Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo PTF đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng PPAs ở 12 tỉnh của Việt Nam.. Khuôn khổ nghiên cứu cuối cùng bao quát
Trang 1Ảnh: UNDP
Danh gia ngheo co su tham gia cua cong dong tai
Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
25-29 Phan Bội Châu, Hà Nội, Việt Nam
Tel: (84 4) 942 1495
Fax:(84 4) 942 2267
E-mail: registry@undp.org.vn
Web site: http://www.undp.org.vn
Dong bang song Cuu Long
Cơ quan Phát triển Quốc tế Ôx-trây-li-a Đại sứ quán Ôx-trây-li-a, Hà Nội Tel: (84-4) 831 7755
Fax:(84-4) 831 7706 Web site: http://www ausaid.gov.au
Trang 2Đánh giá nghèo
có sự tham gia của cộng đồng tại
Đồng bằng sông Cửu Long
Tháng 7 – 8 năm 2003
Trang 4Tháng 5 năm 2002, Chính phủ Việt Nam đã hoàn thành Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo (CPRGS) và bắt đầu quá trình triển khai thực hiện CPRGS ở cấp địa phương. Thông qua các chiến dịch thông tin và hàng loạt các hội thảo vùng, cán bộ của các bộ ngành chủ chốt đã giải thích cho đại diện của các chính quyền địa phương về các phương pháp sao cho các quy trình lập kế hoạch của địa phương có thể được thực hiện theo định hướng vì người nghèo hơn, dựa trên số liệu thực tế hơn, chú trọng vào kết quả hơn, cân đối tốt hơn trong các quyết định phân bổ nguồn lực và được giám sát tốt hơn.
Năm 2003 Nhóm hành động chống đói nghèo (PTF) đã hỗ trợ thực hiện cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng (PPAs) ở 12 tỉnh của Việt Nam. Những đánh giá nghèo này đã sử dụng khung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu chung để tìm hiểu những vấn đề nghèo đói mà các số liệu định lượng đã không mô tả được hết. Mục đích của việc làm này là đưa ra một nghiên cứu có thể sử dụng cùng với số liệu của Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam để cung cấp thông tin cho Ban thư ký CPRGS về tiến độ thực hiện CPRGS cho tới nay. Đánh giá nghèo cũng được thiết kế
để cung cấp thông tin cho các nghiên cứu mới về nghèo đói ở các vùng và trên toàn quốc và các nghiên cứu này cũng đã được công bố riêng. Các đánh giá nghèo theo vùng sẽ được sử dụng như những công cụ xây dựng năng lực cho các quy trình lập kế hoạch với định hướng vì người nghèo ở các cấp chính quyền địa phương.
Tám nhà tài trợ đã đóng góp nguồn lực tài chính và nhân lực để hỗ trợ cho các đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng, là cơ sở cho việc xây dựng báo cáo này và các đánh giá nghèo theo vùng bổ sung. Các nhà tài trợ bao gồm ADB, AusAID, DFID, GTZ, JICA, SCUK, UNDP và Ngân hàng Thế giới. Mỗi nhà tài trợ đóng vai trò chính ở một vùng của Việt Nam. Việc phân bố các vùng giữa các nhà tài trợ được tóm tắt ở Bảng, và dựa trên định hướng hoạt động của các nhà tài trợ trong từng lĩnh vực. Bằng cách lựa chọn vùng nào mình thấy quen thuộc nhất, thông qua các dự án và hoạt động hỗ trợ kỹ thuật, các nhà tài trợ có thể tận dụng hoàn toàn được những hiểu biết tích luỹ được khi đã làm việc tại vùng đó.
Các nhóm nghiên cứu đã tiến hành đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng ở 43
xã rải rác trên toàn quốc. Trong số đó có hai tổ chức phi chính phủ quốc tế (Action Aid và SCUK), các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nghiên cứu của Việt Nam, bao gồm Trung tâm phát triển nông thôn, Viện xã hội học (IOS), Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Long An, Trung tâm dịch vụ phát triển nông thôn (RDSC) và Viet‐nam Solutions. Ngoài ra, có hai nhà tài trợ đã tiến hành nghiên cứu bằng cách lập các nhóm nghiên cứu gồm các chuyên gia trong nước dưới sự quản lý trực tiếp của nhà tài trợ. Kiến thức và kinh nghiệm của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên cứu đóng vai trò then chốt đối với chất lượng của công tác này. Một cơ chế phối hợp
đã được hình thành cho công tác đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng. Các
Trang 5thành viên của hầu hết các nhóm nghiên cứu đã tham gia xây dựng khung nghiên cứu và đi đến thống nhất về mục tiêu cần đạt được trong công tác nghiên cứu thực địa. Công tác thực địa đã được một số nhóm tiến hành thí điểm, và đề cương nghiên cứu cũng được chỉnh sửa cho phù hợp với những bài học kinh nghiệm được rút ra. Khuôn khổ nghiên cứu cuối cùng bao quát những lĩnh vực nghiên cứu như sau:
• Nhận thức về nghèo đói và xu hướng nghèo, nguyên nhân dẫn tới nghèo và khả năng dễ bị tổn thương;
• Tiến bộ trong công tác tăng cường dân chủ ở cấp cơ sở, đặc biệt là mức độ các
hộ nghèo có thể tham gia một cách có ý nghĩa vào các quy trình xây dựng kế hoạch và lập ngân sách;
• Những thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ cơ bản, tập trung vào sự tương tác của các hộ gia đình nghèo với các nhà cung cấp dịch vụ và các hộ nghèo có thể được tăng cường quyền lực như thế nào để có thể yêu cầu quyền lợi được cung cấp các dịch vụ cơ bản một cách hiệu quả hơn;
Những Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng hiện nay đang được công bố thành bộ. Một báo cáo tổng hợp các kết quả của cả 43 xã và phân tích một cách tổng hợp hơn các chủ đề này cũng sẽ được công bố. Cũng sẽ có một báo cáo khác tóm tắt phương pháp tiếp cận, phương pháp nghiên cứu được sử dụng và những câu hỏi nghiên cứu chi tiết.
Trang 6Bảng: Quan hệ đối tác trong Đánh giá nghèo theo vùng
Đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân Vùng Những tỉnh trong
vùng
Các nhà tài trợ chịu trách nhiệm về đánh giá nghèo cấp vùng Tỉnh Huyện Xã
Nhóm nghiên cứu chịu trách nhiệm đánh giá nghèo
có sự tham gia
Bảo Thắng Bản Cầm
Phong Niên Lào Cai
Mường Khương Pha Long
Tả Gia Khâu
Tư vấn Ageless (tài trợ của DFID)
Vị Xuyên Cao Bồ
Thuận Hoá
Miền núi Đông Bắc Hà Giang , Cao Bằng,
Lào Cai, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh Miền núi Tây Bắc Lai Châu, Sơn La,
Hòa Bình
DFID
và UNDP
Hà Giang Đồng Văn Sang Tung
Thai Pin Tung
Action Aid (tài trợ của UNDP)
Hải Dương Nam Sách Nam Sách
Nam Trung Đan Phượng Thọ An
WB
Hà Tây Mỹ Đức Tế Tiêu
Phúc Lâm
RDSC (tài trợ của WB)
Nghi Lộc Nghi Thái Nghệ An Tương Dương Tam Đinh
Viện Xã hội học (tài trợ của JICA) Hải Lăng Hải Sơn
Hải An
Bắc Trung bộ Thanh Hóa, Nghệ An,
Hà Tinh, Quảng Bình, Quả Trị, Thừa Thiên Huế
GTZ
và JICA Quảng Trị
Gio Linh Gio Thành
Linh Thường
Nhóm nghiên cứu gồm Bộ LĐTBXH, Viện KHLĐXH, và các nhà nghiên cứu độc lập (tài trợ của GTZ) Sơn Hà Sơn Bá
Sơn Cao Duyên hải miền Trung Đà Nẵng,
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa
ADB Quảng Ngãi
Tứ Nghĩa Nghĩa Thọ
Nghĩa An
Giải pháp Việt Nam (tài trợ của ADB)
Trang 7Bảng: Quan hệ đối tác trong Đánh giá nghèo theo vùng (tiếp theo)
Đánh giá nghèo có sự tham gia Vùng Những tỉnh trong
vùng trách nhiệm về đánh Các nhà tài trợ chịu
giá nghèo cấp vùng Tỉnh Huyện Xã
Nhóm nghiên cứu chịu trách nhiệm đánh giá nghèo có sự tham gia của người dân
EaHleo Eaheo
Ea Ral Dacrlap Đao Nghĩa
Thị trấn Ea Tam
Action Aid (tài trợ của ADB)
Đông Nam bộ TP Hồ Chí Minh, Lâm Đồng,
Ninh Thuận, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Thuận,
Phú Thọ Đồng Tháp
Tháp Mười Thanh Lợi Thanh Phú Mỹ Hưng
Trang 10L ờ i c ả m ơ n
Xin chân thành cảm ơn UBND tỉnh, Sở LĐTB&XH, Sở KH&ĐT, Sở NN&PTNT, Sở Y
tế, Sở GD&ĐT, Mặt trận tổ quốc và Hội phụ nữ tỉnh, tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Bến Tre; UBND và các phòng TCLĐTB&XH, Phòng KH&ĐT, Phòng GD&ĐT, Phòng NN&PTNT, Trung tâm Y tế, Trạm Khuyến nông, Hội phụ nữ, trường học và nhân dân xã Mỹ Hưng, xã Thới Thạnh, Huyện Thạnh Phú và xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày (tỉnh Bến Tre), xã Phú hiệp, Phú thọ, huyện Tam Nông và xã Thạnh Lợi, huyện Tháp Mười (Đồng Tháp) về thời gian, lòng mến khách và sự giúp đỡ nhiệt tình dành cho nhóm nghiên cứu trong thời gian làm việc tại tỉnh.
Cuộc đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại tỉnh Bến Tre và Đồng Tháp, do UNDP và AUSAID tài trợ, do một nhóm cán bộ của Trung tâm Chăm sóc sức khoẻ ban đầu Long An – Bs. Lê Đại Trí, Trần Triêu Ngõa Huyến, Nguyễn Nhật Quang, Tô Thùy Hương, Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Công Minh, Nguyễn Thị Nhẫn, Nguyễn Lê Hạnh; với sự hỗ trợ của các cán bộ xoá đói giảm nghèo của các cấp tại địa phương. Bs.
Lê Đại Trí chịu trách nhiệm viết bản báo cáo này. Cảm ơn Ngân hàng Thế giới, bà Carrie Turk và Thanh Hòa, đã hỗ trợ dàn xếp việc in Báo cáo này.
Trang 11Trang 12
Mục Lục
Lời nói đầu của nhóm hành động chống đói nghèo iii
Những từ viết tắt vii
Lời cảm ơn ix
Tóm tắt Báo cáo 1
1. Hiểu biết về nghèo đói 1
2 Dân chủ cơ sở và sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch
và quản lý ngân sách 1
3 Cung cấp dịch vụ giáo dục, y t ế và khuyến nông 2
4 Chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội 3
5 Cải cách hành chính công 3
6 Vấn đề môi trường 3
Tổng quan về Nghiên cứu 4
1.1. Địa bàn nghiên cứu 4
1.1.1. Đồng bằng sông Cửu Long 4
1.1.2. Bến Tre 4
1.1.3 Đồng Tháp 5
1.2 Phương pháp nghiên cứu 6
1.2.1. Nhóm nghiên cứu 6
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu 7
1.2.3. Giới hạn nghiên cứu 8
Các Phát hiện 10
A. Hiểu biết về nghèo đói 10
1.1. Nhận thức về nghèo đói 10
1.2. Công bằng xã hội 12
1.3. Hỗ trợ có mục tiêu 15
1.4. Tạo việc làm và thị trường lao động 22
B. Sự tham gia và vai trò của người dân trong quá trình ra quyết định 25
Sự tham gia của cán bộ xã, ấp vào việc lập kế hoạch và ngân sách hàng năm 25
Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” 25
Sự tham gia của người dân vào các chương trình, dự án và hoạt động
tại địa phương 26
Về mối quan hệ với chính quyền địa phương 27
Khả năng tiếp cận với các nguồn thông tin 27
Những nhân tố đang ảnh hưởng đến việc thi hành Nghị định 29 ở cấp xã 28
C. Tình hình cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế và khuyến nông 29
Cung cấp dịch vụ giáo dục 29
Cung cấp dịch vụ y tế 32
Cung cấp dịch vụ khuyến nông 33
D. Chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội 38
Hỗ trợ đột xuất 38
Trợ cấp thường xuyên 40
Quản lý các quỹ hỗ trợ xã hội 40
E. Cải cách hành chính 41
Dịch vụ một cửa 41
Phân cấp quản lý 42
Luật doanh nghiệp 42
Trang 13Pháp lệnh công chức 42
F. Môi trường 44
Đồng Tháp 44
Bến Tre 45
Kết luận và Khuyến nghị 46
Phần 1: Hiểu biết về nghèo đói 46
Phần 2: Quy chế dân chủ và sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch và quản lý ngân sách 47
Phần 3: Thực hiện các dịch vụ y tế, giáo dục và khuyến nông 47
Phần 4: Các hỗ trợ xã hội 49
Phần 5: Cải cách hành chính 50
Phần 6: Vấn đề và môi trường 50
Các Phụ lục 52
Tài liệu tham khảo 57
Trang 14Tóm tắt Báo cáo
Đợt PPA này được thực hiện vào tháng 7 và tháng 8 năm 2003 tại huyện Tam Nông, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp và huyện Thạnh Phú, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Nghiên cứu tập trung vào các chủ đề chính: hiểu biết về nghèo đói, các mô hình hiện tại về sự tham gia và trao quyền trong các quá trình ra quyết định tại địa phương, tình hình cung cấp dịch vụ hiện nay trong giáo dục, y tế và khuyến nông, chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội, cải cách hành chánh công, môi trường và di dân.
1 Hiểu biết về nghèo đói
Trong những năm gần đây, đời sống của người dân ngày càng khá lên. Cuộc sống của người nghèo cải thiện chậm hơn so với người trung bình và khá giả. Những hộ khá lên thường là hộ có buôn bán, kinh doanh, có đủ tư liệu sản xuất, có mối quan hệ xã hội rộng và công chức nhà nước. Trong khi đó, những hộ nghèo hơn và yếu thế hơn thường là những hộ không/ ít đất, thiếu kỹ thuật và có vấn đề về sức khỏe. Động lực lớn tạo nên những thay đổi này là tác động của chương trình tín dụng và sự phát triển
có được mức thu nhập ổn định và tự mình thoát nghèo.
Tiêu chuẩn thu nhập bình quân đầu người của Bộ LĐTBXH đang được chính quyền địa phương sử dụng để xác định tình trạng nghèo. Các tiêu chuẩn của người dân là đất ruộng, tài sản trong nhà, việc làm và tình trạng sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Có sự khác nhau đáng kể giữa tình trạng tình trạng nghèo đói (ví dụ như số
hộ nghèo) nếu xét theo hai tiêu chuẩn nêu trên. Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình xét hộ nghèo còn nhiều hạn chế do phương pháp tiếp cận từ trên xuống và áp lực của chỉ tiêu giảm nghèo được giao.
Người nghèo dường như có rất ít cơ hội để thoát nghèo một cách bền vững. Trở ngại lớn nhất trong công tác XĐGN ở ĐBSCL là tình trạng phần lớn hộ nghèo không có hoặc có rất ít đất trong khi việc làm phi nông nghiệp có ít và các cơ sở sản xuất kinh doanh tại địa phương phát triển chậm.
2 Dân chủ cơ sở và sự tham gia của người dân trong lập kế hoạch và quản lý ngân sách
Các quy tắc dân chủ cơ sở chưa được người dân và cán bộ điạ phương hiểu một cách đầy đủ. Phần lớn cho rằng dân chủ cơ sở giống như là thông tin cho người dân biết những gì đã được quyết định và họ sẽ thực hiện hoặc đóng góp những gì. Người dân không biết rõ vai trò và trách nhiệm của họ trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi giám sát các chương trình dự án tại địa phương.
Trang 153 Cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế và khuyến nông
Giáo dục
Trong những năm qua, nhiều trường học và phòng học đã được xây dựng. Việc học hành của trẻ cũng dễ dàng và thuận tiện hơn. Chính sách miễn giảm học phí đã giúp
đỡ người dân đáng kể trong việc cho con em đến trường. Tuy nhiên, những hỗ trợ này vẫn chưa đủ mạnh để giúp trẻ học cao hơn sau khi hết tiểu học, đặc biệt là hộ nghèo. Các khoản tiền học sinh phải đóng và chi tiêu ở cấp trung học vẫn còn cao và
là gánh nặng cho những hộ nghèo. Các lớp xóa mù cho người lớn không còn và kinh phí cho việc xóa mù nói chung vẫn còn hạn chế.
Nghiên cứu phát hiện có sự khác nhau đáng kể giữa con số mù chữ ở người lớn theo báo cáo của Phòng Giáo Dục và con số thực tế ở các điểm nghiên cứu. Điều này cho thấy những kế hoạch phát triển giáo dục có thể đã không theo sát với thực tế và vì vậy, các hoạt động xóa mù cho người lớn đã không được coi trọng.
Y tế
Phần lớn những hộ nghèo đều có thẻ bảo hiểm y tế và được điều trị miễn phí ở bệnh viện huyện, tỉnh. Việc khám chữa bệnh miễn phí đã giúp đỡ hộ nghèo rất nhiều, đặc biệt là trong trường hợp hộ có người bệnh nặng. Tuy nhiên, hiệu quả của chương trình khám chữa bệnh miễn phí cho hộ nghèo vẫn chưa cao vì người nghèo ít có xu hướng đến bệnh viện nếu bệnh chưa nặng và việc khám chữa bệnh và điều trị ngoại trú với thẻ bảo hiểm y tế vẫn chưa được thực hiện hiệu quả và rộng rãi ở các trạm y tế
xã và các phòng khám khu vực liên xã. Bên cạnh đó, còn có nhiều hộ nghèo chưa hiểu đầy đủ quyền lợi và cách sử dụng thẻ BHYT. Quyết định 139 đã được thực hiện khác nhau ở 2 tỉnh nghiên cứu. Không phải tất cả những hộ nghèo đều có thẻ BHYT.
Khuyến nông
Đã có khá nhiều chương trình khuyến nông đang được thực hiện để khuyến khích sản xuất nhưng những chương trình này có mức độ bao phủ rất thấp và số hộ hưởng lợi còn ít. Cán bộ khuyến nông tuyến huyện còn thiếu và hiện vẫn chưa có mạng lưới khuyến nông, khuyến ngư, bảo vệ thực vật ở tuyến xã. Hệ thống cung cấp dịch vụ khuyến nông, lâm, ngư, bảo vệ thực vật và thú y vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế của người dân. Có những dịch vụ, chương trình mang đến lợi ích cho những
hộ trung bình và khá, giàu hơn là những hộ nghèo.
Các dịch vụ khuyến nông hiện tại chỉ thực hiện việc chuyển giao kỹ thuật chứ chưa cung cấp cây con giống và thông tin về giá cả đầu ra, thị trường cho người dân. Trong lĩnh vực chuyển giao kỹ thuật, các buổi tập huấn còn quá ít và nội dung tập huấn còn chưa sát với nhu cầu thực tế. Trong thời gian vừa qua, các buổi tập huấn chưa tập trung cho người nghèo, những hộ đang vay vốn để chăn nuôi trọt. Phần lớn người
Trang 16dân có được các thông tin và lời khuyên về khuyến nông thông qua các chủ đại lý bán thức ăn, phân bón và thuốc trừ sâu.
4 Chất lượng và mục tiêu hỗ trợ xã hội
Hỗ trợ khẩn cấp tập trung vào những hộ nghèo trong những trường hợp như lũ về sớm hoặc cháy, sập nhà đã giúp họ giảm bớt phần nào khó khăn. Tuy nhiên, do tuyến
xã hiện không quản lý các quỹ hỗ trợ xã hội nên việc thực hiện còn tốn nhiều thời gian và chưa kịp thời. Vào mùa lũ hàng năm ở Đồng Tháp Mười, các cán bộ ấp, xã là người chọn danh sách hộ khó khăn để cứu trợ theo phương thức xoay vòng. Mặc dù các cứu trợ này đã giúp người nghèo cầm cự được trong một thời gian ngắn nhưng nó cũng tạo ra thái độ trông chờ, ỷ lại khi lũ không lớn và không về sớm.
Việc thực hiện trợ cấp thường xuyên được thực hiện khá giống nhau ở hai địa bàn nghiên cứu, dựa theo quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ. Tính công bằng phụ thuộc vào tình hình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở từng địa phương. Mức hỗ trợ còn quá thấp so với nhu cầu thực tế của cuộc sống.
5 Cải cách hành chính công
Các thủ tục hành chánh đã đơn giản hơn. ở hai điểm nghiên cứu đều chỉ mới thực hiện mô hình một cửa. Tuy nhiên, phần lớn người dân không biết rõ về mô hình, vì vậy những quyền của họ với vai trò là các khách hàng đã không được biết và hiểu đầy
đủ. Các thủ tục liên quan đến dịch vụ ngân hàng, hộ khẩu, đất đai đang được thực hiện ở tuyến huyện.
Các cán bộ huyện xã cho rằng việc thay đổi từ cán bộ địa phương thành công chức nhà nước sẽ khiến cho các cán bộ tuyến xã làm việc hiệu quả và có trách nhiệm hơn. Người dân không hiểu về sự khác nhau và ít quan tâm đến sự thay đổi này.
Trang 17Tổng quan về Nghiên cứu 1.1 Địa bàn nghiên cứu
1.1.1 Đồng bằng sông Cửu Long
Trải qua nhiều biến cố lịch sử, nhiều lần sáp nhập và chia tỉnh, đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện nay bao gồm 12 tỉnh với diện tích gần 40.000 km2 và dân số khoảng 17 triệu người. ĐBSCL có hệ thống sông ngòi và kinh đào chằng chịt. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa mưa nắng rõ rệt, lượng mưa dồi dào và ít gió bão. ĐBSCL được hình thành trên lớp phù sa cổ và tiếp tục được sông ngòi bồi đắp hàng năm. Đất trồng trọt ở ĐBSCL bao gồm 4 loại chính là đất phù sa, đất phù sa nhiễm mặn, đất phèn và đất cát giồng. Hầu hết các tỉnh đều có những huyện ven biển bị nước mặn xâm lấn khiến năng suất trồng trọt bị ảnh hưởng nhưng chứa nhiều tiềm năng nuôi trồng thủy sản.
Đồng Tháp Mười là một vùng đất trủng rộng lớn trải rộng trên địa bàn của 4 tinh An Giang, Long An, Đồng Tháp và Tiền Giang, đất đai có nhiều phèn, mỗi năm chịu ngập lụt khoảng 3 tháng. Trong hai thập niên gần đây, Đồng Tháp Mười được khai phá và trở thành khu vực sản xuất lúa quan trọng của ĐBSCL.
Ngày nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên của ĐBSCL không còn dồi dào như trước nữa. Kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển nhanh, đa dạng và sự phân hóa kinh tế ngày càng rõ rệt. Một trong những đặc điểm về nghèo khổ của ĐBSCL là ngày càng có nhiểu người nghèo không đất.
Nghiên cứu này được thực hiện tại Bến Tre và Đồng Tháp, là hai tỉnh đại diện cho vùng ven biển và Đồng Tháp Mười của ĐBSCL.
1.1.2 Bến Tre
Bến Tre được hợp thành từ ba cù lao lớn là An Hóa, Bảo và Minh. Phía Đông của Bến Tre là biển Đông với chiều dài bờ biển 65 km. Bến Tre có diện tích tự nhiên 231.501 ha, dân số 1.316.356 người. Về hành chánh, tỉnh Bến Tre gồm có thị xã Bến Tre và 7 huyện. Trong những năm gần đây giao thông đường bộ phát triển mạnh. Cống đập Ba Lai là một công trình ngọt hoá quan trọng cho nhiều huyện của tỉnh. Hiện nay, toàn tỉnh có 22.718 hộ nghèo, chiếm tỉ lệ 7,46%. Nghiên cứu tiến hành ở xã Mỹ Hưng, xã Thới Thạnh của huyện Thạnh Phú và xã Thành Thới B của huyện Mỏ Cày.
Huyện Thạnh Phú, xã Mỹ Hưng và xã Thới Thạnh
Huyện Thạnh Phú cách trung tâm tỉnh khoảng 50 km, ở phía cuối Cù lao Minh và tiếp giáp với biển Đông. Diện tích tự nhiên của huyện 41.179 ha. Về hành chính, huyện có
1 thị trấn và 17 xã. Kinh tế chủ yếu của huyện là nông nghiệp, nuôi trồng và khai thác thủy sản. Toàn huyện có 4.536 hộ nghèo trong tổng số 29.606 hộ, tỉ lệ 15.32%. Phần lớn nghèo là do thiếu đất (60%) và không có việc làm (30%)
Xã Mỹ Hưng có 4 ấp với diện tích tự nhiên là 5.125 ha, trong đó 47 ha đất nông nghiệp. Trồng lúa và nuôi trồng thủy sản là hai ngành kinh tế chính của xã. Hiện có 319 hộ nghèo trong số 1.718 hộ của xã, tỉ lệ 7,84%. Thiếu đất chiếm phân nữa các nguyên nhân
Trang 18lộ 57 chạy xuyên qua xã. Còn lại, các trục lộ chính đều là đường đất. Tỉ lệ hộ nghèo ở 2
ấp nghiên cứu Thạnh Khương và Thạnh Mỹ là 18,75% và 12,78%.
Xã Thới Thạnh có 5.125 ha diện tích tự nhiên. Kinh tế chủ yếu của xã là trồng lúa kết hợp với chăn nuôi và kinh tế vườn. Nguyên nhân nghèo chủ yếu là thiếu đất (44%) và đông con (42%). Toàn xã có 6 ấp, 1.778 hộ với 370 nghèo, tỉ lệ 20,81%. Việc đi lại ở 2 ấp nghiên cứu là Xương Long và Xương Thạnh A tương đối khó khăn do đường đất và
ra là thiếu đất (42%), thiếu kinh nghiệm sản xuất (33%), thiếu việc làm (23%) và thiếu vốn sản xuất (22,5%)
Xã Thành Thới B có 4 ấp với diện tích tự nhiên là 1.820 ha. Các nguồn lợi chính của xã
là trồng lúa, mía, cây ăn trái và tiểu thủ công nghiệp. Toàn xã có 286 hộ nghèo trong tổng số 2.025 hộ, tỉ lệ 14,12%. Thiếu đất sản xuất là nguyên nhân chính (78%) gây ra tình trạng nghèo, còn lại là do bệnh tật. Tỉ lệ hộ nghèo ở An Thiện và An Trạch Tây là 11,52% và 16,83%.
Xã Phú Hiệp cách trung tâm huyện khoảng 12 km, có 4 ấp với diện tích đất tự nhiên
là 6.054 ha. Kinh tế chủ yếu của xã là trồng lúa và trồng kiệu. Xã hiện có 478 hộ nghèo, chiếm 27,08% trong tổng số 1.765 hộ. Các nguyên nhân nghèo được kể đến là do thiếu vốn (83%), do thiếu đất (50%) và do không việc làm (19%). Hai ấp nghiên cứu ở xã là K10 và K12 có tỉ lệ hộ nghèo là 23,94% và 17,8%.
Trang 19đó có 412 hộ nghèo, tỉ lệ 18,49%. Xét về nguyên nhân nghèo, 50% là do thiếu vốn, 43%
là do thiếu đất và 26% là do thiếu lao động. Nghiên cứu tiến hành ở ấp Long Phú và Phú Thọ B với tỉ lệ hộ nghèo là 12,77% và 14,36%.
Huyện Tháp Mười và xã Thạnh Lợi
Tháp Mười là huyện trọng điểm về trồng lúa của tỉnh, cách trung tâm tỉnh chừng 40
km về phía Đông bắc. Diện tích đất tự nhiên của huyện là 51.766 ha. Về hành chánh, huyện có 1 thị trấn và 12 xã. Toàn huyện có 2.608 hộ nghèo trong tổng số 16.025 hộ, chiếm tỉ lệ 10,02%.
Xã Thạnh Lợi nằm cách trung tâm huyện khoảng 30 km, mới được thành lập vào tháng 11 năm 1997. Toàn xã có 5 ấp. Diện tích đất tự nhiên của xã là 6.776 ha. Kinh tế chủ yếu là độc canh cây lúa. Hiện xã có 159 hộ nghèo, chiếm 18,97% trong tổng số 838
hộ của xã. Thiếu vốn (83%), thiếu đất (72%) và thiếu lao động (35%) là các nguyên nhân nghèo chính của xã. ấp 1 và ấp 2 là hai ấp nghiên cứu, có tỉ lệ hộ nghèo là 20,05% và 32,14%. Giao thông chính của xã là đường thủy. Một số khu vực gần trung tâm xã đã bê tông hóa đường giao thông nông thôn.
1.2 Phương pháp nghiên cứu
1.2.1 Nhóm nghiên cứu
Bs. Lê Đại Trí, Trung tâm Truyền thông GDSK Long An, là nhóm trưởng của nhóm nghiên cứu nòng cốt. Nhóm này gồm có 8 thành viên và được chia làm 2 đội để thực hiện nghiên cứu tại 2 tỉnh.
Đội trưởng Đồng Tháp
Tư vấn độc lập
Nghiên cứu viên Đồng Tháp
Trung tâm Truyền thông GDSK Long An
Nguyễn Thị Thanh Bình Cử nhân Ngôn ngữ học Nghiên cứu viên Đồng Tháp Trung tâm Truyền thông GDSK Long An
Lê Công Minh
Cử nhân y tế công cộng Đội trưởng Bến Tre
Trung tâm Truyền thông GDSK Long An
Nguyễn Thị Nhẫn Thạc sĩ xã hội học Nghiên cứu viên Bến Tre Trường Đại mở Bán công TP HCM
Nghiên cứu viên Bến Tre
Trung tâm Truyền thông GDSK Long An
Nhóm nghiên cứu viên địa phương bao gồm 21 thành viên ở mỗi tỉnh. Đó là cán bộ của các cơ quan, ban ngành đoàn thể ở các cấp tỉnh, huyện và xã có liên quan đến việc thực hiện chương trình XĐGN ở địa phương.
Trang 201.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên nguyên tắc có sự tham gia của người dân và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến các nội dung nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính với bảng câu hỏi bán cấu trúc và các kỹ thuật như: phỏng vấn cá nhân, thảo luận nhóm tập trung, nghiên cứu trường hợp, quan sát, xếp hạng ưu tiên, giản đồ Venn, phân loại kinh tế hộ, vẽ biểu đồ xu hướng, vẽ bản đồ xã hội
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp tam giác để phân tích các vấn đề dưới những góc độ khác nhau từ phía người dân, từ phía các nhân vật chủ chốt và từ các nguồn thông tin thứ cấp.
Bến Tre và Đồng Tháp là hai tỉnh được chọn đại diện cho vùng đồng bằng ven biển và vùng Đồng Tháp Mười. Có 6 ấp của 3 xã thuộc 2 huyện ở mỗi tỉnh được chọn để tiến hành nghiên cứu theo tiêu chuẩn:
9 đã thực hiện đợt điều tra mức sống hộ dân cư năm 2002
9 đại diện cho địa phương về tình trạng nghèo khổ, địa lý, văn hóa và phong tục tập quán
Người dân cung cấp thông tin cho nghiên cứu thuộc hộ nghèo có sổ, hộ nghèo không
sổ, hộ đã thoát nghèo, hộ có xu hướng thoát nghèo, hộ có nguy cơ rớt xuống nghèo,
hộ kinh tế trung bình/khá, các phụ huynh học sinh, chủ nhiệm Hợp tác xã và những mạnh thường quân trong xóm ấp. Về phía các nhân vật chủ chốt, nghiên cứu chọn phỏng vấn các lãnh đạo và cán bộ của cơ quan, ban ngành địa phương có liên quan đến các chủ đề nghiên cứu ở các cấp huyện, xã và ấp.
Đối tượng cung cấp thông tin cho nghiên cứu
Số lượng thảo luận nhóm phỏng vấn cá Số lượng
nhân
Tổng số đối tượng cung cấp thông tin Đối tượng cung cấp
Trang 211.2.3 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào chủ đề nghèo đói, cho dù người cung cấp thông tin là cán
bộ các cấp hay là các nhóm dân khác nhau trong cộng đồng. Vì vậy, bức tranh được
mô tả trong nghiên cứu là bức tranh về tình trạng nghèo đói chứ không phải là bức tranh tổng thể về tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa của địa điểm nghiên cứu.
Các nghiên cứu viên ở Bến Tre đã không phỏng vấn đủ các cán bộ tuyến huyện như
dư định. Các cán bộ Đảng ủy và UBND hai huyện đã không có được thời gian mặc dù lịch phỏng vấn đã được họ sắp xếp trước. Tại Đồng Tháp, có sự chênh lệch về các số liệu phúc tra hộ nghèo cuối năm 2002 do tuyến tỉnh, huyện và xã cung cấp. Nghiên cứu đã đưa vấn đề này ra thảo luận ở các cuộc họp đội và quyết định chọn số liệu do tuyến xã cung cấp do có độ tin cậy cao hơn dựa trên danh sách các hộ nghèo và số lượng hộ nghèo theo từng phân nhóm.
Trang 22Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long
và các điểm Nghiên cứu
Long An
Tiền Giang
Cà Mau
Kiên Giang
Bạc Liêu
Sóc Trăng
Cần Thơ
An Giang
Đồng Tháp
VÜnh Long
Trà Vinh
Bến Tre
TP.HCM
Phú
Quốc
Thạnh Phú
Mỏ Cày Th¸p M−êi
Trang 23• Số hộ đói và nghèo đã giảm rõ rệt
• Nhu cầu ăn, mặc và ở của người dân cũng được cải thiện.
• Cơ sở hạ tầng như đường, điện, trạm y tế, trường học và chợ phát triển cũng làm cho người dân cảm thấy cuộc sống của họ có thay đổi theo chiều hướng tốt hơn.
Ảnh hưởng của các cơn lũ, đặc biệt là năm 2000 có làm cuộc sống người dân trong năm này khó khăn hơn do mất mùa và hư hỏng nhà cửa, đường sá nhưng sau đó vẫn hồi phục và khá lên.
Cuộc sống của người trung bình và khá giả cải thiện nhanh và nhiều hơn so với cuộc sống của người nghèo. Vì vậy khoảng cách giữa giàu và nghèo tại các điểm nghiên cứu đã nới rộng hơn.
Những yếu tố khiến cuộc sống của người nghèo thay đổi chậm là
• Thiếu đất, vốn và các phương tiện sản xuất: phần lớn hộ nghèo ở các điểm nghiên cứu không có hoặc có ít đất. Họ cũng không có đủ vốn để đầu tư cho sản xuất
• Thiếu hỗ trợ kỹ thuật: hộ nghèo không có/ không được tập huấn kỹ thuật nên chăn nuôi, trồng trọt dễ bị thất bại
• Rủi ro trong sản xuất: thất bại trong các lĩnh vực có đầu tư lớn như nuôi tôm, trồng kiệu khiến nhiều hộ rơi vào cảnh nợ nầng chồng chất.
• Công việc ít và không ổn định: thu nhập của người nghèo chủ yếu dựa vào việc làm thuê vì vậy không ổn định. Việc tổ chức sạ lúa đồng loạt để chạy lũ ở Đồng Tháp đã làm cho thời gian có công việc làm thuê rút ngắn, chỉ còn 10‐15 ngày/ vụ
và vì vậy thời gian không có việc làm tăng lên. Họ khó kiếm được việc làm phi nông nghiệp không có tay nghề và học vấn thấp.
• Ngoài ra, giá cả sản phẩm đầu ra nông nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống người nghèo. Ở huyện Tam Nông, trong khoảng thời gian từ 1994 đến 1999, nhiều
hộ trở nên nghèo hơn do lúa và kiệu mất giá. Phần lớn người trồng kiệu phải bán đất.
Động lực của sự thay đổi
Những động lực tạo nên sự thay đổi này là
• Tác động của các chương trình tín dụng đến các hộ trung bình và khá: nguồn vốn từ
Chương trình quốc gia giải quyết việc làm 120 và từ các nguồn khác như Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp đã giúp các hộ này đầu tư nhiều hơn vào sản suất.
Trang 24ha. Hệ thống đê bao cục bộ ở Đồng Tháp giúp nông dân sạ lúa vụ hè thu sớm, tránh được lũ. Đường điện chính ở Bến Tre xã có tác động tích cực đối với hộ trong việc sản xuất và chăn nuôi. Điện giúp người dân có thêm việc vào ban đêm như làm dây thừng bằng xơ dừa, dệt chiếu, dệt thảm, lột dừa.
• Có ít lũ lớn, sớm và thiên tai: ngoại trừ cơn bão Linda năm 1997 và cơn lũ lớn vào
năm 2000, khí hậu thời tiết trong những năm vừa qua cũng khá thuận lợi cho sản xuất. Cần nhấn mạnh rằng lũ về hàng năm là điều bình thường ở khu vực Đồng Tháp Mười và người dân luôn sẵn sàng đón nhận để khai thác các nguồn lợi thủy sản và đất đai sẽ trở nên màu mỡ hơn vào vụ mùa sau.
• Sự phát triển kinh tế của toàn vùng: trong những năm gần đây, nền kinh tế của khu
vực ĐBSCL đã phát triển đáng kể nhờ vào việc xây dựng cầu Mỹ Thuận và nâng cấp quốc lộ 1A. Bên cạnh đó, giá cả hàng tiêu dùng như vải vóc, xe máy, TV cũng
ở trong mức chấp nhận được nên việc ăn mặc, đi lại và giải trí của người dân có khá hơn. Số vụ mùa trong năm tăng lên đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm theo mùa
vụ. Giao thông phát triển giúp cho việc buôn bán, trao đổi hàng hóa nhanh hơn và cuộc sống cũng năng động hơn. Nhiều người dân đi tìm việc làm phi nông nghiệp, nông nghiệp ở các thành phố lớn và các nơi khác trong vùng đã đem về một nguồn tài chính đáng kể cho các thành viên ở quê nhà.
Trang 25• Những hộ buôn bán, kinh doanh cũng dễ dàng khá lên như các đại lý con giống, thức
ăn gia súc, phân bón, thuốc trừ sâu.
• Những hộ có mối quan hệ xã hội tốt: người giàu và những cán bộ nhà nước cũng dễ
dàng giàu lên nhờ nắm được các chủ trương chánh sách của nhà nước, biết tính toán làm ăn
Khá lên nhờ nuôi cá lóc
Anh Nguyễn H. Ph. ở xã Phú Hiệp, huyện Tam Nông được xếp là hộ nghèo. Nhà không có ruộng, lại có 4 con và có một đứa bị khuyết tật. Gia đình anh chưa được vay vốn XĐGN, chưa được tập huấn về chăn nuôi. Tháng 8/ 2001 anh mượn hầm (ao) nuôi 2.000 cá con. Thức ăn là cá tạp giăng bắt được. Lần này anh lời 5 triệu. Tháng 8/ 2002 anh nuôi 5.000 cá con và có mua thêm khoảng 3 triệu thức ăn. Lần này anh lời đến 15 triệu. Đến tháng 12/ 2002 anh chuộc lại ruộng và trở thành hộ thoát nghèo.
Hiện anh đã mua được hầm cá lóc, chuẩn bị nuôi cá trong mùa lũ năm nay.
Nguy cơ nghèo hơn
Những hộ có nguy cơ nghèo hơn thường là
Có ít đất, ít vốn : những lợi nhuận từ sản xuất nhiều khi không đủ cho nhu cầu của cuộc sống. Trong trường hợp sản xuất thua lỗ, phần lớn những hộ này không có đủ vốn để tiếp tục đầu tư cho lần sau. Hầu hết những trường hợp này đều dẫn tới tình trạng bán đất, mắc nợ và dễ dẫn tới nguy cơ ngày càng nghèo hơn.
Thiếu kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất: họ thường xuyên gặp những rủi ro trong công việc làm ăn, chủ yếu là gia súc, gia cầm chết. Ví dụ có nhiều hộ ở xã Mỹ Hưng không nằm được kỹ thuật nên nuôi tôm không thành công phải mang nợ từ 10 triệu đến 20 triệu đồng.
Trang 26Gặp phải tình trạng rớt giá nông sản : trong trường hợp người dân gặp rủi ro về giá
cả như đa số các trường hợp nuôi cá lóc, trồng kiệu hoặc trồng mía, thu nhập của người nghèo bị ảnh hưởng nghiêm trọng và họ không thể gượng dậy.
Có ít lao động chính nhưng có nhiều người ăn theo : đó là những trường hợp như
• Trong nhà có người bệnh hoạn phải điều trị tốn kém ở bệnh viện hoặc bệnh mãn tính. Khi đó họ phải tốn nhiều tiền cho việc điều trị và bản thân những người chăm sóc cũng không có nhiều thời gian để đi làm.
• Những hộ có nhiều con nhỏ. Trong giai đoạn con còn nhỏ, chưa đi làm được, họ thường rơi vào cảnh nghèo.
• Hôn nhân tan vỡ hoặc tình trạng goá bụa cũng dẫn tới cảnh nghèo nếu như những hộ này không có được chổ dựa vững chắc.
Làm ăn thất bại do sản phẩm bị rớt giá liên tục
Anh T. 30 tuổi ở An Trạch Tây xã Thành Thới B có 2 con nhỏ, một đứa 6 tuổi và một đứa 8 tháng, và 1 mẹ già. Cả gia đình chỉ trông cậy vào anh là lao động chính trong gia đình. Do nhà có 3 công đất nên gia đình vừa trồng mía, vừa nuôi heo cũng đủ sống và có dư chút đỉnh.
Từ năm 2002, giá mía rớt chỉ còn 1.200đ/kg, và giá heo con chỉ còn 15.000đ/kg nên anh bị lỗ liên tục. Thấy người ta trồng lát (cói) có ăn nên anh mượn 2 triệu để trồng. Khi thu hoạch giá lát chỉ còn 700đ/kg. Qua nhiều lần bị thất bại do sản phẩm bị rớt gíá anh phải bán 1 công ruộng bị trả nợ.
nhưng hiện nay thuộc hộ nghèo loại D. Năm 2000 ông vay ngân hàng 5 triệu đồng
để nuôi tôm nhưng tôm chưa thu hoạch đã chết. Đến hạn trả vốn ông phải vay bên ngoài 6 triệu để trả ngân hàng và vay tiếp 9 triệu vào năm 2001 để theo đuồi nuôi tôm. Một lần nữa tôm bị chết và ông không trả được nợ. Vụ tôm năm 2003 ông không được vay ở ngân hàng nữa nên đành mua chịu tôm giống hết 9 triệu đồng. Tổng cộng số tiền hiện nợ là 18 triệu.
Ông hy vọng vụ tôm này ông sẽ thắng. Nếu thắng lần này ông sẽ trả được nợ, nếu thua ông sẽ trốn đi nơi khác
Trang 27Những rủi ro dẫn tới tình trạng nghèo
Những rủi ro làm cho người dân dễ bị nghèo đi ở hai điểm nghiên cứu khá giống nhau.
Nhóm nghèo: hiện nay họ đang được hưởng lợi từ các chương trình quan trọng là cho
vay vốn sản xuất, khám chữa bệnh miễn phí và cứu trợ thường xuyên lẫn đột xuất mà vẫn chưa thể thoát nghèo.
Nghèo
Thiếu vốn và kỹ thuật sản xuất
Trang 28Nhóm đã thoát nghèo: mặc dù đã được công nhận là thoát nghèo nhưng thực tế thu
nhập và cuộc sống của nhóm này không hơn nhón nghèo là mấy. Họ cũng sẽ dễ tái nghèo nếu không còn được hưởng lợi từ các chương trình trên.
Đời sống của phụ nữ
Trong bối cảnh chung đang có xu hướng khá lên, đời sống kinh tế của phụ nữ có khá hơn những năm qua. Họ có nhiều cơ hội hơn để tìm việc làm tăng thu nhập. Phụ nữ
ăn mặc đẹp hơn vì vải vóc rẻ và nhiều chủng loại. Những phụ nữ trung bình hoặc khá giàu có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động xã hội.
Đời sống phụ nữ nghèo nói riêng thường ít có thay đổi. Do thiếu đất, thiếu vốn nên thu nhập của họ ít được cải thiện. Họ cũng chưa có điều kiện thuận lợi hơn để giải trí, thăm viếng người thân và mở rộng quan hệ xã hội.
Công lao động của phụ nữ ở cả hai nơi khảo sát vẫn còn thấp hơn nam, ví dụ công làm thuê của nam ở Tháp Mười là 30.000 VND/ ngày; nữ 20.000 VND/ ngày.
Nhóm nghiên cứu không thấy có sự khác biệt về mức độ tổn thương giữa nam và nữ
vì các tiêu chuẩn được hưởng phúc lợi xã hội là như nhau cho cả hai giới. Nhưng có thể thấy trước rằng khi mức sống của các nhóm này bị giảm sút thì có thể người phụ
nữ sẽ cực hơn do những phân biệt về giới đã có sẳn trong xã hội và công việc nội trợ được dồn lên vai người phụ nữ.
• Cán bộ XĐGN huyện, xã, trưởng ấp và tổ trưởng đến từng nhà để đánh giá thu nhập hộ gia đình.
• Sau đó là mời những hộ khá, hộ có uy tín để bình nghị danh sách hộ nghèo, hộ thoát nghèo. Kết quả khảo sát được chuyển đến ban XĐGN xã
• Ban XĐGN huyện và tỉnh phê duyệt danh sách hộ nghèo
• Sổ hộ nghèo được chuyển về huyện, xã và ấp để cấp cho các hộ.
Các hộ nơi khác đến tạm trú từ 6 tháng trở lên đều được xét giống như các hộ khác. Đối với các hộ nghèo năm trước, đến hạn phúc tra năm sau nếu không có ở địa phương thì vẫn được vào danh sách hộ nghèo nhưng ở dạng hộ không điều tra được. Khi họ về, các cán bộ ấp sẽ có trách nhiệm xác minh lại và báo cáo sau.
Tại huyện Thạnh Phú và Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre
Vào cuối năm 1999, trong đợt xét hộ nghèo đấu tiên, qui trình xét duyệt ở Thạnh Phú
và Mỏ Cày được thực hiện theo các bước sau
• Đầu tiên là những người dân tự tính mức thu nhập của từng hộ để đưa ra biều quyết công khai trong cuộc họp tổ tự quản và lập danh sách hộ nghèo.
Trang 29• Danh sách này được gởi về Ban nhân dân ấp để phân loại theo A, B, C, D. Cuộc họp xét này có tham dự của Ban nhân dân ấp và tổ trưởng tổ tự quản và CB xã phụ trách ấp, có nơi có thêm sự tham dự của người dân khá hoặc giàu. Danh sách
hộ nghèo được phân loại và gởi lên cho Ban XĐGN xã.
• Ban XĐGN họp xét với thành phần gồm bí thư xã, trưởng ban XĐGN, các thành viên Ban XĐGN và các trưởng ấp. Ngoài ra 1 cán bộ huyện cũng tham dự trong cuộc họp này. Danh sách hộ nghèo được thông qua theo từng ấp. Sau đó danh sách hộ nghèo được niêm yết công khai tại xã 15 ngày trước khi gởi về huyện.
• Tại huyện cuộc bình xét chỉ tập trung vào những hộ nghèo loại A. Nếu có khiếu nại thắc mắc hoặc nghi ngờ không công bằng thì huyện sẽ tiến hành phúc tra. Cuối cùng Ban XĐGN ra quyết định công nhận để đưa về tổ tự quản hoặc cấp trực tiếp cho người dân.
Với qui trình trên thì ít nhất là sau 3 tháng người dân mới được cấp giấy chứng nhận
hộ nghèo. Tại các xã của Bến Tre hai khu vực nghiên cứu, việc xét duyệt chỉ làm đúng trình tự ở lần xét duyệt đầu tiên.
Hộ khá, hộ uy tín tham gia bình nghị. Hộ nghèo không được mời tham dự.
Ban XĐGN xã và huyện đóng vai trò quyết định
Trưởng ấp hoặc tổ trưởng tổ Nhân dân Tự quản là người phát sổ
Sự tham gia thấp
Quá trình xét chọn hộ nghèo ở Đồng Tháp
Trang 30Cách phân loại hộ nghèo
Những hộ được công nhận là nghèo lại được phân ra thành nhiều loại. Mỗi tỉnh có cách phân loại hộ nghèo khá khác nhau và điều này dẫn tới quyền lợi được hưởng của người nghèo ở hai tỉnh cũng rất khác nhau.
Ban XĐGN xã và 1 thành viên của ban XĐGN huyện
Chỉ tập trung vào hộ nghèo loại A và ban XĐGN huyện có vai trò quyết định
Trưởng ấp hoặc tổ trưởng tổ Nhân dân Tự quản là người phát sổ
Quá trình xét chọn hộ nghèo ở Bến Tre
Trang 31cán bộ xã, ấp chủ động không công bố. Họ “sợ hộ nghèo biết tiêu chuẩn xếp loại sẽ
khai báo về thu nhập không đúng sự thật”. Ở hai huyện của Bến Tre chính quyền có
công bố ở lần xét đầu tiên nên người dân không nhớ còn những người không tham dự thì không biết.
• Người nghèo không được mời tham gia (Đồng Tháp) hoặc chỉ tham gia rất ít (Bến Tre). Hướng dẫn xét hộ nghèo đã không nhấn mạnh rằng người nghèo cần phải được mời tham gia, người nghèo không được mời tham gia. Cũng không có tổ chức cuộc họp dân chính thức để bình xét ngoại trừ năm 1999 ở Bến Tre.
Có hai thái độ trái ngược nhau về kết quả xét hộ nghèo của những người có trách nhiệm.
• Cán bộ xã, ấp và hộ nghèo có sổ thì tỏ ra hài lòng vì họ cho rằng mức độ chính xác khoảng 90%. Dầu vậy, họ cũng thấy có phần không công bằng đối với những hộ sát với ngưỡng phân loại, ví dụ những hộ có thu nhập 105.000‐120.000 VND/ người/ tháng ở Đồng Tháp có đời sống cũng khó khăn không khác hộ nghèo là mấy nhưng không được xét.
• Phần lớn những hộ nghèo không có sổ tỏ thái độ không hài lòng vì cho rằng chính quyền còn bỏ sót hộ nghèo. Họ nói có một số trường hợp hộ khá, hộ quen biết, bà con với trưởng ấp vẫn được có sổ.
Một số ít hộ nghèo chưa có sổ không phàn nàn vì nghĩ rằng trong đợt xét sau họ sẽ được công nhận.
Ở cả hai nơi, qui trình xét hộ nghèo có thể khá chặt chẻ và công bằng ở năm đầu tiên, nhưng ở những năm tiếp theo thì việc xét chọn hộ nghèo khá dễ dãi và thủ tục đơn giản hơn rất nhiều. Mọi việc đều chỉ được quyết định tại cuộc họp của Ban Nhân dân
ấp. Người dân chỉ biết kết quả phân loại nhưng không biết tại sao họ được chuyển loại hoặc được thoát nghèo vì người có trách nhiệm không hề giải thích gì cho họ. Nhiều hộ dân ở hai điểm nghiên cứu bị thu sổ và sau đó được chuyển sang loại thoát nghèo mà vẫn chưa hay mình đã thoát nghèo.
Cách xếp loại hộ nghèo của người dân
Ở cả hai nơi đều có sự khác biệt về cách xếp hạng giàu nghèo của người dân và của chính quyền địa phương. Số hộ được chính quyền địa phương xác định là nghèo có khuynh hướng ít hơn số hộ nghèo do người dân trong ấp xác định. Phần lớn các hộ trong nhóm cực nghèo theo tiêu chí của người dân đểu được chính quyền địa phương xác định là hộ nghèo.
Trang 32So sánh kết quả phân loại hộ của chính quyền và người dân ở Tỉnh Đồng Tháp
Xã Mỹ Hưng
A: 1; B: 4 C: 10; D: 8
A: 1; B: 4 C: 1; D: 2
A: 2; B: 5 C: 1; D: 1
B: 4; C: 6 D: 3
B: 3; C: 3 D: 1
Mỗi ấp có 80 hộ được chọn để phân loại
Trang 33Tiêu chí xếp hộ nghèo của người dân
Trong các buổi phân loại kinh tế hộ, các khía cạnh của tình trạng nghèo được người dân dựa vào để phân loại là:
Làm mướn ngày nào ăn ngày đó
Lao động chính ít, người ăn theo nhiều
Không nghề, chỉ làm mướn hằng ngày Lao động chính ít, người ăn theo nhiều
Vốn sản xuất
Vay nợ bên ngoài
Vay để ăn
Vay chỗ này đắp chỗ kia
Không vay nóng được vì nghèo người ta không
Có người bịnh triền miên
Không có khả năng lao động
Không có tiền chữa bịnh
Có người tàn tật
Hôn nhân-gia đình
Goá bụa, ly thân, ly dị
Gia đình đông con
Không có điện, họăc có điện từ tiền vay
Có hoặc không có radio nhỏ Xem ti vi nhờ, hoặc ti vi trắng đen
Đi bộ hoặc xe đạp
Quyền lợi của hộ được chính quyền địa phương phân loại là nghèo
Hộ được công nhận là nghèo được ưu tiên hưởng các chính sách và dịch vụ XĐGN so với các hộ khác. Tuy vậy, người nghèo ở cả hai điểm khảo sát đều biết rất ít hoặc mơ
hồ về những quyền lợi của mình. Hiểu biết của họ tùy vào các dịch vụ mà họ đang được hưởng hoặc qua người nghèo khác trong ấp. Các dịch vụ được nhắc đến nhiều nhất là được vay vốn, khám chữa bệnh miễn phí và miễn giảm học phí. Cũng có hộ
do mù chữ nên mặc dù được cấp thẻ bảo hiểm nhưng họ không biết cách dùng và thời hạn sử dụng. Hộ không cho con đi học thì không biết về những quyền lợi ưu đãi dành cho học sinh nghèo.
Trang 34
Quyền lợi mà hộ nghèo ở hai vùng khảo sát được hưởng có nhiều điểm khác biệt. Hầu hết người nghèo có sổ ở Tam Nông và Tháp Mười được chia làm 3 hạng và có quyền lợi tương đối khác nhau tuỳ theo tiềm năng sản xuất của họ. Trong khi đó, người nghèo ở hai huyện của Bến Tre được chia thành 4 loại theo mức thu nhập và chỉ
có nhóm A là được hưởng tương đối đầy đủ các chánh sách và dịch vụ XĐGN. Ví dụ chỉ có hộ nghèo loại A được cấp thẻ bảo hiểm, miễn phí điều trị nội trú và ngoại trú. Đối với hộ nghèo loại B, C, D thì chỉ được giảm viện phí điều trị nội trú theo tỉ lệ tương ứng là 50%, 30%, 10%.
• Quá trình xác định hộ nghèo, thoát nghèo được thực hiện lỏng lẻo và chịu áp lực nhiều từ chỉ tiêu thoát nghèo hàng năm đã được giao (thường ở mức cao hơn thực tế)
• Chu kỳ và số vốn vay để đầu tư cho chăn nuôi và sản xuất quá ngắn khiến họ không thể thoát nghèo trong năm sau.
Những hộ thoát nghèo thật sự thường là những hộ có các điều kiện đặc biệt như nhà
có một ít đất, có đủ lao động, nắm vững kỹ thuật sản xuất và trong gia đình có người đang làm việc ổn định ngoài tỉnh gởi tiền về hỗ trợ. Những hộ này có nhiều cơ hội thành công trong sản xuất kinh doanh khi tiếp cận được nguồn vốn vay dành cho người nghèo và có nhận được những hỗ trợ khác cùng lúc.
Thoát nghèo nhờ nuôi bò và đi cắt lúa mướn
Chị N.T.Đ 44 tuổi ở ấp xã Thới Thạnh, huyện Thạnh Phú có 2 con đang học cấp 3. Nhà chỉ có 2 công đất ruộng nên làm không đủ ăn. Năm 2000, gia đình chị được nhà nước xét hộ nghèo loại C và được cho vay 2,5 triệu mua bò nuôi. Trong thời gian này, cứ tới mùa chồng chị cắt lúa mướn, mỗi năm đi 2 lần, mỗi lần kiếm được 20‐30 giạ. Sau hơn 2 năm, bò đẻ được 2 con bán được 9 triệu đồng. Hiện chị đã trả vốn xong và con bò mẹ đang sắp đẻ. Gia đình chị đã thoát nghèo
Tác động của chương trình xoá đói giảm nghèo đối với đời sống người nghèo
Các đối tượng được phỏng vấn cho rằng chương trình xoá đói giảm nghèo của nhà nước đang có nhiều mặt tích cực. Có những mức độ tác động được nhắc đến là
Những chương trình có hiệu quả cao là
• chính sách hỗ trợ về y tế
Trang 351.4 Tạo việc làm và thị trường lao động:
1.4.1 Việc làm ở các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp tư nhân ở tỉnh, huyện và xã
Người nghèo ở hai địa bàn nghiên cứu khó có thể tìm được việc làm ở khu vực phi nông nghiệp. Những khó khăn khi tìm việc làm ở khu vực phi nông nghiệp là:
• Không có cơ sở sản xuất tại xã, huyện, nên nếu có việc làm thì phải đi xa, tốn kém chi phí. Trong những năm qua, tuy số lượng các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp ở
2 địa bàn nghiên cứu tuy có tăng nhưng không đáng kể. Các cơ sở sản xuất kinh doanh này cũng không cần nhiều lao động do qui mô nhỏ.
• Hoạt động của các trung tâm dịch vụ việc làm chưa phát triển nên nếu có bất kỳ một cơ sở nào cần tuyển lao động thì cũng không ai được giới thiệu việc làm.
• Trình độ học vấn và kỹ năng của người dân còn thấp nên chưa đáp ứng yêu cầu lao động của các khu công nghiệp.
• Đa số người nghèo không có điều kiện để tham gia các lớp của Trung tâm dạy nghề tại tỉnh và huyện nhằm tìm cơ hội có việc làm phi nông nghiệp.
Cơ sở sản xuất tư nhân ở 2 ấp của xã Thành Thới B, huyện Mỏ Cày