1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch) của đoàn thị điểm từ góc nhìn và thể loại

20 62 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch) của Đoàn Thị Điểm từ góc nhìn và thể loại
Tác giả Đoàn Thị Điểm
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Bài nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 38,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân tích Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch) của Đoàn Thị Điểm từ góc nhìn và thể loại trong văn học.Trong văn học trung đại, nổi bật nhất là văn học chữ Nôm, được diễn ra từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thời kỳ văn học trung đại. Phần lớn các tác phẩm văn học viết dưới dạng chữ Nôm là các thể loại như ngâm khúc, hát nói, truyện thơ; nổi bật nhất có lẽ là ngâm khúc. Tác phẩm tiêu biểu cho thể loại ngâm khúc là tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm. Bài ngâm cho đến nay vẫn còn là đề tài được nhiều nhà phân tích, phê bình văn học chọn để nghiên cứu. Các đoạn thơ trong bài ngâm cũng được chọn lọc để đưa vào các chương trình giảng dạy toàn dân cho các cấp trung học. Thấy được tầm quan trọng cũng như sức hấp dẫn và ý nghĩa của tác phẩm, nên em đã chọn đề tài này làm bài tập lớn.

Trang 1

Đề tài: Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch) của Đoàn Thị Điểm từ góc nhìn và thể loại

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục 2

NỘI DUNG 2

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ 2

1.1 Tác giả 2

1.2 Tác phẩm 2

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 3

2.1 Đặc trưng về thể loại ngâm khúc 3

2.2 Nhân vật hồi tưởng quá khứ 5

2.3 Nhân vật than oán thực tại 6

2.4 Nhân vật ý thức về quyền hạnh phúc 11

2.5 Đặc trưng thể loại ngâm khúc qua phương diện nghệ thuật Chinh phụ ngâm khúc 12

2.5.1 Kết cấu nghệ thuật 12

2.5.2 Không gian, thời gian nghệ thuật 13

2.5.3 Thể thơ 16

2.5.4 Ngôn ngữ nghệ thuật 16

2.5.5 Nhân vật 17

KẾT LUẬN 18

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong nền văn học Việt Nam, văn học trung đại luôn giữ một vị trí quan trọng và thu hút được rất nhiều người tìm tòi, nghiên cứu Khi nhắc đến thời kỳ phong kiến hay thời

kỳ trung đại, có rất nhiều từ gắn liền đằng sau như “mục nát”, “thối nát”, Nhưng với quan điểm của riêng em, mỗi một thời kỳ đều có mặt tốt và mặt chưa tốt Trung đại Việt Nam cũng vậy Nhưng không thể không công nhận nền văn học trung đại Việt Nam đã có rất nhiều những tác gia nổi bật, nổi tiếng, trở thành biểu tượng như đại thi hào dân tộc “Nguyễn Du”, hay bà chúa thơ nôm “Hồ Xuân Hương”, Hơn nữa, văn học trung đại cũng chính là nền tảng để văn học hiện đại sau này tiếp thu và phát triển tạo dựng được sự thành công vang dội, khẳng định vị trí của mình Trong văn học trung đại, nổi bật nhất là văn học chữ Nôm, được diễn ra từ cuối thế kỷ XVIII đến hết thời kỳ văn học trung đại Phần lớn các tác phẩm văn học viết dưới dạng chữ Nôm là các thể loại như ngâm khúc, hát nói, truyện thơ; nổi bật nhất có lẽ là ngâm khúc Tác phẩm tiêu biểu cho thể loại ngâm khúc là tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm Bài ngâm cho đến nay vẫn còn là đề tài được nhiều nhà phân tích, phê bình văn học chọn để nghiên cứu Các đoạn thơ trong bài ngâm cũng được chọn lọc để đưa vào các chương trình giảng dạy toàn dân cho các cấp trung học Thấy được tầm quan trọng cũng như sức hấp dẫn và ý nghĩa của tác phẩm, nên em đã chọn đề tài này làm bài tập lớn

2 Lịch sử vấn đề

Tác giả Đoàn Thị Điểm và tác phẩm “Chinh phụ ngâm” đã có một chỗ đứng nhất định trong văn học trung đại, mà hầu như không có một tác phẩm nào có thể thay thế được Bởi vậy, đã có rất nhiều bài nghiên cứu về tác giả cũng như các biện pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trong tác phẩm ngâm khúc này Với niềm yêu thích môn học Văn học dân gian cũng như rất thích tác phẩm ngâm khúc của bà Đoàn Thị Điểm nên em xin đóng góp một chút công sức nhỏ bé của mình thông qua việc phân tích tác phẩm này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 4

Như đã trình bày ở trên, em lấy tác giả Đoàn Thị Điểm và các tác phẩm “Chinh phụ ngâm” nổi bật của bà làm đối tượng nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

Vận dụng kiến thức đã được học về văn học hiện đại, phong cách nghệ thuật của tác giả văn học để đi tìm hiểu về nhà văn Nam Cao

5 Bố cục

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì bài tiểu luận này còn có các chương sau

Chương 1 Giới thiệu

Chương 2 Nội dung

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ 1.1 Tác giả

Tác giả Đoàn Thị Điểm là người phụ nữ vừa đẹp người, vừa đẹp nết Theo như ghi chép, tên hiệu của bà là Hồng Hà, sinh năm 1705 và mất năm 1748 Bà nổi bật với tài thêu thùa, may vá, lại thêm cả tài bốc thuốc Bà có suy nghĩ riêng và tiếng nói riêng cho cuộc đời của mình Sẵn sàng từ chối mọi cuộc hôn nhân mai mối của rất nhiều nhà quyền quý lúc bấy giờ Cuộc sống của bà khá vất vả khi người cha và anh cả đều mất sớm Công việc nhà bà phải một mình cáng đáng lo liệu Bản thân cũng phải làm nhiều ngành nghề để có đủ tiền nuôi dưỡng mẹ già và các cháu nhỏ Trong số các nghề, bà có làm nghề dạy học mà đây lại là nghề xưa nay chỉ dành cho người đàn ông Từ chối nhiều mối hỏi của nhà quyền quý nhưng đến năm 37 tuổi bà lại chấp nhận làm vợ thứ của tiến sĩ góa vợ, ông Nguyễn Kiều Tuy nhiên hưởng cuộc sống chưa được bao lâu thì chồng bà phải đi sứ Trung Hoa Trong khoảng thời gian xa chồng ( ba năm), bà đã sáng tác ra bản diễn nôm “Chinh phụ ngâm”, một tác phẩm ghi dấu ấn sự nghiệp văn học của bà đến tận bây giờ

Trang 5

1.2 Tác phẩm

“Chinh phụ ngâm” là tác phẩm được viết theo lối văn vần của tác giả Đặng Trần Côn.

Sau đó được tá giả Đoàn Thị Điểm dịch lại bằng thơ Nôm, viết theo thể loại ngâm khúc với thể thơ song thất lục bát Bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm vẫn được cho là bản dịch phổ biến nhất, có nhiều quan điểm cho rằng bản dịch còn nổi tiếng hơn so với bản gốc Tuy nhiên, bản dịch sang thơ Nôm này cũng khiến nhiều nhà nghiên cứu tranh cãi Sau cùng, bản dịch đã trở thành áng văn thơ cổ điển đóng góp cho nền văn học trung đại Việt Nam Trong tác phẩm là giá trị nội dung, nghệ thuật sâu sắc Tác phẩm nói lên nỗi lòng, nỗi vất vả, đáng thương của những người phụ nữ phải xa chồng, thậm chí là mất chồng từ rất sớm vì chiến tranh trong xã hội phong kiến Ngoài ra, tác phẩm cũng thể hiện khát khao cháy bỏng về hạnh phúc, ước mơ sum họp gia đình và lên án chiến tranh phong kiến đã tước đoạt đi niềm hạnh phúc của con người

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG 2.1 Đặc trưng về thể loại ngâm khúc

Ngâm khúc là thể loại trữ tình trường thiên của riêng văn học Việt Nam Thể loại trừ tình này có khối lượng tương đối lớn Một tác phẩm có dung lượng từ trăm câu thơ đến vài trăm câu thơ cũng có Nó được viết theo thể loại văn vần, theo thể song thất lục bát Ngâm khúc là lời bộc bạch của nội tâm, diễn tả nỗi buồn của nhân vật trữ tình

Đặc trưng ở thể loại này là nhân vật trữ tình trong tác phẩm đều được xây dựng bằng hình thức độc thoại nội tâm Nhân vật nó có thể do người thi sĩ tự tạo ra, tưởng tượng ra; cũng có thể là chính người thi sĩ thông qua tác phẩm văn chương để nói thay lòng mình Thêm nữa, các nhân vật ấy đều có điểm chung chính là cảnh ngộ thê lương Trong “Chinh phụ ngâm”, là lời xót thương, ai oán của người phụ nữ vốn đang có cuộc sống ấm no, hạnh phúc bên chồng thì chiến tranh nổ ra, người phụ nữ phải từ biệt chồng để chồng xông pha ra nơi chiến trận, mãi không thấy quay về Hay trong “Cung oán ngâm khúc” lại là sự đau khổ đến thấu tâm can của một người con gái, vốn có xuất thân là một cung nữ Nàng có vẻ đẹp trẻ trung nên đã được vua sủng ái Nhưng vua là người đàn ông mà ba nghìn giai nhân chốn hậu cung không tiếc gì mà đều muốn tranh giành, lấy lòng Vậy nên, sự sủng ái yêu thương, những lời hứa hẹn đường mật của nhà vua dành cho nàng cũng chỉ là thoáng qua một thời gian Lúc đầu, nàng sống trong

Trang 6

hạnh phúc, sống trong tình yêu của nhà vua nhưng rất nhanh, sau đó, nàng lại bị chính người đàn ông cho nàng tất cả ruồng bỏ, phụ bạc Ở trong chốn cung đình hoa lệ nhưng nàng luôn khóc thương cho số mệnh của mình Còn trong “Ai tư vãn” lại là tiếng khóc

mà viết nên thơ của một vị hoàng hậu quyền quá, tài sắc, thông minh khóc cho chồng của mình Chồng của bà là một vị anh hùng hào kiệt của nhân tộc, tài năng xuất trúng nhưng vì một căn bệnh lạ mà đột ngột qua đời Và có cả tiếng lòng trần tình, lời bộc bạch khi bị oan của một nhà nho giáo tri thức, tuy nghèo nhưng giàu nhân văn Trong gia đình của ông, có người chú chống lại vua và triều đình Điều này đã khiến cho cả gia đình ông liệt vào tội chu di Cha của ông đang làm quan, mà vì thế cũng bị tước chức, bị bắt và áp giải về Kinh nhưng trên đường đi đã tự vẫn Về bản thân của nhà tri thức này, dù đã cố tránh nhưng bản thân vẫn bị vướng vào cảnh từ đầy Các tác phẩm ngâm khúc được ví dụ ở trên đều khác nhau về hoàn cảnh, về xuất thân, giai cấp của mỗi người Nhưng tựu chung lại, họ đều mang trong mình một nỗi đau, một niềm mất mát mà không ngôn từ nào có thể diễn tả được hết Bởi vật, tác phẩm ngâm khúc nào cũng có chung một nội dung Đó là lời bộc bạch tâm trạng của con người về bi kịch cuộc đời mình Khóc thương ai oán cho chính số phận của mình Đau khổ, tụ xót chính mình cho những gì đã và đang xảy ra Đẻ rồi, họ lại nói lên sự tiếc nuối về quá khứ, về những gì chưa kịp làm Tiếc nuối cho niềm hạnh phúc của chính mình đã một đi không trở lại Khát vọng có được hạnh phúc là tiếng nói chung của thể loại này Đây cũng chính là nội tâm cảm xúc của nhân vật được khúc ngâm thể hiện một cách sâu sắc và phong phú Từ cái khát khao hạnh phúc của chủ thể trữ tình mà giờ họ đã biết đặt hạnh phúc của mình lên trên các phương diện khác nhau mà xem xét Sau khi đi tìm hiểu về kết cấu của một tác phẩm ngâm khúc, em thấy rằng kết cấu của thể loại này khá đặc biệt Nó được diễn ra theo quá trình gấp khúc của thời gian Ban đầu, phần mở đầu của tác phẩm bao giờ cũng là sự hồi tưởng, nhớ về quá khứ của nhân vật Tiếp theo, phần giũa (phần trung tâm) luôn là cuộc sống đau khổ, bất hạnh của con người ở hiện tại Và phần cuối (phần kết thúc) là ước mơ, khát vọng vào ngày mai tươi sáng Chính bởi sự kết cấu đặc biệt này mà ngân khúc không chỉ đơn giản là tiếng khóc than thương thân

mà nó còn là diễn biến, nhận thức, thái độ của nhân vật Trước khi họ trải qua hiện tại chỉ toàn mất mát, sầu đau thì cũng đã từng ít nhất một lần được hưởng sự hạnh phúc

trọn vẹn Từ đó, họ đã tự suy ngẫm ra được và tự đặt ra những câu hỏi như: “Vì đâu

mà phải khổ? Hạnh phúc ở chốn nào? Hay làm sao để tìm lại được hạnh phúc?”

Trang 7

Thể loại này được xây dựng và phát triển dựa vào sự nảy sinh suy nghĩ cá nhân,

ý thức cá nhân của con người trong văn học Nhưng nó vẫn chịu sự tác động rất lớn bởi bút pháp ước lệ tượng trưng khái quát của thời kỳ trung đại Bởi vậy mà các nhân vật, các chủ thể trữ tình không được bộc lộ cảm giác, tính cá thể riêng biệt Họ vẫn phải là những con người mang tính khái quát, là một hình mẫu đại diện cho một tầng lớp, một loại người trong xã hội Các nhân vật trong thể loại này đều bị khuyết đi tính cá thể nên

sự bày tỏ tình cảm của nhân vật chỉ xoay quanh một sự đòi hỏi, khát khao mang tính phổ quát, cảnh ngộ đã được phổ biến Không gian và thời gian của thể loại này đều không có sự cụ thể, không thể xác định, nó chỉ mang tính phiến định

2.2 Nhân vật hồi tưởng quá khứ

Như đã trình bày ở mục trên, đối với kết cấu của thể loại ngâm khúc này, phần

mở đầu bao giờ cũng là sự hồi tưởng về quá khứ của nhân vật Người chinh phụ trong tác phẩm đã quay ngược dòng quá khứ, nhớ lại về những tháng ngày trước khi phải tiễn

chồng lên đường Mở đầu bài thơ “Chinh phụ ngâm” của Đoàn Thị Điểm

“Thuở trời đất nổi cơn gió bụi Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên”

Thời gian ấy, khi trời và đất “nổi cơn gió bụi” tức là vận hạn đất nước đang có

biến động, dễ lâm vào cảnh chiến tranh Lẽ đương nhiên, sẽ có nhiều người phải ra đi với hy vọng xua tan được cát bụi, đem lại sự bình yên cho quê hương đất nước Bên

cạnh hình ảnh đã và đang dự báo về sự mất mát, chia lìa là hình ảnh “khách má hồng”.

Ý này chỉ người đàn bà đẹp nhưng lại mang nhiều nỗi gian truân, vất vả đã gợi cho người đọc sự thương xót Cuối cùng, ngày xuất chinh cũng đã được định đoạt Ngày đưa tiễn chồng mình, người chinh phụ không khỏi than lên những câu ai oán:

"Buổi tiễn đưa lòng bận thê noa

Bóng cờ tiếng trống xa xa Sầu lên ngọn ải, oán ra cửa phòng’’

Đối với người chinh phu - người chồng, việc lên đường này là để thực hiện ý chí nam nhi, thể hiện tinh thần yêu nước Chứng tỏ mình là một thần dân trung thành với nhà vua Đồng thời, đây cũng là sự lên đường để đi lập nghiệp cho bản thân, đem vinh hiển về cho gia đình Chẳng vậy mà chàng chinh phu “ xếp bút nghiên theo việc đao

Trang 8

cung” với ý chí lập nên công danh vang hùng, ghi tên mình vào trang thiên sử Nhưng xét lại thì tham vọng, trách nhiệm này của chinh phu lại mâu thuẫn với hạnh phúc đôi lứa, hạnh phúc gia đình mà đáng lẽ ra chàng đang được hưởng Còn nàng chinh phụ -người vợ ban đầu nàng vốn đồng tình với việc lên đường tòng quân của chồng Và chính nàng cũng biết nén lại tình cảm đôi lứa riêng tư để chồng đi vì việc nước:

“Phép công là trọng, niềm tây xá gì”

Bởi lẽ, khi đối diện với việc nước nguy nan, lời kêu gọi tinh thần của người đàn ông xông pha nơi trận mạc thì bất cứ ai cũng sẽ nghe theo tiếng gọi đó Hơn nữa, dường như vẻ oai hùng, hào kiệt lẫm liệt của nam tử hán lúc bừng bừng ý chí lên đường và “chiếc ấn phong hầu” mà những trang sử thường ngợi ca dành cho những người lập được chiến công hiển hách đã khiến cho hình ảnh của người chồng trong mắt người vợ càng đẹp đẽ hơn, sáng chói hơn Thời khắc ấy, người chinh phu không chỉ là chỗ điểm tựa, nơi dựa dẫm của người vợ mà còn hiện ra vẻ anh hùng

Tóm lại, trong hoàn cảnh ấy, trong thời gian ấy, cả người chinh phu và người chinh phụ đều đồng lòng, nguyện ý đi theo việc nước Người chồng thì hứng khởi, khơi dậy niềm tin gầy dựng cơ đồ Còn người vợ thì mong chồng lập được việc lớn, vừa để chồng thỏa chí nam nhi vẫy vùng bốn bể, vừa là để rạng danh gia tộc Quả thực, người chinh phụ đã đồng ý, nguyện tình với việc chồng mình ra trận

2.3 Nhân vật than oán thực tại

Tiếp đến phần chính, là hiện tại cuộc sống của người chinh phụ khi chiến tranh đang diễn ra Đó chính là thực tại đen tối, u ám khiến nàng phải sống cuộc sống vất vả,

lẻ loi, luôn trông ngóng đợi tin của chồng

Trước hết, người chồng đi chinh chiến nơi xa trường để lại người chinh phụ ở nhà một mình, quán xuyến mọi việc trong gia đình Nàng ấy vừa phải chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ già; vừa phải chăm non, ẵm bồng con thơ Lại thêm cả việc phải tính toán chi li, làm lụng để gánh vác được giang sơn nhà chồng Có thể thấy, đây là một hình ảnh chung của những người phụ nữ phong kiến khi có chồng phải đi đánh trận Ở nhà, cha mẹ già thì thẫn thờ, tựa cửa mong ngóng hình ảnh con trai Người vợ ở chốn khuê phòng thì nước mắt đầm đìa thương chồng, nhớ chồng mà vẫn phải một tay ôm con nhỏ, một tay lo việc nhà Nàng than oán với tình cảnh thực tại, nhớ chồng nhưng

vẫn phải cố nín lại trong lòng vì còn “Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm” Thêm nữa,

Trang 9

việc dạy con học hành, hiểu đạo lý làm người, vốn dĩ là công việc của người chồng, người cha Nhưng giờ đây, người vỡ đã phải kiêm luôn công việc ấy Nàng vừa làm

mẹ, lại vừa thay chồng làm cha Nàng đã rèn dũa, chỉ dạy cho con biết chăm chỉ sách đèn, học tập, bài vở để có thể trở thành một người có hiểu biết Đây như một lời ai oán , một tiếng than về nỗi vất vả của mình khi trong gia đình không có bóng dáng người đàn ông Nàng phải tự mình lo toan từng việc lớn nhỏ trong gia đình, chăm sóc

bố mẹ chồng chu đáo và cả việc nuôi con thơ nên người Tất cả, chỉ có một thân, một mình người phụ nữ: “Nay một thân nuôi già dạy trẻ” Có thể thấy, tuy than thở về thực tại gian truân là vậy nhưng đối với người phụ nữ trong xã hội phong kiến thì những điều này có đáng kể gì Nhìn vào hình ảnh người phụ nữ trong thời kỳ này, ta thấy được sự hy sinh lớn lao vì chồng, vì con đáng tự hào của người phụ nữ Ng phụ nữ với

hy vọng có chồng là điểm tựa, là người san sẻ những nỗi vất vả trong cuộc sống hằng ngày Để cùng nhau xây dựng gđ hạnh phúc, êm ấm, nuôi dậy con thơ nên người Nhưng giờ đây, khi tình cảnh bắt buộc ng chồng phải chinh chiến nơi phương xa, ng vợ

ko những mất đi điểm tựa của cđ mình ng vợ phải gồng mình lên, bỏ lại những yếu đuối vốn có ở phận nhi nữ mà mạnh mẽ hơn, cứng cỏi hơn, trở thành trụ cột cho cả gđ nhà chồng Để có thể làm được điều ấy, chính nhờ vào tình yêu chồng, thương con cùng với tấm lòng hiếu thảo, tảo tần Đọc những dòng tâm sự của người chinh phụ, em

đã ko khỏi xót xa, thương cảm với sự cô đơn, vất vả, với nỗi khổ tâm mà kb san sẻ cùng ai Chắc hẳn, bất cứ ai, nhất là người phụ nữ, khi đọc tác phẩm “Chinh phụ ngâm” đều sẽ cảm thấy nhói ở đâu đó trong tim Ở thời điểm hiện tại của mỗi chúng ta

Vợ chồng, tình yêu đôi lứa đều ko bị chia cắt bởi sự khắc nghiệt của chiến tranh như trong tác phẩm Chúng ta may mắn hơn nhiều! Chỉ đọc thôi, cũng đã phải thán phục sự kiên cường trước những khó khăn, vất vả, bị đè nặng lên vai của người phụ nữ nhỏ bé, đáng lẽ ra nên được yêu thương và che chở Đó cũng chính là vẻ đẹp đại diện cho người phụ nữ từ xưa đến nay

Thông qua vài câu thơ, người chinh phụ đã nói lên phần nào nỗi vất vả mà người

vợ phải cam chịu khi chồng đi lính Nhưng sau cùng, tất cả sự vất vả ấy chẳng đáng là

gì so với nỗi cô đơn và niềm khát khao hạnh phúc của nàng Cả bài “Chinh phụ ngâm” chủ yếu vẫn là nỗi nhớ mong một bóng dáng quen thuộc Mà sự đợi chờ triền miên trong vô vọng ấy như bào mòn tấm thân người chinh phụ Sau khi tiễn người chồng yêu thương, người mà nàng nguyện ý trao cả cuộc đời thì người chinh phụ nặng lòng với một nỗi lo sợ Nàng sợ rằng người chồng của mình ở ngoài chốn biên cương xa xôi,

Trang 10

đầy rẫy hiểm nguy kia sẽ thế nào? Hàng vạn, hàng ngàn người lên đường với ý chí anh hùng, can trường nhưng mấy ai còn giữ được tính mạng mà quay về đoàn tụ với gia đình, với vợ con Đa phần, họ đã tự mình biết và định cho mình một cái kết, đó là bỏ mạng nơi đất khách quê người

“Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phụ trăng dõi dõi soi Chinh phu tử sĩ mấy người Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn”.

Thật thê lương ai oan cho sự chia cắt lứa đôi Nhìn vào hình ảnh người chinh phụ, nàng vốn là người phụ nữ trẻ tuổi Nàng tận hưởng hạnh phúc lứa đôi, hạnh phúc gia đình chưa được bao lâu thì đã phải sống trong nỗi lo sợ mất chồng, nỗi cơ đơn một mình Trong khoảng thời gian đầu, người chinh phụ vẫn nhận được tin tức của chồng mình gửi về Cả hai còn hẹn ngày đón nhau, chàng hẹn ngày trở về, nàng hẹn sẽ ra đón Nàng ôm hy vọng, ôm mơ mộng được đoàn tụ nhưng rồi chàng không về Nàng vừa thất vọng, một phần than trách người chồng đã tạo cho mình hy vọng và nàng cũng oán trách chính cái xã hội và cuộc chiến Lâu rồi, không còn tin tức gì nữa, không biết chồng mình phương xa tình cảnh thế nào Nàng chỉ biết sầu muộn trong lòng một mình Nàng nhìn quanh căn phòng rất rộng, rất ấm áp khi hai vợ chồng vẫn còn chung sống Giờ đây chỉ còn sự u tối, ảm đạm, lạnh lẽo Người chinh phụ cảm thấy cô đơn trong chính căn phòng của mình Càng nhớ chồng bao nhiêu nàng càng cô đơn bấy nhiêu:

“Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen Ngoài rèm thước chẳng mách tin Trong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

Người đọc như mường tượng được ra hình ảnh, cảm xúc của nhân vật trữ tình khi đọc từng câu, từng chữ, từng vần thơ Bước chân thê lương của người phụ nữ, những hành động lập đi lập lại như một nỗi nhớ cứ thổn thức, đong đầy tâm trạng của

Ngày đăng: 28/12/2022, 00:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w