương chỉ có 8,9% cán bộ y tế có kiến thức đúng về sử dụng máy thở, 62,2 % có kiến thức đúng về sử dụng bộ lọc vi khuẩn Trong số
Trong quan sát hiện trạng ở 75 máy thở, có 72% máy thở được sử dụng đúng dây thở, 70,7% đúng bẫy nước, 22,7% đúng bộ làm ấm, làm ẩm và 5,3% đúng bộ lọc vi khuẩn Mặc dù số lượng nghiên cứu còn hạn chế, các đánh giá cho thấy thực trạng kiến thức và thực hành về dự phòng viêm phổi thở máy vẫn chưa cao.
Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh là cơ sở y tế chuyên khoa, tuyến chuyên môn cao nhất về khám chữa bệnh trong lĩnh vực sản phụ khoa và nhi khoa của tỉnh Bệnh viện được thành lập theo Quyết định số 1978/QĐ-UBND ngày 19/6/2008 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh, là bệnh viện hạng II với các hạng mục công trình hiện đại, đảm bảo dây chuyền công năng được đưa vào sử dụng và góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em trên địa bàn tỉnh.
Cơ cấu tổ chức và nhân lực của bệnh viện gồm: 26 khoa phòng, 6 phòng chức năng,
Quy mô 350 giường, 14 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng, 500 thực kê; đội ngũ 522 cán bộ nhân viên (129 bác sĩ, 191 điều dưỡng, 50 kỹ thuật viên, 55 hộ sinh, 22 dược sĩ và 74 đối tượng khác) Với cơ cấu tổ chức và nguồn lực này, Bệnh viện Sản – Nhi Quảng Ninh xác định khẩu hiệu hành động "Nâng tầm hạnh phúc" và luôn chú trọng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cũng như thái độ phục vụ của toàn thể cán bộ, nhân viên Đến nay, bệnh viện đã đạt được những kết quả nổi bật trong chuyên môn, thể hiện ở việc triển khai thành công nhiều kỹ thuật mới khó như: lọc máu cho trẻ sinh non, nhẹ cân; phẫu thuật nội soi; điều trị xuất huyết não ở trẻ sơ sinh; chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ sinh non dưới 1 kg; thụ tinh nhân tạo bằng phương pháp IUI, và các kỹ thuật khác.
Bệnh viện tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới vào công tác khám chữa bệnh, đồng thời chuyển giao công nghệ cho các bệnh viện khác trong tỉnh để người dân ở mọi vùng miền có thể tiếp cận những tiến bộ y học nhất; việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, y, bác sĩ và y đức được đặt lên hàng đầu nhằm đảm bảo chăm sóc sức khỏe an toàn và hiệu quả; để hoạt động hiệu quả hơn, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đang nghiên cứu và áp dụng mô hình quản trị mới, tỉnh phấn đấu đi đầu trong ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý khám chữa bệnh, nhằm cung cấp các gói dịch vụ chuyên sâu đáp ứng các nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
Thực trạng của vấn đề
2.2.1 Đối tượng và phương pháp
- Đối tượng: điều dưỡng viên công tác tại khoa hồi sức tích cực, Bệnh viện Sản nhi Quảng Ninh
- Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang
- Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu toàn bộ với n = 55
- Phương pháp thu thập số liệu
Bộ công cụ được sử dụng của tác giả Phạm Thị Vũ Nga có tổng số 46 câu hỏi và chia làm 3 phần:
* Phần A: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: gồm 11 câu hỏi
* Phần B: Đào tạo liên tục: gồm 4 câu hỏi
* Phần C: Kiến thức về dự phòng VPTM: gồm 33 câu hỏi
Tiến trình thu thập số liệu gồm 3 bước:
+ Bước 1: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu đủ tiêu chuẩn
Bước 2 trình bày cho đối tượng nghiên cứu mục đích, ý nghĩa và phương pháp của nghiên cứu, đồng thời nêu rõ quyền lợi của người tham gia và phổ biến các hình thức tham gia nghiên cứu; sau đó họ được hướng dẫn cách trả lời các thông tin trong bộ câu hỏi để đảm bảo việc thu thập dữ liệu chính xác, trung thực và tuân thủ các quy định bảo mật.
+ Bước 3: Người thu thập số liệu phát bộ câu hỏi cho đối tượng tham gia nghiên cứu tự điền
- Tiêu chuẩn đánh giá: đối tượng nghiên cứu tham gia trả lời với mỗi câu đúng được
1 điểm, trả lời không đúng 0 điểm
Có 2 mức độ đánh giá:
+ Kiến thức đạt: trả lời đúng ≥ 50% tổng số đáp án đúng
+ Kiến thức chưa đạt: trả lời đúng < 50% tổng số đáp án đúng
2.2.2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (n = 55)
STT Thông tin về ĐTNC Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Cao đẳng 29 52.7 Đại học trở lên 21 38.2
Trong 55 đối tượng tham gia có kết quả nghiên cứu như sau:
- Về giới tính: tỷ lệ điều dưỡng nữ giới (60%) cao hơn nam giới (40%)
- Về độ tuổi: điều dưỡng có tuổi đời rất trẻ < 35 chiếm tới 90.9%, không có điều dưỡng nào >45 tuổi
Về bằng cấp chuyên môn của điều dưỡng, phần lớn lực lượng này có trình độ cao đẳng, chiếm 52.7% tổng số Bên cạnh đó, tỷ lệ điều dưỡng có bằng đại học trở lên là 38.2%, trong khi số điều dưỡng trình độ trung cấp còn lại chiếm 9.1%.
- Về thâm niên công tác: phần lớn điều dưỡng có thâm niên làm việc từ 5-10 năm, rất ít điều dưỡng có thâm niên > 10 năm (5.5%)
Bảng 2.2: Thông tin về số buổi trực, số người bệnh chăm sóc của điều dưỡng viên
(nU) Nội dung Thấp nhất Cao nhất Trung bình ± SD
Số NB chăm sóc/ca 3 20 7.1 ± 3.9
Nhận xét cho thấy trung bình mỗi điều dưỡng trực 7.6 ± 2.1 buổi trong một tháng, và người có số buổi trực cao nhất là 10 buổi/tháng Số bệnh nhi mà điều dưỡng phải chăm sóc trong một ca trực trung bình là 7.1 ± 3.9 bệnh nhi, thấp nhất 3 bệnh nhi và cao nhất 20 bệnh nhi.
Bảng 2.3: Thông tin quá tải trong công việc và kiểm tra, giám sát dự phòng VPTM
Số lượng Tỷ lệ % Số lượng Tỷ lệ %
Quá tải trong công việc 8 14.5 47 85.5
Kiểm tra, giám sát dự phòng
Thông báo khi kiểm tra, giám sát 18 32.7 37 67.3
Nhận xét cho thấy chỉ 14.4% điều dưỡng cho rằng mình bị quá tải trong công việc; 90.9% điều dưỡng ghi nhận có sự kiểm tra, giám sát khi thực hiện các biện pháp dự phòng VPTM tại khoa, và phần lớn việc kiểm tra giám sát này không được thông báo trước (67.3%).
Biểu đồ 2.1: Đối tượng thực hiện kiểm tra, giám sát dự phòng VPTM
45 Điều dưỡng trưởng Bác sỹ Khoa KSNK
Những nhận xét cho thấy việc kiểm tra, giám sát điều dưỡng thực hiện các biện pháp dự phòng VPTM tại khoa chủ yếu đến từ điều dưỡng trưởng (42,7%), trong khi khoa kiểm soát nhiễm khuẩn chiếm 36,9%.
Bảng 2.4.: Thông tin về đào tạo liên tục (nU)
Nội dung Số lượng Tỷ lệ % Ít hơn 2 lần 20 36.4
Kiến thức dự phòng VPTM 12 21.8
Thực hành dự phòng VPTM 3 5.5
Kiến thức và thực hành dự phòng VPTM 40 72.7
Nhận xét cho thấy trong mẫu 55 điều dưỡng tham gia nghiên cứu, 52.7% ghi nhận được đào tạo hoặc cập nhật về dự phòng VPTM từ hai lần trở lên trong một năm vừa qua Tuy nhiên, 10.9% điều dưỡng cho biết chưa từng được đào tạo hoặc cập nhật về dự phòng VPTM.
2.2.2.2 Kiến thức về dự phòng viêm phổi thở máy
Bảng 2.5: Kiến thức về sử dụng dây máy thở (nU)
Cơ sở lựa chọn đường kính dây máy thở 42 76.4
Kích thước đường kính phù hợp với trẻ nhỏ 43 78.2
Kích thước đường kính phù hợp với trẻ lớn 43 78.2
Kích thước đường kính phù hợp với trẻ sơ sinh 39 70.9
Vị trí đúng của dây máy thở 49 89.1
Thời gian thay dây máy thở 52 94.5
Thời điểm thay bộ làm ấm và ẩm 52 94.5
Làm sạch và khử khuẩn dây máy thở sau khi sử dụng bằng hóa chất
Xử lý dây máy thở để tái sử dụng 52 94.5
Nhận xét cho thấy phần lớn điều dưỡng tham gia nghiên cứu có kiến thức đúng về việc sử dụng dây máy thở trong dự phòng VPTM, đặc biệt là kiến thức về thời gian thay dây máy thở, thời điểm thay bộ làm ấm, ẩm và xử lý dây máy thở để tái sử dụng, với tỷ lệ đúng lên tới 94,5% Tuy nhiên, kiến thức về kích thước đường kính dây máy thở còn hạn chế, chỉ có từ 70,9% đến 78,9% điều dưỡng trả lời đúng.
Bảng 2.6: Kiến thức về sử dụng bẫy nước (nU)
Vị trí đặt đúng của bẫy nước 49 89.1
Giới hạn cho phép của lượng nước đọng trong bẫy nước
Đánh giá cho thấy 89,1% điều dưỡng nhận thức đúng về vị trí đặt bẫy nước, nhưng chỉ 58,2% điều dưỡng biết giới hạn cho phép của lượng nước đọng trong bẫy nước.
Bảng 2.7: Kiến thức về sử dụng bộ lọc vi khuẩn (nU)
Sự cần thiết sử dụng bộ lọc vi khuẩn cho thở máy 55 100.0
Mục đích sử dụng bộ lọc vi khuẩn 37 67.3
Vị trí lắp bộ lọc vi khuẩn thở vào 27 49.1
Thời gian thay bộ lọc khuẩn vào 42 76.4
Sự cần thiết phải lắp bộ lọc vi khuẩn thở ra 52 94.5
Vị trí lắp bộ lọc vi khuẩn thở ra 27 49.1
Thời gian thay bộ lọc thở ra 48 87.3
Nhận xét cho thấy 100% điều dưỡng nhận thức được sự cần thiết của việc sử dụng bộ lọc vi khuẩn trong dự phòng VPTM Tuy nhiên, 49,1% điều dưỡng nhận thức đúng về vị trí lắp bộ lọc vi khuẩn cho đường thở vào và thở ra.
Bảng 2.8: Kiến thức về sử dụng bộ trao đổi nhiệt (nU)
Sự cần thiết sử dụng bộ trao đổi ẩm nhiệt 51 92.7
Nhiệt độ của khí thở đo từ chạc chữ Y 45 81.8
Vị trí lắp bộ trao đổi ẩm nhiệt 30 54.5
Thời gian thay bộ trao đổi ẩm nhiệt 45 81.8
Nhiệt độ bình làm ấm phải đảm bảo là 48 87.3
Sự cần thiết phải sử dụng nước cất vô khuẩn trong hệ thống làm ẩm
Mức nước trong bình làm ấm, ẩm 53 96.4
Sự cần thiết phải sử dụng hệ thống dẫn lưu nước kín vào bộ làm ẩm
Nhận xét cho thấy phần lớn điều dưỡng có kiến thức đúng về sử dụng bộ trao đổi ẩm nhiệt: đúng với sự cần thiết của việc dùng bộ trao đổi ẩm nhiệt, đúng về việc dùng nước cất vô khuẩn trong hệ thống làm ẩm, đúng về mức nước trong bình làm ấm-ẩm và đúng về việc sử dụng hệ thống dẫn lưu nước kín vào bộ làm ẩm, lần lượt chiếm tỷ lệ 92.7%, 98.2%, 96.4% và 92.7% Tuy nhiên, nhận thức về vị trí lắp đặt bộ trao đổi ẩm nhiệt chỉ đúng ở 54.5% điều dưỡng.
Bảng 2.9: Kiến thức về chăm sóc người bệnh thở máy (nU)
Vệ sinh miệng cho người bệnh 48 87.3
Dung dịch vệ sinh răng miệng 39 70.9
Trình tự hút nội khí quản va mũi miệng 48 87.3
Chăm sóc ống Sonde dạ dày 45 81.8
Nhận xét cho thấy điều dưỡng có tỷ lệ trả lời đúng cao nhất về tư thế người bệnh khi thở máy, đạt 92.7%, trong khi kiến thức về dung dịch vệ sinh răng miệng chỉ đúng 70.9% số điều dưỡng Bảng 2.10 thể hiện điểm trung bình kiến thức về dự phòng viêm phổi thở máy (n U).
Nội dung Điểm thấp nhất Điểm cao nhất Điểm
Kiến thức về sử dụng dây máy thở 4 9 7.6 ± 1.5
Kiến thức về sử dụng bẫy nước 0 2 1.4 ± 0.6
Kiến thức về sử dụng bộ lọc vi khuẩn và bộ trao đổi nhiệt là nền tảng để đảm bảo an toàn nhiễm khuẩn và tối ưu quá trình trao đổi nhiệt cho bệnh nhân thở máy; đồng thời, kiến thức chăm sóc người bệnh thở máy bao gồm theo dõi tình trạng hô hấp, quản lý đường thở và thực hiện các kỹ thuật chăm sóc đúng chuẩn để giảm biến chứng; kiến thức chung về dự phòng viêm phổi ở người thở máy nhấn mạnh các biện pháp như vệ sinh miệng định kỳ, tư thế đầu cao, vận động sớm và tuân thủ nguyên tắc vô khuẩn nhằm giảm nguy cơ nhiễm khuẩn đường hô hấp.
Những nhận xét cho thấy điểm trung bình kiến thức về sử dụng dây máy thở là 7.6 ± 1.5, về sử dụng bẫy nước là 1.4 ± 0.6, về sử dụng bộ lọc vi khuẩn là 5.1 ± 1.1, về sử dụng bộ trao đổi nhiệt là 6.5 ± 1.4, và về chăm sóc người bệnh thở máy là 4.6 ± 1.0 Điểm kiến thức chung về dự phòng viêm phổi thở máy là 24.5 ± 3.3, thấp nhất 15 điểm, cao nhất 31 điểm.
Bảng 2.11: Đánh giá kiến thức về dự phòng viêm phổi thờ máy (n U)
Phân loại kiến thức Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Nhận xét : Điều dưỡng có kiến thức chưa đạt chiếm tỷ lệ 18.2% và 81.8% có kiến thức đạt về dự phòng viêm phổi thở máy.
Thực trạng của vấn đề
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Khảo sát kiến thức dự phòng VPTM tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh cho thấy đội ngũ điều dưỡng trẻ với tuổi trung bình 31.1 ± 3.8, tuổi thấp nhất 24, cao nhất 42, và nhóm dưới 35 tuổi chiếm 90.9%, phù hợp với đặc thù của các khoa hồi sức cấp cứu; nghiên cứu tương tự tại khoa Hồi sức Bệnh viện Nhi Trung ương của Phạm Thị Vũ Nga cho thấy dưới 35 tuổi chiếm 71% Về giới tính, nữ chiếm 60% và nam 40% Trong 55 điều dưỡng tham gia, tỷ lệ cao đẳng chiếm 52.7%, đại học trở lên 38.2%, bên cạnh đó vẫn còn 9.1% điều dưỡng trung cấp đang tiếp tục học nâng cao trình độ, phù hợp với cơ cấu tổ chức và định hướng phát triển nhân lực của bệnh viện Phần lớn điều dưỡng có thâm niên từ 5–10 năm, rất ít có thâm niên trên 10 năm (5.5%) Khi khảo sát về công việc, trung bình mỗi điều dưỡng trực 7.6 ± 2.1 ca/tháng, nhiều nhất 10 ca; số bệnh nhi chăm sóc trong một ca trực trung bình 7.1 ± 3.9, dao động từ 3 đến 20 Dù lịch trực dày và lượng bệnh nhi đông, chỉ có 14.4% điều dưỡng cho rằng bị quá tải trong công việc.
Trong chăm sóc người bệnh, đặc biệt là người thở máy, công tác kiểm tra, giám sát là yếu tố then chốt giúp điều dưỡng tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật Bệnh viện Sản nhi Quảng Ninh luôn chú trọng chất lượng chăm sóc và thường xuyên xác nhận hoạt động chăm sóc qua các đợt kiểm tra, giám sát Theo khảo sát, hầu hết điều dưỡng ghi nhận có sự kiểm tra, giám sát khi thực hiện các biện pháp dự phòng VPTM tại khoa (90.9%), và phần lớn cuộc kiểm tra này không được thông báo trước (67.3%) Việc kiểm tra, giám sát chủ yếu do điều dưỡng trưởng (42.7%) và khoa kiểm soát nhiễm khuẩn (36.9%) thực hiện Bên cạnh công tác kiểm tra, giám sát, nâng cao trình độ cho đội ngũ y tế rất quan trọng; trong 55 điều dưỡng tham gia nghiên cứu, 52.7% cho biết được đào tạo/cập nhật về dự phòng VPTM từ 2 lần trở lên trong 1 năm qua, trong khi 10.9% chưa được đào tạo/cập nhật dù năm vừa qua có thời gian nghỉ thai sản hoặc học tập trung.
3.1.2 Kiến thức về dự phòng viêm phổi cho người bệnh thở máy
Kiến thức và thực hành tốt các biện pháp dự phòng viêm phổi thở máy có tác động làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong ở các khoa hồi sức tích cực Ví dụ một nghiên cứu cắt ngang mô tả 120 điều dưỡng tại 11 đơn vị chăm sóc đặc biệt của các bệnh viện trực thuộc trường đại học y khoa ở Iran, được tiến hành trong 4 tháng từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2014, đã đánh giá mức độ tuân thủ các biện pháp phòng ngừa VAP bằng quan sát và bảng kiểm, với kết quả tuân thủ chung là 56,32% Như vậy có rất nhiều bằng chứng cho thấy kiến thức và thực hành dự phòng viêm phổi thở máy của điều dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ mắc và tử vong do VAP.
Dây thở và bộ phận làm ẩm là nguồn chứa vi khuẩn gây viêm phổi thở máy (VPTM); nước lắng đọng ở đường ống và tích tụ ở bộ bẫy nước làm cho dây thở dễ bị nhiễm khuẩn, thường bắt nguồn từ vi khuẩn trong miệng và hầu Vì thế cần dẫn lưu tốt nước trong đường ống để ngăn nước nhiễm khuẩn chảy vào phổi người bệnh Phần lớn điều dưỡng tham gia nghiên cứu có kiến thức đúng về việc sử dụng dây máy thở để dự phòng VPTM, bao gồm thời gian thay dây máy thở, thời điểm thay bộ làm ấm - ẩm, và xử lý dây máy thở để tái sử dụng, chiếm 94.5%; tuy nhiên vẫn có tỷ lệ nhỏ điều dưỡng chưa nắm đúng về kích thước đường kính dây máy thở (29.1%) 89.1% điều dưỡng nhận thức đúng về vị trí đặt của bẫy nước, tuy nhiên chỉ có 58.2% biết được giới hạn cho phép của lượng nước đọng trong bẫy nước.
Kết quả đánh giá kiến thức về việc sử dụng bộ lọc vi khuẩn cho điều dưỡng cho thấy 100% nhận thức được sự cần thiết của bộ lọc vi khuẩn trong dự phòng VPTM; tuy nhiên kiến thức về vị trí lắp bộ lọc vi khuẩn thở vào và ra chỉ có 49.1% nhận thức đúng Phần lớn điều dưỡng có kiến thức đúng về sử dụng bộ trao đổi nhiệt: sự cần thiết sử dụng bộ trao đổi ẩm nhiệt, sử dụng nước cất vô khuẩn trong hệ thống làm ẩm, mức nước trong bình làm ấm, ẩm và hệ thống dẫn lưu nước kín vào bộ làm ẩm lần lượt chiếm các tỷ lệ 92.7%, 98.2%, 96.4%, 92.7%; nhận thức về vị trí lắp bộ trao đổi ẩm nhiệt chỉ có 54.5% đúng Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Phạm Thị Vũ Nga, nhưng cao hơn so với Blott (2007) Tại Bệnh viện Đại học Ghent của Bỉ, nhóm nghiên cứu cho thấy có 49% điều dưỡng có kiến thức đúng về sử dụng hệ thống dây máy thở, 55% có kiến thức đúng về bẫy nước, 60% trả lời đúng về sự cần thiết có hệ thống dây dẫn kín xuống bình làm ẩm Có sự khác biệt này là do đối tượng nghiên cứu của Blott là tất cả các điều dưỡng trong bệnh viện và kết quả cho thấy mức độ hiểu biết trung bình của điều dưỡng các khoa điều trị tích cực cao hơn tại các khoa điều trị thường Trong nghiên cứu của chúng tôi đối tượng nghiên cứu lại chỉ là các điều dưỡng tại khoa hồi sức cấp cứu, ngày ngày chăm sóc người bệnh thở máy nên kết quả có cao hơn.
Trong quá trình thông khí nhân tạo, mất cơ hội vệ sinh họng miệng khiến các vi khuẩn từ mảng bám răng xâm nhập đường hô hấp và gia tăng mầm bệnh Vệ sinh răng miệng bằng dung dịch chlorhexidine đã được chứng minh làm giảm tỷ lệ viêm phổi liên quan đến thở máy (VPTM) Các nghiên cứu của Mori và cộng sự cho thấy chăm sóc răng miệng làm giảm VPTM so với nhóm không chăm sóc; Fields đã tiến hành thử nghiệm đối chứng với 200 bệnh nhân hồi sức cấp cứu cho thấy can thiệp chăm sóc răng miệng 3 lần/ngày và các biện pháp dự phòng VPTM có thể là công cụ mạnh để ngăn ngừa VPTM Nghiên cứu can thiệp của Đào Hữu Hưng tại Khoa hồi sức ngoại Bệnh viện Nhi Trung ương cho kết quả: tỷ lệ viêm phổi liên quan đến thở máy giảm 13,3% so với 20,8% ở nhóm không can thiệp; đờm mủ giảm 3,3% so với 16,7%; ran ẩm giảm xuống 30,0% so với 87,5%; hình ảnh tổn thương phổi giảm 20,0% so với 66,7% Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng ghi nhận 12,7% điều dưỡng chưa có kiến thức đúng về vệ sinh răng miệng bằng gạc cho người thở máy, trong khi vệ sinh răng miệng bằng dung dịch chlorhexidine có 70,9% điều dưỡng trả lời đúng.
Các thử nghiệm cho thấy nâng đầu bệnh nhân lên cao làm giảm nguy cơ hít phải dịch vị vào phổi Phân tích đa biến cho thấy yếu tố nguy cơ liên quan đến VPTM giảm 67% ở các bệnh nhân được duy trì tư thế nửa nằm nửa ngồi trong 24 giờ đầu thở máy Ảnh hưởng của việc duy trì tư thế đầu cao ở 30°–45° được chứng minh qua các nghiên cứu quan sát và thử nghiệm lâm sàng Nghiên cứu của Alexiou và cộng sự về tác động của tư thế đặt bệnh nhân lên tỷ lệ mắc VPTM cho thấy có liên quan giữa tư thế đầu giường ở 45° và tỷ lệ mắc VPTM.
Trong nghiên cứu so sánh hai nhóm bệnh nhân, nhóm 337 bệnh nhân cho kết quả thấp hơn đáng kể so với nhóm 1081 bệnh nhân nằm đầu ngửa Qua khảo sát, hầu hết điều dưỡng trả lời đúng về tư thế người bệnh khi thở máy, đạt 92,7%, cao hơn hẳn so với nghiên cứu của Blott (49%).
Nghiên cứu tại Bệnh viện Nhi Trung ương về thực trạng công tác quản lý, bảo dưỡng và sử dụng máy thở trong phòng ngừa kiểm soát nhiễm khuẩn do Đặng Thị Thu Hương thực hiện cho thấy kiến thức của 45 cán bộ y tế về sử dụng máy thở còn hạn chế: chỉ 8,9% có kiến thức đúng về sử dụng máy thở và 8,9% đúng về dây máy thở, trong khi 62,2% có kiến thức đúng về bộ lọc vi khuẩn Quan sát 75 máy thở cho thấy 72% máy thở được sử dụng đúng dây thở, 70,7% đúng bẫy nước, còn 22,7% được dùng đúng bộ làm ấm, làm ẩm và 5,3% đúng bộ lọc vi khuẩn Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy điểm trung bình kiến thức về sử dụng dây máy thở là 7.6 ± 1.5, về bẫy nước 1.4 ± 0.6, về bộ lọc vi khuẩn 5.1 ± 1.1, về bộ trao đổi nhiệt 6.5 ± 1.4, về chăm sóc người bệnh thở máy 4.6 ± 1.0; tổng điểm kiến thức về dự phòng viêm phổi thở máy đạt 24.5 ± 3.3, với mức thấp nhất 15 và cao nhất 31 Tỉ lệ điều dưỡng có kiến thức chưa đạt là 18.2% và có kiến thức đạt là 81.8% về dự phòng viêm phổi thở máy; kết quả này tương đồng với của tác giả Phạm Vũ Thị Nga, với tỷ lệ đạt 60.2%.
3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức chăm sóc dự phòng viêm phổi ở trẻ có thở máy
* Đối với lãnh đạo bệnh viện
Chúng tôi thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo và cập nhật kiến thức cho điều dưỡng hồi sức về chăm sóc dự phòng viêm phổi thở máy, đồng thời giám sát chặt chẽ sự tham gia của học viên trong suốt quá trình học để nâng cao kiến thức và thực hành đúng các biện pháp dự phòng viêm phổi thở máy, từ đó cải thiện chất lượng chăm sóc và kết quả điều trị cho người bệnh.
Chúng tôi tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài liệu phát tay như tài liệu bỏ túi để điều dưỡng viên có thể tham khảo bất cứ lúc nào khi cần thiết, giúp nâng cao tính sẵn có của thông tin và thúc đẩy chăm sóc bệnh nhân chất lượng Hệ thống này đảm bảo sự cập nhật nhanh chóng, tính chính xác và dễ hiểu của mọi tài liệu, từ đó tối ưu hóa quá trình làm việc trên ca trực Việc chuẩn hóa nội dung, định dạng và lưu trữ tài liệu phát tay được thực hiện khoa học nhằm dễ tra cứu và sử dụng thuận tiện trong mọi tình huống Thêm vào đó, việc duy trì cập nhật định kỳ và lắng nghe phản hồi từ đội ngũ điều dưỡng sẽ giúp bộ tài liệu bỏ túi luôn phù hợp với thực tế lâm sàng và nhu cầu tham khảo nhanh chóng.
- Tăng cường nhân lực điều dưỡng cho khối hồi sức để giảm tải công việc cũng như giảm số người bệnh một điều dưỡng phải chăm sóc
* Đối với lãnh đạo khoa
Các lớp học kiến thức lâm sàng được tổ chức nhằm tập trung vào các nội dung cốt lõi như: kích thước dây máy thở phù hợp với độ tuổi của trẻ; kiến thức về dung dịch xử lý dây máy thở và các hóa chất sử dụng; vệ sinh răng miệng cho trẻ; hiểu rõ mục đích sử dụng bộ lọc vi khuẩn và vị trí lắp bộ trao đổi nhiệt; và giới hạn cho phép lượng nước đọng trong bẫy nước.
Chúng tôi tổ chức lớp học kiến thức kết hợp với thực hành nhằm tăng hiệu quả học tập cho điều dưỡng Đồng thời, tiến hành kiểm tra kiến thức định kỳ để đánh giá năng lực và từ đó xác định hướng đào tạo tiếp theo phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh.
Lãnh đạo khoa và điều dưỡng trưởng phối hợp với nhân viên giám sát của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn và mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn tăng cường giám sát việc tuân thủ các biện pháp dự phòng viêm phổi thở máy (VAP) của điều dưỡng, nhấn mạnh nâng cao chất lượng thực hành và giảm nguy cơ nhiễm khuẩn trong chăm sóc bệnh nhân Đáng chú ý là việc giám sát vệ sinh tay của điều dưỡng viên để nhắc nhở, hỗ trợ kịp thời và đảm bảo tuân thủ đúng quy trình Sự phối hợp giữa lãnh đạo khoa, điều dưỡng trưởng và mạng lưới kiểm soát nhiễm khuẩn là nền tảng để tăng cường an toàn cho người bệnh và hiệu quả chăm sóc.
Đẩy mạnh giáo dục về các biện pháp chăm sóc dự phòng viêm phổi thở máy cho điều dưỡng trong các buổi giao ban sinh hoạt điều dưỡng nhằm nâng cao kiến thức và thực hành đúng về phòng ngừa VAP Cần lưu ý củng cố những kiến thức còn thiếu như kích thước dây máy thở phù hợp, vệ sinh răng miệng và tiệt khuẩn máy thở, từ đó góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện cũng như giảm chi phí điều trị.