Mục đích: Mục đích của khảo sát, nghiên cứu thị trường lao động là để định hướng và đề ra các giải pháp phát triển thị trường lao động vùng dự án, nhằm làm cơ sở thiết kế các khóa đào t
Trang 1BÁO CÁO TÌNH HÌNH THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 3 HUYỆN DỰ ÁN, TỈNH
QUẢNG NAM
Trang 2
PHẦN MỞ ĐẦU
I SỰ CẦN THIẾT PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Trong nền kinh tế thị trường, thị trường lao động là một trong những thị trường cơ bản và quan trọng nhất Đối với nước ta, phát triển thị trường lao động
là chủ trương lớn và lâu dài của Đảng và Nhà nước Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã nhấn mạnh phải “đẩy mạnh phát triển thị trường lao động” nhằm góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển mới, có nhiều cơ hội và những thách thức cao, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực thích ứng Vì vậy, phát triển thị trường lao động đang trở hành đòi hỏi bức thiết hàng đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Đối với Quảng Nam, trong những năm qua phát triển nhân lực của tỉnh đã bộc lộ nhiều bất cập: mất cân đối từ nguồn lực đầu tư, đào tạo và sử dụng nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội trong những năm trước mắt và lâu dài
Đối vối các huyện Duy Xuyên (DX), Hiệp Đức (HĐ) và Phước Sơn (PS), kinh tế không ngừng phát triển, tăng trưởng cao và ổn định, không chỉ đảm bảo duy trì việc làm cho lao động đang có việc làm, mà còn tạo thêm nhiều việc làm mới cho người lao động góp phần to lớn ổn định và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân Tuy nhiên thị trường lao động phát triển chưa mạnh và đồng đều, cung – cầu lao động còn mất cân đối nghiêm trọng nên sức ép về việc làm vẫn khá lớn, số lao động thất nghiệp và thiếu việc làm còn nhiều, thời gian lao động nhàn rỗi ở nông thôn còn lớn, tỷ lệ hộ nghèo vần còn khá cao (năm
2010, huyện Duy Xuyên 23%, huyện Phước Sơn 68,46% và huyện Hiệp Đức 47,39% theo chuẩn mới)
Do vậy, việc khảo sát, đánh giá thị trường lao động các huyện vùng dự án
là hết sức cần thiết và cấp bách, để thúc đẩy thị trường lao động phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội có lồng ghép giới tại các huyện vùng dự án trong những năm đến
II MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU VÀ PHẠM VI KHẢO SÁT, NGHIÊN CỨU
1 Mục đích:
Mục đích của khảo sát, nghiên cứu thị trường lao động là để định hướng
và đề ra các giải pháp phát triển thị trường lao động vùng dự án, nhằm làm cơ sở thiết kế các khóa đào tạo nghề, đảm bảo nguồn lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật, kỹ năng làm việc, đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế xã hội của vùng dự
án
Trang 3Trên cơ sở đó, bản báo cáo sẽ trở thành một trong những công cụ hữu hiệu của để tổ chức, chỉ đạo việc phát triển kinh tế - xã hội có lồng ghép giới tại vùng dự án
2 Yêu cầu:
+ Kiểm kê, đánh giá nhận dạng thực trạng thị trường lao động về số lượng, chất lượng; xác định những thế mạnh và yếu kém của nguồn lao động so với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của vùng dự án
+ Phân tích, làm rõ thực trạng những điều kiện để phát triển thị trường lao động (trình độ phát triển kinh tế xã hội, mạng lưới các cơ sở đào tạo, hệ thống các cơ chế, chính sách phát triển đào tạo, sử dụng nguồn lao động, ), đúc kết những tác động tích cực, hạn chế, tìm ra bài học kinh nghiệm và hướng khắc phục
+ Nêu rõ quan điểm, mục tiêu, phương hướng, đề xuất các giải pháp và bước đi phát triển thị trường lao động
3 Phạm vi khảo sát, nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu đề cập đến nguồn lao động trong độ tuổi lao động (theo Bộ Luật Lao động ngày 23/6/1994, nam giới từ 15 đến hết 60 tuổi,
nữ giới từ 15 đến hết 55 tuổi); đào tạo và sử dụng nguồn lao động trên địa bàn vùng dự án; phân tích, đánh giá, xác định nhu cầu; đề xuất phương hướng, giải pháp phát triển thị trường lao động và từng lĩnh vực nghề nghiệp nói riêng
III NHỮNG CĂN CỨ CHỦ YẾU XÂY DỰNG BÁO CÁO
- Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015 của huyện Duy Xuyên, Phước Sơn và Hiệp Đức;
- Đề án tiếp tục đổi mới và phát triển dạy nghề tỉnh Quảng Nam giai đoạn
2008 – 2015; Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Quảng Nam đến
IV GIỚI THIỆU KẾT CẤU BÁO CÁO
Báo cáo được chia thành các phần chính như sau:
- Phần III Những giải pháp phát triển thị trường lao động
- Phần IV Kiến nghị - Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 4PHẦN I ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ THỰC TRẠNG THỊ
TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÙNG DỰ ÁN 2006 - 2010
I ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG DỰ ÁN:
Huyện Duy Xuyên, huyện Hiệp Đức và huyện Phước Sơn là 03 huyện đại diện cho 03 khu vực (đồng bằng, trung du và miền núi) của tỉnh, có quy mô lãnh thổ lớn Huyện Duy Xuyên có lợi thế so sánh trong phát triển kinh tế du lịch với
di sản văn hóa thế giới Tháp Mỹ Sơn và các làng nghề truyền thống như dệt, làm chiếu, … Huyện Hiệp Đức và huyện Phước Sơn điều kiện địa hình đồi núi chiếm khoảng 75% diện tích tự nhiên với nhiều sông suối là một tiềm năng lớn
để phát triển thủy lợi, thủy điện Nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tổng hợp theo các vùng lãnh thổ Mạng lưới cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ đang được chú trọng phát triển (đường Hồ Chí Minh, Quốc
lộ 1A, 14E và mạng lưới trục ngang kết nối liên vùng),…, là những điểm tựa cho phát triển trong tương lai
Các huyện vùng dự án đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, phát huy tiềm năng và nguồn lực sẵn có để đạt được những bước tăng trưởng ổn định, liên tục đạt cao hơn mức bình quân chung của cả nước Giai đoạn 2006 –
2010, tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) các huyện đều tăng (bình quân huyện DX: 12,8%/năm, PS: 13,1%/năm, HĐ: 12,08%/năm) Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng của ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng của ngành nông – lâm – ngư nghiệp:
- Đối với huyện Duy Xuyên: công nghiệp – xây dựng tăng từ 30,2% (năm 2005) lên 42,3% (năm 2010), dịch vụ - du lịch tăng từ 26,5% (năm 2005) lên 30,1% (năm 2010), ngành nông – lâm – ngư nghiệp giảm từ 43,3% (năm 2005) xuống còn 27,6% (năm 2010)
- Đối với huyện Phước Sơn: công nghiệp – xây dựng tăng từ 21% (năm 2005) lên 26,4% (năm 2010), dịch vụ - du lịch tăng từ 45,5% (năm 2005) lên 45,8% (năm 2010), ngành nông – lâm nghiệp giảm từ 33,5% (năm 2005) xuống còn 27,8% (năm 2010)
- Đối với huyện Hiệp Đức: công nghiệp – xây dựng tăng từ 10% (năm 2005) lên 15% (năm 2010), dịch vụ - du lịch tăng từ 30% (năm 2005) lên 36% (năm 2010), ngành nông – lâm nghiệp giảm từ 60% (năm 2005) xuống còn 49% (năm 2010)
Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực, hiện nay tỷ lệ lao động hoạt động trong các nhóm ngành phi nông nghiệp tăng dần (năm 2010, huyện DX chiếm gần 50,9%, huyện PS chiếm 27,54% và huyện Hiệp Đức chiếm 27,61%) Cơ chế, chính sách mới đã có tác dụng phát huy ưu thế, tiềm năng của các huyện và thu hút nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tập trung nâng cấp và đầu tư xây dựng mới, tác động mạnh mẽ đến tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nhất là việc làm, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân Những kết quả đạt được về kinh tế - xã hội là rất quan trọng tạo điều kiện cho thị trường lao động vùng dự án phát triển
Trang 5Tuy nhiên, các huyện cũng đang đối mặt với không ít khó khăn, thách thức Các huyện nằm trong vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, đặc biệt hậu quả
để lại sau các đợt bão lũ lớn rất nặng nề cần phải khôi phục trong nhiều năm; điều kiện địa hình đa dạng, phức tạp, hệ thống cơ sở hạ tầng còn yếu Thị trường hàng hóa chưa được mở rộng, chi phí vận chuyển hàng hóa còn cao, nên ảnh hưởng lớn đến sức cạnh tranh của các sản phẩm trên địa bàn vùng dự án Nhìn chung, kinh tế các huyện có phát triển, nhưng quy mô còn nhỏ bé, chất lượng tăng trưởng chưa cao, khối lượng giá trị sản xuất tăng cao nhưng giá trị gia tăng còn thấp Thu nhập bình quân đầu người khoảng gần 950 USD, còn thấp so với mức bình quân chung cả nước (khoảng 1.200 USD) Các huyện miền núi Phước Sơn và Hiệp Đức tuy đã được tập trung đầu tư từ nhiều nguồn của Trung ương
và địa phương nhưng vẫn còn nhiêu khó khăn về kết cấu hạ tầng cũng như đời sống nhân dân; doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trên hai huyện này rất hạn chế Các thể chế, chính sách phát triển vùng còn thiếu, mối liên kết vùng trong khu vực còn hạn chế làm giảm việc phát huy các nguồn lực sẵn có của vùng Công tác quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực (trong đó có quản lý, điều tiết thị trường lao động) còn nhiều bất cập Giáo dục, đào tạo nhiều mặt chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH Đội ngũ công nhân kỹ thuật , thợ lành nghề còn thiếu, lao động chưa có việc làm cũng như thiếu việc làm còn nhiều Lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu lao động (DX: 49,1%, HĐ: 72,39% và PS: 72,46%) Đời sống nhân dân tuy đã được cải thiện hơn nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói nghèo còn cao hơn mức bình quân cả tỉnh Những thách thức về phát triển kinh tế - xã hội đang và sẽ là những rào cản đối với việc phát triển thị trường lao động ở vùng dự án trong nhiều năm tới
II ĐẶC ĐIỂM CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG TỈNH QUẢNG NAM NÓI CHUNG VÀ VÙNG DỰ ÁN NÓI RIÊNG
1 Đặc điểm chủ yếu về lao động của tỉnh Quảng Nam và vùng dự án
Đặc điểm đặc thù về điều kiện địa lý, tiềm năng và trình độ phát triển kinh
tế - xã hội ảnh hưởng lớn đến phát triển thị trường lao động của tỉnh Quảng Nam
cả về mặt thuận lợi và khó khăn
Với vị trí tự nhiên thuận lợi, Quảng Nam có cơ hội để giao thương về kinh tế với các tỉnh, thành phố lân cận trong nước và nước ngoài, có điều kiện tiếp thu những thành tựu về khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực Nguồn lao động dồi dào, với những lợi thế so sánh, trong bối cảnh và tác động của các yếu
tố ngoại lực, cơ chế chính sách thoáng mở sẽ là những thời cơ cho phát triển kinh tế để Quảng Nam trở thành một nhân tố tích cực trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế vùng duyên hải miền Trung một cách cân đối và bền vững tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết các vấn đề xã hội như lao động, việc làm, giảm áp lực di dân đến các vùng đô thị trong, ngoài tỉnh
Ngoài sự khác nhau về điều kiện tự nhiên do địa hình của tỉnh chia thành các vùng khác nhau rõ rệt (vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng, ven
Trang 6biển) thì sự phân bố dân cư, nguồn lao động không đồng đều, điều kiện sống khác nhau giữa các vùng ở tỉnh đòi hỏi sự tác động khác nhau trong huy động và phân bổ các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế, tạo việc làm bền vững cho người dân từng vùng, nhất là vùng trung du, miền núi
Thị trường lao động Quảng Nam về cơ bản vẫn mang tính chất của một thị trường lao động phát triển không đồng đều và còn nhỏ bé do cơ cấu nền kinh
tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, đang từng bước chuyển dịch sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ Thị trường lao động phát triển mạnh ở các địa bàn thành phố Tam Kỳ, Hội An, huyện Điện Bàn, Núi Thành … Thị trường lao động chưa phát triển ở khu vực nông thôn, các địa bàn miền núi kinh tế kém phát triển (có vùng dự án)
Trên tổng thể thị trường lao động Quảng Nam vẫn là một thị trường dư thừa lao động, nhất là lao động phổ thông, trong khi đó lại thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao Vấn đề di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị tìm việc làm có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây
Do thị trường lao động Quảng Nam phát triển còn chậm, nên mối gắn kết giữa thị trường lao động Quảng Nam với thị trường lao động khu vực Trung bộ
và cả nước còn hạn chế; khả năng cạnh tranh còn thấp; chưa trở thành địa bàn có sức hút mạnh lao động, nhất là lao động kỹ thuật trình độ cao từ thị trường khác đến, trái lại, xu hướng dịch chuyển lao động, trước hết là lao động phổ thông, ra khỏi Quảng Nam khá lớn
2 Các chính sách phát triển thị trường lao động những năm qua
2.1 Khuôn khổ thể chế chung:
Thể chế kinh tế thị trường từng bước được hoàn thành tạo hành lang pháp
lý, điều chỉnh sự hình thành và vận hành của thị trường lao động trên phạm vi cả nước, cũng như ở Quảng Nam Đặc biệt Nhà nước đã ban hành Luật doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ Luật Lao động (1994), Luật Dạy nghề, Luật Người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, Luật Bảo hiểm xã hội cùng với hàng trăm Nghị định, Thông tư liên quan đến lao động – việc làm Trên cơ sở công nhận quyền tự do lựa chọn người làm việc cho mình của người sử dụng lao động, Bộ Luật Lao động đã công nhận quyền tự do trao đổi sức lao động trên thị trường lao động; tạo điều kiện thuận lợi cho sự dịch chuyển lao động; khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, nhất là thông qua dạy nghề theo 3 cấp trình độ, đặc biệt cho nông dân, dân tộc thiểu số, xuất khẩu lao động; đồng thời, tạo điều kiện cho các chủ thể trong các thành phần kinh tế chủ động tham gia bình đẳng
và tích cực vào hoạt động của thị trường lao động nhằm gắn kết cung – cầu lao động
Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (1999) và hệ thống các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Chính phủ và các Bộ, ngành về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn đã khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh Số lượng các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng khá nhanh, số doanh nghiệp thành lập mới tăng mỗi năm 4,5 lần so với thời kỳ 5 năm trước Đến cuối năm 2010 có hơn 4.500 doanh nghiệp đã được cấp giấy phếp đăng ký kinh doanh với tổng vốn đăng ký trên 20.000 tỷ đồng Luật Đầu tư
Trang 7nước ngoài (1996) đã thúc đẩy tăng đầu tư nước ngoài, góp phần thu hút lao động vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế khác nhau Sự phát triển của doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, tạo mở việc làm mới, giảm tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm ở tỉnh
2.2 Khuôn khổ thể chế riêng của Quảng Nam:
a Chính sách về việc làm:
Chính sách việc làm là một trong những chính sách quan trọng nhất của thị trường lao động luôn được tỉnh quan tâm thực hiện Liên tục trong nhiều năm, hoạt động cho vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm được xem là một trong những giải pháp tạo việc làm có hiệu quả, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành các chỉ tiêu của Chương trình mục tiêu vào việc làm tỉnh Quảng Nam hàng năm và trong từng giai đoạn Để tăng thêm nguồn vốn của chương trình, từ năm 2004 tỉnh Quảng Nam đã thành lập và trích ngân sách tỉnh hàng năm bổ sung nguồn vốn Quỹ hỗ trợ việc làm tỉnh Đến nay tổng nguồn vốn giải quyết việc làm tỉnh quản lý là trên 87 tỷ đồng đang được đầu tư cho vay để tạo việc làm cho trên 2.000 lao động mới mỗi năm, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh
Để góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động ở tỉnh Tỉnh ủy Quảng Nam đã ban hành Chỉ thị chỉ đạo thực hiện công tác xuất khẩu lao động và UBND tỉnh đã ban hành “Đề án xuất khẩu lao động tỉnh Quảng Nam từ 2005 đến năm 2010” Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng công tác xuất khẩu lao động
ở tỉnh cũng đã thu được một số kết quả ban đầu đáng khích lệ để cùng với chương trình xuất khẩu lao động tại các huyện nghèo của tỉnh nâng tổng số lao động ở tỉnh đi xuất khẩu lao động trong giai đoạn 2006 – 2010 lên 1.663 người
Đồng thời với tổ chức thực hiện Nghị định số 19/2005/NĐ-CP ngày 28/02/2005 của Chính phủ (đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 71/2008/NĐ-CP ngày 05/6/2008), từ năm 2009, với nhiệm vụ mới là tổ chức Sàn Giao dịch việc làm và thẩm định giải quyết chính sách bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn tỉnh, Trung tâm giới thiệu việc làm ngày càng được củng cố, đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ
Từ năm 2010, hoạt động thu thập thông tin về thực trạng lao động – việc làm trên địa bàn tỉnh được tiến hành hàng năm theo Phương án điều tra của tỉnh Nguồn thông tin, số liệu có được qua điều tra sẽ là căn cứ quan trong trọng phục
vụ việc hoạch định các chính sách về lao động – việc làm ở tỉnh
b Chính sách dạy nghề:
Đào tạo và bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, tay nghề là một trong những chính sách trọng tâm cho phát triển thị trường lao động đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Nam quan tâm chỉ đạo thực hiện Trong nhiều năm qua, hệ thống cơ
sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh ngày càng phát triển, mở rộng về quy mô và nâng cao về chất lượng nhằm tạo điều kiện thực hiện hiệu quả công tác đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm Hiện nay toàn tỉnh có 43 cơ sở dạy nghề, trong đó
có 01 trường Cao đẳng nghề, 05 Trường Trung cấp nghề, 04 Trường Cao đẳng – Trung học chuyên nghiệp có tham gia đào tạo nghề Ngoài việc đa dạng hóa các
Trang 8hình thức đào tạo nghề (đào tạo nghề tại cơ sở đào tạo, tại doanh nghiệp, lưu động …), hoạt động đào tạo nghề đã có sự thay đổi tích cực: chuyển mạnh từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của người lao động và yêu cầu của thị trường lao động; gắn đào tạo nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từng vùng, từng ngành, từng địa phương; chú trọng việc liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với doanh nghiệp theo hướng dạy lý thuyết nghề tại cơ sở đào tạo, thực hành nghề trên thiết bị và dây chuyền, công nghệ của doanh nghiệp và doanh nghiệp có cam kết sử dụng lao động sau khi tốt nghiệp các khóa học nghề Từ năm 2001 đến nay, các cơ sở đào tạo nghề đã đào tạo nghề cho trên 200.000 lao động để cung ứng cho thị trường lao động trong, ngoài tỉnh và nước ngoài
c Chính sách phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn:
Phát triển ngành nghề phi nông nghiệp, nhất là ở nông thôn, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển thị trường lao động Quảng Nam, được tỉnh rất quan tâm UBND tỉnh đã ban hành cơ chế khuyến khích phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại, cơ chế ưu đãi, khuyến khích đầu tư và quản lý cụm Công nghiệp trên địa bàn tỉnh, qua đó đã hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại, hợp tác xã, các làng nghề truyền thống, khuyến khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, hình thành các khu công nghiệp nhỏ ở nông thôn Có 19 làng nghề được UBND tỉnh công nhận đạt tiêu chuẩn làng nghề công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp, 3 dự án làng nghề được chọn thí điểm xây dựng mô hình làng nghề gắn với phát triển du lịch (mộc Kim Bồng, ươm tơ dệt lụa Mã Châu, đúc đồng) Các ngành nghề phi nông nghiệp đã tạo nhiều việc làm tại chỗ và thu hút khá nhiều lao động ở khu vực nông thôn của tỉnh
* Đánh giá tổng quát về thể chế:
Thể chế chung của cả nước và riêng của Quảng Nam về thị trường lao động đến nay tương đối đồng bộ, luôn được hoàn thiện phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo hành lang pháp lý cho thị trường lao động Quảng Nam từng bước phát triển và hoạt động hiệu quả hơn Đặc biệt, khuôn khổ thể chế thị trường lao động về cơ bản đã hướng vào giải phóng sức sản xuất, sức lao động, tự do hóa lao động và phát huy nguồn lực con người, lực lượng lao động xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; tạo nhiều việc làm và giảm thất nghiệp cho lao động trong tỉnh; khuyến khích làm giàu hợp pháp, đồng thời tích cực xóa đói giảm nghèo Đặc biệt, việc xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án nâng cao năng lực đào tạo nghề, Dự án đào tạo nghề cho nông thôn; Chương trình quốc gia về bảo hộ lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động … đã và đang phát huy trong thực tế tạo cơ sở vũng chắc và sức bật cho thị trường lao động Quảng Nam phát triển và hoạt động sôi động hơn trong những năm gần đây
Tuy nhiên, thể chế thị trường lao động khi áp dụng vào điều kiện cụ thể của Quảng Nam cũng còn những rào cản, bất cập Nhận thức về nguồn nhân lực, dạy nghề chưa đúng nên trong nhiều năm việc đầu tư phát triển nguồn nhân lực chưa đúng mức; Chính sách, pháp luật về đào tạo, dạy nghề trên địa bàn tính chưa thật gắn với sản xuất, với thị trường lao động và nhu cầu việc làm của người lao động Đặc biệt, chính sách, luật pháp chưa tạo ra khung pháp lý đảm
Trang 9bảo thang giá trị của học nghề tương xứng với tầm quan trọng của nó trong xã hội Các chính sách chưa đủ mạnh để giải phóng triệt để mọi nguồn lực của tỉnh, cũng như của Trung ương cho đầu tư phát triển kinh tế, tạo nhiều việc làm; nhất
là thiếu các chính sách khuyến khích phát triển thị trường lao động như chính sách tiền lương, tiền công chưa thực sự theo nguyên tắc thị trường và hiệu quả; chưa có chính sách thỏa đáng thu hút và trọng dụng nhân tài trong tỉnh; cùng như chính sách đầu tư mạnh phát triển hệ thống giao dịch của thị trường lao động để kết nối cung – cầu lao động trên thị trường lao động cả nước và Quảng Nam Chưa quy định pháp lý để gắn quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, nhất
là phát triển các ngành kỹ thuật, các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh với quy hoạch, kế hoạch đào tạo, dạy nghề, sử dụng lao động tại chỗ,…
III ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CUNG LAO ĐỘNG
Các huyện trong vùng dự án có nguồn lao động rất dồi dào và có xu hướng tăng, có ưu thế về lao động trẻ và chất lượng lao động dần được nâng cao
III.1 HUYỆN DUY XUYÊN:
1 Cung về số lượng lao động
Năm 2010, tổng dân số toàn huyện là 121.608 người (trong đó nữ 62.142 người, chiếm 51,1%); khu vực thành thị có 21.852 người (chiếm 17,97%); khu vực nông thôn có 99.756 người (chiếm 82,03%) Dân số phân bố không đồng đều tại các địa phương trên địa bàn huyện, khu vực có dân số đông là thị trấn Nam Phước, khu vực có dân số thấp là các xã Duy Phú, Duy Tân, Duy Hòa Dân
số từ 15 tuổi trở lên là 93.644 người, chiếm 77% tổng dân số; dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế (lực lượng lao động) là 77.078 người (trong
đó, nữ 39.307 người và thành thị 12.885 người), chiếm 63,38% tổng dân số; dân
số từ 15 tuổi trở lên không tham gia hoạt động kinh tế là 16.566 người, chiếm 13,62% tổng dân số
Trong giai đoạn 2006 – 2010, bình quân lực lượng lao động tăng 2,03%/năm, từ 69.709 người vào năm 2005 tăng lên 77.078 người vào năm 2010; tỷ lệ tăng lực lượng lao động tương ứng qua các năm như sau: 0,68% (2006), 1,48% (2007), 3,56% (2008), 2,44% (2009); 2,02% (2010); bình quân mỗi năm lực lượng lao động cả huyện tăng thêm 1.474 người Lực lượng lao động thành thị có tỷ lệ tăng nhanh hơn lực lượng lao động tại nông thôn (tăng bình quân 2,69% đối với khu vực thành thị và 1,92% đối với khu vực nông thôn)
2 Cung về chất lượng lao động:
- Trình độ học vấn của lực lượng lao động đang làm việc không ngừng được nâng lên, thể hiện ở số lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học ngày càng giảm và tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông ngày càng tăng Nếu năm 2001, tỷ lệ lao động không biết chữ là 3,05% thì đến năm 2010
đã giảm xuống còn 1,37%; trong khi đó lao động có trình độ trung học phổ thông năm 2001 là 12,11% đã tăng lên 23,82% vào năm 2010 Cụ thể như sau :
Trang 10- Trình độ chyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động đang làm việc không ngừng được cải thiện cả về số lượng và cơ cấu, thể hiện ở tỷ lệ lao động qua đào tạo liên tục tăng lên qua các năm (tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng từ 22,26% năm 2001 lên 30,45% vào năm 2010; lao động qua đào tạo nghề tăng từ 16,89% năm 2001 lên 20,80% năm 2010) Cơ cấu về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động như sau:
I Chưa qua đào tạo 51.611 74,04 46.907 77,74 53.608 69,55
II Đã qua đào tạo 13.431 22,26 18.097 25,96 23.470 30,45
Theo số liệu thống kê tại bảng trên, trong giai đoạn 2001 - 2010, lao
động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học tăng từ 0,70% lên 5,04% và trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 3,62% lên 4,61% Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng bình quân 0,53%/năm So với cầu lao động của các ngành sản xuất, dịch vụ thì lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng, nhất là những các ngành yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Cơ cấu lao động của huyện bất hợp lý (nhiều thầy thiếu thợ) Năm 2005,
cơ cấu đào tạo là: 1 Cao đẳng, Đại học - 0,9 Trung cấp – 4,22 CNKT; năm 2010,
cơ cấu là 1 - 0,92 – 4,13 Cơ cấu này cho thấy, lực lượng lao động trực tiếp sản xuất của huyện có tay nghề ít, nên không thể đáp ứng được cung lao động cho các ngành sản xuất yêu cầu lao động có chất lượng, công nghệ cao
- Theo kết quả điều tra chọn mẫu 41 người dân tại các xã Duy Phú, Duy Hòa, Duy Phước và Duy Vinh, có 01 người chưa biết chữ, 0 người chưa tốt
Trang 11nghiệp tiểu học, 05 người tốt nghiệp tiểu học, …21 người tốt nghiệp THCS và
13 người tốt nghiệp THPT Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, có 01 người trình
độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên, có 24 người tham gia các khóa đào tạo nghề ngắn hạn (dưới 03 tháng, chủ yếu đào tạo tại cộng đồng và ngành nghề chủ yếu
là trồng trọt, chăn nuôi,…)
3 Cung về cơ cấu lao động:
Nhóm lao động trong độ tuổi trẻ chiếm tỷ lệ cao là một ưu thế và tiềm năng lớn của huyện Năm 2010, số người trong độ tuổi 15 – 34 chiếm 39,96%; trong độ tuổi 35 – 44 chiếm 26,67% Lực lượng lao động tập trung ở khu vực nông thôn còn lớn, tuy đang có xu hướng giảm dần nhưng khá chậm (từ 83,77% vào năm 2005 giảm còn 82,38% vào năm 2010, trong 5 năm giảm được 0,49%)
III.2 HUYỆN PHƯỚC SƠN:
1 Cung về số lượng lao động
Năm 2010, tổng dân số toàn huyện là 23.047 người (trong đó nữ 11.371 người, chiếm 49,34%); khu vực thành thị có 6.339 người (chiếm 27,5%); khu vực nông thôn có 16.708 người (chiếm 72,5%) Dân số phân bố không đồng đều tại các địa phương trên địa bàn huyện, khu vực có dân số đông là thị trấn Khâm Đức 6.339 người, khu vực có dân số thấp là các xã Phước Công (797 người) Dân số từ 15 tuổi trở lên là 14.731 người, chiếm 64,47% tổng dân số; dân số từ
15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế (lực lượng lao động) là 12.474 người (trong đó, nữ 6.169 người và thành thị 3.442 người), chiếm 54,60% tổng dân số; dân số từ 15 tuổi trở lên không tham gia hoạt động kinh tế là 2.257 người, chiếm 9,88% tổng dân số
Trong giai đoạn 2006 – 2010, bình quân lực lượng lao động tăng 3,38%/năm, từ 10.566 người vào năm 2005 tăng lên 12.474 người vào năm 2010; tỷ lệ tăng lực lượng lao động tương ứng qua các năm như sau: 4,97% (2006), 3,25% (2007), 4,88% (2008), 1,85% (2009); 1,97% (2010); bình quân mỗi năm lực lượng lao động cả huyện tăng thêm 382 người Lực lượng lao động thành thị có tỷ lệ tăng thấp hơn lực lượng lao động tại nông thôn (tăng bình quân 1,1%/năm đối với khu vực thành thị và 3,47%/năm đối với khu vực nông thôn)
2 Cung về chất lượng lao động:
- Trình độ học vấn của lực lượng lao động đang làm việc không ngừng được nâng lên, thể hiện ở số lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học ngày càng giảm và tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông ngày càng tăng Nếu năm 2001, tỷ lệ lao động không biết chữ là 10,4% thì đến năm 2010
đã giảm xuống còn 6,15%; trong khi đó lao động có trình độ trung học phổ thông năm 2001 là 2,02% đã tăng lên 6,71% vào năm 2010 Cụ thể như sau :
Số người % Số người % Số người %
Trang 12- Trình độ chyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động đang làm việc không ngừng được cải thiện cả về số lượng và cơ cấu, thể hiện ở tỷ lệ lao động qua đào tạo liên tục tăng lên qua các năm (tỷ lệ lao động qua đào tạo đã tăng từ 12,99% năm 2001 lên 20,02% vào năm 2010; lao động qua đào tạo nghề tăng từ 10,47% năm 2001 lên 14,31% năm 2010) Cơ cấu về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động như sau:
I Chưa qua đào tạo 7.619 87,01 8.840 83,66 9.977 79,98
II Đã qua đào tạo 1.137 12,99 1.726 16,34 2.497 20,02
Theo số liệu thống kê tại bảng trên, trong giai đoạn 2001 - 2010, lao
động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học tăng từ 1,32% lên 2,91% và trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 1,2% lên 2,8% Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng bình quân 0,32%/năm So với cầu lao động của các ngành sản xuất, dịch vụ thì lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng, nhất là những các ngành yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Cơ cấu lao động của huyện có thay đổi nhưng theo chiều hướng bất hợp
lý (nhiều thầy thiếu thợ) Năm 2005, cơ cấu đào tạo là: 1 Cao đẳng, Đại học – 0,92 Trung cấp – 6,45 CNKT; năm 2010, cơ cấu là 1 - 0,96 – 4,92 Cơ cấu này cho thấy, lực lượng lao động trực tiếp sản xuất của huyện có tay nghề ít, nên không thể đáp ứng được cung lao động cho các ngành sản xuất yêu cầu lao động
có chất lượng, công nghệ cao
- Theo kết quả điều tra chọn mẫu 30 người dân tại các xã Phước Thành, Phước Xuân và Phước Hòa, có 07 người chưa biết chữ, 0 người chưa tốt nghiệp
Trang 13tiểu học, 10 người tốt nghiệp tiểu học, 13 người tốt nghiệp THCS và 0 người tốt nghiệp THPT Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, có 0 người trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên, có 25 người tham gia các khóa đào tạo nghề ngắn hạn (dưới 03 tháng, chủ yếu đào tạo tại cộng đồng và ngành nghề chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi,…)
3 Cung về cơ cấu lao động:
Năm 2010, số người trong độ tuổi 15 – 34 chiếm 36,33%; trong độ tuổi 35 – 44 chiếm 11,36% Lực lượng lao động tập trung ở khu vực nông thôn tăng chậm (từ 72,21% vào năm 2005 lê 72,41% vào năm 2010; nguyên nhân chính là
do dân số khu vực nông thôn tăng nhanh
III.3 HUYỆN HIỆP ĐỨC:
1 Cung về số lượng lao động
Năm 2010, tổng dân số toàn huyện là 41.260 người (trong đó nữ 20.859 người, chiếm 50,55%); khu vực thành thị có 3.308 người (chiếm 8,02%); khu vực nông thôn có 37.952 người (chiếm 91,98%) Dân số phân bố không đồng đều tại các địa phương trên địa bàn huyện, khu vực có dân số đông là xã Bình Lâm (8.740 người), xã Quế Thọ (8.634 người) và thị trấn Tân An 3.308 người, khu vực có dân số thấp là các xã Phước Gia (1.064 người) Dân số từ 15 tuổi trở lên là 27.975 người, chiếm 73,34% tổng dân số; dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động kinh tế (lực lượng lao động) là 23.444 người (trong đó, nữ 11.558 người và thành thị 1.838 người), chiếm 61,46% tổng dân số; dân số từ 15 tuổi trở lên không tham gia hoạt động kinh tế là 4.531 người, chiếm 11,88% tổng dân
số
Trong giai đoạn 2006 – 2010, bình quân lực lượng lao động tăng 2,04%/năm, từ 21.199 người vào năm 2005 tăng lên 23.444 người vào năm 2010; tỷ lệ tăng lực lượng lao động tương ứng qua các năm như sau: 0,76% (2006), 1,75% (2007), 3,55% (2008), 2,11% (2009); 2,02% (2010); bình quân mỗi năm lực lượng lao động cả huyện tăng thêm 449 người Lực lượng lao động thành thị có tỷ lệ tăng thấp hơn lực lượng lao động tại nông thôn (tăng bình quân 0,65% đối với khu vực thành thị và 1,97% đối với khu vực nông thôn)
2 Cung về chất lượng lao động:
- Trình độ học vấn của lực lượng lao động đang làm việc không ngừng được nâng lên, thể hiện ở số lao động không biết chữ và chưa tốt nghiệp tiểu học ngày càng giảm và tỷ lệ lao động tốt nghiệp trung học phổ thông ngày càng tăng Nếu năm 2001, tỷ lệ lao động không biết chữ là 5,35% thì đến năm 2010
đã giảm xuống còn 2,73%; trong khi đó lao động có trình độ trung học phổ thông năm 2001 là 7,56% đã tăng lên 14,97% vào năm 2010 Cụ thể như sau :
Số người % Số người % Số người % Tổng số 19.954 100,00 21.199 100,00 23.444 100,00
Trang 14I Chưa qua đào tạo 16.133 80,85 16.480 77,74 17.414 74,28
II Đã qua đào tạo 3.821 19,15 4.719 22,26 6.030 25,72
lao động có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học tăng từ 2,47% lên 3,23%
và trung cấp chuyên nghiệp tăng từ 1,17% lên 2,88% Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng bình quân 0.25%/năm So với cầu lao động của các ngành sản xuất, dịch vụ thì lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chưa đáp ứng, nhất là những các ngành yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
Cơ cấu lao động của huyện ít có sự thay đổi, vẫn còn bất hợp lý (nhiều thầy thiếu thợ) Năm 2005, cơ cấu đào tạo là: 1 Cao đẳng, Đại học - 0,8 Trung cấp – 6,65 CNKT; năm 2010, cơ cấu là 1 - 0,89 – 6,07 Cơ cấu này cho thấy, lực lượng lao động trực tiếp sản xuất của huyện có tay nghề ít, nên không thể đáp ứng được cung lao động cho các ngành sản xuất yêu cầu lao động có chất lượng, công nghệ cao
- Theo kết quả điều tra chọn mẫu 30 người dân tại các xã Sông Trà, Quế Thọ và Bình Lâm, có 0 người chưa biết chữ, 0 người chưa tốt nghiệp tiểu học,
01 người tốt nghiệp tiểu học, 22 người tốt nghiệp THCS và 07 người tốt nghiệp THPT Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, có 0 người trình độ trung cấp chuyên
Trang 15nghiệp trở lên, có 22 người tham gia các khóa đào tạo nghề ngắn hạn (dưới 03 tháng, chủ yếu đào tạo tại cộng đồng và ngành nghề chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi,…)
3 Cung về cơ cấu lao động:
Năm 2010, số người trong độ tuổi 15 – 34 chiếm 35,64%; trong độ tuổi 35 – 44 chiếm 12,57% Lực lượng lao động tập trung ở khu vực nông thôn còn lớn, tuy đang có xu hướng giảm dần nhưng khá chậm (từ 92,46% vào năm 2005 giảm còn 92,16% vào năm 2010, trong 5 năm giảm được 0,3%)
Tồn tại:
Nhìn cung, nguồn cung lao động các huyện vùng dự án vẫn mang đặc thù của một nền kinh tế nông nghiệp với chất lượng thấp Cung lao động cho thị trường lao động chủ yếu là từ lao động nông thôn và nông nghiệp, phần lớn chưa qua đào tạo, do đó khả năng cạnh tranh không cao, nhất là ở thị trường yêu cầu lao động có trình độ cao như các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế
mở và thị trường lao động nước ngoài có thu nhập cao Cụ thể:
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn thấp so với tỷ lệ chung của cả tỉnh; lao động nông thôn phần lớn chưa qua đào tạo; trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ thấp hơn so với lao động nam
- Tình trạng thể lực của lao động nhìn chung vẫn ở mức trung bình kém,
cả về chiều cao, cân nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai; một bộ phận chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quy định
- Văn hóa nghề nghiệp, nhất là kỷ luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp của người lao động cơ bản còn yếu do ảnh hưởng của một nền kinh tế thuần nông trong nhiều năm
- Do nguồn cung lao động chủ yếu từ khu vực nông thôn đã tạo nên sức
ép về việc làm rất lớn và là vấn đề xã hội bức xúc nhất hiện nay, nhất là đối với thanh niên đến tuổi lao động
IV ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CẦU LAO ĐỘNG
Tổng cầu lao động toàn vùng dự án luôn tăng và đang chuyển dịch theo hướng tích cực, tạo nhiều việc làm mới cho người lao động, thất nghiệp có xu hướng giảm
1 Cầu lao động vùng dự án
1.1 Huyện Duy Xuyên:
Tổng lao động có việc làm có xu hướng tăng do kinh tế không ngừng phát triển Năm 2005 là 68.053 người, đến năm 2010 là 74.440 người, tăng 6.387 người, bình quân mỗi năm tăng 1.277 người; tốc độ tăng trưởng việc làm bình quân giai đoạn 2005 – 2010 là 1,81% Trong đó, tốc độ tăng trưởng việc làm của ngành công nghiệp - xây dựng là 8,63%/năm, ngành thương mại/dịch vụ: 3,15%/năm; ngược lại trong ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản lại giảm 1,55%/năm Trong giai đoạn từ 2006 – 2010, toàn huyện có 12.770 chỗ làm việc mới (bình quân mỗi năm có 2.550 lao động được giải quyết việc làm)
Trang 16Cơ cấu lao động của huyện tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, xây dựng từ 19,70% năm 2005 lên 27,19% năm 2010 và giảm lao động ngành nông nghiệp từ 58,10% năm
2005 xuống còn 49,10% năm 2010; riêng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ dao động nhẹ và giữ ổn định ở mức khoảng 22-23% tổng nhu cầu lao động trong giai đoạn 2005 - 2010 và đạt mức 23,7% năm 2010 Sự chuyển dịch cơ cấu lao động như trên phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng của huyện
Cơ cấu lao động một số ngành
II Theo ngành kinh tế 68.053 68.219 69.139 71.116 72.999 74.440
Trang 1711 Hoạt động tài chính,
12 Hoạt động kinh doanh
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Duy Xuyên)
Hiện toàn huyện có gần 8.000 cơ sở kinh tế phi nông nghiệp, khu vực sản xuất – kinh doanh (doanh nghiệp) và có 20 chợ đang hoạt động, thu hút khoảng 12.000 lao động, chiếm 16,12% lực lượng lao động đang có việc làm Trong đó 8.000 lao động làm việc trong các doanh nghiệp và 4.000 lao động làm việc trong các hợp tác xã hoạt động theo mô hình doanh nghiệp Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động như HTX Duy Sơn II,…, gắn với các làng nghề: VLXD, gốm sứ La Tháp (Duy Hòa), mây, tre xuất khẩu (Nam Phước, Duy Sơn II, Duy Thành), dệt chiếu (Duy Phước, Duy Vinh, Duy Nghĩa), dệt vải (Duy Trinh, Nam Phước), chế biến hải sản (Duy Hải), trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa (Nam Phước, Duy Trinh)
Theo kết quả điều tra 41 người, thì các ngành nghề chính người dân đang sản xuất là dệt chiếu thủ công; trồng cây lương thực, thực phẩm; chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi tôm, một số hộ gia đình buôn bán kinh doanh nhỏ và làm việc cho cơ quan nhà nước (UBND xã)
Trang 181.2 Huyện Phước Sơn:
Tổng lao động có việc làm có xu hướng tăng nhẹ Năm 2005 là 10.397 người, đến năm 2010 là 12.215 người, tăng 1.818 người, bình quân mỗi năm tăng 364 người; tốc độ tăng trưởng việc làm bình quân giai đoạn 2005 – 2010 là 3,28% Trong đó, tốc độ tăng trưởng việc làm của ngành công nghiệp - xây dựng
là 36,2%, ngành thương mại/dịch vụ: 7,05%; ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản: 0,46% Trong giai đoạn từ 2006 – 2010, toàn huyện có 3.600 chỗ làm việc mới (bình quân mỗi năm có 720 lao động được giải quyết việc làm)
Chuyển dịch cơ cấu cầu lao động theo ngành kinh tế có xu hướng tích cực Cơ cấu lao động của huyện tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, xây dựng từ 2,64% năm 2005 lên 10,56% năm 2010 và giảm lao động ngành nông nghiệp từ 83,17% năm
2005 xuống còn 72,46% năm 2010; riêng tỷ trọng lao động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ dao động nhẹ và giữ ổn định ở mức khoảng 14-16% tổng nhu cầu lao động trong giai đoạn 2005 - 2010 và đạt mức 16,98% năm 2010 Sự chuyển dịch cơ cấu lao động như trên phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng của huyện
Cơ cấu nhân lực một số ngành
II Theo ngành kinh tế 10.397 10.880 11.239 11.755 11.979 12.215
Trang 19(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Phước Sơn)
Hiện nay, khu vực sản xuất – kinh doanh (doanh nghiệp) của huyện có
679 cơ sở, đang thu hút khoảng trên 1.000 người lao động vào làm việc, chiếm 8,2% lực lượng lao động đang có việc làm Các ngành nghề thu hút nhiều lao động như xây dựng công trình, khai thác vàng, chế biến lâm sản, thủy điện
Theo kết quả điều tra 30 người, thì các ngành nghề chính người dân đang sản xuất trồng trọt (30 người) và chăn nuôi (30 người)
Cơ cấu lao động theo các nhóm ngành nghề thời gian qua được đánh giá thông qua số lao động làm việc trong các ngành công nghiệp - xây dựng, nông lâm nghiệp và dịch vụ Cơ cấu nhân lực của huyện tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng lao động làm việc trong các ngành công nghiệp, xây dựng
từ 6,33% năm 2005 lên 12,51% năm 2010, tỷ trọng lao động trong lĩnh vực
Trang 20thương mại, dịch vụ từ 9,96% năm 2005 lên 15,10% năm 2010 và giảm lao động ngành nông nghiệp từ 83,71% năm 2005 xuống còn 72,39% năm 2010 Sự chuyển dịch cơ cấu lao động như trên phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng của huyện
Cơ cấu nhân lực một số ngành
II Theo ngành kinh tế 20.727 20.881 21.190 21.871 22.273 22.713
Trang 2114 Giáo dục và đào tạo 351 331 390 431 442 501
(Nguồn: Phòng Thống kê huyện Hiệp Đức)
Hiện nay, khu vực sản xuất – kinh doanh (doanh nghiệp) của huyện có trên 1.000 cơ sở, đang thu hút khoảng 2.100 người lao động vào làm việc, chiếm 9,3% lực lượng lao động đang có việc làm Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động như Công ty Cao Su Quảng Nam và các ngành nghề thu hút nhiều lao động như: chế biến lâm sản, và sản xuất vật liệu xây dựng, xây dựng công trình
Lực lượng lao động còn lại chủ yếu làm việc tại gia đình, với ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi là chính Theo kết quả điều tra 30 người, thì các ngành nghề chính người dân đang sản xuất là trồng cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp (cao su, keo ); chăn nuôi; một số hộ gia đình sản xuất mây tre đan;
đồ mỹ nghệ
2 Dịch chuyển lao động và xuất khẩu lao động:
Trong những năm qua, lao động vùng dự án có xu hướng được thu hút vào làm việc tại các tỉnh thuộc khu vực phía Nam và Tây Nguyên (hiện nay, ước tính cả 03 huyện có trên 500 lao động ly hương)
Việc thực hiện xuất khẩu lao động chưa đạt hiệu quả cao Từ năm 2001 đến nay, mới có khoảng 300 lao động (chủ yếu huyện Duy Xuyên và Phước Sơn) đi xuất khẩu lao động, tập trung tại thị trường Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản Hầu hết lao động đi làm việc ở nước ngoài là lao động phổ thông hoặc có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao
3 Tình trạng thất nghiệp và thời gian lao động nhàn rỗi ở nông thôn:
Đến năm 2010, toàn vùng dự án có 3.628 người thất nghiệp: huyện DX là 2.638 người (chiếm 3,42% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên), huyện Phước Sơn
là 259 người (chiếm 2,08% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên) và huyện Hiệp Đức là 731 người (chiếm 3,12% lực lượng lao động 15 tuổi trở lên) Trong đó, lao động nữ thất nghiệp là 1.783 người, gồm: huyện DX là 1.268 người, chiếm 3,23% lực lượng lao động nữ 15 tuổi trở lên; huyện Phước Sơn là 121 người, chiếm 1,96% lực lượng lao động nữ 15 tuổi trở lên và huyện Hiệp Đức là 394 người, chiếm 3,41% lực lượng lao động nữ 15 tuổi trở lên)
Thời gian lao động nhàn rỗi bình quân khoảng 25% Theo kết quả điều tra
100 người, tính bình quân có 3 tháng/12 tháng thời gian nhàn rỗi (chủ yếu vào tháng 9, tháng 10 và tháng 11)
Trang 22Tồn tại:
- Tổng cầu lao động ở cả 03 huyện vẫn chưa tạo đủ việc làm cho người lao động Giai đoạn 2005 – 2010, tăng trưởng việc làm bình quân chỉ đạt 2,32% thấp hơn tốc độ tăng lực lượng lao động (2,48%) Trong đó, cầu lao động trong nông nghiệp giảm, nhưng lực lượng lao động trong nông thôn vẫn tăng
- Cơ cấu lao động chuyển dịch chậm so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế Năm 2010, số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp là 61.845 người (chiếm tỷ lệ 56,55%), trong khi giá trị nông nghiệp trong GDP năm 2010 chỉ chiếm 31,4% (Giá trị công nghiệp – xây dựng chiếm 30,1%, dịch vụ chiếm 38,5%) Điều này đồng nghĩa với lao động bị dồn nén trong nông nghiệp với năng suất và hiệu quả việc làm ở khu vực này rất thấp, kéo theo là tình trạng người lao động có thu nhập cũng rất thấp Mâu thuẫn giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hơn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, dẫn đến lao động dư thừa rất lớn và thiếu việc làm nghiêm trọng trong nông nghiệp, nông thôn của các huyện
- Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ còn cao Trong hơn 3,6 nghìn lao động thất nghiệp thì độ tuổi lao động trẻ (15 – 34) mặc dù đã giảm dần nhưng vẫn chiếm tỷ lệ cao (từ 82,76% vào năm 2005 giảm còn 66,59% vào năm 2010) Nguyên nhân chủ yếu là do trong đó nhóm tuổi 15 – 24 chiếm tỷ lệ 44,33%, là người mới ra trường và bắt đầu xin việc, chưa chọn cho minh một công việc ổn định
V ĐÁNH GIÁ KHÁI QUÁT QUAN HỆ LAO ĐỘNG VÀ THỰC TRẠNG TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG (GIÁ CẢ LAO ĐỘNG):
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của kinh tế địa phương, đời sống của người lao động ngày càng được cải thiện, tiền lương và thu nhập bình quân của người lao động ngày càng tăng Tiền lương tối thiểu thực tế các doanh nghiệp trên địa bàn áp dụng cao hơn so với mức lương tối thiểu vùng Chính phủ quy định Tiền lương trong doanh nghiệp có vốn Nhà nước cao gấp 1,5 đến 2 lần
so với mức lương tối thiểu; khoảng 15% doanh nghiệp doanh nhân có tiền lương cao hơn từ 20% đến 23% so với mức lương tối thiểu
Trong 100 người được phỏng vấn, thì thu nhập bình quân đầu người từ 1,2 -1,5 triệu/ tháng, cả hộ gia đình từ 1,7 – 2 triệu/ tháng
Trong tổng số doanh nghiệp trên địa bàn vùng dự án có 60% thực hiện ký kết hợp đồng lao động Khoảng 50% tổng số lao động đang làm việc trong doanh nghiệp (trên 5.000 lao động) được ký kết hợp đồng lao động theo quy định Trong giai đoạn 2006 – 2010, tại các doanh nghiệp trên địa bàn không xảy
ra các vụ đình công, tranh chấp lao động
Trang 23lương thực tế giảm, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn, nhất là người lao động có thu nhập thấp
- Trên thị trường lao động chưa hình thành đúng thực chất cơ chế đối thoại, thương lượng và thỏa thuận về quan hệ lao động, nhất là về tiền lương, theo đúng nguyên tắc thị trường
VI ĐÁNH GIÁ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN 03 HUYỆN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG Ở ĐỊA PHƯƠNG:
Việc tăng cường hướng dẫn thực thi Pháp luật lao động trên địa bàn tỉnh nói chung và vùng dự án nói riêng đã được coi trọng, nhiều chủ trưởng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về lao động, tiền lương, đã được tuyên truyền đến các doanh nghiệp và người dân Các ngành chức năng có liên quan của tỉnh, các huyện bằng nhiều hình thức đã đẩy mạnh công tác hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động, nhất là liên quan đến các nội dung quan trọng của quan hệ lao động trong thị trường lao động, qua đó bảo
vệ quyền làm việc, lợi ích của các quyền khác của người lao động, quyền và các lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa và ổn định
Ngoài ra, các cấp, các ngành thực hiện hiệu quả các Luật hoặc văn bản pháp quy khác như Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, Bộ luật dân sự, Luật đất đai
… đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, phát huy tiềm năng lao động xã hội, trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và vận hành thị trường lao động trong những năm gần đây
Các cấp, các ngành của tỉnh Quảng Nam, các huyện vùng dự án đã tập trung thực hiện nhiều giải pháp quan trọng nhằm cân đối cung – cầu lao động, giải quyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm, thiếu lao động trình độ cao Song song với các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất – kinh doanh nhằm tạo mở việc làm, đã tập trung nghiên cứu ban hành và chỉ đạo triển khai hiệu quả công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm Đó là phê duyệt chương trình mục tiêu về việc làm của tỉnh theo từng giai đoạn (2001 – 2005,
2006 – 2010); thành lập Quỹ giải quyết việc làm tỉnh; Đề án xuất khẩu lao động đến năm 2010 và giai đoạn 2011 – 2015; Đề án tổ chức Sàn giao dịch việc làm đến năm 2015; Quy hoạch hệ thống trường lớp, cơ sở dạy nghề tỉnh Quảng Nam giai đoạn 1999 – 2010; Đề án tiếp tục đổi mới và phát triển dạy nghề giai đoạn
2008 – 2015; Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Cơ chế
hỗ trợ cho lao động bị mất đất sản xuất … Đồng thời hệ thống cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh (42 cơ sở) và Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh ngày càng được quan tâm đầu tư phát triển nhằm tăng cường quy mô tuyển sinh, chất lượng dạy nghề và nâng cao năng lực công tác tư vấn, giới thiệu việc làm
Việc đầu tư phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phát triển hợp tác xã cùng với môi trường đầu tư ngày càng được cải thiện đã thu hút thêm các nhà đầu tư trong và ngoài nước, làm phong phú sản phẩm, tăng kim ngạch xuất khẩu, giải quyết việc làm cho nhiều lao động, đẩy nhanh công cuộc xói đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới ở địa phương
Trang 24Sự nỗ lực trong chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đã góp phần tạo nên những thành quả đáng khích lệ trong phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy thị trường lao động ở tỉnh phát triển
Tồn tại:
- Tuy vai trò của chính quyền Quảng Nam, các huyện vùng dự án đối với phát triển thị trường lao động ở địa phương ngày càng quan trọng, nhưng chưa tạo được bước đột phá về cơ chế, chính sách và đầu tư lớn cho phát triển mạnh thị trường lao động Trên thực tế, thị trường lao động vẫn còn trong tình trạng chậm phát triển và mất cân đối, vừa thừa lao động không có kỹ năng, tay nghề, vừa thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao
- Phát triển thị trường lao động có quan hệ hữu cơ với phát triển nền kinh
tế thị trường trên địa bàn Tuy nhiên, kết quả của những chính sách và giải pháp của các huyện về phát triển kinh tế thị trường trên địa bàn còn hạn chế Nền kinh
tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chất lượng tăng trưởng chưa cao, sản xuất công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhưng chưa bền vững Sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn của các huyện gặp nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh và tác động của suy giảm kinh tế toàn cầu
- Môi trường đầu tư đã được cải thiện nhưng thu hút đầu tư chưa mạnh, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế Các huyện chưa chú trọng đúng mức đến phát triển nguồn nhân lực và gắn bó với phát triển công nghiệp, đặc biệt công nghiệp hàm lượng kỹ thuật công nghệ cao; chưa giải quyết tốt việc gắn kết giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH với chuyển dịch
cơ cấu lao động, lao động nông nghiệp vẫn còn chiếm khoảng gần 57%
VII ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG GIAO DỊCH KẾT NỐI CUNG – CẦU LAO ĐỘNG TRÊN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG CỦA TỈNH VÀ VÙNG DỰ ÁN
Tại các huyện vùng dự án, việc giới thiệu việc làm, tư vấn việc làm, giao dịch việc làm đều do các Trung tâm giới thiệu việc làm của tỉnh thực hiện
1 Tổ chức giới thiệu việc làm và đào tạo nghề:
Hiện nay trên địa bàn tỉnh ngoài Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh thuộc
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội còn có một số Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm của các Hội, đoàn thể Các đơn vị này ngoài việc dạy nghề còn tư vấn, giới thiệu việc làm trong phạm vi các lớp do đơn vị đào tạo Từ năm
2006 – 2010, Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh đã tư vấn cho 45.853 người, đã giới thiệu cho 9.073 lao động đến làm việc tại các đơn vị, doanh nghiệp (chiếm 54,5% so với người đăng ký); 92,2% số lao động được giới thiệu đã được tiếp nhận vào làm việc Qua nhiều hình thức đã có 493 doanh nghiệp, tổ chức được Trung tâm khai thác thông tin thị trường lao động, chủ yếu là thông tin về nhu cầu tuyển dụng, tiền công, tiền lương…
Trang 25Trên địa bàn các huyện vùng dự án, công tác đào tạo nghề, tư vấn việc làm chỉ dừng lại ở các lớp bồi dưỡng, tập huấn ngắn ngày (dưới 3 tháng) và đào tạo chủ yếu tại cộng đồng
Theo kết quả điều tra 100 người, thì có …… người được đào tạo nghề, ngành nghề đào tạo chủ yếu là kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi
Hiện nay, tại huyện Phước Sơn và huyện Duy Xuyên đang triển khai xây dựng Trung tâm Dạy nghề của huyện
2 Giao dịch việc làm thông qua hoạt động Hội chợ và Sàn giao dịch việc làm tại tỉnh:
Sau các hoạt động Hội chợ việc làm tỉnh (năm 2004), phiên chợ việc làm tỉnh (năm 2007), từ năm 2008, hệ thống Sàn giao dịch việc làm và Website
“người tìm việc – việc tìm người” đã được hình thành ở tỉnh Sàn giao dịch việc làm tỉnh Quảng Nam đã tổ chức 27 Phiên giao dịch việc làm tại Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh và lưu động tại các huyện, thành phố thông qua đó góp phần nâng cao nhận thức của người lao động trên địa bàn tỉnh về việc tìm việc, tìm kiếm thông tin cung – cầu lao động qua Sàn giao dịch việc làm Đã có 491 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng lao động với nhu cầu tuyển 71.329 lao động;
có 16.205 lượt người tham gia Sàn với 4826 lao động đăng ký tìm việc trực tiếp tại Sàn giao dịch, có trên 155.486 lượt người truy cập vào Website: http://www.vieclamquangnam.vn để tìm kiếm thông tin về lao động – việc làm
3 Giao dịch việc làm thông qua hoạt động tuyển dụng trực tiếp
Cho đến nay, giao dịch trên thị trường lao động ở tỉnh chủ yếu vẫn là hình thức trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động Phần lớn các đơn
vị, doanh nghiệp tuyển dụng lao động theo phương thức này do hầu hết các Khu công nghiệp, cụm công nghiệp của tỉnh đều nằm trong các khu dân cư đông đúc,
có lực lượng lao động dồi dào nên người lao động trực tiếp đến tìm việc
Hình thức tuyển chọn và thi tuyển được áp dụng nhiều trong các cơ quan hành chính sự nghiệp Giai đoạn 2006 – 2011, cả tỉnh có 2.992 công chức – viên chức được tuyển dụng vào làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp Trong đó, cán bộ có trình độ Đại học và sau Đại học chiếm tỷ lệ 61%, trình độ cao đẳng chiếm tỷ lệ 20%, trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ 19%
Tồn tại:
- Hệ thống giao dịch việc làm, thông tin thị trường lao động, giới thiệu và cung ứng lao động … chưa phát triển mạnh và việc tổ chức hệ thống này chưa phù hợp với cơ chế thị trường nên năng lực kết nối cung – cầu lao động trên thị trường rất hạn chế
- Chất lượng cung cấp dịch vụ của các tổ chức giới thiệu việc làm ở tỉnh chưa đủ thu hút các doanh nghiệp đến với các phương thức giao dịch gián tiếp Hoạt động của Trung tâm giới thiệu việc làm tỉnh còn hạn chế về khả năng tư vấn, giới thiệu việc làm và thu thập thông tin về cung – cầu trên thị trường
- Chưa có sự phối hợp, kết nối hoạt động giữa Trung tâm, cơ quan quản lý Nhà nước và doanh nghiệp trong tổ chức Sàn giao dịch việc làm Số lượng lao
Trang 26động tham gia Sàn giao dịch việc làm cũng như số lao động được các doanh nghiệp tuyển dụng qua Sàn giao dịch việc làm còn hạn chế
VIII ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÙNG DỰ ÁN HIỆN NAY:
1 Những thành công và tồn tại:
1.1 Giai đoạn 2006 – 2010, kinh tế - xã hội đạt được những thành tựu quan trọng; có nhiều cơ chế, chính sách mới nhằm huy động tiềm năng và thu hút nguồn lực từ bên ngoài cho đầu tư phát triển, tạo nhiều việc làm; thể chế kinh tế thị trường tiếp tục được hoàn thiện tác động tích cực thúc đẩy thị trường lao động phát triển Mặc dù vậy, nền kinh tế các huyện phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chất lượng tăng trưởng chưa bền vững; cơ chế, chính sách chưa đủ mạnh giải phóng triệt để sức sản xuất và sức lao động, thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH và hội nhập; tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao (gần 60%) … là những rào cản hạn chế thị trường lao động phát triển
1.2 Nhìn tổng thể thị trường lao động những năm gần đây phát triển theo hướng tích cực, gắn kết tốt hơn cung – cầu lao động Song thị trường lao động phát triển còn chậm và ở trình độ thấp so với cả tỉnh và khu vực Trung bộ; gắn kết giữa thị trường lao động các huyện với thị trường lao động của tỉnh và cả nước còn hạn chế Thị trường lao động phát triển không đồng đều giữa các vùng; thị trường lao động ở huyện Duy Xuyên, ở thị trấn, cụm công nghiệp … phát triển mạnh, cung và cầu luôn luôn diễn ra sôi động, cầu lao động không chỉ trong vùng mà còn thu hút lao động từ các vùng khác tới Các huyện miền núi Phước Sơn, Hiệp Đức, khu vực nông thôn, khu vực phi kết cấu do môi trường thu hút đầu tư khó khăn, số lượng doanh nghiệp ít nên thị trường lao động còn chậm phát triển, chủ yếu lao động làm việc trong ngành nông nghiệp theo kinh
tế tự cung, tự cấp
1.3 Ưu thế và tiềm năng nổi bật của cung lao động hiện nay về số lượng là lực lượng lao động trẻ (15 – 34 tuổi) chiếm tỷ trọng lớn (40,6%) Nhìn chung, lực lượng lao động khá dồi dào, có khả năng cung cấp lao động cho sự phát triển thị trường trong các huyện trong tỉnh, khu vực miền Trung và cả nước Nhưng chất lượng cung lao động còn thấp; lực lượng lao động chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ lớn (74,6%) Cung lao động cho thị trường chủ yếu là từ nông thôn, nhưng phần lớn chưa qua đào tạo, dạy nghề
1.4 Về cầu lao động, xu hướng chung cầu lao động ngày càng tăng về số lượng cũng như chất lượng, nhất là lao động kỹ thuật trình độ cao, trong đó cầu lao động theo quan hệ làm công ăn lương tăng dần, đến nay chiếm khoảng trên 20% lực lượng lao động Cầu lao động đa dạng hơn, cơ cấu chất lượng đòi hỏi khắt khe hơn để đáp ứng kỹ thuật, công nghệ mới, mặt hàng, chất lượng hàng hóa cạnh tranh được trên thị trường trong tỉnh, khu vực Trung bộ và cả nước Cầu lao động trong nông nghiệp giảm dần, ngược lại tăng mạnh trong công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ Nhưng về cơ bản, thị trường lao động Quảng Nam nói chung và vùng dự án nói riêng vẫn là thị trường lao động mất cân đối nghiêm trọng, dư thừa lớn lao động không kỹ năng hoặc kỹ năng thấp,
Trang 27thiếu lao động kỹ thuật trình độ cao; gia đoạn 2006 – 2010, tăng trưởng việc làm còn thấp (2,32%/năm) và thấp hơn tốc độ tăng lực lượng lao động (2,48%/năm), việc làm vẫn là vấn đề xã hội bức xúc đặt ra trong các năm tới
Dịch chuyển lao động có xu hướng tăng, nhưng tự do hóa lao động còn hạn chế, làm cho tính linh hoạt của thị trường lao động chưa cao Đặc biệt là sự chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm và có khoảng cách rất xa so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, dẫn đến sức ép rất lớn về việc làm trong nông nghiệp, nông thôn
1.5 Tiền lương, tiền công trên thị trường đã được hình thành và có xu hướng tăng Tỷ lệ lao động làm công ăn lương cũng tăng và hình thành quan hệ lao động mới Tuy nhiên, chưa định hình thành hệ thống tiền công lao động ứng với các ngành, nghề có tính cạnh tranh Cơ chế đối thoại, thương lượng và thỏa thuận về quy chế lao động, nhất là về tiền lương còn hạn chế và hình thức
1.6 Vai trò của chính quyền địa phương các cấp được tăng cường đã có tác động lớn, tích cực đến sự hình thành và phát triển của thị trường lao động trên địa bàn Điều này thể hiện rất rõ trong việc thể chế hóa và cụ thể hóa các cơ chế, chính sách về thực hiện quan hệ lao động trên thị trường lao động; tạo môi trường và điều kiện cho thị trường lao động phát triển thông qua việc thực hiện các giải pháp phát triển đồng bộ các yếu tố của thị trường (cung, cầu, giá cả sức lao động …); hình thành hệ thống giao dịch nối cung – cầu lao động … Tuy vai trò của chính quyền đối với phát triển thị trường lao động ở địa phương ngày càng quan trọng, nhưng chưa tạo được bước đột phá về cơ chế, chính sách và đầu tư lớn cho phát triển thị trường lao động
2 Nguyên nhân thành công và tồn tại
2.1 Nguyên nhân thành công:
- Cùng với quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhận thức và tư duy về kinh tế thị trường nói chung, về thị trường lao động nói riêng từng bước được đổi mới và ngày càng rõ hơn đã định hướng trong lãnh đạo và chỉ đạo đúng nhằm phát triển thị trường lao động đồng bộ với các loại thị trường khác ở địa phương
- Ở vĩ mô, chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển thị trường lao động đã được thể chế hóa bằng hệ thống văn bản pháp luật tạo thành hành lang pháp lý thông thoáng cho thị trường lao động trên phạm vi cả nước, cũng như ở Quảng Nam hình thành, phát triển và hoạt động ngày càng sôi động và có hiệu quả hơn
- Về chỉ đạo, đã xác định rõ vai trò của các cấp ủy Đảng, chính quyền trong thể chế hóa và cụ thể hóa cơ chế, chính sách về thị trường lao động; trong
tổ chức thị trường lao động trên từng địa bàn; trong tăng cường kiểm tra, giám sát và đẩy mạnh cải cách hành chính (tăng cường phân cấp, giảm các thủ tục hành chính, bãi bỏ việc cấp giấy phép không cần thiết, …)
- Nhận thức của mọi người dân, các chủ thể kinh tế đã có sự thay đổi cơ bản, nhất là quan niệm mới về làm giàu, về việc làm, xóa bỏ bao cấp … Từ đó, năng động, sáng tạo, tự chủ trong phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, tìm việc làm, tham gia tích cực vào thị trường lao động
Trang 282.2 Nguyên nhân của tồn tại:
- Thể chế kinh tế thị trường nói chung, thị trường lao động nói riêng đã hình thành nhưng còn mới và chưa có nhiều trải nghiệm, lại thiếu tổng kết thực tiễn phát triển thị trường lao động để bổ sung, hoàn thiện; cơ chế, chính sách nhìn chung khá đồng bộ, nhưng khi áp dụng vào điều kiện đặc thù của mỗi huyện có những quy định chưa cụ thể và phù hợp
- Các huyện có nền kinh tế truyền thống nông nghiệp là chủ yếu, nay chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, để phát triển mạnh thị trường lao động sẽ phải vượt qua nhiều khó khăn, thách thức do khách quan và phải có thời gian; nhất là trong tình trạng chất lượng lao động còn thấp, một thị trường lao động mà cung – cầu lao động luôn mất cân đối nghiêm trọng (cung lớn hơn cầu); nền kinh tế công nghiệp chưa phát triển đủ lớn, số doanh nghiệp trên dân số còn thấp nên khả năng thuê lao động hạn chế; khó khăn về điều kiện địa lý, tự nhiên, thiên tai thường xuyên xảy ra …
Năng lực quản lý Nhà nước thị trường lao động trên địa bàn của chính quyền địa phương còn nhiều bất cập, vai trò điều tiết của Nhà nước quan hệ cung – cầu lao động còn hạn chế; thanh tra, kiểm soát, giám sát thị trường lao động chưa chặt chẽ…
Trang 29PHẦN II PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
VÙNG DỰ ÁN GIAI ĐOẠN 2011-2015
I NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI CỦA CÁC HUYỆN ĐẾN NĂM 2015 LIÊN QUAN ĐẾN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
Trong 05 năm tới, nền kinh tế của các huyện tiếp tục chuyển dịch cơ cấu theo hướng phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; đồng thời, ưu tiên phát triển nông nghiệp và nông thôn; tập trung đầu tư tạo đột phá trong xây dựng kết cấu
hạ tầng, phát triển nguồn nhân lực và tạo môi trường thuận lợi để thu hút đầu tư, Trong giai đoạn này, phân bổ nguồn lực sẽ hướng vào ưu tiên đầu tư cho tăng trưởng kinh tế bền vững, khuyến khích đầu tư của xã hội vào vùng kinh tế trọng điểm Nhà nước tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội, dịch vụ công quan trọng, một số ngành sản xuất thiết yếu, then chốt, đóng vai trò chủ đạo và hỗ trợ đầu tư vào các vùng kém phát triển Đặc biệt, tăng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân nhằm xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; quan tâm đến các vùng, đối tượng còn nhiều khó khăn Tăng đầu tư cho phát triển xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề, việc làm, giảm nghèo,…
Các chi tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các huyện giai đoạn 2011 –
2015 là:
1 Huyện Duy Xuyên:
- Giá trị gia tăng (GDP) tăng bình quân 13,5%
- Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP: công nghiệp – xây dựng chiếm 53%, dịch vụ chiếm 35%; nông lâm ngư nghiệp chiếm dưới 12%
+ Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 22%;
+ Các ngành dịch vụ tăng bình quân 17%
+ Giá trị sản xuất nông lâm ngư tăng bình quân 4,30%
- Cơ cấu lao động: Phi nông nghiệp 70%, Nông nghiệp 30% Giải quyết việc làm mới trong 5 năm trên 10.000 lao động
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo còn dưới 10 % (tiêu chí trước đây)
2 Huyện Phước Sơn:
- Giá trị gia tăng (GDP) tăng bình quân 13-14%
- Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP: công nghiệp – xây dựng chiếm 28,9%, dịch vụ chiếm 47,2%; nông lâm ngư nghiệp chiếm dưới 23,9%
+ Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 14-15%; + Các ngành dịch vụ tăng bình quân 14-15%
+ Giá trị sản xuất nông lâm ngư tăng bình quân 10-11%
- Cơ cấu lao động: Phi nông nghiệp 50%, Nông nghiệp 50% Giải quyết việc làm mới trong 5 năm trên 4.500 lao động
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo 4-5 %
3 Huyện Hiệp Đức:
Trang 30- Giá trị gia tăng (GDP) tăng bình quân 13-14%
- Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP: công nghiệp – xây dựng chiếm 16%, dịch vụ chiếm 43%; nông lâm ngư nghiệp chiếm 41%
+ Giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng tăng bình quân 14%;
+ Các ngành dịch vụ tăng bình quân 14,5%
+ Giá trị sản xuất nông lâm ngư tăng bình quân 6%
- Cơ cấu lao động: Phi nông nghiệp 60%, Nông nghiệp 40% Giải quyết việc làm mới trong 5 năm trên 5.000 lao động
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo 4-5 %
II NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
1 Những nhân tố bên ngoài:
Hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa nền kinh tế là xu hướng phát triển của các nước đang phát triển và các quốc gia trên thế giới hiện nay Hội nhập quốc
tế là mức độ tham gia vào sự hợp tác, phân công quốc tế (quan hệ thương mại, đầu tư ) giữa nước này với nước khác Toàn cầu hóa chỉ mức độ các nước trên thế giới mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế với nhau, thúc đẩy cạnh tranh để phát triển trên phạm vi toàn thế giới Trong thời kỳ này, mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài là một biện pháp khai thác ngoại lực thúc đẩy nội lực để phát triển kinh tế xã hội; đồng thời cũng đã xuất hiện một số khó khăn, thách thức mới cần được tháo gỡ nhằm tạo đà tăng trưởng trong các năm tới, trong đó chất lượng nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng quyết định thành công quá trình hội nhập
Chúng ta biết rằng trong quá trình phát triển của loài người, khoa học kỹ thuật có vai trò vô cùng to lớn thúc đẩy xã hội tiến lên văn minh, hiện đại Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật đã và đang mở ra những ngành sản xuất mới như: công nghệ sinh học (chọn lọc lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; biến đổi gien ); công nghệ vật liệu mới; công nghệ thông tin Để phát triển những ngành này, cần có đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thay cho đội ngũ lao động hiện nay đa số là lao động phổ thông, có trình độ trung bình và thấp Đó còn gọi là nền kinh tế tri thức, nền kinh tế mà ở đó người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tạo ra những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, giá trị lớn, thân thiện với môi trường, đảm bảo phát triển bền vững
2 Những nhân tố trong nước
Quy mô GDP của tỉnh còn nhỏ bé, GDP bình quân đầu người thấp Sự phát triển không đồng đều giữa các vùng vẫn tồn tại một thời gian dài Vùng nông thôn, vùng miễn núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc kinh tế còn kém phát triển, trong khi đối tượng thuộc chính sách xã hội và nghèo đói có xu hướng tăng lại tập trung ở các vùng này
Trang 31Cơ cấu đầu tư phát triển thiên về các ngành sản xuất thâm dụng lao động trình độ thấp để giải quyết việc làm; đồng thời từng bước đào tạo nguồn nhân lực lành nghề đáp ứng đòi hỏi của các ngành yêu cầu nhân lực chất lượng cao
Theo dự báo, giai đoạn 2011-2020, quy mô dân số của tỉnh sẽ tiếp tục gia tăng Sự gia tăng dân số sẽ làm tăng lực lượng lao động, gây ra sức ép về việc làm và các vấn đề an sinh xã hội khác Dân số trẻ có xu hướng giảm mạnh từ 34,44% năm 1999, xuống còn 25,7% năm 2009; trong khi đó dân số nhóm già
có xu hướng tăng khá, từ 7,47% năm 1999 lên 8,92% vào năm 2009 Điều này cho thấy dân số tỉnh đang có xu hướng già hóa phản ánh việc thực hiện tốt sinh
đẻ có kế hoạch và nâng cao chất lượng dân số của tỉnh trong những năm qua Mặt khác, sự tăng nhanh nguồn lao động của tỉnh trong 10 năm qua đã làm cho
tỷ lệ phụ thuộc của tỉnh giảm mạnh; theo kết quả điều tra dân số, tỷ lệ phụ thuộc của tỉnh chỉ còn 59,92%, giảm 20,85% so với năm 1999, bình quân mỗi năm giảm hơn 2% Như vậy, dân số của tỉnh đang tiếp cận và dự kiến sẽ đạt được dân
số vàng vào những năm đầu của thập niên 2010 Ở khu vực thành thị tỷ lệ này chỉ còn 53,39% và gần đạt dân số vàng; điều này thể hiện lực lượng lao động đang tập trung ở khu vực thành thị khá lớn
Từ bao đời nay, con người Quảng Nam vẫn thể hiện truyền thống hiếu học và cầu tiến, cần cù trong lao động, có ý thức học tập để vươn lên thoát nghèo Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế xã hội chưa phát triển như hiện nay, việc làm không đáp ứng kịp nhu cầu nên một bộ phận lao động trẻ đã ly hương tìm kiếm việc làm ở các thành phố lớn trong cả nước Đặc biệt, hiện tượng nhân lực được đào tạo trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cũng bỏ quê hương tìm đến môi trường làm việc có thu nhập cao hơn
III ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU, CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÙNG DỰ ÁN TRONG 5 NĂM TỚI
- Xu thế chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh
- Hệ thống đào tạo nghề có bước phát triển Công tác quản lý nhà nước về đào tạo nghề đã được củng cố, ổn định và phát triển Các chính sách về phát triển đào tạo nghề cho đối tượng di dời, giải toả được quan tâm Đội ngũ lao động có nghề trong các ngành kinh tế phát triển nhanh, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trong lực lượng lao động ngày càng tăng Xu hướng học nghề của người lao động có những chuyển biến tích cực, nhu cầu học nghề trong xã hội đã tăng lên hàng năm