1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ o0o TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN Đề tài “Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học trong đời sống xã hội” Giảng viên hướng.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
o0o
TIỂU LUẬN MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
Đề tài:
“Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học trong
đời sống xã hội”
Giảng viên hướng dẫn: Mai Thị Thanh
Nhóm sinh viên thực hiện:
Hà Nội 6/2021
Trang 2MỤC LỤC
Phần mở đầu 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan đề tài 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Kết cấu của đề tài 5
Phần nội dung 6
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về triết học mác – lênin 6
1.1 Sự ra đời của triết học và định nghĩa triết học 6
1.2 Triết học với tư cách là một khoa học 7
1.3 Đặc điểm của khoa học triết học 9
Chương 2: Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của Triết học Mác – Lenin trong đời sống xã hội 10
2.1.Chức năng thế giới quan: 10
2.2 Chức năng phương pháp luận: 13
Phần kết luận 15
Danh mục tài liệu tham khảo 16
Trang 3Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Will Durant, một Sử luân lí gia nổi tiếng từng nói: “Mọi môn khoa học đều bắt đầu là triết học và kết thúc là nghệ thuật.” Do đó không phải ngẫu nhiên mà có người cho rằng triết học Mác - Lênin là khoa học của mọi khoa học Cũng không phải ngẫu nhiên mà trong lịch sử, các triết gia được mệnh danh là nhà thông thái, thánh nhân, người nắm được bí mật của
sự vật thậm chí trong lịch sử nhân loại
Từ khi ra đời đến nay, triết học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển
và đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, triết học luôn phản ánh sự phát triển của trí tuệ con người, phát huy tư duy của con người, có khi trở thành vũ khí sắc bén nhất để phát triển
Đó là mặt tác động đến đời sống xã hội từ chính triết học Mác -
Lênin Ngày nay, khoa học kỹ thuật có những thay đổi nhanh chông cùng với sự phát triển không ngừng của đời sống xã hội nhưng ảnh hưởng của nó không hề làm giảm đi tính chất kì bí và vai trò đối với thực tiễn của triết học, mà vấn đề là phải có một tư duy lý luận, đúng đắn để không bị "lạc lối" trong sự phát triển đó
Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học trong đời sống xã hội ” Trước tầm quan trọng của triết học đối với sự phát triển tư tưởng xã hội và thực tiễn đời sống, bài viết này chỉ mong tổng hợp được một số vai trò của triết học trong đời sống xã hội dưới góc độ thế giới quan và phương pháp luận
2 Tổng quan đề tài
Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của triết học trong đời sống xã hội là một vấn đề rất thực tế để làm đề tài nghiên cứu Đã có nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu, các nhà báo viết về vấn đề này, giả dụ như:
+ Cuốn sách “Một số vấn đề về vai trò của triết học trong đời sống xã hội” của nhà soạn giả Trần Đức Thăng
Trang 4+ Cuốn sách “Vai trò của triết học trong việc hình thành thế giới quan khoa học cho học sinh - sinh viên hiện nay” của soạn giả Nguyễn Thị Thu Hà
+ Cuốn sách “Logic học và phương pháp luận nghiên cứu khoa học” của soạn giả Lê Tử Thành
+ Bài viết “Phương pháp, phương pháp luận và vai trò của phương pháp luận Triết học Mác Lênin” của ThS Trần Thiên Tú - Phó Trưởng khoa LL M-LN, TT HCM
+ Bài viết “Thế Giới Quan – Chiếc La Bàn Định Hướng Cuộc Sống” của Tác giả Bùi Quang Minh trên báo
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/08/29/1591/
Trong trường học, cụ thể như trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, đề tài này mới chỉ được nghiên cứu như một bài luận nhỏ, mang tính chất tham khảo
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích tiểu luận tập trung phân tích quan điểm triết học Mác – Lênin về con người, từ đó cho thấy thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác - Lênin có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội
- Làm rõ quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người - thực thể thống nhất giữa cái sinh học và cái xã hội
- Luận giải mối liên hệ giữa các yếu tố sinh học, xã hội và quá trính đời sống xã hội con người
- Nêu ra một số vai trò, chức năng của triết học với sự phát triển tư tưởng
xã hội và với thực tiễn đời sống xã hội
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vì đây cũng chỉ là một bài tiểu luận nhỏ, nên có sự giới hạn của nó trong việc nghiên cứu, đề tài chỉ tiếp cận và làm sáng tỏ phần nào nội dung
và tầm quan trọng của thế giới quan và phương pháp luận trong triết học
Từ đó điểm qua những vai trò của chúng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người Bên cạnh đó, luận văn được tham khảo từ các tài
Trang 5liệu, các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước về vấn đề này để hoàn thành bài tiểu luận một cách toàn diện nhất
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mac-Leenin, Chính sách của Nhà nước, của Đảng Cộng Sản Việt Nam là cơ sở phương pháp luận định hướng nghiên cứu
Ngoài các phương pháp luận, bài tiểu luận sử dụng các phương pháp
cụ thể, chú trọng phương pháp lịch sử tổng hợp kết hợp với logic, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kế, khảo sát, điều tra xã hội học và tổng kết thực tiễn,
6 Đóng góp của đề tài
Bài tiểu luận là cơ sở đánh giá quá trình học tập, tự nghiên cứu, tìm hiểu các nội dung học phần Những nguyên lí cơ bản của Chủ Nghĩa Mác Lenin Đồng thời có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên về sau
7 Kết cấu của đề tài
Luận văn gồm: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung gồm 2 chương và 5 tiết
Trang 6Phần nội dung
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về triết học mác – lênin
1.1 Sự ra đời của triết học và định nghĩa triết học.
1.1.1 Sự ra đời của triết học Mác Lênin
Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ VII trước công nguyên) tại một số trung tâm văn minh cổ đại của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hi Lạp Theo người Trung Quốc, thuật ngữ triết học có nguồn gốc ngôn ngữ là chữ triết và khoa học này hiểu theo nghĩa là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí, là sự hiểu biết sâu sắc của con người Theo người
ấn Độ, triết học được coi là Danshana, có nghĩa là chiêm ngưỡng nhưng mang hàm ý là trí thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người đến với lẽ phải.theo phương Tây thuật ngữ triết học xuất hiện ở HiLạp, theo tiếng HiLạp triết học là Philosophia, nghĩa là ‘yêu mến sự thông thái’,
nó là khoa học vừa mang tính định hướng vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu triết học đã là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức
xã hội
1.1.2 Định nghĩa triết học
Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều bao hàm những nội dung giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tư cách
là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động của chính thể nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sống
Trang 7cộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Vậy: Triết học là hệ thống trí thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí vai trò của con người trong thế giới ấy
1.2 Triết học với tư cách là một khoa học
Ngày nay, Triết học không còn là bí mật mà chỉ những nhà Triết học mới biết nữa (Ph.Ăngghen, "Chống Đuy-rinh") nó từ "Hhoa học của các khoa học" đã trở thành một môn khoa học độc lập Là một môn khoa học độc lập, Triết học cần phải có: Đối tượng riêng của nó, phải có phương pháp nghiên cứu (gần phương pháp luận và phương pháp riêng); có các vấn đề cơ bản, có các khái niệm và các phạm trù; các quy luật
1.2.1 Đối tượng của Triết học
Theo Ph.Ăngghen: "Triết học là khoa học về các quy luật chung nhất
sử sự vận động và phát triển của thế giới; từ tự nhiên, xã hội và cả tư duy", (Ph Ăng ghen, "chóng Đuy-rinh") Như vậy có thể coi đối tượng của Triết học là tự nhiên, xã hội và tư duy của con người nhưng Triết học không phải
là khoa học tự nhiên, khoa học về xã hội, khoa học về tư duy (logic học) mà
là khoa học chung nhất, nó coi thế giới là "một chỉnh thể thống nhất " các mặt trên
1.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Có một điều đặc biệt của khoa Triết học, đó là, với khoa học này thì sự khác nhau về phương pháp luận là cơ sở để phân biệt các trường phải Triết học (siêu hình hay biện chứng), thể hiện tính khoa học hay phản động của một hệ thống Triết học Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ đối tượng của Triết học: Coi thế giới như là một chỉnh thể, nghiên cứu bao trùm thế giới: tự nhiên, xã hội, tư duy Triết học nghiên cứu thế giới bằng phương pháp của riêng mình khác với mọi khoa học cụ thể: Nó xem xét thế giới như một chỉnh thể và tìm cách đưa ra một hệ thống các quan niệm về chỉnh thể
Trang 8đó Điều đó chỉ có thể thực hiện được bằng cách tổng kết toàn bộ lịch sử của
khoa học và lịch sử của bản thân Triết học
1.2.3 Vấn đề cơ bản của Triết học:
Triết học cũng như những khoa học khác phải giải quyết rất nhiều vấn
đề có liên quan với nhau, trong đó vấn đề cực kỳ quan trọng là nền tảng và
là điểm xuất phát để giải quyết những vấn đề còn lại được gọi là vấn đề cơ
bản của Triết học Theo Ph Ăngghen "vấn đề cơ bản lớn của mọi Triết học,
đặc biệt là Triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại Giải
quyết vấn đề cơ bản của Triết học không chỉ xác định được nền tảng và điểm
xuất phát để giải quyết các vấn đề khác của Triết học mà nó còn là tiêu chuẩn
để xác định lập trường, thế giới quan của các Triết gia và học thuyết của họ
Vấn đề cơ bản của Triết học có hai mặt mỗi mặt phải trả lời cho một câu hỏi
lớn:
Mặt thứ nhất: giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có
sau, cái nào quyết định cái nào?
Mặt thứ hai: con người có khả năng nhận thức được thế giới hay
không?
Trả lời cho hai câu hỏi trên liên quan mật thiết đến việc hình thành các
trường phái Triết học và các học thuyết về nhận thức của Triết học
1.2.4 Hệ thống các phạm trù và các quy luật
Mỗi bộ môn khoa học đều có một hệ thống phạm trù riêng của mình
phản ảnh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản và phổ
biến thuộc phạm vi khoa học đó nghiên cứu Với các khoa học chuyên ngành
các phạm trù chỉ phản ánh những mối liên hệ chung trên một lĩnh vực nhất
định của hiện thực thuộc phạm vi nghiên cứu của môn khoa học chuyên
ngành đó Khác với điều đó, các phạm trù của phép biện chứng duy vật
như:"(vật chất", "ý thức", "vận động", "đứng im", "mâu thuẫn" là những khái
niệm trung nhất phản ảnh những mặt những thuộc tính, những mối liên hệ
cơ bản và phổ biến nhất không phải chỉ của một lĩnh vực nhất định nào đấy
của hiện thực, mà của toàn bộ thế giới hiện thực, bao gồm cả tự nhiên, xã hội
Trang 9và tư duy Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, đều có quá
trình vận động biến đổi, đều có mâu thuẫn nghĩa là đều có những mặt,
những thuộc tính, những mối liên hệ được phản ánh trong các phạm trù của
Triết học
- Khi Triết học duy vật biện chứng ra đời; nó trở thành vũ khí lý luận
sắc bén cho giai cấp tiến bộ, nó kết tinh mọi tinh hoa của tư tưởng nhân loại,
vì vậy nó là "khoa học nhất", là "triệt để và hoàn mỹ nhất", là "sâu sắc và
toàn diện nhất" (V.I Lênin; "Ba nguồn gốc của chủ nghĩa Mác") Vì vậy có
thể coi các quy luật của Triết học duy vật biện chứng là quy luật cơ bản của
khoa học Triết học Triết học duy vật biện chứng gồm ba quy luật cơ bản:
+ Quy luật mâu thuẫn: nói lên nguồn gốc và động lực vận động và phát
triển của thế giới, cả về các mặt: tự nhiên, xã hội, và tư duy
+ Quy luật về mối quan hệ giữa mặt lượng với mặt chất nói lên cách
thức của sự phát triển
+ Quy luật phủ định của phủ định: nói lên con đường tất yếu của sự
phát triển
1.3 Đặc điểm của khoa học triết học
1.3.1 Triết học tồn tại như một hình thái ý thức xã hội
Như các hình thái ý thức xã hội khác (đạo đức, tôn giáo, khoa học )
Thì triết học cũng tồn tại với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, từ là có
đặc tính biến đổi phụ thuộc vào sự biến đổi của tồn tại xã hội và tác động trở
lại những điều kiện nhất định Tuy nhiên, triết học là một hình thái ý thức xã
hội đặc biệt: nó không phải là một bộ phận trong hình thái ý thức xã hội khoa
học vì bản chất nó cũng là một hình thái ý thức xã hội; nó không giống như
tôn giáo, là hình thái ý thức xã hội ra đời ngay từ thời nguyên thủy Triết học
chỉ ra đời khi con người đã có một vốn hiểu biết nhất định và đạt đến khả
năng rút ra được cái chung trong muôn vàn những sự kiện, hiện tượng riêng
lẻ và khi xã hội đã phát triển đến thời kỳ hình thành tầng lớp lao động trí óc
1.3.2 Triết học là hệ thống tri thức chung nhất
Điều này thể hiện qua định nghĩa về triết học và đối tượng của nó
Trang 101.3.3 Triết học mang tính giai cấp
Mỗi tư tưởng triết học đều đại diện cho một giai cấp nhất định trong
xã hội và cũng mỗi tư tưởng triết học phản ánh một giai đoạn một trình độ nhận thức về thế giới của mỗi thời đại nhất định Không có một thứ triết học phi giai cấp, một thứ triết học chung chung Mỗi hệ thống triết học đều có Chính Đảng của nó và trở thành vũ khí lý luận cho một giai cấp nhất định thường là có vai trò nổi bật trong lịch sử ở mỗi thời đại Cứ như vậy "Triết học vẫn có tính đáng của nó trong suốt thời hơn 2000 năm nay" (V.I Lênin)
Chương 2: Vai trò thế giới quan và phương pháp luận của Triết học Mác –
Lenin trong đời sống xã hội
Triết học nói chung và triết học Mác – Lê nin nói riêng cùng một lúc thực hiện nhiều chức năng khác nhau Vai trò xã hội của triết học Mác – Lê nin được biểu hiện ở các chức năng của nó trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Triết học Mác – Lê nin thực hiện nhiều vai trò, chức năng khác như: nhận thức, giáo dục, dự báo, thế giới quan, phương pháp luận Tuy nhiên, chức năng thế giới quan và phương pháp luận là hai chức năng cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê nin
2.1.Chức năng thế giới quan:
2.1.1 Khái niệm thế giới quan:
Thế giới quan là hệ thống các quan điểm chung nhất của con người
về thế giới, về bản thân con người, mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh và vị trí của con người trong thế giới đó, nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, ý nghĩa cuộc sống
Thế giới quan được hình thành trong quá trình con người sống, cải tạo thể giới và phát triển nhận thức Thế nhưng giới quan khoa học không hình thành một cách tự phát Muốn hình thành thế giới quan khoa học phải
có một cơ sở lý luận khoa học, mà lý luận đó tổng hợp được những tri thức khoa học, tổng kết được kinh nghiệm lịch sử của con người Lý luận đó chỉ
có thể là một hệ thống triết học khoa học Triết học khoa học là hạt nhân lý