lý giữa nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức, giữa nhà đầu tư trong nước vànhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy TTCK phát triển theo hướng bền vững.Để phát triển hơn nữa ngành quản lý
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS NGUYỄN THANH PHƯƠNG
2 PGS.TS TRẦN THỊ XUÂN ANH
HÀ NỘI - 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu trong luận
án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nghiên cứu do chính tôi thực hiệndưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thanh Phương và PGS.TS TrầnThị Xuân Anh
Hà Nội năm 2022
Người cam đoan
NCS Nguyễn Ngọc Linh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 3
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 6
4 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 8
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 9
6 Phương pháp nghiên cứu 9
7 Những đóng góp mới của luận án 10
8 Nội dung và kết cấu của luận án 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA 12
QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 12
1.1. HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN 12
1.1.1 Công ty Quản lý quỹ 12
1.1.2 Quỹ đầu tư chứng khoán 18
1 2 HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN41 1.2.1 Quan niệm về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 41
1.2.2 Nguyên tắc trong đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư 43
1.2.3 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán 44
1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư 56
1.3 KINH NGHIỆM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THẾ GIỚ I . 62
1.3.1. Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường phát triển 62
1.3.2 Hoạt động của các Quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường mới nổi 67
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam . 70
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA 80
QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 80
2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 80
2.1.1 Quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến quỹ đầu tư chứng khoán 80
2.1.2 Tổng quan về các Quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động tại Việt Nam 89
2.2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 94
2.2.1 Biến động quy mô tài sản của các quỹ đầu tư 99
2.2.2 Chi phí hoạt động của các quỹ đầu tư 102
2.2.3 Khả năng sinh lời của quỹ đầu tư 104
2.2.4 Rủi ro hoạt động của các quỹ đầu tư 113
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 115
2.3.1 Kết quả đạt được 115
2.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 117
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM 122
3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VÀ QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 122
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 131
3.2.1 Giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán 131
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện quy trình quản lý rủi ro hoạt động và công bố công khai 132
3.2.3 Giải pháp mở rộng kinh doanh 133
Trang 63.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý và tư vấn 133
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 134
3.3.1.Kiến nghị với Chính phủ 134
3.3.2.Kiến nghị với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước 138
3.3.3 Đối với Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam 140
KẾT LUẬN 141
TÀI LIỆU THAM KHẢO 142
PHỤ LỤC 147
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1: So sánh lợi nhuận năm 2021, 3 năm và 5 năm gần nhất của 3 quỹ Vanguard S&P 500 ETF, iShares Core S&P 500 ETF, SPDR S&P 500 ETF Trust so
với chỉ số S&P 500 64
Bảng 1.2: Tỷ lệ chi phí và tổng tài sản của 3 quỹ Vanguard S&P 500 ETF, iShares Core S&P 500 ETF, SPDR S&P 500 ETF Trust 64
Bảng 1.3: % lợi nhuận 12 quỹ của Vương quốc Anh đã đánh bại FTSE trong 5 năm từ 2017-2021 66
Bảng 2.1: Top các QĐT có quy mô tài sản quản lý lớn nhất tại Việt Nam 79
Bảng 2.2: Top các QĐT có tỷ suất sinh lời bình quân 1 năm và 3 năm tốt nhấttại Việt Nam 80
Bảng 2.3: Danh sách các Quỹ đầu tư chứng khoán đánh giá 85
Bảng 2.4: Thống kê mẫu nghiên cứu 87
Bảng 2.5: Quy mô tài sản quản lý của QĐT và xếp hạng 88
Bảng 2.6: Tốc độ tăng trưởng quy mô tài sản quản lý của các QĐT 89
Bảng 2.7 Bảng danh sách các Quỹ đầu tư chứng khoán đánh giá có tỷ lệ chi phí
hoạt động thấp hơn trung bình chung thị trường 101
Bảng 2.8 Bảng danh sách các Quỹ đầu tư chứng khoán đánh giá có tỷ lệ chi phí
hoạt động lớn hơn trung bình chung thị trường 92
Bảng 2.9 Tỷ suất sinh lời của các QĐT, giai đoạn 2017-2021 94
Bảng 2.10 Chênh lệch tỷ suất sinh lời QĐT cổ phiếu và QĐT cân bằng so với tỷ suất sinh lời VN-Index 96
Bảng 2.11 Hiệu quả sinh lời của các QĐT trái phiếu 97
Bảng 2.12 Hiệu quả sinh lời của các QĐT thông qua thước đo Sharpe 99
Bảng 2.13 Hiệu quả sinh lời của các QĐT thông qua thước đo Treynor 100
Bảng 2.14 Giá trị rủi ro và Giá trị rủi ro bình quân kỳ vọng của các QĐT 103 Biểu đồ 2 1 Chiến lược phân bổ tài sản tại các Quỹ cổ phiếu 81
Trang 9Biểu đồ 2 2 Chiến lược phân bổ tài sản tại các Quỹ trái phiếu 82 Biểu đồ 2 3 Chiến lược phân bổ tài sản tại các Quỹ cân bằng 82
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán tạo ra những cơ hội cho các nhà đầu tư (NĐT) tìmkiếm lợi nhuận Với sự đa dạng và phong phú của thị trường chứng khoán (TTCK),NĐT có thể lựa chọn cho mình những phương thức đầu tư có hiệu quả nhất Thếnhưng, song hành với lợi nhuận luôn tiềm ẩn những rủi ro Để hạn chế đến mứcthấp nhất nguy cơ rủi ro có thể gặp phải trong quá trình đầu tư, các NĐT có thể lựachọn sử dụng các công cụ phòng hộ rủi ro hoặc thực hiện đa dạng hoá danh mục đầu
tư Tuy nhiên, việc sử dụng các công cụ phòng hộ rủi ro đòi hỏi NĐT phải có trình
độ hiểu biết nhất định về các kỹ thuật và công cụ tài chính phức tạp này, trong khi
đó đa dạng hoá danh mục đầu tư đòi hỏi NĐT không chỉ cần có kiến thức, mà cònphải chuẩn bị một quy mô vốn đầu tư nhất định, điều mà có thể nhiều NĐT cá nhântrên thị trường có thể không đáp ứng được Trên cơ sở đó, thay vì tự tiến hành đầu
tư, NĐT có thể cân nhắc lựa chọn uỷ thác vốn đầu tư và uỷ thác đầu tư vào một Quỹđầu tư chứng khoán cụ thể để vốn đầu tư của NĐT cùng với các NĐT khác đượcquản lý và phân bổ chuyên nghiệp bởi để các chuyên gia quản lý quỹ
Quỹ đầu tư (QĐT) bắt đầu hình thành và phát triển trên thế giới từ hơn 150năm trước với khởi thủy từ châu Âu, ở Hà Lan từ khoảng giữa thế kỷ 19 Một trongnhững quỹ được hình thành sớm nhất là theo hình thức Quỹ tín thác đầu tư do VuaWilliam I của Hà Lan thành lập tại Brussels – Bỉ Tại Việt Nam, ngành quản lý quỹmới chính thức bắt đầu hình thành từ tháng 7/2003 với sự ra đời của Công ty Liêndoanh quản lý quỹ đầu tư Việt Nam
Kể từ khi thành lập, ngành quản lý quỹ đã phát triển nhanh chóng với quy môtài sản uỷ thác quản lý thông qua các quỹ và công ty quản lý quỹ ngày càng lớn,chủng loại QĐT ngày càng đa dạng Sự xuất hiện và tăng trưởng của các
Trang 11mô hình QĐT khác nhau đã cải thiện đáng kể cấu trúc của các nhà đầu tư theohướng mở rộng tỷ trọng NĐT có tổ chức, đầu tư dài hạn trên thị trường chứngkhoán và đóng vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển của thị trường chứngkhoán ngày càng ổn định và lành mạnh hơn Hiện tại, theo thống kê từ Uỷ banchứng khoán Nhà nước Việt Nam, có 60 quỹ đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam,thuộc quản lý của hơn 40 công ty quản lý quỹ Mặc dù các quỹ đầu tư tại Việt Nam
đã có những bước phát triển đáng kể trong 20 năm qua, nhưng so với thị trườngchứng khoán Việt Nam, quy mô tăng trưởng của nền kinh tế, cũng như ở các thịtrường lân cận trong khu vực, quy mô tài sản do các QĐT quản lý vẫn còn rất hạnchế
Bên cạnh đó, văn hoá và thói quen đầu tư của người Việt Nam là tự đầu tư thay
vì uỷ thác qua các quỹ đầu tư được quản lý chuyên nghiệp bởi các chuyên gia tàichính Đồng thời, hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trong nhữngnăm mặc dù đã có sự cải thiện đáng kể cả về quy mô, hiệu quả sinh lời, quản lý chiphí hoạt động và quản trị rủi ro nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu …
Chiến lược tài chính đến năm 2030 ban hành theo Quyết định số 368/QĐ- TTgngày 21/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra mục tiêu phát triển thị trườngchứng khoán ổn định, hoạt động an toàn, hiệu quả, có cơ cấu hợp lý, cân đối giữa thịtrường tiền tệ với thị trường vốn, giữa thị trường cổ phiếu với thị trường trái phiếu
và thị trường chứng khoán phái sinh
Theo đó, phấn đấu số lượng nhà đầu tư trên TTCK đạt 6% dân số vào năm
2025 và 8% dân số vào năm 2030 Tăng tỷ trọng trái phiếu chính phủ do nhà đầu tư
là tổ chức phi ngân hàng nắm giữ lên mức 55% vào năm 2025 và 60% vào năm2030; Tập trung phát triển nhà đầu tư có tổ chức, nhà đầu tư chuyên nghiệp và thuhút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, hướng tới cơ cấu hợp
Trang 12lý giữa nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức, giữa nhà đầu tư trong nước vànhà đầu tư nước ngoài, thúc đẩy TTCK phát triển theo hướng bền vững.
Để phát triển hơn nữa ngành quản lý quỹ và mô hình QĐT tại Việt Nam, thìviệc nâng cao hiệu quả hoạt động của các QĐT sẽ đóng góp một phần quan trọng.Thực tế này thúc đẩy sự quan tâm của em đến thực hiện nghiên cứu về hiệuquả hoạt động của QĐT tại Việt Nam hiện nay Nghiên cứu về hiệu quả hoạt độngcủa các quỹ đầu tư chứng khoán giúp cung cấp thông tin, đưa ra đánh giá, giải pháp,khuyến nghị cho nhà đầu tư, các quỹ đầu tư chứng khoán và các công ty quản lýquỹ những quỹ nào hoạt động có hiệu quả, hiệu quả đến đâu so với một mức sosánh chung, từ đó đánh giá nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm cải thiệnnhững mặt chưa được, phát huy mặt được qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động củaquỹ đồng thời giúp nhà đầu tư lựa được chọn được quỹ để đầu tư cũng như giúpphát triển ngành quản lý quỹ ở Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam” làm đề tài
cho luận án tiến sĩ
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Các nghiên cứu về Quỹ đầu tư chứng khoán được thực hiện dưới nhiều góc
độ khác nhau trong đó đánh giá hiệu quả đầu tư được chú trọng hơn cả Các nhànghiên cứu phân tích định tính và định lượng để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đếnmức sinh lời vượt trội của các QĐTCK Thuật ngữ "lợi nhuận bất thường" trongmột hoàn cảnh cụ thể đề cập đến việc đạt được kết quả bất thường, là tốt hơn so vớimức lợi nhuận được xác định trên điểm chuẩn, ví dụ chỉ số chứng khoán
Trang 13Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong đó nghiên cứu của Jensen(1968), Sharpe (1966) đã sử dụng tỷ số Sharpe và mô hình định giá tài sản vốn mộtnhân tố CAPM để đo lường hiệu quả sinh lời của quỹ, Kim (1978) đã đưa ra cáchxây dựng, đánh giá hiệu quả của các quỹ đầu tư tương hỗ Cả hai tác giả cho rằngcác QĐT là không thể đạt được lợi nhuận bất thường Trái lại, nghiên cứu của Kon
và Jen (1979) đã chứng minh sự tồn tại của hiệu quả lợi nhuận bất thường từ hiệuquả hoạt động của QĐT Tương tự, Grinblatt và Titman năm (1989) đã chỉ ra rằngcác quỹ có thể đạt được lợi nhuận điều chỉnh rủi ro đạt mức tốt hơn so với tỷ suấtsinh lời tham chiếu Thêm vào đó, nghiên cứu của Arnaud (1985) đã xem xét tỷ suấtsinh lời của quỹ đầu tư chỉ số và tỷ suất sinh lời chỉ số thị trường chứng khoán, kếtquả nghiên cứu cho thấy hiệu quả đầu tư của quỹ đầu tư chỉ số cao hơn so với danh
mục đầu tư tham chiếu là chỉ số chứng khoán.
Như vậy, các nghiên cứu ở trên, thông qua so sánh hiệu quả hoạt động của cácQĐT với tỷ suất sinh lời danh mục đầu tư tham chiếu hoặc danh mục đầu tư chuẩncho thấy các nhà quản lý quỹ có thể tạo ra hiệu quả tốt hơn cho danh mục đầu tưđược quản lý so với thị trường hoặc so với danh mục chuẩn tham chiếu, chỉ sốchuẩn tham chiếu
Ngoài việc so sánh với danh mục chuẩn và chỉ số chuẩn tham chiếu, Haslem(1988) đã đánh giá hiệu quả của quỹ bằng cách so sánh tác động của các rủi ro hệthống của quỹ “Beta” là thước đo rủi ro hệ thống, đo lường biến động tỷ suất sinhlời của danh mục đầu tư thực tế với danh mục đầu tư chỉ số chứng khoán
Trong khi đó, Elton, Gruber và Blake (1996) nghiên cứu các nhân tố ảnhhưởng đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư Kết quả cho thấy thời gian hoạt độngcủa quỹ và hiệu quả đầu tư trong quá khứ là những nhân tố có mức ảnh hưởng đáng
kể Malkiel (1995), đã thống kê tất cả các quỹ đang hoạt động và
Trang 14không còn hoạt động tại Mỹ, qua thống kê phân tích cũng cho thấy thời gian hoạtđộng của quỹ và hiệu quả đầu tư trong quá khứ có tác động đến hiệu quả hoạt độngcủa quỹ đầu tư Ông đặc biệt chú ý đến các QĐT vào cổ phiếu và tìm thấy một bằngchứng về hiệu quả tốt hơn của các quỹ tương hỗ Hơn nữa, Malkiel bác bỏ giảthuyết về sự tồn tại các nhà quản lý có thể liên tục đạt được kết quả tốt hơn ở mộtmức độ rủi ro cụ thể.
Chan, Karceski và Lakonishok (2000) cung cấp bằng chứng về hiệu quả hoạtđộng của các loại tài sản vốn chủ sở hữu có tác động tới quy mô của quỹ Kosowski
và cộng sự (2006) nghiên cứu về các quỹ hoạt động kém của Hoa Kỳ cho thấy rằnghầu hết các hoạt động kém hiệu quả trong giai đoạn nghiên cứu chủ yếu là do kỹnăng kém của các nhà quản lý quỹ
Các nghiên cứu về hiệu quả của quỹ tương hỗ sử dụng các phương pháp thống
kê thông thường ít bằng chứng cho thấy hiệu quả tốt hơn trong thời gian dài của cácquỹ như các nghiên cứu của Quigley và Sinquefield (2000), Fletcher và Forbes(2002), Cuthbertson và cộng sự (2008)
Nghiên cứu về hiệu quả của các quỹ ở thị trường mới nổi như Trung Quốc củaChen và Chen (2017) nhận thấy rằng tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ phầnlớn do khả năng của các nhà quản lý quỹ trong lựa chọn cổ phiếu và xây dựng danhmục đầu tư Quỹ có hiệu quả hoạt động tốt thường là quỹ có nhà quản lý giỏi, kỹnăng chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm và ngược lại quỹ có hiệu quả hoạt độngkém chủ yếu nhà quản lý quỹ có kỹ năng chưa tốt
Gao và cộng sự (2020) đã đánh giá hiệu quả của quỹ dựa trên đánh giá khảnăng sinh lời có điều chỉnh theo rủi ro trong ba loại và phát hiện ra rằng các QĐT
mở không kiếm được lợi nhuận tốt hơn so với trung bình trong khi khả năng lựachọn cổ phiếu lại do số ít các nhà quản lý (khoảng 2% cao nhất) của quỹ trong giaiđoạn 2003-2020
Trang 152.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam trong những năm vừa qua có không ít đề tài nghiên cứu về thịtrường chứng khoán nói chung và về quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng Các đề tài
đã được các tác giả nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau
Nguyễn Văn Nông (2010) trong nghiên cứu về “Hoàn thiện và phát triển thịtrường chứng khoán Việt Nam” có đề cập đến các yếu tố tác động đến thị trườngchứng khoán và đề ra định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam.Trong đó, tác giả có đề cập và đánh giá thực trạng của các công ty quản lý quỹ vàquỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam nhưng cũng chỉ đề cập và đánh giá sơ lược vềquỹ đầu tư chứng khoán mà chưa đi sâu vào nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạtđộng của các quỹ đầu tư chứng khoán
Tại nghiên cứu “Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện nay”của Nguyễn Thu Thủy (2011), tác giả đã đánh giá, phân tích thực trạng các yếu tốảnh hưởng đến việc phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam giai đoạn từ năm
2004 đến năm 2010 Các nhân tố được tác giả cho rằng có ảnh hưởng tới sự pháttriển của QĐT chứng khoán tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu gồm có 6 tiêuchí định lượng và 2 tiêu chí định tính như sau: các tiêu chí định lượng là: Số lượng
và quy mô các quỹ đầu tư chứng khoán, sự đa dạng về sản phẩm của quỹ, tỷ trọnggiá trị giao dịch chứng chỉ quỹ trên tổng giá trị giao dịch toàn thị trường, tốc độ luânchuyển chứng chỉ quỹ đầu tư, mức độ vốn hoá thị trường hay quy mô thị trườngchứng chỉ quỹ, tình hình tài chính của các quỹ đầu tư chứng khoán Các tiêu chíđịnh tính là: Uy tín của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường và sự đóng gópcủa quỹ đầu tư chứng khoán cho phát triển các mục tiêu xã hội liên quan đến vấn đềbảo đảm an sinh xã hội, ngân sách nhà nước…
Dương Hùng Sơn (2012) nghiên cứu các giải pháp hình thành và phát triển quỹđầu tư chỉ số tại Việt Nam dựa trên nghiên cứu mẫu 31 quy mô vốn của
Trang 16các quỹ đầu tư chỉ số của 31 quốc gia và 24 quỹ đóng đang hoạt động tại Việt Namnăm 2012 Nghiên cứu đã hệ thống hóa kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của cácnước về quỹ đầu tư chỉ số, sử dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổnghợp và sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến đã nghiên cứu các yếu tố tácđộng đến hình thành và phát triển quỹ đầu tư chỉ số, gồm có: Chỉ số chứng khoán,
hệ thống pháp lý, nguồn nhân lực cho quỹ đầu tư chỉ số, mô hình và tiến trình thànhlập
Phạm Tiến Mạnh (2019) trong nghiên cứu “Xây dựng và phát triển quỹ đầu tưmạo hiểm ở Việt Nam” đã hệ thống hoá cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng qua xâydựng các giải pháp, các đề xuất khuyến nghị cho việc hình thành, hỗ trợ sự pháttriển của các quỹ đầu tư mạo hiểm Việt Nam trong tương lai Trong đó, tác giả có đềcập một số khía cạnh cần lưu ý khi nâng cao hiệu quả hoạt động, hỗ trợ sự phát triểnQĐT mạo hiểm tại Việt Nam như: khung pháp luật cần thiết, xây dựng cơ chế đặcthì cho quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động; đề xuất ra lộ trình xây dựng và phát triểnquỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam
3. Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trong nước và quốc tế đã cho thấy mối quan tâm sâu sắc củacác nhà nghiên cứu đến phân tích tăng trưởng, phân tích rủi ro và đánh giá hiệu quảcủa các quỹ Trong đó nghiên cứu về hiệu quả hoạt động là quan trọng nhất vì hiệuquả hoạt động của các quỹ cho biết những yếu tố có đóng góp đáng kể vào hiệu quảcủa QĐT và các rủi ro liên quan Một số nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra được một sốyếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, giúpQĐT tạo ra được sự khác biệt trong hiệu quả hoạt động, cụ thể là khả năng sinh lợilớn hơn so với mức trung bình của thị trường hoặc danh mục chuẩn so sánh là do:Quy mô vốn của quỹ, hiệu quả hoạt động trong quá khứ của QĐT Bên cạnh đó cácnghiên cứu cũng chỉ ra vai trò và ảnh hưởng về trình độ và năng lực của nhà quản lýquỹ đến hiệu quả hoạt động của quỹ
Trang 17Trong khi đó, tại Việt Nam, mặc dù chủ đề nghiên cứu về các QĐT nhìn chung
đã thu hút được sự quan tâm nhất định của các nhà nghiên cứu tại Việt Nam, songquy mô nghiên cứu về chủ đề QĐT và hiệu quả hoạt động của QĐT còn tương đốihạn chế Phần lớn trong số ít các nghiên cứu về QĐT tại Việt Nam mới chỉ dừng lạiđánh giá, phân tích thực trạng hoạt động của một số loại hình QĐT nhất định, màchưa có sự đánh giá chung đối với các QĐT nói chung trên thị trường Đánh giáhiệu quả hoạt động của các QĐT chủ yếu chỉ chiếm một phần nhỏ trong toàn bộnghiên cứu
Do đó, luận án này với nghiên cứu đánh giá chi tiết về hiệu quả hoạt động củacác QĐT tại Việt Nam hiện nay, sẽ đóng góp đáng kể vào việc hệ thống khung lýluận về QĐT, cũng như cung cấp những phân tích, đánh giá khách quan, chi tiết vềthực trạng hiệu quả hoạt động của các QĐT chứng khoán tại Việt Nam Trên cơ sở
đó, đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cácQĐT chứng khoán Việt Nam nói chung trong thời gian tới
4. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
Nhiệm vụ chung: Đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam trong thời gian tới góp phần sựphát triển ngành quản lý quỹ của Việt Nam nói riêng cũng như sự phát triển của thịtrường chứng khoán nói chung
Nhiệm vụ cụ thể:
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứngkhoán, xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứngkhoán và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứngkhoán
Trang 18Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoánViệt Nam, từ đó chỉ ra những ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán thời gian qua ở Việt Nam.
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của cácquỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam trong thời gian tới
Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu của luận án này nhằm trả lời ba câu hỏi sau đây:
Thứ nhất: Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam hiện nay là gì?
Thứ hai: Thực trạng hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam hiện nay như thế nào?
Thứ ba: Những giải pháp và kiến nghị nào để nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam hiện nay?
5. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng
khoán
Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu lý thuyết về hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứngkhoán tại Việt Nam là quỹ đại chúng được thành lập và đang hoạt động tạiViệt Nam từ năm 2017 đến năm 2021 trên khía cạnh sinh lời
- Nghiên cứu thực trạng hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứngkhoán là quỹ đại chúng được thành lập và đang hoạt động tại Việt Nam trongthời gian từ 2017 đến 2021 trên khía cạnh sinh lời
- Đề xuất giải pháp và kiến nghị nâng cao hiệu quả hoạt động của cácquỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam trong giai đoạn 2022-2025
6. Phương pháp nghiên cứu
Trang 19- Phương pháp chung: đề tài sử dụng phương pháp định tính kết hợp vớiđịnh lượng, vận dụng phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử, có sự kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoahọc trong và ngoài nước.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp về cácQuỹ đầu tư chứng khoán và ngành quản lý quỹ thu thập từ các chuyên trang
về tài chính (FiinPro) cũng như trang web của các QĐTCK, phương pháptổng hợp, xử lý, phân tích dữ liệu, phương pháp so sánh được sử dụng trongviệc luận giải các vấn đề liên quan tới thực trạng hiệu quả hoạt động củaQĐTCK
Nghiên cứu sử dụng thước đo Sharpe, Treynor để đánh giá hiệu quả sinh lời cóđiều chỉnh theo rủi ro của hoạt động quản lý QĐTCK Các thước đo đánh giá này là
cơ sở cho các nhận định về hiệu quả hoạt động của từng QĐT đơn lẻ theo thời gian,hay khi so sánh hiệu quả hoạt động QĐTCK với thị trường và với các QĐTCKkhác
Bên cạnh đó, nghiên cứu còn sử dụng phần mềm R để đo lường Giá trị rủi ro(Value at Risk) nhằm đánh giá nguy cơ rủi ro (nguy cơ thua lỗ/TSSL âm) trong hoạtđộng của QĐTCK nhằm giúp QĐTCK định hướng nhìn nhận đa chiều về hiệu quảhoạt động QĐTCK và qua đó có giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động tốt hơn
7. Những đóng góp mới của luận án
- Thiết lập bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động các quỹ đầu tư chứngkhoán
- Nghiên cứu và tổng hợp kinh nghiệm nâng cao hiệu quả hoạt động một sốquỹ đầu tư chứng khoán lớn của một số nước phát triển và của một số nước có đặcđiểm hoạt động tương đồng, từ đó gợi mở một số bài học kinh nghiệm có thể ápdụng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam
Trang 20- Sử dụng thước đo Sharpe, Treynor để đánh giá hiệu quả sinh lời có điềuchỉnh theo rủi ro của hoạt động quản lý QĐTCK tại Việt Nam trong giai đoạn
2017 đến 2021
- Sử dụng công cụ để đo lường Giá trị rủi ro (Value at Risk) nhằm đánhgiá nguy cơ rủi ro (nguy cơ thua lỗ/TSSL âm) trong hoạt động của QĐTCKnhằm giúp QĐTCK định hướng nhìn nhận đa chiều về hiệu quả hoạt độngQĐTCK trong giai đoạn 2017-2021 và qua đó có giải pháp cải thiện hiệu quảhoạt động tốt hơn trong giai đoạn 2022-2025
- Đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoánthông qua bộ chỉ tiêu trong giai đoạn 2017-2021 ở Việt Nam
- Đưa ra giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹđầu tư chứng khoán ở Việt Nam trong giai đoạn 2022-2025 trong đó nổi bật
8. Nội dung và kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục luận án được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt
Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng
khoán tại Việt Nam
Trang 21CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1 HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
1.1.1 Công ty Quản lý quỹ
Tại Mỹ, theo Đạo luật về Công ty đầu tư (1940) (The Investment Company Act
of 1940) CTQLQ được biết đến với thuật ngữ nhà tư vấn đầu tư (investmentadviser), tức là tổ chức tiến hành các dịch vụ tư vấn về giá trị chứng khoán, về tínhchất của khoản đầu tư và việc mua bán các chứng khoán Tư vấn đầu tư và tư vấntài chính dường như là các thuật ngữ tương tự, nhưng ý nghĩa lại được phân biệt.Nếu như thuật ngữ tư vấn tài chính được dùng để chỉ hoạt động môi giới chứngkhoán nói chung thì thuật ngữ tư vấn đầu tư lại được dùng để chỉ hoạt động củacông ty quản lý trong lĩnh vực tư vấn tài sản và quản lý danh mục đầu tư
Còn tại Việt Nam, khái niệm về CTQLQ lần đầu tiên được đưa ra tại Quyết
định 35/2007/QĐ-BTC, theo đó, công ty quản lý quỹ là gì? Đó là “tổ chức có tư cách pháp nhân, hoạt động cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản
lý danh mục đầu tư chứng khoán” (Khoản 1 Điều 2 Quyết định35/2007/QĐ-BTC).
Quyết định 35/2007/QĐ-BTC cũng quy định các tổ chức kinh tế không được cungcấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và quản lý danh mục đầu tư, ngoại trừCTQLQ được cấp phép Theo quy định này, CTQLQ mặc dù được quản lý tài sản
ủy thác của nhà đầu tư nhưng lại không được tiến hành tư vấn đầu tư chứng khoáncho khách hàng có nhu cầu Điều này đã hạn chế đáng kể phạm vi hoạt của CTQLQ,dẫn đến những hạn chế về cấu trúc quản trị của loại hình công ty này
Khắc phục hạn chế nêu trên, Thông tư 212/2012/TT-BTC đã bổ sung nghiệp vụ
tư vấn đầu tư chứng khoán là một trong những hoạt động kinh doanh
Trang 22của CTQLQ Khoản 3 Điều 2 Thông tư 212/2012/TT-BTC giải đáp thắc mắc
về công ty quản lý quỹ là gì? Theo đó: “Công ty quản lý quỹ là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, cung cấp dịch vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quản lý danh chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán”.
Kế thừa và phát huy những quy định của Thông tư 212/2012/TT-BTC, hiện
nay tại khoản 3 Điều 2 Thông tư 99/2020/TT-BTC giải thích: Công ty quản lý quỹ là
doanh nghiệp được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạtđộng kinh doanh chứng khoán, thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư chứngkhoán, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán
Theo đó, CTQLQ là loại hình doanh nghiệp, hoạt động chính trong lĩnh vựckinh doanh chứng khoán, trên ba nghiệp vụ chủ yếu: (1) quản lý quỹ đầu tư chứngkhoán, (2) quản lý danh mục đầu tư chứng khoán, (3) tư vấn đầu tư chứng khoán
Ba nghiệp vụ nêu trên của CTQLQ giúp phân biệt doanh nghiệp này với doanhnghiệp kinh doanh chứng khoán còn lại là các công ty chứng khoán Đồng thời,khác với những doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh không có điềukiện, CTQLQ buộc phải được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công
ty trách nhiệm hữu hạn theo Khoản 2 Điều 71 Luật Chứng khoán 2019
Tùy theo quy định pháp luật ở các nước khác nhau, cách tiếp cận về CTQLQcũng khác nhau, tuy vậy, bản chất hoạt động của chúng đều như nhau Sự khác nhau
cơ bản là ở nguồn vốn đầu tư hình thành khác nhau và nó liên quan tới trách nhiệmkhác nhau của tổ chức quản lý đối với từng nguồn vốn Như vậy, CTQLQ có thểđược hiểu một cách chung nhất là chức chuyên tư vấn đầu tư hoặc thay mặt nhà đầu
tư quản lý tài sản ủy thác, và được nhận phí quản lý
Trang 23Chức năng của công ty quản lý quỹ được thực hiện qua ba dịch vụ chủ yếutheo Nguyễn Thanh Phương, Trần Thị Xuân Anh và các cộng sự (2020) như sau:
- Quản lý quỹ đầu tư: được thực hiện khi công ty quản lý quỹ tiến hànhhuy động và quản lý vốn, tài sản được ủy thác, thực hiện đầu tư theo danhmục đầu tư phù hợp với mục tiêu đầu tư đã được xác lập trên nền tảng quản lýđầu tư chuyên nghiệp
Các quỹ đầu tư được quản lý bởi các chuyên gia có kỹ năng và giàu kinhnghiệm – người mà được lựa chọn định kỳ căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra.Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế Một trong những nhân tốquan trọng trong việc chọn lựa quỹ đầu tư tốt chính là quỹ đó phải được quản lý tốtnhất
- Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính: với dịch vụ này, công ty quản lý quỹthực hiện việc tư vấn đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng, hỗ trợkhách hàng tối ưu hóa các khoản đầu tư thông qua các công cụ tài chính trên
cơ sở tối ưu hóa các nguồn vốn cho các nhà đầu tư
- Nghiên cứu: công ty quản lý quỹ thông qua việc phân tích đánh giá vềthị trường, phân tích giá trị tài chính, giá trị đầu tư để hỗ trợ cho các hoạtđộng quản lý đầu tư và các tư vấn như đã nêu trên
Điều 73 Luật chứng khoán 2019 - Nghiệp vụ kinh doanh của công ty quản lýquỹ đầu tư chứng khoán
1 Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán được thực hiện các nghiệp
vụ kinh doanh sau đây:
a) Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán;
b) Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán;
c) Tư vấn đầu tư chứng khoán
Trang 242 Các nghiệp vụ kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này được cấpchung trong Giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh chứng khoán củacông ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
Nguyễn Thanh Phương, Trần Thị Xuân Anh và các cộng sự (2020) cho rằnghoạt động của công ty quản lý quỹ ở phạm vi nào là tùy thuộc vào mô hình quỹ đầu
tư mà công ty tham gia quản lý
Với mỗi loại hình quỹ đầu tư khác nhau thì vai trò của công ty quản lý quỹcũng sẽ khác nhau Đối với mô hình quỹ đầu tư dạng công ty thì quỹ đầu tư, hay nóicách khác là hội đồng nhà đầu tư sẽ có quyền quyết định tới việc thuê công ty quản
lý quỹ hay cụ thể là nhà quản lý quỹ để quản lý quỹ đầu tư cho họ Ngược lại, với
mô hình quỹ đầu tư dạng tín thác thì công ty quản lý quỹ sẽ là đối tượng chịu tráchnhiệm chính trong việc thành lập và phân bổ nhà quản lý quỹ đầu tư tín thác đó
Và dù là hình thức, quyền hạn và vai trò nào đi nữa, thì mục tiêu sau cùng củacông ty quản lý quỹ hay nhà quản lý quỹ trong việc quản lý quỹ đầu tư đều là tiếnhành các hoạt động, quy trình quản lý sao cho đạt được mục tiêu đầu tư (mục tiêumức sinh lời, mục tiêu mức rủi ro đặt trong mối quan hệ với các ràng buộc khác)của các nhà đầu tư tham gia vào quỹ Lịch sử hiệu quả quản lý các quỹ đầu tư trongquá khứ của công ty quản lý quỹ sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động
và khả năng sinh tồn của công ty đó trong tương lai ở khía cạnh đó là các nhà đầu tưvào quỹ đầu tư có tin tưởng giao phó quỹ đầu tư của họ cho công ty quản lý quỹ vànhà quản lý quỹ quản lý hay không Do đó, tiêu chí 3-P (Triết lý (Philosophy), Quytrình (Process) và Con người (People)) thường được sử dụng để mô tả cho việc giảithích rằng liệu nhà quản lý có thể tạo ra được những hiệu quả quản lý trên mứctrung bình hay không, cụ thể:
Triết lý: hàm ý về nguyên lý chủ đạo trong việc tổ chức đầu у tư Ví dụ: Nhàquản lý quỹ mua cổ phiếu giá trị hay cổ phiếu tăng trưởng, hay kết hợp cả
Trang 25hai loại tài sản này (và tại sao)?; Các nhà quản lý quỹ có tin tưởng vào chiến lượclựa chọn thời điểm đầu tư (hay chiến lược nào khác không)?; Họ có phụ thuộc vàocác nghiên cứu bên ngoài không hay chỉ làm việc với đội nghiên cứu của mình?;Quy trình: hàm ý về cách thức mà nguyên lý chủ đạo tổ chức đầu tư được thựchiện Ví dụ: phạm vi tài sản nào sẽ được khai thác, nghiên cứu trước khi đưa ra lựachọn tài sản cụ thể phù hợp với hạng mục đầu tư? Nhà quản lý quỹ sẽ quyết địnhmua như thế nào và khi nào? Nhà quản lý quỹ sẽ quyết định bán như thế nào và khinào? Ai sẽ là người thực hiện quyết định Những hoạt động kiểm soát nào sẽ đượcthực hiện để đảm bảo không xuất hiện hay tồn tại một quỹ đầu tư không mongmuốn (là quỹ đầu tư khác biệt so với các quỹ khác và khác với dự định của nhàquản lý quỹ và nhà đầu tư)?
Con người: ở đây chính là nói tới đội ngũ nhân viên thực hiện quản lý quỹ đầu
tư, đặc biệt là các nhà quản lý quỹ Câu hỏi đặt ra là: Họ là ai? Họ được tuyển chọnnhư thế nào? Họ bao nhiêu tuổi? Kinh nghiệm của họ ra sao? Ai báo cáo cho họ?Mức độ chuyên sâu của đội ngũ quản lý đó như thế nào (và liệu tất cả các thànhviên của đội quản lý có am hiểu hết được nguyên lý chủ đạo và quy trình mà họ sẽ
sử dụng hay không)? Và câu hỏi quan trọng nhất, là đội quản lý đó sẽ làm việc cùngnhau bao lâu? Câu hỏi cuối cùng này hết sức quan trọng bởi hiệu quả quản lý đầu
tư như thế nào được thể hiện ở sự bắt đầu mối quan hệ với khách hàng (nhà đầu tư)
có thể có hoặc không liên quan tới đội ngũ quản lý quỹ Nếu đội ngũ quản lý có sựthay đổi lớn (thu nhập nhân viên cao hoặc những thay đổi đối với đội quản lý đó),thì sau đó hiệu quả quản lý quỹ sẽ hoàn toàn không liên quan tới đội ngũ hiện tạicủa công ty quản lý quỹ nữa do yếu tố ổn định và đặc tính của đội quản lý cũ đãkhông được duy trì, do đó không thể đánh giá được hiệu quả quản lý quỹ thông quađánh giá đội ngũ nhà quản lý quỹ hiện tại đang quản lý quỹ đầu tư đó được
Trang 26Ngoài ra còn một số yếu tố quan trọng khác mà các quỹ đầu tư (các nhà đầu tưhùn vốn) cần cân nhắc khi lựa chọn công ty quản lý quỹ (nhà quản lý quỹ) như:
- Mức độ tương quan giữa trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh
nghiệm quản lý quỹ;
- Phong cách đầu tư phù hợp với mục tiêu của quỹ;
- Cấu trúc tổ chức;
- Thu nhập nhân sự quản lý;
- Quy mô vốn và khả năng cung ứng dịch vụ;
- Lịch sử hiệu quả quản lý đầu tư;
- Phí quản lý đầu tư
Tùy theo vào hợp đồng quản lý quỹ giữa quỹ đầu tư (ban đại diện cho các nhàđầu tư vào quỹ đầu tư) và công ty quản lý quỹ, sẽ quy định cụ thể chức năng, nhiệm
vụ của nhà quản lý quỹ trong quá trình quản lý quỹ đầu tư Nhìn chung, sẽ bao gồmmột số nhiệm vụ chính như:
- Thiết lập chính sách đầu tư cho quỹ đầu tư;
- Lựa chọn đầu tư chứng khoán theo các phân hạng tài sản tùy theo mụctiêu đầu tư và những ràng buộc đã được soạn thảo trong chính sách đầu tư;
- Cung cấp cho công ty quản lý quỹ, các nhà đầu tư quỹ các báo cáohàng tháng, quý, năm về danh mục tài sản nắm giữ, bao gồm những thay đổi
về tỷ trọng so với lần rà soát danh mục gần nhất và những thay đổi tỷ trọng dựtính trong các chu kỳ đầu tư tới;
- Cung cấp các báo cáo hàng tháng, quý, năm về hiệu quả đầu tư, cácphân tích, giải trình về bất kỳ sự sụt giảm hay tăng trưởng về kết quả, hiệuquả đầu tư so với mục tiêu đầu tư trong chính sách đầu tư, dự đoán các điềukiện kinh tế trong tương lai và chiến lược đầu đầu kỳ vọng cũng như tác độngcủa những yếu tố này lên hiệu quả danh mục đầu tư, ước tính tỷ suất sinh lời
kỳ vọng của
Trang 27các hạng mục tài sản và đề xuất chiến lược đầu tư có thể áp dụng để đáp ứng mụctiêu của nhà đầu tư vào quỹ;
- Thông báo những thay đổi trong công ty quản lý quỹ và đội ngũ quản
lý quỹ đầu tư: gồm những thay đổi trong quyền sở hữu, nhân sự quản lý cấpcao và phong cách quản lý đầu tư;
- Thông báo cho ngân hàng giám sát và bảo quản tài sản về những hoạtđộng mua bán chứng khoán, những tài sản đưa thêm vào hoặc thoái vốn khỏidanh mục đầu tư của quỹ
1.1.2 Quỹ đầu tư chứng khoán
Theo International Finance Corporation (IFC, 1996), Investment Fund inemerging market (Quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán mới nổi) thì Quỹ đầu tưđược biết đến như một phương tiện đầu tư tập thể - là công cụ tài chính để tập hợp
và quản lý tiền của nhiều NĐT NĐT chuyển quyền kiểm soát khoản tiền của họ chocác nhà quản lý chuyên nghiệp để mua danh mục các loại chứng khoán hoặc cổphần đầu tư tư nhân trong các công ty
Phạm Thị Giang Thu (2004) cho rằng, cũng như bất kỳ hoạt động đầu tư, kinhdoanh nào khác, Quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện “đầu tư một lượng tiền tronghiện tại và chỉ có thể thu hồi trong tương lai” Điều này thể hiện tính rủi ro của hoạtđộng đầu tư trên TTCK Khi đầu tư chứng khoán, NĐT có thể lựa chọn nhiềuphương thức khác nhau: hoặc là trực tiếp quyết định đầu tư (thông qua các công tychứng khoán với tư cách là nhà đầu tư riêng lẻ) hoặc là ủy nhiệm đầu tư (thông quaviệc nắm giữ các chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý bởi các nhà đầu
tư chứng khoán chuyên nghiệp, có tổ chức) Như vậy, thay vì NĐT đưa số vốn củamình cho nhà môi giới chứng khoán trực tiếp mua chứng khoán thì họ có thể gópvốn vào QĐTCK thực hiện việc đầu tư tập thể
Trang 28Theo Nguyễn Thu Thủy (2011), Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở ViệtNam hiện nay, thì QĐTCK thực chất là một tập hợp vốn do tổ chức và cá nhân góplại để được quản lý nhằm tăng cường tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tưchứng khoán và tối đa hóa lợi nhuận cho những người tham gia.
Nguyễn Thanh Phương, Trần Thị Xuân Anh và các cộng sự (2020) cho rằngquỹ đầu tư chứng khoán còn được hiểu là phương tiện đầu tư tập thể - là cơ cấu tàichính nhằm phân bổ và quản lý tiền của nhiều người đầu tư để mua chứng khoánđược niêm yết hoặc cổ phần tư nhân trong các công ty cổ phần Quỹ đầu tư tập hợpcác khoản đầu tư cá nhân thành một khoản tiền lớn và đầu tư vào danh mục đầu tưđược xác lập theo chính sách của quỹ
Quy định Luật chứng khoán sửa đổi năm 2019, Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ
hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vàochứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tưkhông có quyền kiểm soát hằng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư của quỹ
Tóm lại Quỹ đầu tư chứng khoán được hiểu là quỹ hình thành từ vốn góp của
nhà đầu tư có cùng mục tiêu dưới sự quản lý chuyên nghiệp để đầu tư vào danh mụcđược lựa chọn với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán
Đặc điểm của QĐTCK theo Nguyễn Thanh Phương, Trần Thị Xuân Anh và cáccộng sự (2020) là: phản ánh bản chất của QĐTCK, đồng thời cũng là những tiêu chí
để phân biệt QĐTCK với các Quỹ đầu tư khác và với các chủ thể kinh doanh
Một là, Quỹ đầu tư chứng khoán vừa là chủ thể phát hành chứng khoán vừa là
chủ thể đầu tư chứng khoán, QĐTCK được hình thành từ vốn góp của các NĐTthông qua việc phát hành cổ phiếu hay CCQ
Trang 29Là chủ thể đầu tư chứng khoán, khác với chủ thể phát hành cổ phiếu và tráiphiếu, QĐTCK phát hành CCQ không nhằm huy động vốn để phục vụ mục đíchkinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà phần lớn nguồn vốn của QĐTCK đầu tư chủ yếu
là chứng khoán CCQ mang lại cổ tức cho NĐT không phải từ hoạt động sản xuấtkinh doanh mà là do hoạt động đầu tư chứng khoán của QĐTCK Vì vậy, QĐTCKđược xem là NĐT có tổ chức hay NĐT chứng khoán chuyên nghiệp, tức đầu tư
chứng khoán theo danh mục đầu tư, với các chiếnlược đầu tư và do các chuyên gia có kinh nghiệm thực hiện
Hai là, đầu tư qua QĐTCK là hình thức đầu tư gián tiếp và mục đích hoạt động
của QĐTCK cũng giống như doanh nghiệp – đó là lợi nhuận đầu tư là việc sử dụngmột khoản tiền tích lũy nhất định vào một việc nhất định nhằm mục đích thu lại mộtkhoản tiền lớn hơn Theo Đinh Văn Sơn (2009) mục tiêu thông thường của đầu tư,nhất là của các nhà đầu tư tư nhân là sử dụng đồng tiền nhằm sinh lợi Còn Lê Văn
Tề (2011) cho rằng đầu tư gián tiếp thể hiện ở chỗ các chủ thể thừa vốn không trựctiếp cung ứng vốn cho người thiếu vốn là người sử dụng vốn cuối cùng, mà là giántiếp thông qua các trung gian tài chính QĐTCK sử dụng số tiền thu được để đầu tưvào các loại chứng khoán Như vậy, mục đích thành lập và hoạt động của QĐTCKcũng giống như một chủ thể kinh doanh, đó là tìm kiếm lợi nhuận
Ba là, cơ chế tách bạch giữa quản lý QĐTCK và nắm giữ tài sản, giám sát hoạt
động quản lý QĐTCK trong tổ chức và hoạt động của QĐTCK Quỹ đầu tư hoạtđộng theo cơ chế gồm 3 thành phần: Người đầu tư góp vốn hình thành quỹ; Công tyquản lý quỹ điều hành quỹ; Ngân hàng giám sát bảo quản tài sản và giám sát hoạtđộng của quỹ - Đinh Văn Sơn (2009)
Nhà đầu tư góp vốn vào QĐTCK và được hưởng lợi từ việc đầu tư của quỹ.Hoạt động quản lý QĐTCK được NĐT ủy thác cho CTQLQ Công ty quản lý quỹ làmột tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có trình độ chuyên môn cao về đầu
Trang 30tư chứng khoán, thực hiện việc quản lý và tiến hành các hoạt động của QĐTCK.Ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu ký tài sản của QĐTCK đảm bảotài sản độc lập với CTQLQ và giám sát hoạt động CTQLQ liên quan đến QĐTCK
để bảo vệ lợi ích của NĐT Đặc điểm này thể hiện rõ nét trong suốt quá trình thànhlập và hoạt động của QĐTCK
Nguyễn Thanh Phương, Trần Thị Xuân Anh và các cộng sự (2020) cho rằngnguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán phải đảm bảo các nguyên tắc sauđây:
- Tính minh bạch
Các quỹ đầu tư chứng khoán phải tuân thủ các quy định về công bố thông tinrộng rãi hơn các sản phẩm tài chính tương đương khác (các dạng tài khoản đầu tưquản lý độc lập, các quỹ tín thác đầu tư tập thể, các quỹ vốn tư nhân) Ví dụ, đối vớitrường hợp các quỹ tương hỗ và các quỹ ETFs ở Mỹ, thì đó chính là bản cáo bạch.Các quỹ đầu tư này bị yêu cầu phải duy trì một bản cáo bạch hiện thời cung cấp chocác nhà đầu tư thông tin về quỹ, gồm các mục tiêu đầu tư, chiến lược đầu tư, rủi ro,phí và chi phí, hiệu quả hoạt động của quỹ cũng như việc giao dịch, thu hồi và đổicác cổ phần quỹ như thế nào Phần quan trọng của công bố này là thông tin về hiệuquả hoạt động của quỹ và các khoản phí, chi phí được chuẩn hóa để giúp nhà đầu tư
có thể dễ dàng so sánh với các quỹ đầu tư khác Bên cạnh đó, các quỹ còn phải công
bố bản cáo bạch tóm tắt với những thông tin quan trọng về quỹ, còn các thông tinkhác, đầy đủ hơn phải được công bố trên mạng hoặc trên giấy tờ theo yêu cầu…
- Thanh khoản và định giá hàng ngày
Gần như tất cả các quỹ phải cung cấp cho nhà đầu tư đánh giá hoạt động đầu tưdựa theo thực tế thị trường, mục tiêu và thanh khoản của DMĐT của quỹ, ít nhất ởcấp độ hàng ngày Theo yêu cầu của UBCK, các quỹ đầu tư phải thông qua nhữngchính sách và quy trình định giá chứng khoán trong danh mục
Trang 31đầu tư và phải thiết lập các tiêu chuẩn để xác định giá trị của cổ phiếu trong nhữngtrường hợp cụ thể Quy trình định giá hàng ngày này của quỹ sẽ đưa ra kết quả vềgiá trị tài sản ròng (NAV) của quỹ đầu tư Trong trường hợp các quỹ đầu tư ở Mỹ,luật công ty đầu tư (1940) còn yêu cầu các quỹ tương hỗ phải tiến hành các giaodịch dựa trên định giá kỳ hạn (forward pricing) nhằm bảo vệ cho các cổ đông quỹtương hỗ nhờ có việc giảm thiểu khả năng cổ đông lợi dụng biến động giá chứngkhoán trong danh mục của quỹ sau khi quỹ tính toán NAV để hưởng lời.
- Hoạt động kế toán và giám sát
Các quỹ đầu tư đều phải chịu hệ thống giám sát chặc chẽ từ cả nguồn nội bộ vàbên ngoài Cơ chế giám sát nội bộ là Ban quản trị gồm các giám đốc độc lập và cácchương trình thực hiện đều được giám sát chặt chẽ ở cả cấp độ quỹ và cấp độ công
ty quản lý quỹ Hoạt động giám sát bên ngoài đến từ phía Ủy ban Chứng khoán, BộTài chính hoặc Hiệp hội Quản lý ngành Tài chính (FINRA) như trường hợp ở Mỹ,hoặc đến từ một số nhà cung cấp dịch vụ như các công ty kế toán được công nhậnrộng rãi Một trong những bộ phận giám sát nội bộ là hội đồng quản trị quỹ Cácquỹ tương hỗ, quỹ đóng và hầu hết các quỹ ETF đều có hội đồng quản trị quỹ, hoặccác loại hình tín thác thì có Ban đại diện quỹ Vai trò của bộ phận là đơn vị giám sátchính Ban quản trị đặc biệt không tham gia vào quản lý hoạt động thường ngày củaquỹ Thay vào đó, các mảng hoạt động thường nhật này được thực hiện bởi các đơn
vị tư vấn đầu tư của quỹ hoặc nhà quản trị (theo hợp đồng với quỹ đầu tư) Banquản trị của quỹ rà soát và thông qua các hợp đồng chính với các đơn vị cung cấpdịch vụ (đặc biệt là các công ty tư vấn đầu tư), thông qua các chính sách và quy địnhđảm bảo hoạt động của quỹ gắn liền với Luật Chứng khoán, chịu trách nhiệm giámsát và rà soát tính hiệu quả trong các hoạt động của quỹ Ban quản trị phải quy trìmột mức độ độc lập cụ thể
Trang 32- Giới hạn loại tài sản đầu tư và tỷ lệ đòn bẩy tài chính của quỹ
Các quy định này là cần thiết trong việc giúp bảo vệ an toàn hoạt động và đồngthời bảo vệ một phần cho khoản vốn đầu tư của cổ đông vào quỹ, đặc biệt khi thịtrường tài chính có những biến động mạnh, khó lường Tại một số quốc gia, các quỹđầu tư được cấp phép và thuộc quản lý, thường không được có những cấu trúc vốnphức tạp, không được đầu tư một tỷ trọng lớn vào các tài sản rủi ro có tính thanhkhoản thấp và quỹ còn bị giới hạn tỷ lệ đòn bẩy tài chính
- Bảo quản tài sản
Để bảo quản tài sản, các quỹ đầu tư buộc phải duy trì chế độ bảo quản tài sảnnghiêm ngặt, tách biệt khỏi tài sản của đơn vị tư vấn đầu tư Dịch vụ của đơn vị bảoquản tài sản (thường là các ngân hàng nội địa đối với các chứng khoán nội địa vàcác ngân hàng quốc tế đối với các chứng khoán quốc tế hoặc đơn vị lưu ký chứngkhoán) gồm: ưu giữ và thống kê tài sản quỹ, thanh toán các chi phí của quỹ, báo cáocác giao dịch không được thực hiện, báo cáo giao dịch tiền mặt, giám sát hoạt độngdoanh nghiệp của các công ty trong danh mục đầu tư, theo dõi các chứng khoánđược tài trợ bởi vay nợ tài chính vệ an toàn ầu tư của cổ g biến động rợc cấp phép
ủi ro có tính chính Ngoài ra, quỹ đầu tư hoạt động ở một số quốc gia còn bị chịuvốn phức tạp, điều khoản cấm giao dịch với các tổ chức phụ thuộc
Ở mỗi nước, tùy theo mục đích điều chỉnh riêng mà có những quy định phânloại QĐTCK khác nhau Mỗi cách phân loại đều có ý nghĩa riêng của nó Tuy nhiên,các cách phân loại này chỉ mang tính tương đối bởi vì có loại QĐTCK bao hàmtrong nó nhiều tiêu chí khác nhau
Nguyễn Thu Thuỷ (2011), việc phân loại QĐTCK có thể dựa trên rất nhiều tiêuchí khác nhau, chẳng hạn như: theo hình thức tổ chức (QĐTCK theo mô hình công
ty, QĐTCK theo mô hình tín thác, QĐTCK theo mô hình hợp đồng,
Trang 33QĐTCK theo mô hình hợp danh hữu hạn); theo chủ thể đầu tư (Quỹ thành viên,Quỹ đại chúng); theo cơ chế huy động vốn (Quỹ đóng, Quỹ mở); theo danh mụcđầu tư (Quỹ đầu tư cổ phiếu, Quỹ đầu tư trái phiếu, Quỹ thị trường tiền tệ, Quỹ đầu
tư chỉ số, Quỹ đầu tư bất động sản, Quỹ cân bằng)
Theo Nguyễn Thanh Phương, Trần Thị Xuân Anh và cộng sự (2020), phân loạiquỹ đầu tư chứng khoán được phân loại theo một số tiêu chí cơ bản và phổ biến hiệnnay được thể hiện như sau:
- Phân loại theo mô hình tổ chức hoạt động
Các quỹ đầu tư chứng khoán, dù được lập theo mô hình hợp đồng, mô hìnhcông ty, mô hình tín thác, nói chung hoạt động hoặc theo kiểu quỹ đóng hoặc theokiểu quỹ mở
1) Quỹ đầu tư dạng mở
Quỹ mở là quỹ mà có nghĩa vụ phát hành và mua lại cổ phiếu hoặc chứng chỉquỹ một cách thường xuyên Theo quy định chung hầu hết các quỹ mở hàngngày đều phát hành và mua lại chứng chỉ quỹ, nhưng mức độ tối thiểu khác nhautùy quy định ở mỗi quốc gia, như quỹ mở phải phát hành và mua lại ít nhất hai tuầnmột lần vào cùng một ngày và cùng một thời điểm Điểm rất quan trọng là việc
làm này được thực hiện đều đặn và rõ ràng như đã tuyên bố.Việc phát hành và mua lại liên tục như thế nghĩa là vốn đầu tư vào quỹ biến đổiliên tục do người đầu tư mới đến và người khác lại rời bỏ quỹ Đó là lý do tại saoquỹ mở thường được tổ chức theo mô hình công ty và thường được gọi là “công ty
có vốn có thể thay đổi” Chứng chỉ quỹ do quỹ mở phát hành thưởng không đượcniêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tuy nhiên, do chứng chỉ quỹ mở đượcphát hành và mua lại hay thu hồi liên tục, thậm chí là hàng ngày nên để quỹ mở theo
mô hình công ty hoạt động được thường phải có những quy định đặc biệt đối vớiquá trình thành lập và hoạt động của quỹ
Trang 34Một trong những quy định về đối tượng đầu tư của quỹ nhằm thực hiện đượcyêu cầu cơ bản đối với quỹ đầu tư mở là quỹ phải sẵn sàng mua và bán tài sảntrong danh mục đầu tư của mình hàng ngày Do vậy, quỹ phải đảm bảo có thể đầu tưkhoản tiền mới hoặc bản tài sản và thanh toán các khoản thu hồi một cách dễ dàng.
Đó là lý do giải thích tại sao những quỹ này được pháp luật quy định phải đầu tưtrước hết vào những tải sản có tính thanh khoản cao – những tài sản mà có thể dễdàng mua và bán nhanh chóng Thông thường, tỷ lệ vốn của quỹ đầu tư vào các tài
sản có khả năng thanh khoản cao phải trên 90%.Giá trị tài sản thuần của đơn vị quỹ là cơ sở để xác định giá phát hành hoặcmua lại chứng chỉ/cổ phiếu quỹ mở, do đó phương pháp xác định giá trị tài sảnthuần của quỹ phải được xác định rõ rằng, minh bạch, công bố rộng rãi cho côngchúng đầu tư khi thiết lập quỹ Cơ chế chủ đạo để xác định giá trị tài sản thuần củaquỹ là theo giá trị thị trường của các tài sản quỹ Nếu tài sản quỹ thiếu giá trị thịtrường thì chúng phải được xác định bởi giá trị hợp lý, theo phương pháp phù hợp
Do vậy, thực tế cho thấy, quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở chỉ có điều kiện rađời và phát triển ở những thị trường đã phát triển ở trình độ cao và ổn định
2) Quỹ đầu tư dạng đóng
Quỹ đóng là quỹ có một lượng vốn đầu tư ổn định, quỹ đóng có thể hoạt độngtheo mô hình công ty, mô hình tín thác Tại thời điểm ban đầu, quỹ thực hiện chàobán cổ phiếu/chứng chỉ quỹ để tạo lập vốn đầu tư, trong quá trình hoạt động thườngkhông có thêm những đợt phát hành mới để bổ sung vốn Quỹ đóng không có nghĩa
vụ mua lại chứng chỉ quỹ, vì thế không có nhu cầu bán chứng chỉ quỹ để chuyển ratiền mặt Điều này làm cho các quỹ này dễ dàng đi vay hơn do nguồn vốn của quỹ
là ổn định hơn nếu quy định cho phép
Trang 35Chứng chỉ do quỹ đóng phát hành thường được niêm yết trên Sở Giao dịchChứng khoản, được giao dịch giữa các nhà đầu tư dựa trên quan hệ cung - cầu.
Cơ cấu vốn quỹ đóng phù hợp với cả hoạt động đầu tư vào tài sản không lưuhoạt cũng như tài sản lưu hoạt và thường được sử dụng để đầu tư vào những nềnkinh tế, những thị trường mới nổi
Ngoài quỹ đầu tư chứng khoán dạng đóng và dạng mở, còn có thể thiết lập quỹđầu tư dạng mở không thường xuyên Đây là dạng quỹ đầu tư vừa có một số đặcđiểm của quỹ đóng, vừa có một số đặc điểm của quỹ mở
- Phân loại theo mức độ linh hoạt trong quản lý
Đứng trên góc độ này, quỹ đầu tư chứng khoán có thể được chia thành hai loạiquỹ đầu tư cố định và quỹ đầu tư linh hoạt
+ Quỹ đầu tư cố định là loại quỹ không cho phép người quản lý quỹ đượcquyển thay đổi các chứng khoán trong danh mục đầu tư của quỹ, ngoại trừ trườnghợp người phát hành chứng khoán nằm trong danh mục thay đổi tính chất hay quyềnhạn pháp lý của người sở hữu chứng khoán Danh mục đầu tư của quỹ được xácđịnh tại thời điểm thành lập quỹ
+ Quỹ đầu tư linh hoạt là loại quỹ đầu tư cho phép người quân lý quỹ có thểthay đổi các chứng khoán trong danh mục đầu tư đầu tư của quỹ nhằm tránh nhữngtổn thất có thể xảy ra đối với giá trị tài sản của quỹ
- Phân loại theo chủ thể thiết lập quỹ đầu tư
+ Quỹ đầu tư chứng khoán của Chính phủ và chính quyền các cấp: là các quỹđầu tư được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn ngân sách nhà nước nhằm thực hiệnđầu tư các công trình, dự án của Chính phủ hoặc chính quyền địa phương các cấptrên cơ sở chức năng quản lý, điều chỉnh, định hướng phát triển kinh tế của Nhànước
Trang 36+ Quỹ đầu tư chứng khoán của các tổ chức cá nhân: là quỹ đầu tư được hìnhthành từ nguồn tiền vốn của các chủ thể phi Nhà nước nhằm mục tiêu tối đa hóa lợiích.
- Quỹ đầu tư chứng khoán nước ngoài: là quỹ đầu tư được hình thành từ cácchủ thể có quốc tịch nước ngoài như các nhà đầu tư nước ngoài, các công ty nướcngoài, đầu tư vào nền kinh tế trong nước nhất là vào các nền kinh tế mới nổi, đangphát triển
- Phân loại theo mục đích đầu tư của quỹ
Đứng trên góc độ này, quỹ đầu tư chứng khoán thường bao gồm:
+ Quỹ đầu tư trên thị trường tiền tệ: là loại quỹ đầu tư trong đó mục đích đầu
tư tập trung vào các công cụ trên thị trường tiền tệ như các chứng chỉ tiền gửi, tínphiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc,
+ Quỹ đầu tư bất động sản: là loại quỹ tập trung đầu tư vào đất đại và các tàisản trên đất
+ Quỹ hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn: là loại quỹ đầu tư tập trung giaodịch các hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn trên thị trường bao gồm cả thịtrường hàng hóa thông thường và thị trường chứng khoán
+ Quỹ đầu tư chứng khoán
* Một số loại hình quỹ đầu tư cơ bản
- Quỹ tương hỗ
Quỹ tương hỗ là một dạng quỹ công chúng Thông thường, quỹ tương hỗ được
tổ chức ở dạng quỹ mở, do đó tổng vốn đầu tư của quỹ biến động hàng ngày Cácnhà đầu tư có thể nộp thêm tiền mua chứng chỉ quỹ hoặc rút vốn ra một cách dễ.Không có giới hạn về số nhà đầu tư hay số tiền vốn huy động của quỹ Quỹ tương
hỗ có một số đặc điểm ưu việt so với các loại quỹ đầu tư khác và chính những ưuthế này tạo nên sự thông dụng của quỹ tương hỗ:
+ Số tiền đầu tư không cần lớn;
Trang 37+ Có sự giám sát của các cơ quan chức năng đối với các quỹ công chúng;+ Cơ chế báo cáo thông qua giá trị thị trường ròng (NAV) và chỉ số sinh lời;
+ Các nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn loại quỹ tương hỗ tùy thuộc tiêu chí rủi ro và mục tiêu đầu tư;
+ Tính thanh khoản cao của chứng chỉ quỹ tương hỗ do đó nhà đầu tư cóthể ra vào bất cứ lúc nào, tạo sự linh động về tài chính cho nhà đầu tư.Mỗi quỹ tương hỗ có một chính sách đầu tư xác định, được đưa ra trong bảncáo bạch của quỹ Ví dụ, quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ thường nắm giữ các công
cụ đầu tư ngắn hạn, rủi thấp trên thị trường tiền tệ trong khi quỹ đầu tư trái phiếuthường nắm giữ các chứng khoán có thu nhập cố định Một số quỹ thậm chí còngiới hạn các loại công cụ đầu tư cụ thể hơn, chẳng hạn quỹ đầu tư trái phiếu sẽ nắmgiữ chủ yếu trái phiếu chính phủ, trong khi những quỹ khác có thể đầu tư chủ yếuvào trái phiếu được đảm bảo bởi các tài sản thế chấp là bất động sản
Các công ty quản lý thực hiện quản lý dưới hình thức “gia đình” hoặc “phứchợp” quỹ đầu tư tương hỗ Công ty quản lý thực hiện toàn bộ quy trình huy độngvốn và thu phí quản lý từ hoạt động của họ Bằng cách quản lý vốn huy động tậptrung, những công ty này có thể dễ dàng thực hiện phân bổ tài sản cho những nhàđầu tư vào các lĩnh vực khác nhau trên thị trường và thay đổi tài sản trong danhmục đầu tư trong khi vẫn đảm bảo quản lý tập trung danh mục đầu tư Một số công
ty quản lý quỹ đầu tư nổi tiếng như Fidelity, Vanguard, Putnam và Dreyfus Mỗicông ty này đưa ra hàng loạt các quỹ đầu tư mở có chính sách đầu tư khác nhau Cókhoảng hơn 8.000 quỹ đầu tư tương hỗ vào cuối năm 2001 được cung cấp bởi hơn
500 công ty đầu tư hỗn hợp khác nhau Một số loại hình quỹ tương hỗ thông dụngnhư sau:
+ Quỹ thị trường tiền tệ: Những quỹ đầu tư này đầu tư vào các chứng
Trang 38khoán của thị trưởng tiền tệ Đặc điểm của quỹ đầu tư thị trưởng tiền tệ là giá trị tàisản rồng thường cố định, chính vì vậy không có thuế trên lãi hoặc lỗ vốn liên quanđến việc mua lại cổ phiếu quỹ.
+ Quỹ cổ phiếu: Quỹ đầu tư cổ phiếu đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu, mặc dù quỹ
có thể nắm giữ chứng khoán có thu nhập cố định hoặc những loại chứng khoánkhác, phụ thuộc vào quyết định của nhà quản lý quỹ Quỹ đầu tư này thường nắmgiữ 4% đến 5% tổng giá trị tài sản trên thị trường tiền tệ để cung cấp tinh thanhkhoản cần thiết, đáp ứng nhu cầu mua lại cổ phiếu tiềm tàng
hông thường, quỹ đầu tư cổ phiếu được phân loại dựa trên đặc điểm mức lợivốn và thu nhập hiện hành Do đó, quỹ đầu tư thu nhập thường có xu hướng nắmgiữ cổ phiếu của công ty có tỷ suất cổ tức cao Quỹ đầu tư tăng trưởng thường sẵnsàng từ bỏ thu nhập hiện tại, thay vào đó sẽ tập trung vào triển vọng chênh lệch giáhoặc lợi vốn trong tương lai Trong khi việc phân loại những quỹ này được thựchiện dựa trên đặc điểm thu nhập và lợi vốn, bạn cũng cần phải chú ý rằng trên thực
tế mức rủi ro giữa những quỹ này cũng cần được xem xét Cổ phiếu tăng trưởng và
do đó, quỹ đầu tư tăng trưởng thường rủi ro hơn và phản ứng nhanh chóng trướcnhững biến động của các điều kiện kinh tế so với quỹ đầu tư thu nhập
Một số quỹ đầu tư cổ phiếu còn được gọi là quỹ đầu tư ngành, tập trung đầu tưvào một số ngành cụ thể Ví dụ, Fidelity đưa ra thị trường 12 loại quỹ đầu tư ngànhkhác nhau, trong đó mỗi quỹ đầu tư vào một ngành cụ thể như công nghệ sinh học,ngành tiện ích, xây dựng hoặc viễn thông Những quỹ khác chuyên về chứng khoáncủa một quốc gia cụ thể
+ Quỹ trái phiếu: Như tên gọi của quỹ này, quỹ đầu tư trái phiếu chuyên vềchứng khoán có thu nhập cố định Tuy nhiên, có rất nhiều loại quỹ đầu tư trái phiếukhác nhau trong cùng một lĩnh vực đầu tư Ví dụ, quỹ đầu tư trái phiếu chính phủ,quỹ đầu tư trái phiếu công ty, quỹ đầu tư trái phiếu chính
Trang 39quyền địa phương Một số loại quỹ đầu tư trái phiếu chính quyền địa phương cóthể sẽ chỉ đầu tư vào trái phiếu của một số thành phố hoặc bang nhất định để đápứng đủng yêu cầu đầu tư của nhà đầu tư thuộc bang đỏ – những người mong muốnđược miễn trừ thuế liên bang đối với phần trái tức nhận được từ trái phiếu này.Nhiều quỹ đầu tư cũng chuyên về một loại kỳ hạn đầu tư cụ thể, từ ngắn hạn đếntrung hạn và dài hạn, hoặc được phân loại theo mức độ rủi ro tín dụng của nhà pháthành, từ trái phiếu có độ an toàn cao đến trái phiếu có lợi suất đầu tư cao hay tráiphiếu được xếp loại đầu tư.
+ Quỹ đầu tư quốc tế: Nhiều quỹ đầu tư tập trung vào các thị trường chứngkhoán quốc tế Quỹ đầu tư toàn cầu đầu tư vào các loại chứng khoán khác nhau trênthế giới, bao gồm cả ở Mỹ Ngược lại, quỹ đầu tư quốc tế đầu tư vào cổ phiếu củacác công ty nằm bên ngoài nước Mỹ Quỹ đầu tư vùng tập trung vào một lãnh thổ
cụ thể trên thế giới và quỹ thị trường mới nổi đầu tư vào cổ phiếu của các công ty ởcác nước đang phát triển
+ Quỹ đầu tư cân bằng và quỹ đầu tư thu nhập: Một số quỹ đầu tư được xâydựng nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư của các cá nhân khác nhau Do đó, những quỹnày đầu tư hỗ hợp vào cả cổ phiếu và trái phiếu nhằm tạo ra một tỷ lệ thu nhập ổnđịnh nhất định Theo Wiesenberger, những quỹ đầu tư này được phân loại thànhquỹ đầu tư cân bằng hoặc quỹ đầu tư thu nhập Quỹ đầu tư thu nhập được xây dựngvới mục tiêu duy trì tỷ lệ an toàn nhất định gắn với dòng thu nhập hiện hành từ cáckhoản đầu tư, trong khi quỹ đầu tư cân bằng gắn với mục tiêu tối thiểu hóa rủi rođầu tư đến mức có thể mà không cần theo đuổi mục tiêu thu nhập hiện hành và tăngtrưởng dài hạn một cách quá chặt chẽ
+ Quỹ đầu tư phân bổ tài sản và quỹ đầu tư linh hoạt: Những quỹ đầu tư nàytương tự như quỹ đầu tư cân bằng, trong đó danh mục đầu tư của quỹ gồm cả cổphiếu và trái phiếu Tuy nhiên, quỹ đầu tư phân bổ tài sản có thể thay đổi đáng kể
tỷ lệ phân bổ các chứng khoán trong danh mục phụ thuộc vào dự đoán
Trang 40của các nhà quản lý danh mục đầu tư về các điều kiện của thị trường Do đó, nhữngquỹ này tham gia vào thị trường với những hạn chế về thời gian nhất định và khôngđược xây dựng hướng đến những công cụ có rủi ro thấp.
+ Quỹ đầu tư chỉ số: Một quỹ đầu tư chỉ số cố gắng mô phỏng theo kết quảhoạt động của một chỉ số chứng khoán trên thị trường Quỹ đầu tư mua các chứngkhoán theo chỉ số tương ứng với tỷ lệ chứng khoán đó trong danh mục đầu tư chỉ
số Đầu tư vào quỹ đầu tư chỉ số là một cách tiết kiệm chi phí cho nhà đầu tư theođuổi chiến lược đầu tư thụ động Do đó, nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư màkhông cần phân tích chứng khoán
Thông thường, tên của quỹ đầu tư sẽ cho biết chính sách đầu tư của quỹ đầu tư
đó Tuy nhiên, tên của các quỹ cổ phiếu thường ít phản ánh hoặc không phản ánh gìđến chính sách đầu tư của quỹ đó
Các công ty quản lý quỹ tương hỗ thường cung cấp cho nhà đầu tư rất nhiềuquỹ Việc giữ tiền trong tập hợp này giúp cho việc chuyển tiền giữa các quỹ được
dễ dàng hơn Mỗi quỹ tương hỗ thường được ấn định rõ mục tiêu hoạt động nhưquỹ tương hỗ chuyên đầu tư vào các nước đang lên, hay quỹ tương hỗ chuyên đầu
tư vào các công ty mới khởi nghiệp, Do có nhiều hình thức và mục tiêu khácnhau nên thế giới các quỹ loại này rất phong phú
Quỹ phòng hộ là thuật ngữ dùng để chỉ một chiến lược nhằm bù đắp những rủi
ro đầu tư Tại quỹ này, các nhà đầu tư ưa thích sự an toàn sẽ tham gia và sử dụngcác công cụ chứng khoán phái sinh (như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai,quyền chọn, hợp đồng hoán đổi ) để bảo vệ khoản tiền đầu tư của mình, chống lạinhững tăng trưởng không dự tính trước cũng như sự giảm giá hay lên giá đột ngộtcủa hàng hoá Ngày nay, các quỹ này liên tục xuất hiện, được điều hành bởi mộtcông ty đầu tư, huy động vốn của cổ đông rồi đầu tư vào các chứng khoán phái sinhnhằm hạn chế rủi ro Quỹ này hiện chưa phổ biến ở Việt Nam