1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SO SÁNH lạm PHÁT với tốc độ TĂNG TRƯỞNG GDP SO SÁNH lạm PHÁT VIỆT NAM với các nước TRONG KHU vực TRONG NHỮNG năm gần đây

41 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Lạm Phát Với Tốc Độ Tăng Trưởng GDP Và So Sánh Lạm Phát Việt Nam Với Các Nước Trong Khu Vực Trong Những Năm Gần Đây
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thống kê lạm phát ở Việt Nam : Theo lý thuyết kinh tế học, tăng trưởng, lạm phát, cán cân thanh toán, thất nghiệp lànhững yếu tố kinh tế vĩ mô đáng quan tâm ảnh hưởng tới cân đối vĩ mô c

Trang 1

DANH SÁCH, NHIỆM VỤ PHÂN CÔNG VÀ KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ

CỦA TỪNG THÀNH VIÊN TRONG NHÓM

Lạm phát ở Việt Namvới các nước trong khuvực những năm gần

So sánh lạm phát vớitốc độ tăng trưởngGDP

Lạm phát ở Việt Namvới các nước trong khuvực trong những nămgần đây

Giải pháp chống lạmphát ở Việt Nam

So sánh lạm phát vớitốc độ tăng trưởngGDP

So sánh lạm phát ởViệt Nam với các nướctrong khu vực nhữngnăm gần đây

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 8

4 Các phương pháp nghiên cứu khoa học: 6

CHƯƠNG 1 LẠM PHÁT VIỆT NAM TỪ NĂM 2011 – 2021 9

1 Thống kê lạm phát ở Việt Nam: 9

2 Các nguyên nhân căn bản 17

CHƯƠNG 2 SO SÁNH LẠM PHÁT VỚI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG GDP 22

Bảng 2.1: Lạm phát với tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2015 22

Bảng 2.2 : Lạm phát với tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2016-2021 29

CHƯƠNG 3 SO SÁNH LẠM PHÁT VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 39

CHƯƠNG 4: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 41 KẾT LUẬN 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường diễn biến phức tạp và cạnh tranh ngàycàng gay gắt , đặc biệt khi Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thếgiới (WTO) Thì lạm phát là một vấn đề đáng quan tâm bởi tác động của nó đối với sựphát triển kinh tế của đất nước là vô cùng to lớn Lạm phát là một trong những chỉ tiêuđánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia nhưng cũng là một trong nhữngtrở ngại lớn nhất trong công cuộc phát triển đất nước Đối với nước ta, phát triển kinh

tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước, cơ chế mới sẽ làmôi trường thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo xu hướng hiện đại Trong đó,lạm pháp nổi lên như là một vấn đề hết sức nghiêm trọng Vì vậy, việc nguyên cứu vềlạm phát, tìm hiểu nguyên nhân và các biện pháp chống lạm phát là hết sức cần thiết, sẽgiúp ta có một cái nhìn tổng quan hơn, đúc kết được kinh ngiệm để xây dựng chiếnlược phát triển đất nước trong thời gian sắp tới

Là sinh viên, nhóm chúng em đã thông qua các phương tiện truyền thông cũngnhư là tài liệu học tập để tìm hiểu và đưa ra những giải pháp hợp lý để giảm tỉ lệ lạmphát ở Việt Nam Vì vậy nên nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài : “Lạm phátcủa Việt Nam từ năm 2011 đến nay”

Do kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu xót, nhóm chúng em mongnhận được các ý kiến đóng góp của cô

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Những thông tin chung liên quan đến tình hình lạm phát củaViệt Nam từ năm 2011 đến tháng 1 năm 2022 - Những số liệu liên quan đến thực trạng lạm phátcủa Việt Nam từ năm 2011 đến tháng 1 năm 2022

- Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng lạm phát ở Việt Nam từ năm 2011 đến tháng 1 năm 2022

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, quá trình nghiên cứu đề tài cần giải quyết những nhiệm vụ

cụ thể như sau :

- Thứ nhất : Tìm hiểu về khái niệm, nguyên nhân dẫn đến lạm phát

- Thứ hai : Phân tích thực trạng lạm phát ở Việt Nam, so sánh lạm phát với tốc độ tăng trưởng GDP, so sánh lạm phát ở Việt Nam với các nước trong khu vực

- Thứ ba : Đưa ra những giải pháp nhằm chống lạm phát ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

4 Các phương pháp nghiên cứu khoa học :

Một đề tài, dự án, đề án, luận văn, tiểu luận nghiên cứu khoa học được hoàn thành thànhcông dựa trên sự kết hợp của nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, nhómchúng em cũng áp dụng các cách thức nghiên cứu như vậy đễ hoàn thành công việcnghiêm cứu về lạm phát ở Việt Nam từ năm 2011 đến nay Trong đó, các phương phápnghiên cứu khoa học thường được chia làm hai loại chính đó là phương pháp nghiên cứu lýthuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Cụ thể:

- Về nghiên cứu lý thuyết bao gồm các phương pháp sau :

Phương pháp phân tích – Tổng hợp lý thuyết: Tìm hiểu và liên kết từng mặt, từng

bộ phận thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được từ (Giáo trình, sách kinh tế, Google,…) để tạo ra một hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề mà nhóm nghiên cứu (cụ thể là quá trình lạm phát) Phân tích những ý thu thập được từ các nguồn khác nhau và chuẩn bị cho tổng hợp và tổng hợp lại giúp cho phân tích càng sâu sắc hơn

Phương pháp giả thuyết : Tức là nhóm em sẽ giả thuyết về sự lạm phát dựa trên những tài liệu đã tìm được thể hiện một hệ thống tri thức khoa học và tạo ra từ những ý kiến khác nhau đễ kết hợp lại thành giả định vốn là kết quả của sự nghiên cứu và đem những ý đó đem đi đối chiếu (so sánh) với nhau, để khái quát lại vấn đề

mà nhóm nhắm tới, phân tích nhờ hàng loạt sự kiện và quy luật

Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Là sau khi đã tìm hiểu lý thuyết

từ nhiều nguồn như: giáo trình, sách kinh tế,… tiếp theo sẽ là giai đoạn nhóm bắt tay vào phân loại lý thuyết là sắp xếp các tài liệu đã thu thập thành một hệ thống các

lý luận chặt chẽ Phân chia chúng thành từng đơn vị và từng vấn đề khoa học cụ thể,

có chung dấu hiệu hoặc cùng hướng phát triển

- Về nghiên cứu thực tiễn gồm các phương pháp :

Phương pháp điều tra: Là “Nghiên cứu các phương pháp khảo sát” Nhóm sẽ tiến hành làm khảo sát số liệu từ nhiều nguồn khác nhau để tìm kiếm số liệu chính xác nhất của vấn đề lạm phát, thống kê ứng dụng tập trung vào các cuộc điều tra nghiên cứu, phương pháp điều tra nghiên cứu việc lấy mẫu các đơn vị riêng lẻ từ các nguồnkhác nhau và các kỹ thuật thu thập dữ liệu điều tra liên quan, chẳng hạn như xây dựng bảng để tổng hợp lại những số liệu chính xác nhất

Phương pháp phân tích – Tổng kết kinh nghiệm: Phương pháp cuối cùng mà nhómthực hiện đó là nghiên cứu xem xét lại những thành quả của hoạt động tổng hợp đãthực hiện để rút ra những kết luận hợp lý và chính xác nhất của vấn đề Tổng kết

Trang 6

kinh nghiệm, hiểu biết cho bản thân thông qua nghiên cứu diễn biến và nguyênnhân của các sự kiện và nghiên cứu giải pháp thực tiễn đã áp dụng để tìm ra các giảipháp hoàn hảo nhất giúp cho bài làm đạt được kết quả tốt nhất có thể.

CHƯƠNG 1 LẠM PHÁT VIỆT NAM TỪ NĂM 2011 – 2021

1 Thống kê lạm phát ở Việt Nam :

Theo lý thuyết kinh tế học, tăng trưởng, lạm phát, cán cân thanh toán, thất nghiệp lànhững yếu tố kinh tế vĩ mô đáng quan tâm ảnh hưởng tới cân đối vĩ mô của nền kinh tế,trong đó yếu tố lạm phát là vấn đề được quan tâm hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào.Trong những năm gần đây, lạm phát luôn được Chính phủ quan tâm và dành nhiều nỗ lựcnhằm kiềm chế lạm phát ở mức hợp lý đồng thời bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững.Tuy nhiên, tốc độ tăng chỉ số CPI trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2011 luôn thuhút sự quan tâm và chú ý của các nhà nghiên cứu kinh tế và dư luận xã hội

Trang 7

CPI VI ỆT NAM T ỪNĂM 2011 ĐẾẾN NĂM 2021

Trang 8

Báo chí ngoại quốc và trong nước, những cơ quan tài chánh và đầu tư quốc tế từ đầu nămtới nay nói rất nhiều đến tình trạng lạm phát nghiêm trọng ở Việt Nam Điểm đặc biệt làtrong tất cả vùng Đông và Đông Nam Á, ngoại trừ Việt Nam mức lạm phát rất thấp, 1%như ở Đài Loan, 1,7% ở Mã Lai, 3,3% ở Thái Lan và cao nhất 6% ở Lào.

Chỉ số giá tiêu dùng cả nước trong 2 tháng đầu năm tăng tổng cộng 3,78% chủ yếu do tácđộng của Tết Như vậy, nếu tính toán một cách cơ học, tại thời điểm này, người ta đã “nhìn thấy ” lạm phát tăng khoảng 6% So với mục tiêu khống chế CPI dưới 7% mà Quốchội phê chuẩn cuối năm ngoái Chỉ trong quý một năm 2011, lạm phát ở Việt Nam đã lêntới 6,1% Các chuyên gia kinh tế cho rằng, việc Việt Nam có thể giữ được lạm phát năm

2011 ở mức dưới 7% là điều khó trở thành hiện thực Quý IV, trong các nhóm hàng hóa vàdịch vụ, các nhóm có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là: May mặc, mũ nón, giàydép tăng 0,86%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,69% (Lương thực tăng 1,40%;thực phẩm tăng 0,49%) Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68% Các nhóm hàng hóa vàdịch vụ có chỉ số giá tăng thấp hơn mức tăng chung gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng0,51%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,49%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,35%; thuốc vàdịch vụ y tế tăng 0,24%; giao thông tăng 0,16%; giáo dục tăng 0,05% Riêng nhóm bưuchính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,09%

Vào đầu năm 2011, tỉ giá và lãi suất cho vay ở các ngân hàng đã bị đẩy lên đến con số20%/năm, gây sốc cho thị trường tài chính và các nhà sản xuất kinh doanh Lãi suất caonhư hiện nay có nhiều nguyên nhân:

- Trước tình hình lạm phát cao, các ngân hàng thương mại phải tăng lãi suất để huy động được vốn

- Việc giám sát và xử lý các vi phạm của các ngân hàng thương mại còn nhẹ tay, cho nêncác ngân hàng đua nhau cạnh tranh nâng lãi suất đầu vào, sự cạnh tranh không lành mạnh giữacác tổ chức tín dụng

- Tính tự chủ của Ngân hàng Trung ương còn ở mức thấp, hạn chế trong việc sử dụng nguồn tiền tệ để can thiệp mạnh trên thị trường tiền tệ

Tốc độ tăng rất thấp của tháng 12 năm 2012 đã góp phần kiềm chế CPI cả năm chỉ tăng6,81% so với tháng 12/2011 và tăng 9,21% so với bình quân 12 tháng năm 2011 Như vậy,Việt Nam đã hoàn thành tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát cả năm 2012 thấp hơn mức chỉtiêu kế hoạch 7% mà Quốc hội đề ra

Theo Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê Đỗ Thức, mặc dù CPI cả năm 2012 thấp hơnnhiều so với mức tăng 18,58% của năm 2011 nhưng năm nay là năm giá cả có nhiều biếnđộng bất thường CPI tăng không quá cao vào hai tháng đầu năm nhưng lại tăng cao nhấtvào tháng chín với mức 2,2% chủ yếu do tác động của việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế vàgiáo dục Mức tăng CPI cũng đã chậm dần trong những tháng cuối năm nhờ tác động tíchcực của việc triển khai tăng cường công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá

Quý IV, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tháng 12/2012 so với tháng trước tăngcao hơn mức tăng chung là: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,17%; thiết bị và đồ dùnggia đình tăng 0,59%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,34%; đồ uống và thuốc lá tăng0,32%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,28% (Lương thực tăng 0,13%; thực phẩm

Trang 9

tăng 0,28%; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,4%) Các nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giáthấp hơn mức tăng chung hoặc giảm gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,15%; thuốc

và dịch vụ y tế tăng 0,14% (Dịch vụ y tế tăng 0,03%); giáo dục tăng 0,09% (Dịch vụ giáodục tăng 0,05%); giao thông giảm 0,43%; bưu chính viễn thông giảm 0,02%

Theo đánh giá đây là năm có tỷ trọng vốn đầu tư so với GDP đạt thấp nhất kể từ năm 2000trở lại đây Trong vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2012, vốn khu vực Nhà nước đạt374.300 tỷ đồng, chiếm 37,8% tổng vốn và tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước; khu vựcngoài Nhà nước 385.000 tỷ đồng, chiếm 38,9% và tăng 8,1%; khu vực có vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài 230.000 tỷ đồng, chiếm 23,3% và tăng 1,4%

Ngày 23/12, Tổng cục Thống kê công bố Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2013 và cảnăm 2013 Theo đó, chỉ số giá tiêu dùng tháng 12/2013 tăng 0,51% so với tháng trước vàtăng 6,04% so với tháng 12/2012 Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% sovới bình quân năm 2012

Tổng cục Thống kê cho biết: “Đây là năm có chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhất trong 10 năm trở lại đây”

Theo báo cáo quý IV từ Tổng Cục Thống Kê, trong các nhóm hàng hóa và dịch vụ, nhómnhà ở và vật liệu xây dựng có chỉ số giá tháng 12/2013 so với tháng trước tăng cao nhất vớimức tăng 2,31%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,57%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng0,49% (Lương thực tăng 1,22%; thực phẩm tăng 0,38%; ăn uống ngoài gia đình tăng0,17%); đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,25%; văn hóa,giải trí và du lịch tăng 0,13%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08% (Dịch vụ y tế tăng 0,02%);giáo dục tăng 0,02% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ còn lại có chỉ số giá giảm gồm: Giaothông giảm 0,23%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%

Theo Tổng cục Thống kê, ước tính năm 2013, có 76.955 doanh nghiệp đăng ký thành lậpmới, tăng 10,1% so với năm 2012 Số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừnghoạt động năm nay là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước Về hoạt độngcủa các doanh nghiệp Nhà nước, theo kết quả điều tra tại thời điểm 1/1/2013 cả nước có3.135 doanh nghiệp Nhà nước Kết quả điều tra có 2.893 doanh nghiệp trả lời, trong đó

2854 doanh nghiệp thực tế đang hoạt động, chiếm 98,7%; 39 doanh nghiệp ngừng hoạtđộng, chiếm 1,3%, bao gồm 24 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và 15 doanh nghiệpvốn nhà nước trên 50% “Trong số 24 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước ngừng hoạtđộng thì tỷ lệ doanh nghiệp chờ giải thể, phá sản là 41,7%; doanh nghiệp chờ sắp xếp lại là29,2%, doanh nghiệp ngừng để đầu tư đổi mới công nghệ là 12,5%, còn lại là nguyên nhânkhác”, Tổng cục Thống kê cho hay

Trái với mọi dự đoán và thông lệ, CPI tháng 12/2014 giảm tới 4,09 so với năm 2013 Nhưvậy, lạm phát theo cách tính của Việt Nam trong năm 2014 chỉ là 4,09% - một con số thấp

kỷ lục Đây là mức lạm phát thấp nhất trong 15 năm qua của Việt Nam Con số này cũng

đã thấp hơn đáng kể so với dự báo cách đây hơn 1 tháng của các chuyên gia kinh tế

Trang 10

khoảng 3%, càng thấp hơn rất nhiều so với mục tiêu kiểm soát lạm phát cả năm mà Chínhphủ đặt ra.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 2 nhóm chỉ số giá giảm khá mạnh: Nhà ở vàvật liệu xây dựng giảm 0,99%; giao thông giảm 3,09% (Đóng góp 0,27% vào mức giảmchung của CPI) Một số nhóm hàng hóa, dịch vụ giữ mức giá tương đối ổn định với mứctăng không đáng kể: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng0,03%; giáo dục tăng 0,03%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07%

Năm 2015 – năm có ý nghĩa to lớn và quan trọng, năm cuối thực hiện Kế hoạch phát triểnkinh tế – xã hội 5 năm 2011-2015 đã khép lại Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh củanăm 2015 là cơ sở và động lực cho việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế– xã hội năm 2016, năm đầu của Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020.CPI tháng 12/2015 tăng 0,6% so với cùng kỳ năm 2014, bình quân mỗi tháng CPI tăng0,05% CPI bình quân năm 2015 tăng 0,63% so với bình quân năm 2014 Mức tăng CPItháng 12/2015 so với cùng kỳ năm 2014 và mức tăng CPI bình quân năm 2015 so với bìnhquân năm 2014 đều là mức thấp nhất trong 14 năm trở lại đây và thấp hơn nhiều so vớimục tiêu CPI tăng 5% (năm ngoái, khi xây dựng Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 2015,Chính phủ đã chủ động đặt mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 5% để đảm bảo nền kinh tế

có tốc độ tăng trưởng hợp lý)

Lạm phát thấp thì người tiêu dùng được hưởng lợi và được hưởng trọn vẹn thành quả củatăng trưởng Nhưng một điều không thể không nhắc tới, đó là hệ lụy của việc lạm phát thấptới nền kinh tế sẽ như thế nào?

Khi lạm phát thấp, một câu hỏi luôn được đặt ra Đó là có phải vì tổng cầu vẫn còn thấphay không? Câu trả lời của năm 2015 là không hẳn, bởi tổng cầu của nền kinh tế được đothông qua tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đã có sự cải thiện.Chưa thể bằng giai đoạn trước khi nền kinh tế gặp khó khăn, nhưng như vậy tổng cầu đangdần hồi phục

Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,5% do giá gas điều chỉnh tăng tại thời điểm01/12/2015 và nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng trong những tháng cuối năm; may mặc, mũnón, giày dép tăng 0,32% do nhu cầu mua sắm hàng mùa đông tăng; nhóm đồ uống vàthuốc lá, hàng ăn và dịch vụ ăn uống cùng tăng 0,16% (lương thực tăng 0,45% do nhu cầugạo cho xuất khẩu tăng; thực phẩm tăng 0,13%); thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,14%; giáodục tăng 0,04% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Giao thông giảm1,57% chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh giảm vào thời điểm18/11/2015 và thời điểm 03/12/2015 (làm chỉ số giá xăng dầu giảm 3,39%); thiết bị và đồdùng gia đình giảm 0,1%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,05% , bưu chính viễn thônggiảm 0,03%

Chỉ số giá tiêu dùng năm 2015 thấp chủ yếu do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, nguồn cung về lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào; sản lượng lương thựccủa thế giới tăng cùng sự cạnh tranh của các nước xuất khẩu gạo lớn như Thái Lan, Ấn Độnên xuất khẩu gạo của Việt Nam càng gặp khó khăn, giá lương thực luôn thấp hơn cácnước Bình quân 11 tháng năm 2015, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam giảm 30,74

Trang 11

USD/tấn so với cùng kỳ năm trước Xuất khẩu gạo gặp khó khăn đã tác động đến giá bánbuôn, bán lẻ gạo trong nước giảm theo; chỉ số giá nhóm lương thực năm 2015 giảm 1,06%

Thứ ba, các Bộ, ngành và địa phương đã triển khai tích cực và có hiệu quả về những nhiệm

vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Bêncạnh đó, công tác quản lý thị trường, giá cả được các cấp, các ngành quan tâm thực hiện.Mức độ điều chỉnh giá của nhóm hàng do Nhà nước quản lý như dịch vụ giáo dục, dịch vụ

y tế cũng thấp hơn các năm trước Năm 2015 giá dịch vụ y tế được điều chỉnh với mức độthấp chỉ tác động đến CPI khoảng 0,07% ,giá dịch vụ giáo dục tác động đến CPI khoảng0,12% và giá điện điều chỉnh tăng 7,5% (ngày 16/3/2015) cũng chỉ tác động đến CPIkhoảng 0,19%

"Theo đuổi mục tiêu lạm phát thấp để tăng trưởng bền vững là rất quan trọng Những nămgần đây, chu kỳ lạm phát thấp rất ít, do đó chúng tôi khuyến nghị phải kiểm soát lạm phátchủ động, chứ không phải lạm phát rồi mới kiểm soát Như vậy nền kinh tế mới phát triểnbền vững ", đại diện Vụ Thống kê giá nhận định

Phát biểu tại cuộc họp báo công bố tình hình kinh tế - xã hội năm 2016 của Tổng cụcThống kê - Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức sáng 28/12, tại Hà Nội, Tổng cục trưởng Tổngcục Thống kê Nguyễn Bích Lâm nhấn mạnh, năm 2016 được coi là thành công trong việckiểm soát lạm phát trong điều kiện giá một số mặt hàng thiết yếu tăng trở lại nhưng vẫn tạođiều kiện để điều chỉnh giá một số mặt hàng do Nhà nước quản lý tiệm cận dần theo giá thịtrường Năm 2016 bình quân mỗi tháng chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,4%; CPI bìnhquân năm 2016 so với năm 2015 tăng 2,66%; CPI tháng 12 năm 2016 tăng 4,74% so tháng

12 năm 2015, thấp hơn so với mục tiêu 5% của Quốc hội đặt ra

Nhóm dịch vụ y tế là một trong những yếu tố quan trọng khiến CPI năm 2016 tăng Giácác mặt hàng dịch vụ y tế tăng 77,57% làm cho chỉ số CPI tháng 12/2016 tăng khoảng2,7% so với tháng 12 năm trước

Bên cạnh đó, thực hiện lộ trình tăng học phí cả nước có 53 tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương đã tăng học phí các cấp học làm cho chỉ số giá nhóm giáo dục tháng 12 năm

2016 tăng 12,5% so với tháng 12 năm trước Điều này tác động tới chỉ số CPI năm 2016tăng khoảng 0,58% so tháng 12 năm trước

Tuy nhiên, bên cạnh những yếu tố gây tăng giá, trong năm 2016 cũng có những yếu tố gópphần kiềm chế chỉ số CPI

Đó là: chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống năm 2016 (nhóm chiếm tỷ trọng lớnnhất trong 11 nhóm hàng chính) chỉ tăng 2,36% so với năm trước, thấp hơn nhiều so vớimức 4% của năm 2014 hay mức 8,12% của năm 2012 Năm 2016, giá xăng dầu bình quângiảm 15,95% so với năm trước và giảm 3,35% so tháng 12 năm trước, kéo theo chỉ số giá

Trang 12

nhóm hàng “giao thông” năm 2016 giảm 7,31% so với năm trước và giảm 1,12% so tháng

12 năm trước

Bình quân năm 2016 so với năm 2015, lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơbản, điều này phản ánh biến động giá do yếu tố thị trường có mức tăng cao, đó là giá lươngthực thực phẩm, giá xăng dầu và yếu tố điều hành giá cả qua việc điều chỉnh tăng giá dịch

vụ y tế và giáo dục Mức tăng của lạm phát cơ từ tháng 1 đến tháng 12 năm nay so cùng kỳ

có biên độ dao động trong khoảng khá hẹp từ 1,64% đến 1,88%, điều này thể hiện chínhsách tiền tệ đang được điều hành ổn định, giúp ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạmphát

Trong khi đó, nếu tính bình quân, thì CPI bình quân năm 2017 chỉ tăng 3,53% so với bìnhquân năm 2016 Như vậy, lạm phát năm nay của Việt Nam chỉ dừng ở con số 3,53%, thấphơn mục tiêu 4% mà Quốc hội đề ra Việt Nam đã có thêm một năm kinh tế vĩ mô ổn định.Không những thế, với tăng trưởng GDP ở mức ngoạn mục là 6,81%, kinh tế Việt Nam đã

có một năm đạt thắng lợi kép

Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất với 2,55% (dịch vụ y tế tăng 3,30%) do trongtháng có 15 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh tăng giá dịch vụ y tế (tácđộng làm CPI chung tăng khoảng 0,13%) Nhóm giao thông tăng 0,84%; may mặc, mũnón, giày dép tăng 0,43% do nhu cầu mua sắm hàng mùa đông tăng lên; đồ uống và thuốc

lá tăng 0,17%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,22% do giá gas, giá dầu hỏa và giá điện,nước sinh hoạt được điều chỉnh tăng, cùng với nhu cầu sửa chữa nhà ở tăng cao trongnhững tháng cuối năm Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,17%; thiết bị và đồ dùng gia đìnhtăng 0,12%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,03% Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ

số giá giảm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%, trong đó lương thực tăng 0,56%,thực phẩm giảm 0,5%; bưu chính viễn thông giảm 0,03% Riêng nhóm giáo dục giá khôngđổi so với tháng trước

Về chỉ số giá vàng, Tổng cục Thống kê cho hay, giá vàng trong nước biến động theo giávàng thế giới, bình quân đến ngày 20/12/2017 giá vàng thế giới ở mức 1261,8 USD/ouncegiảm 1,7% so với tháng trước Bình quân tháng 12, giá vàng tại thị trường trong nước giảm0,12% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 3.640 triệu đồng/chỉ vàng SJC

Về biến động đồng USD, trong tháng 12, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết địnhtăng lãi suất cơ bản thêm 0,25% lên mức 1,5% từ mức 1,25%, FED cũng thông báo sẽ thuhẹp quy mô bảng cân đối kế toán mỗi tháng 20 tỷ USD bắt đầu từ tháng 1/2018 từ mức 10

tỷ USD/tháng hiện tại, do kinh tế Mỹ năm 2017 tăng trưởng khá ấn tượng dự báo tăng2,2%, tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức thấp nhất trong vòng 10 năm

Trong nước, với cách điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm của Ngân hàng Nhànước Việt Nam với 8 đồng tiền chủ chốt, cùng với lượng kiều hối năm nay tăng cao ướctính tăng 16% so với năm 2016 đạt khoảng 13,8 tỷ USD nên giá đồng USD trong nước ổnđịnh, giá bình quân ở thị trường tự do tháng này ở quanh mức 22.700 VND/USD

Trang 13

Cụ thể, tính chung quý IV năm 2018, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 0,6% so với quý trước

và tăng 3,44% so với quý IV năm 2017 CPI bình quân năm 2018 tăng 3,54% so với bìnhquân năm 2017, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra

Thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 5,76% (dịch vụ y tế tăng 7,53%) do giá dịch vụ y tếđiều chỉnh tăng (làm CPI chung tăng 0,29%); may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,43%; đồuống và thuốc lá tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; hàng ăn và dịch vụ

ăn uống tăng 0,05% (lương thực tăng 0,17%; thực phẩm giảm 0,02%); nhóm bưu chínhviễn thông và nhóm văn hóa, giải trí và du lịch cùng tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ kháctăng 0,24% Riêng nhóm giáo dục giá không đổi so với tháng trước

Theo ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, trong 3 năm trở lại đâyChính phủ đã thực hiện rất thành công mục tiêu kiềm chế lạm phát Cụ thể, từ năm 2016đến nay, Chính phủ vừa thực hiện công tác điều chỉnh giá cả, nhưng vẫn giữ được mục tiêutối thượng là kiểm soát lạm phát dưới mục tiêu Quốc hội đề ra Năm 2016 lạm phát dưới5%, năm 2017 và 2018 lạm phát đều về dưới 4%

Đề cập vấn đề lạm phát, ông Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Công nghiệp và Thương mạiViệt Nam (VCCI), cho rằng: Trong khi lạc quan về tăng trưởng, Chính phủ có vẻ “thiếu tựtin” đối với mục tiêu kiềm chế lạm phát

Ông Lộc phân tích: Trong ba năm qua, đặc biệt là năm 2018, Việt Nam vẫn luôn giữ đượclạm phát ở mức dưới 4%, bất chấp những biến động mạnh về giá dầu, giá thực phẩm, về tỷgiá diễn ra đồng thời Lạm phát thấp đã và đang tạo điều kiện cho việc ổn định giá cả, ổnđịnh lãi suất, thúc đẩy tăng trưởng cao hơn và bền vững hơn “Vậy, tại sao chúng ta lạikhông tiếp tục kiên định mục tiêu kiềm chế lạm phát dưới 4%?” – ông Lộc đặt vấn đềnhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng cao nhất 3,42%, chủ yếu do nhóm thực phẩm tăng4,41% (làm CPI chung tăng 1%); lương thực tăng 0,45%; ăn uống ngoài gia đình tăng2,44% do ảnh hưởng của nhóm thực phẩm tăng (làm CPI chung tăng 0,22%) Nhóm giaothông tăng 0,61% do ảnh hưởng từ đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm30/11/2019 và điều chỉnh giảm vào thời điểm 16/12/2019 làm giá xăng, dầu tăng 1,27%(tác động làm CPI chung tăng 0,05%) Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,43% do giágas trong nước tăng 1,03% và giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,37%; may mặc, mũ nón,giày dép tăng 0,33%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng0,14%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; giáo dục và dịch vụ giáo dục đều tăng0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24% Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm0,09% so với tháng trước

Đặc biệt, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương đã phối hợp chặtchẽ, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm bảo đảm cân đối cung cầu, chuẩn bị tốt nguồnhàng, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, tổ chức các đoàn công tác liênngành kiểm tra tình hình triển khai thực hiện công tác quản lý bình ổn giá tại một số địaphương, điều hành tỷ giá theo cơ chế tỷ giá trung tâm linh hoạt Kết quả chỉ số CPI bìnhquân năm 2019 tăng 2,79% so với năm 2018 và tăng 5,23% so với tháng 12 năm 2018.Như vậy, mục tiêu kiểm soát lạm phát, giữ CPI bình quân năm 2019 dưới 4% đã đạt được

Trang 14

trong bối cảnh điều chỉnh được gần hết giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý đặt ra trong năm 2019.

Năm 2020, dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường làm tăng trưởng ở hầu hết cácngành, lĩnh vực chậm lại Tình hình đứt gãy thương mại quốc tế gây ra những hệ lụy tớihoạt động sản xuất và hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, kết thúc năm

2020, kinh tế Việt Nam đã có điểm sáng với tốc độ tăng trưởng khả quan, các chỉ số vĩ môđược đảm bảo Trong đó, mục tiêu kiềm chế lạm phát đã và sẽ được khống chế ở mức tăngdưới 4% như Quốc hội đã đề ra từ đầu năm

Tại buổi họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý IV và năm 2020 diễn rachiều 27-12, bà Nguyễn Thị Hương, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cho biết, tổngsản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 ước tính tăng 2,91% so với năm trước, tuy là mứctăng thấp nhất của các năm trong giai đoạn 2011-2020, nhưng trong bối cảnh dịch COVID-

19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội thì đây là thànhcông lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,23%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,26%; may mặc, mũnón và giầy dép tăng 0,48%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%; thiết bị và đồ dùnggia đình tăng 0,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,54%; giáo dục tăng 3,82%; hàng hóa vàdịch vụ khác tăng 2,2% Có 3 nhóm giảm giá: giao thông giảm 12,82%; bưu chính viễnthông giảm 0,55%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 2,28%.Chỉ số giá tiêu dùng năm 2020tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước Như vâ ¦y, mục tiêu kiểm soátlạm phát, giữ CPIbình quân năm 2019 dưới 4% của Quốc Hội đề ra đã đạt được trong bối cảnh một năm vớinhiều biến động khó lường

Theo báo cáo của Bộ Tài chính – cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo, mặt bằng giá cả thịtrường trong 10 tháng năm 2021 cơ bản nằm trong kịch bản điều hành giá đã đề ra ngay từđầu năm Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, CPI tháng 10/2021 ước giảm 0,1%-0,15%, bình quân 10 tháng tăng 1,81% - 1,83% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản

10 tháng ước tăng 0,82% - 0,86% Từ đầu năm đến nay, mặt bằng giá cả thị trườngtăng/giảm đan xen, một số mặt hàng có mức tăng cao do chịu tác động từ các yếu tố và giáthế giới

Nguyên nhân gây áp lực lên mặt bằng giá được Thứ trưởng Bộ Tài chính Tạ Anh Tuấn nêu

ra là do một số mặt hàng thiết yếu có biến động tăng giá do ảnh hưởng từ chi phí nguyênliệu đầu vào, chi phí vận chuyển logistics tăng như thức ăn chăn nuôi, phân bón, vật liệuxây dựng, giá mặt hàng xăng dầu, LPG trong nước tăng do tác động từ giá thế giới tăngmạnh khi nhu cầu chung trên thế giới tăng,…

Bên cạnh đó, các nguyên nhân làm giảm áp lực lên mặt bằng giá như tổng cầu nền kinh tếvẫn chưa hồi phục trong bối cảnh quý II và quý III chịu tác động rất lớn bởi tình hình dịchbệnh; một số lĩnh vực vẫn chịu tác động mạnh của dịch bệnh như dịch vụ văn hóa, giải trí

Trang 15

du lịch giảm mạnh, tiêu dùng cơ bản ở mức thấp, giá các mặt hàng thực phẩm cơ bản ổnđịnh, trong đó có thịt lợn giảm so với cùng kỳ năm trước do nguồn cung trong nước dồidào, nền tảng kinh tế vĩ mô, tỷ giá ổn định với các chính sách tiền tệ, tài khóa linh hoạt,thận trọng,…

Khẳng định công tác điều hành giá 10 tháng qua được thực hiện linh hoạt, có những quyếtđáp kịp thời, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải cho hay, giá xăng dầu trên thịtrường thế giới liên tục có xu hướng tăng do tổng thể của nhiều yếu tố như nhu cầu vận tải

và tiêu dùng tăng trở lại khi nhiều nước bắt đầu nới lỏng việc kiểm soát đi lại, một số quốcgia triển khai các gói kích thích kinh tế góp phần làm tăng nhu cầu tiêu thụ xăng dầu,…Trong nước, giá xăng dầu được điều hành theo giá thế giới, đồng thời kết hợp với việc sửdụng linh hoạt công cụ quỹ bình ổn giá nên đã hạn chế được mức tăng giá cao tại một sốthời điểm, qua đó góp phần cho ổn định mặt bằng giá cả chung, hỗ trợ cho công tác phòng,chống dịch

2 Các nguyên nhân căn bản :

Trong quá trình mở cửa phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế cao luôn đi kèm vớitình trạng nhập siêu mạnh Việt Nam là một nền kinh tế nhỏ mức độ mở cửa lớn tỷ

lệ xuất khẩu/ GDP luôn ở trạng thái trên 70%, trong khi đó trên 87% hàng hóa nhậpkhẩu của Việt Nam là nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất trong nước Dovậy, khi giá cả hàng hóa nguyên liệu đầu vào cho sản xuất trên thị trường thế giớibiến động sẽ tác động xấu tới hàng hóa trong nước cũng như giá cả hàng hóa xuấtkhẩu của Việt Nam, hay nói một cách khác, Việt Nam nhập khẩu lạm phát từ nướcngoài vào

Những nguyên nhân gây thâm hụt cán cân thương mại

– Đầu tư tăng cao: Chính sách tiền tệ nới lỏng: làm giảm lãi suất trong nước từ đó làm tăng đầu tư trong nước Người dân có mức tiết kiệm thấp

Bảng 1.2 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam năm 2011

Trang 16

dDocName=SBV281650&filename=283418.pdf )

- Lạm phát do cầu kéo

Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung – cầu Nguyên nhân chính là do

tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp

Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng cầu về hànghoá và dịch vụ Nhưng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăng cầu Áplực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vượt quá mức cung,song sản xuất vẫn không được mở rộng hoặc do sử dung máy móc với công suấtgiới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng được sự ra tăng của cầu Sự mấtcân đối sẽ được giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do cầu tăng lên (lạm phát do cầukém xuất hiện Chẳng hạn như ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc là một chỉ số cóích phản ánh lạm phát trong tương lai ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83%dẫn tới lạm phát tăng

Nguyên nhân của lạm phát do cầu kéo là do cung tiền, chi tiêu chính phủ và tỷ giá

hối đoái tăng

Trang 17

Lúc đầu nền kinh tế đạt ở mức cân bằng tại điểm 1 Khi các nhà hoạch định chínhsách muốn có một tỷ lệ thất nghiệp dưới mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên , họ sẽ đưa ranhững biện pháp nhằm đạt được chỉ tiêu sản lượng lớn hơn mức sản lượng tiềmnăng (Yt > Yn) Từ đó sẽ làm tăng tổng cầu và đường tổng cầu sẽ dịch chuyển đếnAD2 nền kinh tế chuyển đến điểm 1’ Lúc này sản lượng đã đạt tới mức Yt lớn hơnsản lượng tiềm năng và mục tiêu của các nhà hoạch định chính sách đã thực hiệnđược.

Tuy nhiên tỷ lệ thất nghiệp thực tế thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên nên tiền lươngtăng và đường tổng cung sẽ di chuyển đến AS2 ,đưa nền kinh tế từ điểm 1’ sang 2’.Nền kinh tế quay trở về mức sản lượng tiềm năng và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiênnhưng ở một mức giá cả P2 > P1 Lúc này tỷ lệ thất nghiệp lại cao hơn mục tiêu banđầu Do đó các nhà hoạch định chính sách lại tìm cách làm tăng tổng cầu Quá trìnhnày cứ tiếp diễn và đẩy giá cả trong nền kinh tế lên cao hơn

- Lạm phát do chi phí đẩy

Hình thức của lạm phát do chi phí đẩy phat sinh từ phía cung ,do chi phí sản xuấtcao hơn đã được chuyển sang người tiêu dùng Điều này chỉ có thể đạt trong giaiđoạn tăng trưởng kinh tế khi người tiêu dùng sẵn sàng trả với giá cao hơn Ví dụ :Nếu tiền lương chiếm một phần đáng kể trong chi phí sản xuất và dịch vụ và nếutiền lương tăng nhanh hơn năng xuất lao động thì tổng chi phí sản xuất sẽ tăng lên.Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho người tiêu dùng thì giá

Trang 18

bán sẽ tăng lên ,công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lương cao hơn trước đễphù hợp với chi phí sinh hoạt tăng lên điều đó tạo vòng xoáy lượng giá

Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên nhiên vật liệu tăng do tỷ giá tăng hợac khảnăng khả thác hạn chế

Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn được chuyển cho người tiêu dùng nội địacũng là một yếu tố gaay lên lạm phát Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng nội tệyếu đi hợac mất giá so với đồng tiền khác

Lạm phát do chi phí đẩy (cost-push inflation) là sự gia tăng liên tục của mức giáchung do có sự gia tăng tự sinh trong các loại chi phí sản xuất và cung ứng hàng hoá.Điều này có thể xảy ra do công nhân đòi tiền lương cao hơn, giới chủ tìm cách tănglợi nhuận, giá nguyên liệu nhập khẩu tăng, thời tiết bất thường làm cho sản lượnggiảm (chi phí cho mỗi đơn vị sản lượng tăng) hay việc chính phủ tăng thuế và vậndụng những chính sách khác làm cho chi phí sản xuất tăng lên Những hiện tượngnày làm cho đường tổng cung (AS) trong mô hình AD-AS dịch chuyển lên phía trênbên trái, dẫn tới giá cả cao hơn Các nhà tiền tệ cho rằng những hiện tượng như vậychỉ gây ra lạm phát khi đồng thời có sự gia tăng của cung ứng tiền tệ, tức ngân hàngtrung ương thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, làm cho đường tổng cầu dịchchuyển lên phía trên bên phải

- Lạm phát do cung tiền tệ tăng cao và liên tục

Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ ,khi cung tiền tệ tăng lênkéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát Có thể thấy ngưỡngtăng cung tiền để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng Khi nền kinh tế chưa toàndụng thì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều ,chưa khai thác nhiều Có nhiều nhàmáy xí nghiệp bị đóng cửa chưa đi vào hoạt động Do đó nhân viên nhàn rỗi lớn và

tỷ lệ thất nghiệp cao … Trong trường hợp này ,khi tăng cung tiền thì dẫn đến lãixuất giảm đến một mức độ nào đó ,các nhà đầu tư thấy rằng có thể có lãi và đầu tưtăng nhiều.từ đó các nhà máy ,xí nghiệp mở cửa để sản xuất ,kinh doanh Lúc nàynguyên nhiên vật liệu bắt đầu được khai thác ,người lao động có việc làm và sảnlượng tăng lên

Trường hợp tăng cung tiền có thể đạt được bằng hai cách :

Ngân hàng trung ương in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều kiện kinh doanhtốt ) hợac các ngân hàng thương mại có thẻ tăng tín dụng Trong cả hai trường hợpsẵn có lượng tiền nhiều hơn cho dân cư và chi phí Về mặt trung và dài hạn ,điều đó

Trang 19

dẫn đến cầu và hàng hoá và dịch vụ tăng Nếu cung không tăng tương ứng với cầuthì việc dư cầu sẽ được bù đắp bằng việc tăng giá.Tuy nhiên giá cả sẽ không tăngngay nhưng nó sẽ tăng sau đó 2-3 năm In tiền để trợ cấp cho chi tiêu công cộng sẽdẫn đến lạm phát nghiêm trọng Xét trong dài hạn lãi xuất thực tế (i) và sản lượngthực tế (Y) đạt mức cân bằng ,nghĩa là (i) và (Y) ổn định Mức cầu tiền thực tếkhông đổi nên M/P cũng không đổi Suy ra khi lượng tiền danh nghĩa (M) tăng lênthì giá cả sẽ tăng lên với tỷ lệ tương ứng Vậy lạm phát là một hiện tượng tiền tệ.Đây cũng chính là lý do tại sao Ngân hàng Trung ương rất chú trọng đến nguyênnhân này.

Khi cung lượng tiền lưu hành trong nước tăng, chẳng hạn do ngân hàng trung ươngmua ngoại tệ vào để giữ cho đồng tiền trong nước khỏi mất giá so với ngoại tệ; hay

do ngân hàng trung ương mua công trái theo yêu cầu của nhà nước làm cho lượngtiền trong lưu thông tăng lên cũng là nguyên nhân gây ra lạm phát

- Các nguyên nhân khác

Ngoài các nguyên nhân chủ yếu đã đề cập ở trên ,một số các nguyên nhân khác cũnggây ra lạm phát Thứ nhất có thể kể đến là tâm lý của dân cư Khi người dân khôngtin tưởng vào đồng tiền của Nhà nước ,họ sẽ không giữ tiền mà đẩy vào lưu thôngbằng việc mua hàng hoá dự trữ hoặc đầu tư vào một lĩnh lực kinh doanh nào đó …Như thế cầu sẽ tăng lên mà cung cấp không đáp ứng được cân bằng cung cầu trên thịtrường hang hoá không còn nữa và tiếp tục đẩy giá lên cao ,từ đó lạm phát sẽ xảy

ra Có thể thấy giá cả tăng lên làm tiêu dùng tăng ,cứ như vậy sẽ gây ra xoáy ốc lạmphát.Thứ hai thâm hụt ngân sách cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến tăng cungứng tiền tệ và gây ra lạm phát cao

Khi chính phủ lâm vào tình trạng thâm hụt ngân sách thì có thể khắc phục bằng cáchphát hành trái phiếu chính phủ đẻe vay vốn từ người dân nhằm bù đắp phần thiếu hụt.Biện pháp này không làm ảnh hưởng đến cơ số tiền và do vậy mà làm tăng mứccung ứng tiền tệ và không gây ra lạm phát Tuy nhiên khi sự thâm hụt trầm trọng vàkéo dài thì chính phủ phải áp dụng biện pháp in tiền.Việc phát hành tiền sẽ ảnhhưởng đến cơ số tiền tệ làm tăng mức cung ứng tiền ,đẩy tổng cầu lên cao và làmtăng thêm tỷ lệ lạm phát TUy nhiên,đối với các nước đang phát triển ,việc phát hànhtrái phiếu chính phủ gặp nhiều khó khăn vì nguồn vốn trên thị trường còn hạnchế Biện pháp in tiền được coi là có hiệu quả nhất Vì thế mà khi thâm hụt ngânsách càng nhiều và càng kéo dài thì tiền tệ sẽ tăng theo và tỷ lệ gây lạm phát cànglớn

Trang 20

Còn đối với những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì việc phát hành trái phiếu cólợi hơn.Nhưng việc phát hành này kéo dài sẽ làm cầu về vốn sẽ tăng và lãi xuất tăngcao hơn Lúc này để giảm lãi xuất trên thị trưòng Ngân hàng Trung ương lại phảimua vào các trái phiếu đó Như thế mức cung tiền lại tăng lên và dễ gây lạm phát.

Tóm lại , nếu như thâm hụt ngân sách kéo dài thì trong mọi trường hợp vẫn làm tăngcung tiền và lạm phát xảy ra là một điều chắc chắn

Một nguyên nhân nữa có thể gây ra lạm phát là tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá tăng đồngbản tệ sẽ bị mất giá Khi đó tâm lý những người sản xuất trong nước muốn đẩy giáhàng lên tương ứng với mức tăng tỷ giá hối đoái Mặt khac khi tỷ giá hối đoáităng ,chi phí cho các nguyên vật liệu ,hàng hoá nhập khẩu sẽ tăng lên Do đó giá cảcủa các hàng hoá này tăng lên cao.Đây chính là lạm phát do chi phí đẩy

Bên cạnh đó các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nước ,chính sách thuế, chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý, mất cân đối cũng xảy ra lạm phát

Ngày đăng: 28/12/2022, 03:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w