1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long doc

71 464 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Đồng bằng sông Cửu Long
Trường học Đại học RMIT Việt Nam
Chuyên ngành Nghiên cứu phát triển
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2003
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo PTF đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng PPAs ở 12 tỉnh của Việt Nam.. Khuôn khổ nghiên cứu cuối cùng bao quát

Trang 1

Ảnh: UNDP

Danh gia ngheo co su tham gia cua cong dong tai

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc

25-29 Phan Bội Châu, Hà Nội, Việt Nam

Tel: (84 4) 942 1495

Fax:(84 4) 942 2267

E-mail: registry@undp.org.vn

Web site: http://www.undp.org.vn

Dong bang song Cuu Long

Cơ quan Phát triển Quốc tế Ôx-trây-li-a Đại sứ quán Ôx-trây-li-a, Hà Nội Tel: (84-4) 831 7755

Fax:(84-4) 831 7706 Web site: http://www ausaid.gov.au

Trang 2

Đánh giá nghèo

có sự tham gia của cộng đồng tại

Đồng bằng sông Cửu Long

Tháng 7 – 8 năm 2003 

Trang 4

Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chiến lược toàn diện về tăng trưởng  và  xoá  đói  giảm  nghèo  (CPRGS)  và  bắt  đầu  quá  trình  triển  khai  thực  hiện CPRGS  ở  cấp  địa  phương.  Thông  qua  các  chiến  dịch  thông  tin  và  hàng  loạt  các  hội thảo vùng, cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của các chính quyền  địa  phương  về  các  phương  pháp  sao  cho  các  quy  trình  lập  kế  hoạch  của  địa phương có thể được thực hiện theo định hướng vì người nghèo hơn, dựa trên số liệu thực tế hơn, chú trọng vào kết quả hơn, cân đối tốt hơn trong các quyết định phân bổ nguồn lực và được giám sát tốt hơn.  

 

Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo (PTF) đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở 12 tỉnh của Việt Nam. Những đánh giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu chung để tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà các số liệu định lượng đã không mô tả được hết. Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử dụng cùng với số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam để cung cấp thông tin cho Ban thư ký CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay. Đánh giá nghèo cũng được thiết kế 

để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới về nghèo đói ở các vùng và trên toàn quốc  và  các  nghiên  cứu  này  cũng  đã  được  công  bố  riêng.  Các  đánh  giá  nghèo  theo vùng sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng năng lực cho các quy trình lập kế hoạch với định hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương.  

 

Tám nhà tài trợ đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, là cơ sở cho việc xây dựng báo cáo này và các đánh giá nghèo theo vùng bổ sung. Các nhà tài trợ bao gồm ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng Thế giới. Mỗi nhà tài trợ đóng vai trò chính ở một vùng của Việt Nam. Việc phân bố các vùng giữa các nhà tài trợ được tóm tắt ở Bảng, và dựa trên định hướng hoạt động của các nhà tài trợ trong từng lĩnh vực. Bằng cách  lựa  chọn  vùng  nào  mình  thấy  quen  thuộc  nhất,  thông  qua  các  dự  án  và  hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, các nhà tài trợ có thể tận dụng hoàn toàn được những hiểu biết tích luỹ được khi đã làm việc tại vùng đó.  

 

Các nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng ở 43 

xã  rải  rác  trên  toàn  quốc.  Trong  số  đó  có  hai  tổ chức  phi  chính  phủ  quốc tế  (Action Aid và SCUK), các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam, bao gồm Trung tâm phát triển nông thôn, Viện xã hội học (IOS), Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Long An, Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn (RDSC) và Viet‐nam Solutions.  Ngoài ra, có hai nhà tài trợ đã tiến hành nghiên cứu bằng cách lập các nhóm nghiên cứu gồm các chuyên gia trong nước dưới sự quản lý trực tiếp của nhà tài  trợ.  Kiến thức  và  kinh  nghiệm của  các  tổ  chức phi  chính  phủ  và  cơ  quan  nghiên cứu đóng vai trò then chốt đối với chất lượng của công tác này. Một cơ chế phối hợp 

đã được hình thành cho công tác đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng. Các 

Trang 5

thành  viên  của  hầu  hết  các  nhóm  nghiên  cứu  đã  tham  gia  xây  dựng  khung  nghiên cứu và đi đến thống nhất về mục tiêu cần đạt được trong công tác nghiên cứu thực địa. Công tác thực địa đã được một số nhóm tiến hành thí điểm, và đề cương nghiên cứu cũng được chỉnh sửa cho phù hợp với những bài học kinh nghiệm được rút ra. Khuôn khổ nghiên cứu cuối cùng bao quát những lĩnh vực nghiên cứu như sau: 

• Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo và khả năng dễ bị tổn thương; 

• Tiến bộ trong công tác tăng cường dân chủ ở cấp cơ sở, đặc biệt là mức độ các 

hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quy trình xây dựng kế hoạch và lập ngân sách; 

• Những thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản, tập trung vào sự tương tác của các hộ gia đình nghèo với các nhà cung cấp dịch vụ và các hộ nghèo có thể được tăng cường quyền lực như thế nào để có thể yêu cầu quyền lợi được cung cấp các dịch vụ cơ bản một cách hiệu quả hơn; 

Những Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng hiện nay đang được công bố thành bộ. Một báo cáo tổng hợp các kết quả của cả 43 xã và phân tích một cách tổng hợp hơn các chủ đề này cũng sẽ được công bố. Cũng sẽ có một báo cáo khác tóm tắt phương  pháp  tiếp  cận,  phương  pháp  nghiên  cứu  được  sử  dụng  và  những  câu  hỏi nghiên cứu chi tiết.  

Trang 6

Bảng: Quan hệ đối tác trong Đánh giá nghèo theo vùng

Đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân Vùng Những tỉnh trong

vùng

Các nhà tài trợ chịu trách nhiệm về đánh giá nghèo cấp vùng Tỉnh Huyện Xã

Nhóm nghiên cứu chịu trách nhiệm đánh giá nghèo

có sự tham gia

Bảo Thắng Bản Cầm

Phong Niên Lào Cai

Mường Khương Pha Long

Tả Gia Khâu

Tư vấn Ageless (tài trợ của DFID)

Vị Xuyên Cao Bồ

Thuận Hoá

Miền núi Đông Bắc Hà Giang , Cao Bằng,

Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh Miền núi Tây Bắc Lai Châu, Sơn La,

Hòa Bình

DFID

và UNDP

Hà Giang Đồng Văn Sang Tung

Thai Pin Tung

Action Aid (tài trợ của UNDP)

Hải Dương Nam Sách Nam Sách

Nam Trung Đan Phượng Thọ An

WB

Hà Tây Mỹ Đức Tế Tiêu

Phúc Lâm

RDSC (tài trợ của WB)

Nghi Lộc Nghi Thái Nghệ An Tương Dương Tam Đinh

Viện Xã hội học (tài trợ của JICA) Hải Lăng Hải Sơn

Hải An

Bắc Trung bộ Thanh Hóa, Nghệ An,

Hà Tinh, Quảng Bình, Quả Trị, Thừa Thiên Huế

GTZ

và JICA Quảng Trị

Gio Linh Gio Thành

Linh Thường

Nhóm nghiên cứu gồm Bộ LĐTBXH, Viện KHLĐXH, và các nhà nghiên cứu độc lập (tài trợ của GTZ) Sơn Hà Sơn Bá

Sơn Cao Duyên hải miền Trung Đà Nẵng,

Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa

ADB Quảng Ngãi

Tứ Nghĩa Nghĩa Thọ

Nghĩa An

Giải pháp Việt Nam (tài trợ của ADB)

Trang 7

Bảng: Quan hệ đối tác trong Đánh giá nghèo theo vùng (tiếp theo)

Đánh giá nghèo có sự tham gia Vùng Những tỉnh trong

vùng trách nhiệm về đánh Các nhà tài trợ chịu

giá nghèo cấp vùng Tỉnh Huyện Xã

Nhóm nghiên cứu chịu trách nhiệm đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân

EaHleo Eaheo

Ea Ral Dacrlap Đao Nghĩa

Thị trấn Ea Tam

Action Aid (tài trợ của ADB)

Đông Nam bộ TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng,

Ninh Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Thuận,

Phú Thọ Đồng Tháp

Tháp Mười Thanh Lợi Thanh Phú Mỹ Hưng

Trang 10

L ờ i c ả m ơ n

Xin chân thành cảm ơn UBND tỉnh, Sở LĐTB&XH, Sở KH&ĐT, Sở NN&PTNT, Sở Y 

tế, Sở GD&ĐT, Mặt trận tổ quốc và Hội phụ nữ tỉnh, tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Bến Tre; UBND  và  các  phòng  TCLĐTB&XH,  Phòng  KH&ĐT,  Phòng  GD&ĐT,  Phòng NN&PTNT,  Trung  tâm  Y  tế,  Trạm  Khuyến  nông,  Hội  phụ  nữ,  trường  học  và  nhân dân xã Mỹ Hưng, xã Thới Thạnh, Huyện Thạnh Phú và xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày (tỉnh Bến Tre), xã Phú hiệp, Phú thọ, huyện Tam Nông và xã Thạnh Lợi, huyện Tháp Mười (Đồng Tháp) về thời gian, lòng mến khách và sự giúp đỡ nhiệt tình dành cho nhóm nghiên cứu trong thời gian làm việc tại tỉnh. 

 

Cuộc đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp, do UNDP  và  AUSAID  tài  trợ,  do  một  nhóm  cán  bộ của  Trung  tâm  Chăm  sóc  sức  khoẻ ban đầu Long An – Bs. Lê Đại Trí, Trần Triêu Ngõa Huyến, Nguyễn Nhật Quang, Tô Thùy Hương, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Công Minh, Nguyễn Thị Nhẫn, Nguyễn Lê Hạnh; với sự hỗ trợ của các cán bộ xoá đói giảm nghèo của các cấp tại địa phương. Bs. 

Lê  Đại  Trí  chịu  trách  nhiệm  viết  bản  báo  cáo  này.  Cảm  ơn  Ngân  hàng  Thế  giới,  bà Carrie Turk và Thanh Hòa, đã hỗ trợ dàn xếp việc in Báo cáo này. 

Trang 11

 

Trang 12

Mục Lục

Lời nói đầu của nhóm hành động chống đói nghèo iii 

Những từ viết tắt  vii 

Lời cảm ơn  ix 

Tóm tắt Báo cáo  1 

1.    Hiểu biết về nghèo đói  1 

2 Dân chủ cơ sở và sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch      

       và quản lý ngân sách  1 

3 Cung cấp dịch vụ giáo dục, y t ế và khuyến nông 2 

4 Chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội 3 

5 Cải cách hành chính công 3 

6 Vấn đề môi trường 3 

Tổng quan về Nghiên cứu 4 

1.1. Địa bàn nghiên cứu 4 

1.1.1.     Đồng bằng sông Cửu Long 4 

1.1.2.     Bến Tre 4 

1.1.3 Đồng Tháp 5 

1.2 Phương pháp nghiên cứu 6 

1.2.1.    Nhóm nghiên cứu 6 

1.2.2.    Phương pháp nghiên cứu 7 

1.2.3.   Giới hạn nghiên cứu 8 

Các Phát hiện 10 

A. Hiểu biết về nghèo đói 10 

1.1.   Nhận thức về nghèo đói 10 

1.2.   Công bằng xã hội 12 

1.3.   Hỗ trợ có mục tiêu 15 

1.4.    Tạo việc làm và thị trường lao động 22 

B.  Sự tham gia và vai trò của người dân trong quá trình ra quyết định 25 

 Sự tham gia của cán bộ xã, ấp vào việc lập kế hoạch và ngân sách hàng năm 25 

 Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” 25 

 Sự tham gia của người dân vào các chương trình, dự án và hoạt động      

 tại địa phương 26 

 Về mối quan hệ với chính quyền địa phương 27 

 Khả năng tiếp cận với các nguồn thông tin 27 

 Những nhân tố đang ảnh hưởng đến việc thi hành Nghị định 29 ở cấp xã 28 

C. Tình hình cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế và khuyến nông 29 

 Cung cấp dịch vụ giáo dục 29 

 Cung cấp dịch vụ y tế 32 

 Cung cấp dịch vụ khuyến nông 33 

D. Chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội 38 

 Hỗ trợ đột xuất 38 

 Trợ cấp thường xuyên 40 

 Quản lý các quỹ hỗ trợ xã hội 40 

E.  Cải cách hành chính 41 

 Dịch vụ một cửa 41 

 Phân cấp quản lý 42 

 Luật doanh nghiệp 42 

Trang 13

Pháp lệnh công chức 42 

F. Môi trường 44 

Đồng Tháp 44 

Bến Tre 45 

Kết luận và Khuyến nghị 46 

Phần 1: Hiểu biết về nghèo đói 46 

Phần 2: Quy chế dân chủ và sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch và          quản lý ngân sách 47 

Phần 3: Thực hiện các dịch vụ y tế, giáo dục và khuyến nông 47 

Phần 4: Các hỗ trợ xã hội 49 

Phần 5: Cải cách hành chính 50 

Phần 6: Vấn đề và môi trường 50 

Các Phụ lục 52 

Tài liệu tham khảo 57 

Trang 14

Tóm tắt Báo cáo

Đợt PPA này được thực hiện vào tháng 7 và tháng 8 năm 2003 tại huyện Tam Nông, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp và huyện Thạnh Phú, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề chính: hiểu biết về nghèo đói, các mô hình hiện tại về sự tham gia và trao quyền trong các quá trình ra quyết định tại địa phương, tình hình cung cấp dịch vụ hiện nay trong giáo dục, y tế và khuyến nông, chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội, cải cách hành chánh công, môi trường và di dân. 

 

1 Hiểu biết về nghèo đói

Trong những năm gần đây, đời sống của người dân ngày càng khá lên. Cuộc sống của người nghèo cải thiện chậm hơn so với người trung bình và khá giả. Những hộ khá lên thường là hộ có buôn bán, kinh doanh, có đủ tư liệu sản xuất, có mối quan hệ xã hội rộng và công chức nhà nước. Trong khi đó, những hộ nghèo hơn và yếu thế hơn thường là những hộ không/ ít đất, thiếu kỹ thuật và có vấn đề về sức khỏe. Động lực lớn tạo nên những thay đổi này là tác động của chương trình tín dụng và sự phát triển 

có được mức thu nhập ổn định và tự mình thoát nghèo. 

 

Tiêu chuẩn thu nhập bình quân đầu người của Bộ LĐTBXH đang được chính quyền địa phương sử dụng để xác định tình trạng nghèo. Các tiêu chuẩn của người dân là đất ruộng, tài sản trong nhà, việc làm và tình trạng sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Có sự khác nhau đáng kể giữa tình trạng tình trạng nghèo đói (ví dụ như số 

hộ nghèo) nếu xét theo hai tiêu chuẩn nêu trên. Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xét hộ nghèo còn nhiều hạn chế do phương pháp tiếp cận từ trên xuống và áp lực của chỉ tiêu giảm nghèo được giao. 

 

Người nghèo dường như có rất ít cơ hội để thoát nghèo một cách bền vững. Trở ngại lớn  nhất  trong  công  tác  XĐGN  ở  ĐBSCL  là  tình  trạng  phần  lớn  hộ  nghèo  không  có hoặc có rất ít đất trong khi việc làm phi nông nghiệp có ít và các cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa phương phát triển chậm. 

 

2 Dân chủ cơ sở và sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch và quản lý ngân sách

Các quy tắc dân chủ cơ sở chưa được người dân và cán bộ điạ phương hiểu một cách đầy đủ. Phần lớn cho rằng dân chủ cơ sở giống như là thông tin cho người dân biết những gì đã được quyết định và họ sẽ thực hiện hoặc đóng góp những gì. Người dân không biết rõ vai trò và trách nhiệm của họ trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi giám sát các chương trình dự án tại địa phương. 

Trang 15

3 Cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế và khuyến nông

Giáo dục

Trong những năm qua, nhiều trường học và phòng học đã được xây dựng. Việc học hành của trẻ cũng dễ dàng và thuận tiện hơn. Chính sách miễn giảm học phí đã giúp 

đỡ  người  dân  đáng  kể  trong  việc  cho  con  em  đến  trường.  Tuy  nhiên,  những  hỗ  trợ này  vẫn  chưa  đủ  mạnh  để  giúp  trẻ  học  cao  hơn  sau  khi  hết  tiểu  học,  đặc  biệt  là  hộ nghèo. Các khoản tiền học sinh phải đóng và chi tiêu ở cấp trung học vẫn còn cao và 

là gánh nặng cho những hộ nghèo. Các lớp xóa mù cho người lớn không còn và kinh phí cho việc xóa mù nói chung vẫn còn hạn chế.  

 

Nghiên cứu phát hiện có sự khác nhau đáng kể giữa con số mù chữ ở người lớn theo báo cáo của Phòng Giáo Dục và con số thực tế ở các điểm nghiên cứu. Điều này cho thấy  những kế  hoạch  phát  triển  giáo dục có  thể  đã  không  theo  sát  với  thực  tế và  vì vậy, các hoạt động xóa mù cho người lớn đã không được coi trọng. 

Y tế

Phần lớn những hộ nghèo đều có thẻ bảo hiểm y tế và được điều trị miễn phí ở bệnh viện huyện, tỉnh. Việc khám chữa bệnh miễn phí đã giúp đỡ hộ nghèo rất nhiều, đặc biệt  là  trong  trường  hợp  hộ  có  người  bệnh  nặng.  Tuy  nhiên,  hiệu  quả  của  chương trình khám chữa bệnh miễn phí cho hộ nghèo vẫn chưa cao vì người nghèo ít có xu hướng đến bệnh viện nếu bệnh chưa nặng và việc khám chữa bệnh và điều trị ngoại trú với thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa được thực hiện hiệu quả và rộng rãi ở các trạm y tế 

xã và các phòng khám khu vực liên xã. Bên cạnh đó, còn có nhiều hộ nghèo chưa hiểu đầy đủ quyền lợi và cách sử dụng thẻ BHYT. Quyết định 139 đã được thực hiện khác nhau ở 2 tỉnh nghiên cứu. Không phải tất cả những hộ nghèo đều có thẻ BHYT.  

Khuyến nông

Đã  có  khá  nhiều  chương  trình  khuyến  nông  đang  được  thực  hiện  để  khuyến  khích sản xuất nhưng những chương trình này có mức độ bao phủ rất thấp và số hộ hưởng lợi còn ít. Cán bộ khuyến nông tuyến huyện còn thiếu và hiện vẫn chưa có mạng lưới khuyến  nông,  khuyến  ngư,  bảo  vệ  thực  vật  ở  tuyến  xã.  Hệ  thống  cung  cấp  dịch  vụ khuyến nông, lâm, ngư, bảo vệ thực vật và thú y vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế của người dân. Có những dịch vụ, chương trình mang đến lợi ích cho những 

hộ trung bình và khá, giàu hơn là những hộ nghèo.  

 

Các dịch vụ khuyến nông hiện tại chỉ thực hiện việc chuyển giao kỹ thuật chứ chưa cung cấp cây con giống và thông tin về giá cả đầu ra, thị trường cho người dân. Trong lĩnh vực chuyển giao kỹ thuật, các buổi tập huấn còn quá ít và nội dung tập huấn còn chưa  sát  với  nhu  cầu  thực  tế.  Trong  thời  gian  vừa  qua,  các  buổi  tập  huấn  chưa  tập trung  cho  người  nghèo,  những  hộ  đang  vay  vốn  để  chăn  nuôi  trọt.  Phần  lớn  người 

Trang 16

dân có được các thông tin và lời khuyên về khuyến nông thông qua các chủ đại lý bán thức ăn, phân bón và thuốc trừ sâu.

4 Chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội

Hỗ trợ khẩn cấp tập trung vào những hộ nghèo trong những trường hợp như lũ về sớm hoặc cháy, sập nhà đã giúp họ giảm bớt phần nào khó khăn. Tuy nhiên, do tuyến 

xã  hiện  không  quản  lý  các  quỹ  hỗ  trợ  xã  hội  nên  việc  thực  hiện  còn  tốn  nhiều  thời gian và chưa kịp thời. Vào mùa lũ hàng năm ở Đồng Tháp Mười, các cán bộ ấp, xã là người chọn danh sách hộ khó khăn để cứu trợ theo phương thức xoay vòng. Mặc dù các cứu trợ này đã giúp người nghèo cầm cự được trong một thời gian ngắn nhưng nó cũng tạo ra thái độ trông chờ, ỷ lại khi lũ không lớn và không về sớm. 

 

Việc  thực  hiện  trợ  cấp  thường  xuyên  được  thực  hiện  khá  giống  nhau  ở  hai  địa  bàn nghiên cứu, dựa theo quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ. Tính công bằng phụ thuộc vào tình hình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở từng địa phương. Mức hỗ trợ còn quá thấp so với nhu cầu thực tế của cuộc sống. 

 

5 Cải cách hành chính công

Các  thủ  tục  hành  chánh  đã  đơn  giản  hơn.  ở  hai  điểm  nghiên  cứu  đều  chỉ  mới  thực hiện mô hình một cửa. Tuy nhiên, phần lớn người dân không biết rõ về mô hình, vì vậy những quyền của họ với vai trò là các khách hàng đã không được biết và hiểu đầy 

đủ. Các thủ tục liên quan đến dịch vụ ngân hàng, hộ khẩu, đất đai đang được thực hiện ở tuyến huyện. 

 

Các cán  bộ huyện  xã  cho  rằng  việc  thay  đổi  từ  cán bộ  địa  phương  thành công chức nhà nước sẽ khiến cho các cán bộ tuyến xã làm việc hiệu quả và có trách nhiệm hơn. Người dân không hiểu về sự khác nhau và ít quan tâm đến sự thay đổi này.  

Trang 17

Tổng quan về Nghiên cứu 1.1 Địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Đồng bằng sông Cửu Long

Trải qua nhiều biến cố lịch sử, nhiều lần sáp nhập và chia tỉnh, đồng bằng sông Cửu Long  (ĐBSCL)  hiện  nay  bao  gồm  12  tỉnh  với  diện  tích  gần  40.000  km2  và  dân  số khoảng 17 triệu người. ĐBSCL có hệ thống sông ngòi và kinh đào chằng chịt. Khí hậu nhiệt  đới  gió  mùa  với  2  mùa  mưa  nắng  rõ  rệt,  lượng  mưa  dồi  dào  và  ít  gió  bão. ĐBSCL được hình thành trên lớp phù sa cổ và tiếp tục được sông ngòi bồi đắp hàng năm. Đất trồng trọt ở ĐBSCL bao gồm 4 loại chính là đất phù sa, đất phù sa nhiễm mặn,  đất  phèn  và  đất  cát  giồng.  Hầu  hết  các  tỉnh  đều  có  những  huyện  ven  biển  bị nước mặn xâm lấn khiến năng suất trồng trọt bị ảnh hưởng nhưng chứa nhiều tiềm năng nuôi trồng thủy sản. 

Đồng Tháp Mười là một vùng đất trủng rộng lớn trải rộng trên địa bàn của 4 tinh An Giang,  Long  An,  Đồng  Tháp  và  Tiền  Giang,  đất  đai  có  nhiều  phèn,  mỗi  năm  chịu ngập lụt khoảng 3 tháng. Trong hai thập niên gần đây, Đồng Tháp Mười được khai phá và trở thành khu vực sản xuất lúa quan trọng của ĐBSCL. 

Ngày  nay,  nguồn  tài  nguyên  thiên  nhiên  của  ĐBSCL  không  còn  dồi  dào  như  trước nữa. Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển nhanh, đa dạng và sự phân hóa kinh tế ngày càng rõ rệt. Một trong những đặc điểm về nghèo khổ của ĐBSCL là ngày càng có nhiểu người nghèo không đất. 

Nghiên  cứu  này  được  thực  hiện  tại  Bến  Tre  và  Đồng  Tháp,  là  hai  tỉnh  đại  diện  cho vùng  ven biển và Đồng Tháp Mười của ĐBSCL. 

 

1.1.2 Bến Tre

Bến Tre được hợp thành từ ba cù lao lớn là An Hóa, Bảo và Minh. Phía Đông của Bến Tre là biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km. Bến Tre có diện tích tự nhiên 231.501 ha, dân số 1.316.356 người. Về hành chánh, tỉnh Bến Tre gồm có thị xã Bến Tre và 7 huyện. Trong những năm gần đây giao thông đường bộ phát triển mạnh. Cống đập Ba Lai là một công trình ngọt hoá quan trọng cho nhiều huyện của tỉnh. Hiện nay, toàn tỉnh có 22.718  hộ  nghèo,  chiếm  tỉ  lệ  7,46%.  Nghiên  cứu  tiến  hành  ở  xã  Mỹ  Hưng,  xã  Thới Thạnh của huyện Thạnh Phú và xã Thành Thới B của huyện Mỏ Cày.  

 

Huyện Thạnh Phú, xã Mỹ Hưng và xã Thới Thạnh

Huyện Thạnh Phú cách trung tâm tỉnh khoảng 50 km, ở phía cuối Cù lao Minh và tiếp giáp với biển Đông. Diện tích tự nhiên của huyện 41.179 ha. Về hành chính, huyện có 

1 thị trấn và 17 xã. Kinh tế chủ yếu của huyện là nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Toàn huyện có 4.536 hộ nghèo trong tổng số 29.606 hộ, tỉ lệ 15.32%. Phần lớn nghèo là do thiếu đất (60%) và không có việc làm (30%) 

Xã Mỹ Hưng có 4 ấp với diện tích tự nhiên là 5.125 ha, trong đó 47 ha đất nông nghiệp. Trồng  lúa  và  nuôi  trồng  thủy  sản  là  hai  ngành  kinh  tế  chính  của  xã.  Hiện  có  319  hộ nghèo trong số 1.718 hộ của xã, tỉ lệ 7,84%. Thiếu đất chiếm phân nữa các nguyên nhân 

Trang 18

lộ 57 chạy xuyên qua xã. Còn lại, các trục lộ chính đều là đường đất. Tỉ lệ hộ nghèo ở 2 

ấp nghiên cứu Thạnh Khương và Thạnh Mỹ là 18,75% và 12,78%.  

Xã Thới Thạnh có 5.125 ha diện tích tự nhiên. Kinh tế chủ yếu của xã là trồng lúa kết hợp với chăn nuôi và kinh tế vườn. Nguyên nhân nghèo chủ yếu là thiếu đất (44%) và đông con (42%). Toàn xã có 6 ấp, 1.778 hộ với 370 nghèo, tỉ lệ 20,81%. Việc đi lại ở 2 ấp nghiên cứu là Xương Long và Xương Thạnh A tương đối khó khăn do đường đất và 

ra là thiếu đất (42%), thiếu kinh nghiệm sản xuất (33%), thiếu việc làm (23%) và thiếu vốn sản xuất (22,5%) 

 

Xã Thành Thới B có 4 ấp với diện tích tự nhiên là 1.820 ha. Các nguồn lợi chính của xã 

là trồng lúa, mía, cây ăn trái và tiểu thủ công nghiệp. Toàn xã có 286 hộ nghèo trong tổng số 2.025 hộ, tỉ lệ 14,12%. Thiếu đất sản xuất là nguyên nhân chính (78%) gây ra tình trạng nghèo, còn lại là do bệnh tật. Tỉ lệ hộ nghèo ở An Thiện và An Trạch Tây là 11,52% và 16,83%. 

 

Xã Phú Hiệp cách trung tâm huyện khoảng 12 km, có 4 ấp với diện tích đất tự nhiên 

là 6.054 ha. Kinh tế chủ yếu của xã là trồng lúa và trồng kiệu. Xã hiện có 478 hộ nghèo, chiếm 27,08% trong tổng số 1.765 hộ. Các nguyên nhân nghèo được kể đến là do thiếu vốn (83%), do thiếu đất (50%) và do không việc làm (19%). Hai ấp nghiên cứu ở xã là K10 và K12 có tỉ lệ hộ nghèo là 23,94% và 17,8%. 

Trang 19

đó có 412 hộ nghèo, tỉ lệ 18,49%. Xét về nguyên nhân nghèo, 50% là do thiếu vốn, 43% 

là do thiếu đất và 26% là do thiếu lao động. Nghiên cứu tiến hành ở ấp Long Phú và Phú Thọ B với tỉ lệ hộ nghèo là 12,77% và 14,36%. 

 

Huyện Tháp Mười và xã Thạnh Lợi

Tháp Mười là huyện trọng điểm về trồng lúa của tỉnh, cách trung tâm tỉnh chừng 40 

km về phía Đông bắc. Diện tích đất tự nhiên của huyện là 51.766 ha. Về hành chánh, huyện có 1 thị trấn và 12 xã. Toàn huyện có 2.608 hộ nghèo trong tổng số 16.025 hộ, chiếm tỉ lệ 10,02%. 

 

Xã  Thạnh  Lợi  nằm  cách  trung  tâm  huyện  khoảng  30  km,  mới  được  thành  lập  vào tháng 11 năm 1997. Toàn xã có 5 ấp. Diện tích đất tự nhiên của xã là 6.776 ha. Kinh tế chủ yếu là độc canh cây lúa. Hiện xã có 159 hộ nghèo, chiếm 18,97% trong tổng số 838 

hộ  của  xã.  Thiếu  vốn  (83%),  thiếu  đất  (72%)  và  thiếu  lao  động  (35%)  là  các  nguyên nhân  nghèo  chính  của  xã.  ấp  1  và  ấp  2  là  hai  ấp  nghiên  cứu,  có  tỉ  lệ  hộ  nghèo  là 20,05% và 32,14%. Giao thông chính của xã là đường thủy. Một số khu vực gần trung tâm xã đã bê tông hóa đường giao thông nông thôn. 

 

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Nhóm nghiên cứu

Bs. Lê Đại Trí, Trung tâm Truyền thông GDSK Long An, là nhóm trưởng của nhóm nghiên cứu nòng cốt. Nhóm này gồm có 8 thành viên và được chia làm 2 đội để thực hiện nghiên cứu tại 2 tỉnh. 

 

Đội trưởng Đồng Tháp

Tư vấn độc lập

Nghiên cứu viên Đồng Tháp

Trung tâm Truyền thông GDSK Long An

Nguyễn Thị Thanh Bình Cử nhân Ngôn ngữ học Nghiên cứu viên Đồng Tháp Trung tâm Truyền thông GDSK Long An

Lê Công Minh

Cử nhân y tế công cộng Đội trưởng Bến Tre

Trung tâm Truyền thông GDSK Long An

Nguyễn Thị Nhẫn Thạc sĩ xã hội học Nghiên cứu viên Bến Tre Trường Đại mở Bán công TP HCM

Nghiên cứu viên Bến Tre

Trung tâm Truyền thông GDSK Long An

 

Nhóm nghiên cứu viên địa phương bao gồm 21 thành viên ở mỗi tỉnh. Đó là cán bộ của các cơ quan, ban ngành đoàn thể ở các cấp tỉnh, huyện và xã có liên quan đến việc thực hiện chương trình XĐGN ở địa phương.  

Trang 20

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên nguyên tắc có sự tham gia của người dân và các cơ quan,  tổ  chức,  cá  nhân  có  liên  quan  đến  các  nội  dung  nghiên  cứu.  Nghiên  cứu  sử dụng  phương  pháp  định  tính  với  bảng  câu  hỏi  bán  cấu  trúc  và  các  kỹ  thuật  như: phỏng vấn cá nhân, thảo luận nhóm tập trung, nghiên cứu trường hợp, quan sát, xếp hạng ưu tiên, giản đồ Venn, phân loại kinh tế hộ, vẽ biểu đồ xu hướng, vẽ bản đồ xã hội   

 

Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tam giác để phân tích các vấn đề dưới những góc độ khác nhau từ phía người dân, từ phía các nhân vật chủ chốt và từ các nguồn thông tin thứ cấp.  

 

Bến Tre và Đồng Tháp là hai tỉnh được chọn đại diện cho vùng đồng bằng ven biển và vùng Đồng Tháp Mười. Có 6 ấp của 3 xã thuộc 2 huyện ở mỗi tỉnh được chọn để tiến hành nghiên cứu theo tiêu chuẩn: 

 

9 đã thực hiện đợt điều tra mức sống hộ dân cư năm 2002 

9 đại diện cho địa phương về tình trạng nghèo khổ, địa lý, văn hóa và phong tục tập quán   

 

Người dân cung cấp thông tin cho nghiên cứu thuộc hộ nghèo có sổ, hộ nghèo không 

sổ, hộ đã thoát nghèo, hộ có xu hướng thoát nghèo, hộ có nguy cơ rớt xuống nghèo, 

hộ kinh tế trung bình/khá, các phụ huynh học sinh, chủ nhiệm Hợp tác xã và những mạnh  thường  quân  trong  xóm  ấp.  Về  phía  các  nhân  vật  chủ  chốt,  nghiên  cứu  chọn phỏng vấn các lãnh đạo và cán bộ của cơ quan, ban ngành địa phương có liên quan đến các chủ đề nghiên cứu ở các cấp huyện, xã và ấp. 

 

Đối tượng cung cấp thông tin cho nghiên cứu

Số lượng thảo luận nhóm phỏng vấn cá Số lượng

nhân

Tổng số đối tượng cung cấp thông tin Đối tượng cung cấp

Trang 21

1.2.3 Giới hạn nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào chủ đề nghèo đói, cho dù người cung cấp thông tin là cán 

bộ các cấp hay là các nhóm dân khác nhau trong cộng đồng. Vì vậy, bức tranh được 

mô tả trong nghiên cứu là bức tranh về tình trạng nghèo đói chứ không phải là bức tranh tổng thể về tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa  của địa điểm nghiên cứu.  

Các nghiên cứu viên ở Bến Tre đã không phỏng vấn đủ các cán bộ tuyến huyện như 

dư định. Các cán bộ Đảng ủy và UBND hai huyện đã không có được thời gian mặc dù lịch phỏng vấn đã được họ sắp xếp trước. Tại Đồng Tháp, có sự chênh lệch về các số liệu phúc tra hộ nghèo cuối năm 2002 do tuyến tỉnh, huyện và xã cung cấp. Nghiên cứu đã đưa vấn đề này ra thảo luận ở các cuộc họp đội và quyết định chọn số liệu do tuyến xã cung cấp do có độ tin cậy cao hơn dựa trên danh sách các hộ nghèo và số lượng hộ nghèo theo từng phân nhóm.  

Trang 22

Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long

và các điểm Nghiên cứu

Long An 

Tiền  Giang  

Cà Mau

Kiên  Giang

Bạc Liêu 

Sóc  Trăng

Cần Thơ

An Giang

Đồng  Tháp 

VÜnh Long

Trà  Vinh 

Bến  Tre 

TP.HCM

Phú 

Quốc 

Thạnh  Phú 

Mỏ Cày  Th¸p M−êi

Trang 23

• Số hộ đói và nghèo đã giảm rõ rệt 

• Nhu cầu ăn, mặc và ở của người dân cũng được cải thiện.  

• Cơ sở hạ tầng như đường, điện, trạm y tế, trường học và chợ phát triển cũng làm cho người dân cảm thấy cuộc sống của họ có thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.  

 

Ảnh  hưởng  của  các  cơn  lũ,  đặc  biệt  là  năm  2000  có  làm  cuộc  sống  người  dân  trong năm này khó khăn hơn do mất mùa và hư hỏng nhà cửa, đường sá nhưng sau đó vẫn hồi phục và khá lên. 

 

Cuộc sống của người trung bình và khá giả cải thiện nhanh và nhiều hơn so với cuộc sống  của  người  nghèo.  Vì  vậy  khoảng  cách  giữa  giàu  và  nghèo  tại  các  điểm  nghiên cứu đã nới rộng hơn.  

Những yếu tố khiến cuộc sống của người nghèo thay đổi chậm là 

• Thiếu đất, vốn và các phương tiện sản xuất: phần lớn hộ nghèo ở các điểm nghiên cứu không có hoặc có ít đất. Họ cũng không có đủ vốn để đầu tư cho sản xuất 

• Thiếu  hỗ  trợ  kỹ  thuật:  hộ  nghèo  không  có/  không  được  tập  huấn  kỹ  thuật  nên chăn nuôi, trồng trọt dễ bị thất bại 

• Rủi  ro  trong  sản  xuất:  thất  bại  trong  các  lĩnh  vực  có  đầu  tư  lớn  như  nuôi  tôm, trồng kiệu khiến nhiều hộ rơi vào cảnh nợ nầng chồng chất. 

• Công việc ít và không ổn định: thu nhập của người nghèo chủ yếu dựa vào việc làm thuê vì vậy không ổn định. Việc tổ chức sạ lúa đồng loạt để chạy lũ ở Đồng Tháp đã làm cho thời gian có công việc làm thuê rút ngắn, chỉ còn 10‐15 ngày/ vụ 

và vì vậy thời gian không có việc làm tăng lên. Họ khó kiếm được việc làm phi nông nghiệp không có tay nghề và học vấn thấp. 

• Ngoài ra, giá cả sản phẩm đầu ra nông nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống người nghèo. Ở huyện Tam Nông, trong khoảng thời gian từ 1994 đến 1999, nhiều 

hộ trở nên nghèo hơn do lúa và kiệu mất giá. Phần lớn người trồng kiệu phải bán đất.  

Động lực của sự thay đổi

Những động lực tạo nên sự thay đổi này là  

• Tác động của các chương trình tín dụng đến các hộ trung bình và khá:  nguồn  vốn  từ 

Chương  trình  quốc  gia  giải  quyết  việc  làm  120  và  từ  các  nguồn  khác  như  Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp đã giúp các hộ này đầu tư nhiều hơn vào sản suất. 

Trang 24

ha.  Hệ  thống  đê  bao  cục  bộ  ở  Đồng  Tháp  giúp  nông  dân  sạ  lúa  vụ  hè  thu  sớm, tránh  được  lũ.  Đường  điện  chính  ở  Bến  Tre  xã  có  tác  động  tích  cực  đối  với  hộ trong việc sản xuất và chăn nuôi. Điện giúp người dân có thêm việc vào ban đêm  như làm dây thừng bằng xơ dừa, dệt chiếu, dệt thảm, lột dừa. 

• Có ít lũ lớn, sớm và thiên tai: ngoại trừ cơn bão Linda năm 1997 và cơn lũ lớn vào 

năm 2000, khí hậu thời tiết trong những năm vừa qua cũng khá thuận lợi cho sản xuất. Cần nhấn mạnh rằng lũ về hàng năm là điều bình thường ở khu vực Đồng Tháp Mười và người dân luôn sẵn sàng đón nhận để khai thác các nguồn lợi thủy sản và đất đai sẽ trở nên màu mỡ hơn vào vụ mùa sau. 

• Sự phát triển kinh tế của toàn vùng: trong những năm gần đây, nền kinh tế của khu 

vực ĐBSCL đã phát triển đáng kể nhờ vào việc xây dựng cầu Mỹ Thuận và nâng cấp quốc lộ 1A. Bên cạnh đó, giá cả hàng tiêu dùng như vải vóc, xe máy, TV cũng 

ở trong mức chấp nhận được nên việc ăn mặc, đi lại và giải trí  của người dân có khá hơn. Số vụ mùa trong năm tăng lên đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm theo mùa 

vụ. Giao thông phát triển giúp cho việc buôn bán, trao đổi hàng hóa nhanh hơn và cuộc sống cũng năng động hơn. Nhiều người dân đi tìm việc làm phi nông nghiệp, nông  nghiệp  ở  các  thành  phố  lớn  và  các  nơi  khác  trong  vùng  đã  đem  về  một nguồn tài chính đáng kể cho các thành viên ở quê nhà. 

Trang 25

• Những hộ buôn bán, kinh doanh cũng dễ dàng khá lên như các đại lý con giống, thức 

ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ sâu.  

• Những hộ có mối quan hệ xã hội tốt: người giàu và những cán bộ nhà nước cũng dễ 

dàng giàu lên nhờ nắm được các chủ trương chánh sách của nhà nước, biết tính toán làm ăn 

 

Khá lên nhờ nuôi cá lóc

Anh Nguyễn H. Ph. ở xã Phú Hiệp, huyện Tam Nông được xếp là hộ nghèo. Nhà không có ruộng, lại có 4 con và có một đứa bị khuyết tật. Gia đình anh chưa được vay vốn XĐGN, chưa được tập huấn về chăn nuôi. Tháng 8/ 2001 anh mượn hầm (ao)  nuôi  2.000  cá  con.  Thức  ăn  là  cá  tạp  giăng  bắt  được.  Lần  này  anh  lời  5  triệu. Tháng 8/ 2002 anh nuôi 5.000 cá con và có mua thêm khoảng 3 triệu thức ăn. Lần này anh lời  đến 15 triệu. Đến tháng 12/ 2002 anh chuộc lại ruộng và trở thành hộ thoát nghèo.  

Hiện anh đã mua được hầm cá lóc, chuẩn bị nuôi cá trong mùa lũ năm nay.  

Nguy cơ nghèo hơn

Những hộ có nguy cơ nghèo hơn thường là  

Có ít đất, ít vốn : những lợi nhuận từ sản xuất nhiều khi không đủ cho nhu cầu của cuộc sống. Trong trường hợp sản xuất thua lỗ, phần lớn những hộ này không có đủ vốn để tiếp tục đầu tư cho lần sau. Hầu hết những trường hợp này đều dẫn tới tình trạng bán đất, mắc nợ và dễ dẫn tới nguy cơ ngày càng nghèo hơn. 

 

Thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất:  họ  thường  xuyên  gặp  những  rủi  ro  trong công việc làm ăn, chủ yếu là gia súc, gia cầm chết. Ví dụ có nhiều hộ ở xã Mỹ Hưng không nằm được kỹ thuật nên nuôi tôm không thành công phải mang nợ từ 10 triệu đến 20 triệu đồng.  

Trang 26

Gặp phải tình trạng rớt giá nông sản : trong trường hợp người dân gặp rủi ro về giá 

cả  như  đa  số  các  trường  hợp  nuôi  cá  lóc,  trồng  kiệu  hoặc  trồng  mía,  thu  nhập  của người nghèo bị ảnh hưởng nghiêm trọng và họ không thể gượng dậy.  

Có ít lao động chính nhưng có nhiều người ăn theo : đó là những trường hợp như  

• Trong nhà có người bệnh hoạn phải điều trị tốn kém ở bệnh viện hoặc bệnh mãn tính.  Khi  đó  họ  phải  tốn  nhiều  tiền  cho  việc  điều  trị  và  bản  thân  những  người chăm sóc cũng không có nhiều thời gian để đi làm.  

• Những hộ có nhiều con nhỏ. Trong giai đoạn con còn nhỏ, chưa đi làm được, họ thường rơi vào cảnh nghèo.  

• Hôn  nhân  tan  vỡ  hoặc  tình  trạng  goá  bụa  cũng  dẫn  tới  cảnh  nghèo  nếu  như những hộ này không có được chổ dựa vững chắc.  

Làm ăn thất bại do sản phẩm bị rớt giá liên tục

Anh T. 30 tuổi ở An Trạch Tây xã Thành Thới B có 2 con nhỏ, một đứa 6 tuổi và một đứa 8 tháng, và 1 mẹ già. Cả gia đình chỉ trông cậy vào anh là lao động chính trong gia đình. Do nhà có 3 công đất nên gia đình vừa trồng mía, vừa nuôi heo cũng đủ sống và có dư chút đỉnh.  

Từ năm 2002,  giá mía rớt chỉ còn 1.200đ/kg, và giá heo con chỉ còn 15.000đ/kg nên anh bị lỗ liên tục. Thấy người ta trồng lát (cói) có ăn nên anh mượn 2 triệu để trồng. Khi thu hoạch giá lát chỉ còn 700đ/kg. Qua nhiều lần bị thất bại do sản phẩm bị rớt gíá anh phải bán 1 công ruộng bị trả nợ. 

nhưng hiện nay thuộc hộ nghèo loại D. Năm 2000 ông vay ngân hàng 5 triệu đồng 

để nuôi tôm nhưng tôm chưa thu hoạch đã chết. Đến hạn trả vốn ông phải vay bên ngoài 6 triệu để trả  ngân hàng và vay tiếp 9 triệu vào năm 2001 để theo đuồi nuôi tôm. Một lần nữa tôm bị chết và ông không trả được nợ. Vụ tôm năm 2003 ông không được vay ở ngân hàng nữa nên đành mua chịu tôm giống hết 9 triệu đồng. Tổng cộng số tiền hiện nợ là 18 triệu.  

Ông hy vọng vụ tôm này ông sẽ thắng. Nếu thắng lần này ông sẽ trả được nợ, nếu thua ông sẽ trốn đi nơi khác  

Trang 27

Những rủi ro dẫn tới tình trạng nghèo

Những  rủi  ro  làm  cho  người  dân  dễ  bị  nghèo  đi  ở  hai  điểm  nghiên  cứu  khá  giống nhau.  

 

Nhóm nghèo: hiện nay họ đang được hưởng lợi từ các chương trình quan trọng là cho 

vay vốn sản xuất, khám chữa bệnh miễn phí và cứu trợ thường xuyên lẫn đột xuất mà vẫn chưa thể thoát nghèo.  

Nghèo

Thiếu vốn và kỹ thuật sản xuất 

Trang 28

Nhóm đã thoát nghèo: mặc dù đã được công nhận là thoát nghèo nhưng thực tế thu 

nhập và cuộc sống của nhóm này không hơn nhón nghèo là mấy. Họ cũng sẽ dễ tái nghèo nếu không còn được hưởng lợi từ các chương trình trên.  

 

Đời sống của phụ nữ

Trong bối cảnh chung đang có xu hướng khá lên, đời sống kinh tế của phụ nữ có khá hơn những năm qua. Họ có nhiều cơ hội hơn để tìm việc làm tăng thu nhập. Phụ nữ 

ăn mặc đẹp hơn vì vải vóc rẻ và nhiều chủng loại. Những phụ nữ trung bình hoặc khá giàu có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động xã hội.  

 

Đời sống phụ nữ nghèo nói riêng thường ít có thay đổi. Do thiếu đất, thiếu vốn nên thu nhập của họ ít được cải thiện. Họ cũng chưa có điều kiện thuận lợi hơn để giải trí, thăm viếng người thân và mở rộng quan hệ xã hội.  

 

Công lao động của phụ nữ ở cả hai nơi khảo sát vẫn còn thấp hơn nam, ví dụ công làm thuê của nam ở Tháp Mười là 30.000 VND/ ngày; nữ 20.000 VND/ ngày. 

 

Nhóm nghiên cứu không thấy có sự khác biệt về mức độ tổn thương giữa nam và nữ 

vì các tiêu chuẩn được hưởng phúc lợi xã hội là như nhau cho cả hai giới. Nhưng có thể thấy trước rằng khi mức sống của các nhóm này bị giảm sút thì có thể người  phụ 

nữ sẽ cực hơn do những phân biệt về giới đã có sẳn trong xã hội và công việc nội trợ được dồn lên vai người phụ nữ. 

• Cán bộ XĐGN huyện, xã, trưởng ấp và tổ trưởng đến từng nhà để đánh giá thu nhập hộ gia đình.  

• Sau đó là mời những hộ khá, hộ có uy tín để bình nghị danh sách hộ nghèo, hộ thoát nghèo. Kết quả khảo sát được chuyển đến ban XĐGN xã 

• Ban XĐGN huyện và tỉnh phê duyệt danh sách hộ nghèo 

• Sổ hộ nghèo được chuyển về huyện, xã và ấp để cấp cho các hộ. 

 

Các hộ nơi khác đến tạm trú từ 6 tháng trở lên đều được xét giống như các hộ khác. Đối  với  các  hộ  nghèo  năm  trước,  đến  hạn  phúc  tra  năm  sau  nếu  không  có  ở  địa phương thì vẫn được vào danh sách hộ nghèo nhưng ở dạng hộ không điều tra được. Khi họ về, các cán bộ ấp sẽ có trách nhiệm xác minh lại và báo cáo sau. 

Tại huyện Thạnh Phú và Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre

Vào cuối năm 1999, trong đợt xét hộ nghèo đấu tiên, qui trình xét duyệt ở Thạnh Phú 

và Mỏ Cày được thực hiện theo các bước sau 

 

• Đầu tiên là những người dân tự tính mức thu nhập của từng hộ để đưa ra biều quyết công khai trong cuộc họp tổ tự quản và lập danh sách hộ nghèo.  

Trang 29

• Danh sách này được gởi về Ban nhân dân ấp để phân loại theo A, B, C, D. Cuộc họp xét này có tham dự của Ban nhân dân ấp và tổ trưởng tổ tự quản và CB xã phụ trách ấp, có nơi có thêm sự tham dự của người dân khá hoặc giàu. Danh sách 

hộ nghèo được phân loại và gởi lên cho Ban XĐGN xã.  

• Ban XĐGN họp xét với thành phần gồm bí thư xã, trưởng ban XĐGN, các thành viên Ban XĐGN và các trưởng ấp. Ngoài ra 1 cán bộ huyện cũng tham dự trong cuộc  họp  này.  Danh  sách  hộ  nghèo  được  thông  qua  theo  từng  ấp.  Sau  đó  danh sách hộ nghèo được niêm yết công khai tại xã 15 ngày trước khi gởi về huyện.  

• Tại huyện cuộc bình xét chỉ tập trung vào những hộ nghèo loại A. Nếu có khiếu nại  thắc  mắc  hoặc  nghi  ngờ  không  công  bằng  thì  huyện  sẽ  tiến  hành  phúc  tra. Cuối  cùng  Ban  XĐGN  ra  quyết  định  công  nhận  để  đưa  về  tổ  tự  quản  hoặc  cấp trực tiếp cho người dân.  

 

Với qui trình trên thì ít nhất là sau 3 tháng người dân mới được cấp giấy chứng nhận 

hộ nghèo. Tại các xã của Bến Tre hai khu vực nghiên cứu, việc xét duyệt chỉ làm đúng trình tự ở lần xét duyệt đầu tiên.  

Hộ khá, hộ uy tín tham gia bình nghị. Hộ nghèo không được mời tham dự. 

Ban XĐGN xã và huyện đóng vai trò quyết định  

Trưởng ấp hoặc tổ trưởng tổ Nhân dân Tự quản là người phát sổ 

Sự tham gia thấp

Quá trình xét chọn hộ nghèo ở Đồng Tháp

Trang 30

Cách phân loại hộ nghèo

Những  hộ  được  công  nhận  là  nghèo lại  được  phân  ra  thành nhiều  loại.  Mỗi  tỉnh  có cách  phân  loại  hộ  nghèo  khá  khác  nhau  và  điều  này  dẫn  tới  quyền  lợi  được  hưởng của người nghèo ở hai tỉnh cũng rất khác nhau. 

Ban XĐGN xã và 1 thành viên của ban XĐGN huyện

Chỉ tập trung vào hộ nghèo loại A và ban XĐGN huyện có vai trò quyết định

Trưởng ấp hoặc tổ trưởng tổ Nhân dân Tự quản là người phát sổ 

Quá trình xét chọn hộ nghèo ở Bến Tre

Trang 31

cán  bộ  xã,  ấp  chủ  động  không  công  bố.  Họ  “sợ hộ nghèo biết tiêu chuẩn xếp loại sẽ 

khai báo về thu nhập không đúng sự thật”. Ở hai huyện của Bến Tre chính quyền có 

công  bố  ở  lần  xét  đầu  tiên  nên  người  dân  không  nhớ  còn  những  người  không tham dự thì không biết. 

• Người nghèo không được mời tham gia (Đồng Tháp) hoặc chỉ tham gia rất ít (Bến Tre). Hướng dẫn xét hộ nghèo đã không nhấn mạnh rằng người nghèo cần phải được  mời  tham  gia,  người  nghèo  không  được  mời  tham  gia.  Cũng  không  có  tổ chức cuộc họp dân chính thức để bình xét ngoại trừ năm 1999 ở Bến Tre.  

Có  hai  thái  độ  trái  ngược  nhau  về  kết  quả  xét  hộ  nghèo  của  những  người  có  trách nhiệm.  

• Cán bộ xã, ấp và hộ nghèo có sổ thì tỏ ra hài lòng vì họ cho rằng mức độ chính xác khoảng 90%. Dầu vậy, họ cũng thấy có phần không công bằng đối với những hộ sát  với  ngưỡng  phân  loại,  ví  dụ  những  hộ  có  thu  nhập  105.000‐120.000  VND/ người/  tháng  ở  Đồng  Tháp có  đời  sống  cũng  khó  khăn  không  khác  hộ  nghèo  là mấy nhưng không được xét. 

• Phần lớn những hộ nghèo không có sổ tỏ thái độ không hài lòng vì cho rằng chính quyền còn bỏ sót hộ nghèo. Họ nói có một số trường hợp hộ khá, hộ quen biết, bà con với trưởng ấp vẫn được có sổ.  

Một số ít hộ nghèo chưa có sổ không phàn nàn vì nghĩ rằng trong đợt xét sau họ sẽ được công nhận.  

Ở cả hai nơi, qui trình xét hộ nghèo có thể khá chặt chẻ và công bằng ở năm đầu tiên, nhưng ở những năm tiếp theo thì việc xét chọn hộ nghèo khá dễ dãi và thủ tục đơn giản hơn rất nhiều. Mọi việc đều chỉ được quyết định tại cuộc họp của Ban Nhân dân 

ấp.  Người  dân  chỉ  biết  kết  quả  phân  loại  nhưng  không  biết  tại  sao  họ  được  chuyển loại  hoặc  được  thoát  nghèo  vì  người  có  trách  nhiệm  không  hề  giải  thích  gì  cho  họ. Nhiều hộ dân ở hai điểm nghiên cứu bị thu sổ và sau đó được chuyển sang loại thoát nghèo mà vẫn chưa hay mình đã  thoát nghèo. 

 

Cách xếp loại hộ nghèo của người dân

Ở cả hai nơi đều có sự khác biệt về cách xếp hạng giàu nghèo của người dân và của chính quyền địa phương. Số hộ được chính quyền địa phương xác định là nghèo có khuynh hướng ít hơn số hộ nghèo do người dân trong ấp xác định. Phần lớn các hộ trong nhóm cực nghèo theo tiêu chí của người dân đểu được chính quyền địa phương xác định là hộ nghèo.  

Trang 32

So sánh kết quả phân loại hộ của chính quyền và người dân ở Tỉnh Đồng Tháp

Xã Mỹ Hưng

A: 1; B: 4 C: 10; D: 8

A: 1; B: 4 C: 1; D: 2

A: 2; B: 5 C: 1; D: 1

B: 4; C: 6 D: 3

B: 3; C: 3 D: 1

Mỗi ấp có 80 hộ được chọn để phân loại 

Trang 33

Tiêu chí xếp hộ nghèo của người dân

Trong các buổi phân loại kinh tế hộ, các khía cạnh của tình trạng nghèo được người dân dựa vào để phân loại là: 

Làm mướn ngày nào ăn ngày đó

Lao động chính ít, người ăn theo nhiều

Không nghề, chỉ làm mướn hằng ngày Lao động chính ít, người ăn theo nhiều

Vốn sản xuất

Vay nợ bên ngoài

Vay để ăn

Vay chỗ này đắp chỗ kia

Không vay nóng được vì nghèo người ta không

Có người bịnh triền miên

Không có khả năng lao động

Không có tiền chữa bịnh

Có người tàn tật

Hôn nhân-gia đình

Goá bụa, ly thân, ly dị

Gia đình đông con

Không có điện, họăc có điện từ tiền vay

Có hoặc không có radio nhỏ Xem ti vi nhờ, hoặc ti vi trắng đen

Đi bộ hoặc xe đạp

Quyền lợi của hộ được chính quyền địa phương phân loại là nghèo

Hộ được công nhận là nghèo được ưu tiên hưởng các chính sách và dịch vụ XĐGN so với các hộ khác. Tuy vậy, người nghèo ở cả hai điểm khảo sát đều biết rất ít hoặc mơ 

hồ về những quyền lợi của mình. Hiểu biết của họ tùy vào các dịch vụ mà họ đang được hưởng hoặc qua người nghèo khác trong ấp. Các dịch vụ được nhắc đến nhiều nhất là được vay vốn, khám chữa bệnh miễn phí và miễn giảm học phí. Cũng có hộ 

do  mù  chữ  nên  mặc  dù  được  cấp  thẻ  bảo  hiểm  nhưng  họ  không  biết  cách  dùng  và thời hạn sử dụng. Hộ không cho con đi học thì không biết về những quyền lợi ưu đãi dành cho học sinh nghèo. 

 

 

 

Trang 34

Quyền  lợi  mà  hộ  nghèo  ở  hai  vùng  khảo  sát  được  hưởng  có  nhiều  điểm  khác  biệt. Hầu hết người nghèo có sổ ở Tam Nông và Tháp Mười được chia làm 3 hạng và có quyền  lợi  tương  đối  khác  nhau  tuỳ  theo  tiềm  năng  sản  xuất  của  họ.  Trong  khi  đó, người nghèo ở hai huyện của Bến Tre được chia thành 4 loại theo mức thu nhập và chỉ 

có nhóm A là được hưởng tương đối đầy đủ các chánh sách và dịch vụ XĐGN. Ví dụ chỉ có hộ nghèo loại A được cấp thẻ bảo hiểm, miễn  phí điều trị nội trú và ngoại trú. Đối  với  hộ  nghèo  loại  B,  C,  D  thì  chỉ  được  giảm  viện  phí  điều  trị  nội  trú  theo  tỉ  lệ tương ứng là 50%, 30%, 10%.  

 

• Quá trình xác định hộ nghèo, thoát nghèo được thực hiện lỏng lẻo và chịu áp lực nhiều từ chỉ tiêu thoát nghèo hàng năm đã được giao (thường ở mức cao hơn thực tế) 

• Chu kỳ và số vốn vay để đầu tư cho chăn nuôi và sản xuất quá ngắn khiến họ không thể thoát nghèo trong năm sau.  

 

Những hộ thoát nghèo thật sự thường là những hộ có các điều kiện đặc biệt như nhà 

có một ít đất, có đủ lao động, nắm vững kỹ thuật sản xuất và trong gia đình có người đang làm việc ổn định ngoài  tỉnh  gởi  tiền  về  hỗ  trợ.  Những  hộ  này có  nhiều cơ  hội thành  công  trong  sản  xuất  kinh  doanh  khi  tiếp  cận  được  nguồn  vốn  vay  dành  cho người nghèo và có nhận được những hỗ trợ khác cùng lúc. 

Thoát nghèo nhờ nuôi bò và đi cắt lúa mướn

Chị N.T.Đ 44 tuổi ở ấp xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú có 2 con đang học cấp 3. Nhà chỉ có 2 công đất ruộng nên làm không đủ ăn. Năm 2000, gia đình chị  được nhà nước xét hộ nghèo loại C và được cho vay 2,5 triệu mua bò nuôi. Trong thời gian này, cứ tới mùa chồng chị cắt lúa mướn,  mỗi năm đi 2 lần, mỗi lần kiếm được 20‐30 giạ. Sau hơn 2 năm, bò đẻ được 2 con bán được 9 triệu đồng. Hiện chị đã trả vốn xong và con bò mẹ đang sắp đẻ. Gia đình chị đã thoát nghèo

Tác động của chương trình xoá đói giảm nghèo đối với đời sống người nghèo

Các  đối  tượng  được  phỏng  vấn  cho  rằng  chương trình  xoá  đói  giảm  nghèo  của  nhà nước đang có nhiều mặt tích cực. Có những mức độ tác động được nhắc đến là 

Những chương trình có hiệu quả cao là  

• chính sách hỗ trợ về y tế 

Trang 35

1.4 Tạo việc làm và thị trường lao động:

1.4.1 Việc làm ở các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh, huyện và xã

Người nghèo ở hai địa bàn nghiên cứu khó có thể tìm được việc làm ở khu vực phi nông nghiệp. Những khó khăn khi tìm việc làm ở khu vực phi nông nghiệp là: 

• Không có cơ sở sản xuất tại xã, huyện, nên nếu có việc làm thì phải đi xa, tốn kém chi phí. Trong những năm qua, tuy số lượng các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp ở 

2 địa bàn nghiên cứu tuy có tăng nhưng không đáng kể. Các cơ sở sản xuất kinh doanh này cũng không cần nhiều lao động do qui mô nhỏ. 

• Hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm chưa phát triển nên nếu có bất kỳ một cơ sở nào cần tuyển lao động thì cũng không ai được giới thiệu việc làm. 

• Trình độ học vấn và kỹ năng của người dân còn thấp nên chưa đáp ứng yêu cầu lao động của các khu công nghiệp. 

• Đa số người nghèo không có điều kiện để tham gia các lớp của Trung tâm dạy nghề tại tỉnh và huyện nhằm tìm cơ hội có việc làm phi nông nghiệp. 

Cơ sở sản xuất tư nhân ở 2 ấp của xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày

Ngày đăng: 23/03/2014, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi bổ sung năm 2003, Nhà xuất  bản  Thống kê,  2003  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh cán bộ, công chức được sửa đổi bổ sung năm 2003
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
4. Trà  Vinh‐báo cáo  đánh giá về  nghèo khổ  với sự  tham gia của  cộng đồng,  Oxfam  (GB),  1999  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trà Vinh‐báo cáo  đánh giá về nghèo khổ với sự tham gia của cộng đồng
6. Official written papers on democracy regulation at grassroots level, Statistics Publishing House, 1999  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Official written papers on democracy regulation at grassroots level
9. Marie‐Theựreứse‐Feuerstein, Partners in Evaluation, Macmillan, 1986 10.Marshall et al, Designing Qualitative Research, Second Edition, 1995  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Partners in Evaluation
Tác giả: Marie‐Theựreứse‐Feuerstein
Nhà XB: Macmillan
Năm: 1986
13. Karen Brock, An introduction to Participatory Poverty Assessments, IDS, 2002  Sách, tạp chí
Tiêu đề: An introduction to Participatory Poverty Assessments
14. Brocklesby  et all,  Participatory  Poverty Assessments and Public Services: Key  message  from the Poor, DFID, 1998  Sách, tạp chí
Tiêu đề: Participatory Poverty Assessments and Public Services: Key message from the Poor
15. Robb, C.M, Can the poor influence Policy? Participatory Poverty Assessments in the Developing Word, The Word Bank, Washington, DC, 1999   Sách, tạp chí
Tiêu đề: Can the poor influence Policy
7. Báo  cáo  năm  2002;  Kế  hoạch  năm  2003  và  các  văn  bản  khác  do  UBND,  Phòng  LĐTBXH,  Phòng  Tài  chánh  Kế  hoạch,  Phòng  Giáo  dục,  Phòng  Nông  nghiệp,  Trung tâm Y tế, Hội Phụ nữ... ở các đIểm nghiên cứu cung cấp   Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w