SỞ LAO ĐỘNG TBXH TỈNH HÀ NAM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀ NAM GIÁO TRÌNH MÔN HỌC NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết định số 285QĐ CĐN ngày 21 tháng 7 n.GIÁO TRÌNH MÔN HỌC NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ NGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
Một số vấn đề chung về thống kê học
Sự ra đời và phát triển của thống kê học
Thống kê học ra đời và phát triển theo yêu cầu của xã hội, nhằm đáp ứng nhu cầu đo lường, phân tích và dự báo các hiện tượng tập thể ngày càng phức tạp Các nhà khoa học chuyên nghiên cứu sự hình thành và tiến trình của thống kê cho rằng sự ra đời của thống kê là một phản ứng của xã hội trước nhu cầu quản lý và hiểu biết ngày càng sâu sắc hơn về thực tế Để chứng minh cho nhận định này, người ta thường điểm lại lịch sử phát triển của xã hội loài người qua các thời kỳ, từ những xã hội sơ khai đến các nền văn minh hiện đại, nơi dữ liệu và số liệu ngày càng đóng vai trò then chốt trong quyết định và phát triển kinh tế - xã hội.
Thời kỳ cộng sản nguyên thủy là giai đoạn đầu của loài người, khi chưa có sản xuất và chưa hình thành sở hữu tư liệu sản xuất Của cải được cung cấp bởi thiên nhiên và thuộc về cộng đồng chung, không có sự tích lũy hay phân chia tư liệu sản xuất cho cá nhân Do con người lúc ấy chưa có tính toán kinh tế và nhu cầu thống kê chưa nảy sinh, nên các khái niệm và phương pháp đo lường thống kê chưa xuất hiện.
Thời kỳ chiếm hữu nô lệ là giai đoạn xã hội có sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, đất đai và nông nô, nơi sản xuất tạo dư thừa và của cải thuộc về chủ nô; chủ nô ghi chép và tính toán những tài sản thuộc quyền chiếm hữu của mình như ruộng đất, trâu bò, nhà cửa để quản lý và khai thác nguồn lực Các di tích cổ ở Trung Quốc, Hy Lạp, Ai Cập và La Mã cho thấy những ghi chép và tính toán này ban đầu có tính đơn giản, mang tính cộng dồn và giới hạn ở phạm vi nhỏ, có thể xem là công việc sơ khai của thống kê.
Thời kỳ phong kiến là giai đoạn sản xuất phát triển với lượng hàng hóa ngày càng nhiều và phạm vi chiếm hữu tư liệu sản xuất mở rộng đáng kể, nên yêu cầu tính toán kinh tế tăng lên và trở nên phức tạp hơn Sự mở rộng quy mô sản xuất và đa dạng hóa sản phẩm đòi hỏi một hệ thống quản lý và kế hoạch hóa chặt chẽ để phân bổ nguồn lực, tổ chức lao động và điều tiết trao đổi hàng hóa Những yếu tố này hình thành nền tảng cho sự phát triển kinh tế của thời kỳ phong kiến và tác động đến đời sống xã hội.
Các tài liệu cổ cho thấy hầu hết các nước châu Âu và châu Á đã tổ chức đăng ký kê khai về ruộng đất, nhân khẩu và tài sản, cho thấy tính chất thống kê của công tác này Khi sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển và nguồn sản phẩm dồi dào, nhu cầu trao đổi hàng hoá tăng lên và các ngành nghề thủ công được hình thành; từ đó công việc ghi chép mở rộng ra ngoài phạm vi của từng ngành, nhưng thống kê học vẫn chưa được hình thành ở thời kỳ ấy.
Thời kỳ tư bản chủ nghĩa cũ đánh dấu sự phát triển mạnh của lực lượng sản xuất, với sự xuất hiện của các ngành công nghiệp, giao thông vận tải và thương mại, khiến kinh tế xã hội ngày càng phức tạp và sự phân công lao động sâu sắc hơn Sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp trở nên gay gắt, đòi hỏi tổ chức xã hội phải theo dõi toàn diện các mặt kinh tế và chính trị để phục vụ cho giai cấp thống trị Vì vậy, người ta đã đi sâu nghiên cứu lý luận và phương pháp thu thập, tính toán tài liệu sao cho phản ánh đúng hiện tượng và giúp người làm công tác quản lý kinh tế, quản lý xã hội điều hành tốt các hoạt động của mình.
Cuối thế kỷ 17, một số tài liệu và sách báo về thống kê được xuất bản và nhiều trường đã bắt đầu giảng môn lý luận thống kê Năm 1660, H Cohring, một nhà kinh tế học người Đức, giảng tại Trường đại học Holmsted về phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa trên số liệu điều tra cụ thể Năm 1682, cuốn sách 'Số học chính trị' của William Petty, một nhà kinh tế học người Anh, mở đường cho việc áp dụng thống kê trong kinh tế và xã hội Năm 1759, G Achen Wall (1719- ) cũng có những đóng góp cho lĩnh vực này.
Vào năm 1772, giáo sư người Đức đã dùng từ 'statistik' và 'status' (thống kê) để nói về dữ liệu và trạng thái Trong thời kỳ này, sự phát triển của toán học, đặc biệt là lý thuyết xác suất, đã mạnh mẽ đóng góp và bổ sung các phương pháp tính toán và quản lý công việc cho các nhà thống trị Nhờ những tiến bộ này, thống kê và xác suất cung cấp công cụ đo lường, dự báo và phân tích dữ liệu để cải thiện quyết định và quá trình quản trị.
Trong bối cảnh lịch sử ấy, thống kê hình thành như một nhánh tri thức độc lập Thống kê xuất hiện vào cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18, gắn liền với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản cổ điển và nhu cầu quản lý xã hội bằng dữ liệu Chính nhờ các điều kiện của chủ nghĩa tư bản cũ, thống kê có cơ hội ra đời và ngày càng phát triển, từ việc ghi chép và đo lường dân số, kinh tế đến những phương pháp phân tích dữ liệu phục vụ quản trị và kinh doanh.
Trong xã hội có giai cấp, sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ rệt, và trong chiến tranh giữa các nước các cường quốc thường dùng các tài liệu thống kê như công cụ phục vụ cho lợi ích của giai cấp thống trị, nhằm xoa dịu đấu tranh giai cấp hoặc che giấu bí mật kinh doanh Những báo cáo thống kê do tầng lớp thống trị công bố thường thiếu tính trung thực và khách quan Từ đó, giai đoạn cuối của chủ nghĩa tư bản cũ (chủ nghĩa đế quốc) thống kê không phát huy được vai trò tiến bộ của mình.
Thời kỳ hình thành và phát triển của hệ thống XHCN được xây dựng trên quan điểm của CNXH nhằm giúp toàn dân hiểu đúng thực tế khách quan về sản xuất, kinh tế và xã hội để mỗi người có trách nhiệm đóng góp phần mình vào sự tiến bộ của xã hội Trong khuôn khổ ấy, CNXH đã tạo điều kiện cho khoa học thống kê phát huy tích cực vai trò của mình và ngày càng hoàn thiện về lý luận và phương pháp, nhờ đó có thể phản ánh đúng thực tế khách quan của xã hội và nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội.
- Ngày nay, do sự phát triển của xã hội loài người, do sự tiến triển của khoa học
Kỹ thuật hiện đại dựa trên khoa học thống kê ngày càng hoàn thiện về lý thuyết và phương pháp, làm nền tảng cho các quá trình phân tích và dự báo Thông tin nhanh chóng và phong phú hơn được khai thác nhờ các công cụ tổng hợp dữ liệu ngày càng mạnh mẽ Các phương pháp phân tích, đánh giá và dự báo ngày càng hiện đại, giúp rút ngắn thời gian ra quyết định và nâng cao độ chính xác, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các ngành công nghiệp và nghiên cứu.
Thống kê là công cụ mạnh mẽ nhất để nhận thức xã hội, giúp chúng ta hiểu rõ xu hướng, hiện tượng và hành vi của cộng đồng Tuy nhiên, tùy theo mục tiêu nghiên cứu và bối cảnh sử dụng mà giá trị và cách áp dụng của thống kê sẽ khác nhau, đòi hỏi sự lựa chọn phương pháp, dữ liệu và cách diễn giải phù hợp để phục vụ các mục tiêu từ đánh giá tình hình đến định hướng chính sách.
Ở Việt Nam, trong kháng chiến chống Pháp (1945-1954), ta đã dùng công tác thống kê với các thành tựu của khoa học thống kê thế giới để lên án chế độ thực dân, phong kiến và động viên toàn dân tham gia kháng chiến, giành thắng lợi Cùng với sự phát triển của đất nước, thống kê học ngày càng hoàn thiện ở Việt Nam về mạng lưới thống kê, phương pháp tổ chức và kỹ thuật tổng hợp, phân tích Tuy nền kinh tế nước ta còn bất ổn và phải chuyển hướng liên tục, thống kê học nước ta vẫn còn có những hạn chế nhất định.
Đối tượng nghiên cứu của thống kê học
Là mặt lượng trong mối liên hệ mật thiết với mặt chất của các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội số lớn diễn ra trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, trong những điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Đối tượng nghiên cứu của Thống kê học là các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội; Các hiện tượng và quá trình này bao gồm: + Các điều kiện của sản xuất và trình độ sản xuất: dân số, sức lao động, tài nguyên thiên nhiên, của cải quốc dân tích luỹ
+ Quá trình tái sản xuất xã hội qua các khâu: sản xuất, phân phối, và sử dụng sản phẩm xã hội
+ Ngoài ra nó còn nghiên cứu về đời sống và sinh hoạt của nhân dân: trình độ văn hoá, tình hình sức khoẻ, tình hình sinh hoạt chính trị, xã hội
Thống kê học nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội nhờ vào việc nghiên cứu các con số thực tế của hiện tượng đó, hay nói cách khác thống kê nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ chặt chẽ với mặt chất của một hiện tượng, một quá trình cụ thể, tức là sẽ thông qua những biểu hiện về số lượng, qui mô kết hợp quan hệ tỷ lệ, tốc độ phát triển để rút ra những kết luận về bản chất và tính qui luật của hiện tượng nghiên cứu, bởi vì mọi sự vật cũng như mọi hiện tượng sản xuất đều có mặt chất và mặt lượng không tách rời nhau Mặt lượng phản ánh qui mô, tốc độ phát triển trong nội bộ sự vật Ví dụ mặt lượng giúp ta nghiên cứu qui mô sản xuất của một xí nghiệp: có số công nhân là bao nhiêu, số sản phẩm sản xuất ra trong một ngày hoặc giúp ta nghiên cứu được kết cấu công nhân: bao nhiêu % công nhân làm tại khu vực/ chuyền/ tổ nào đấy, % công nhân có tay nghề theo các bậc thợ, v.v…
Chất của sự vật giúp nhận diện nó và phân biệt nó với các đối tượng khác, từ đó làm rõ bản chất của hiện tượng Nghiên cứu cấu hình máy tính, các chức năng của máy ảnh kỹ thuật số và thông tin về nhà sản xuất cho phép chúng ta ước đoán giá thành của sản phẩm một cách hợp lý Khi đề cập tới giá, ta có cái nhìn sơ lược về cấu hình máy và chức năng của các sản phẩm liên quan Như vậy, lượng và chất là một thể thống nhất: sự vật không thể có chất nếu thiếu lượng, và mỗi lượng lại là lượng của một chất nhất định.
Trong thống kê học, các hiện tượng được nghiên cứu phải là hiện tượng số lớn, là tổng thể của các hiện tượng cá biệt Hiện tượng cá biệt chịu tác động của nhiều nhân tố, có nhân tố bản chất và cũng có những nhân tố không bản chất, ngẫu nhiên; do đó chỉ thông qua việc phân tích một tập hợp lớn các hiện tượng, tác động của các nhân tố ngẫu nhiên mới được bù đắp và triệt tiêu, từ đó bản chất và quy luật của hiện tượng được thể hiện rõ nét hơn.
Các quy luật thống kê áp dụng cho một hiện tượng kinh tế - xã hội cụ thể chỉ đúng trong phạm vi nhất định và một thời kỳ cụ thể; chúng khác với quy luật tự nhiên ở chỗ không thể áp dụng ở mọi thời gian và địa điểm.
Từ những phân tích trên ta có thể kết luận rằng:
Thống kê học là một môn khoa học tập trung vào hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu số lượng của các hiện tượng có quy mô lớn nhằm khám phá bản chất và các quy luật vận động vốn có của chúng trong điều kiện không gian và thời gian xác định.
Cơ sở lý luận của thống kê học
Môn Thống kê học hình thành dựa trên nền tảng lý thuyết từ các môn khoa học thuộc chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác–Lênin và từ môn Kinh tế chính trị Mác–Lênin Chủ nghĩa duy vật lịch sử và Kinh tế chính trị học của Mác–Lênin là nền tảng lý luận cho việc nghiên cứu mặt lượng song song với mặt chất của hiện tượng ở mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các học thuyết kinh tế học cho phép so sánh, đối chiếu nhằm phản ánh một cách chính xác hơn nội dung của các phạm trù kinh tế cơ bản cũng như của hệ thống chỉ tiêu kinh tế.
Cơ sở phương pháp luận của thống kê học
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và lý thuyết xác suất thống kê là nền tảng phương pháp luận của thống kê học, định hình cách tiếp cận từ thu thập dữ liệu đến đánh giá các chỉ tiêu và phân tích các hiện tượng kinh tế - xã hội Lý thuyết xác suất thống kê chỉ ra các phương pháp thu thập số liệu, tính toán các chỉ tiêu và diễn giải dữ liệu nhằm rút ra các nhận định về hiện tượng kinh tế - xã hội Thống kê còn vận dụng các phương pháp toán học như số trung bình, số tương đối và số bình quân để xử lý dữ liệu một cách khách quan và có hệ thống.
Nhiệm vụ nghiên cứu của thống kê học
Nhiệm vụ của thống kê là xây dựng và hệ thống hóa hoàn chỉnh các khái niệm thống kê, các phương pháp thống kê và phương pháp tính toán các chỉ tiêu, đo lường các mức độ của hiện tượng kinh tế - xã hội cũng như sự biến động của nó nhằm phục vụ cho công tác ứng dụng trong quản trị, kinh doanh và nghiên cứu kinh tế Nhiệm vụ cụ thể bao gồm đề xuất và vận dụng các kỹ thuật thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu để xây dựng bộ chỉ tiêu phản ánh thực trạng và xu hướng, đảm bảo tính khách quan và đáng tin cậy của kết quả thống kê, đồng thời cung cấp thông tin hỗ trợ quyết định cho quản trị và nghiên cứu.
- Nghiên cứu hệ thống các phương pháp thống kê:
+ Tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng
+ Phân tích, dự đoán và ra quyết định
- Nghiên cứu các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội:
- Nghiên cứu sự biến động của hiện tượng kinh tế xã hội:
+ Chỉ số và hệ thống chỉ số
Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học
6.1 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể
Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị (hay phần tử) thuộc một hiện tượng nghiên cứu, là đối tượng cần quan sát, thu thập dữ liệu và phân tích mặt lượng theo một hoặc nhiều tiêu thức nhất định.
Khi nghiên cứu thời gian tự học của sinh viên một trường đại học hoặc của một tỉnh/thành phố nào đó, tổng thể thống kê được hiểu là toàn bộ sinh viên của trường ấy hoặc toàn bộ dân số của tỉnh/thành phố ấy Tương tự, để đo lường lòng trung thành của nhân viên trong một công ty, tổng thể thống kê là toàn bộ nhân viên đang công tác tại công ty đó Xác định đúng tổng thể thống kê là bước đầu quan trọng để lựa chọn mẫu đại diện và đảm bảo kết quả nghiên cứu phản ánh đúng thực tế.
Xác định đúng tổng thể thống kê là yếu tố then chốt trong mọi nghiên cứu thống kê, vì tổng thể xác định phạm vi và đối tượng nghiên cứu Nếu xác định không đúng tổng thể thống kê, tức là bao gồm cả những đơn vị không thuộc tổng thể thực tế, các kết luận rút ra sẽ bị lệch hướng và mục tiêu nghiên cứu không đạt được Việc phân loại tổng thể thống kê giúp xác định cách thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích và khả năng khái quát kết quả Sự chính xác trong xác định và phân loại tổng thể thống kê đóng vai trò nền tảng cho độ tin cậy và tính khái quát của các kết quả nghiên cứu thống kê.
Trong từng nghiên cứu, loại tổng thể ta xét có thể khác nhau tùy mục tiêu và phạm vi điều tra Tổng thể bộc lộ là tập hợp các đơn vị mà ta có thể quan sát hoặc nhận biết trực tiếp được, ví dụ như tổng thể nhân khẩu hoặc tổng thể các trường đại học Việt Nam Việc xác định và hiểu rõ tổng thể bộc lộ giúp chọn mẫu phù hợp, thu thập dữ liệu hiệu quả và rút ra các kết luận phản ánh đặc trưng của toàn thể một cách rõ ràng.
Tổng thể tiềm ẩn là tập hợp các đơn vị mà ta không thể quan sát trực tiếp; để xác định nó, ta phải thông qua một hoặc một số phương pháp trung gian Ví dụ, tổng thể những người thích thể thao, tổng thể những người uống cà phê vào buổi sáng, tổng thể những người ăn chay, và các nhóm tương tự.
Tổng thể đồng chất là một tập hợp các đơn vị có đặc điểm giống nhau ở một hoặc vài đặc điểm chủ yếu liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu Sự đồng nhất của các đặc điểm này giúp việc phân tích, so sánh và rút ra kết luận trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn khi tiến hành các phương pháp nghiên cứu, thí nghiệm hoặc khảo sát.
* Tổng thể không đồng chất: là tổng thể gồm các đơn vị khác nhau ở những đặc điểm chủ yếu liên quan đến mục đích nghiên cứu
Ví dụ, để nghiên cứu mức độ hài lòng của người tiêu dùng đối với sản phẩm Ti vi Sony, tổng thể gồm những người đã và đang sử dụng Ti vi Sony được xem là một tổng thể đồng nhất; còn tổng thể rộng hơn bao gồm cả những người chưa từng sử dụng Ti vi Sony là một tổng thể không đồng nhất và đòi hỏi các phương pháp khảo sát phù hợp để đánh giá mức độ hài lòng một cách khách quan.
Việc xác định một tổng thể là đồng chất hay không phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể Các kết luận rút ra từ nghiên cứu thống kê chỉ có ý nghĩa khi được thực hiện trên một tổng thể đồng chất, tức là tổng thể thống kê phải đảm bảo tính đồng nhất và có kích thước mẫu đủ lớn để duy trì tính số lớn và độ tin cậy của kết quả.
* Tổng thể chung: là tổng thể gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã được xác định
* Tổng thể bộ phận: là tổng thể chỉ bao gồm một số đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu đã được xác định
Ví dụ, để nghiên cứu điểm trung bình của các thí sinh tham dự kỳ thi đại học quốc gia và so sánh giữa các tỉnh thành, toàn bộ thí sinh tham dự kỳ thi tạo nên một tổng thể chung cho vấn đề nghiên cứu, trong khi mỗi thành phố hoặc tỉnh thành lại hình thành một tổng thể bộ phận riêng biệt Việc phân tích điểm trung bình theo khu vực giúp nhận diện xu hướng chung và sự khác biệt giữa các tỉnh thành, từ đó rút ra các kết luận về hiệu quả giáo dục ở mức độ địa phương cũng như toàn quốc.
Trong phân tích thống kê, tổng thể thống kê có thể hữu hạn hoặc vô hạn tùy thuộc vào phạm vi thực thể, thời gian và không gian được xem xét Ví dụ, tổng thể gồm những người hâm mộ bóng đá Việt Nam hoặc tổng thể những người dùng phương tiện xe buýt, hay lưu lượng xe máy lưu thông ở TP.HCM tại các khung giờ trong ngày Khi xác định tổng thể thống kê, ta phải giới hạn không chỉ về thực thể mà còn về thời gian và không gian mà tổng thể tồn tại Đơn vị tổng thể là các phần tử cấu thành tổng thể thống kê và ở mỗi trường hợp cụ thể, các đơn vị này là những phần tử không thể chia nhỏ hơn nữa; ví dụ trong tổng thể dân số mỗi người là một đơn vị, còn trong tổng thể xí nghiệp công nghiệp mỗi xí nghiệp là một đơn vị Đơn vị tổng thể là căn cứ quan trọng để xác định phương pháp điều tra, cách tổng hợp và áp dụng các công thức tính toán khi phân tích thống kê.
Tổng thể mẫu, hay còn gọi là mẫu, là tập hợp con bao gồm một số đơn vị được chọn từ tổng thể chung theo một phương pháp lấy mẫu nhất định nhằm tìm hiểu bản chất và quy luật của các đơn vị được chọn, từ đó suy rộng các kết quả cho toàn bộ tổng thể Việc xác định và chọn đúng mẫu giúp phân tích dữ liệu hiệu quả, tối ưu hóa chi phí thu thập thông tin và đảm bảo tính đại diện cho tổng thể trong các nghiên cứu.
Quan sát: là một đơn vị tổng thể hay một đơn vị mẫu cụ thể để tiến hành thu thập thông tin và số liệu cần nghiên cứu
Ví dụ về điều tra mức chi tiêu bình quân của các hộ gia đình trên một địa bàn nhất định cho thấy mỗi hộ được điều tra là một quan sát trong dữ liệu Việc thu thập thông tin từ từng hộ gia đình cho phép ước lượng mức chi tiêu trung bình của toàn địa bàn và phân tích sự biến động theo khu vực hoặc đặc tính của hộ Dữ liệu từ các quan sát này cung cấp các ước lượng thống kê cơ bản như trung bình, độ lệch chuẩn và phạm vi chi tiêu, giúp hình thành các so sánh có ý nghĩa giữa các nhóm hộ và khu vực Để tối ưu hóa khả năng tiếp cận và hiệu quả SEO, bài viết cần nêu rõ mục tiêu nghiên cứu, phương pháp lấy mẫu, kích thước mẫu và cách xử lý dữ liệu để người đọc và công cụ tìm kiếm dễ hiểu.
Tiêu thức (tiêu chí): là khái niệm chỉ đặc điểm của đơn vị tổng thể
Trong mỗi đơn vị tổng thể tồn tại một hoặc nhiều tiêu thức khác nhau Tùy theo mục đích nghiên cứu, người thực hiện sẽ chọn một số tiêu thức nhất định để làm nội dung điều tra, tổng hợp và phân tích thống kê Việc xác định và lựa chọn đúng tiêu thức giúp hệ thống hóa dữ liệu, nâng cao chất lượng phân tích và tăng tính khả thi của kết quả nghiên cứu.
Tiêu thức thuộc tính (dữ liệu định tính) là các tiêu thức phản ánh các thuộc tính bên trong của sự vật mà không thể biểu thị trực tiếp bằng con số, mô tả các đặc tính phi số như trạng thái, chất lượng hoặc bản chất của đối tượng Những tiêu thức này cần được mã hóa hoặc mô tả bằng từ ngữ thay vì đo lường bằng giá trị số, và đóng vai trò quan trọng trong phân tích dữ liệu để nhận diện và phân loại các đặc điểm phi số của hiện tượng hoặc đối tượng.
Ví dụ: Giới tính, thành phần giai cấp
+ Tiêu thức số lượng (dữ liệu định lượng): là những tiêu thức được biểu hiện ra trực tiếp bằng con số
Ví dụ: trọng lượng, tiền lương, tuổi
Các giá trị cụ thể khác nhau của tiêu thức số lượng được gọi là lượng bieán
Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh A là một chỉ tiêu định lượng dùng để ước lượng mức sống trung bình của người dân và đánh giá quy mô kinh tế của tỉnh, nhưng nó không phải đại lượng biến thiên chi tiết theo thời gian hay phản ánh từng trường hợp cá nhân Khi nói một cách đầy đủ, thu nhập bình quân cho thấy mức độ giàu có trung bình của cộng đồng, giúp so sánh giữa các tỉnh hoặc theo dõi xu hướng qua các năm, nhưng để có cái nhìn toàn diện cần bổ sung các chỉ số khác như sự phân phối thu nhập, chi phí sinh hoạt và thu nhập khả dụng Do đó, thu nhập bình quân đầu người đóng vai trò là một thước đo quan trọng trong phân tích kinh tế và chính sách, đồng thời cần được đặt trong bối cảnh và kết hợp với các biến số phụ trợ để diễn giải chính xác hơn.
2 triệu đồng/ tháng thì đây là lượng biến
Bảng thống kê và đồ thị thống kê
Sau khi tổng hợp các tài liệu điều tra thống kê, để phát huy tác dụng của kết quả tổng hợp trong giai đoạn phân tích thống kê, cần trình bày chúng theo hình thức thuận tiện cho việc sử dụng sau này Thông thường, kết quả tổng hợp được trình bày bằng bảng thống kê và đồ thị thống kê Bảng thống kê là hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách có hệ thống, hợp lý và rõ ràng nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu Đặc điểm chung của tất cả các bảng thống kê là luôn có các con số ở các phần riêng biệt và các con số này liên hệ mật thiết với nhau.
Bảng thống kê đóng vai trò thiết yếu trong mọi nghiên cứu kinh tế - xã hội nói chung và trong Phân tích thống kê nói riêng Những tài liệu được sắp xếp khoa học trong bảng thống kê cho phép tiến hành so sánh đối chiếu và phân tích theo nhiều phương pháp khác nhau nhằm nêu bật bản chất của hiện tượng nghiên cứu Việc trình bày và sử dụng bảng thống kê một cách thích hợp làm cho các chứng cứ trở nên sinh động và có sức thuyết phục khi chứng minh vấn đề.
Bảng thống kê có hình thức gồm hàng ngang, cột dọc, tiêu đề, tiêu mục và các con số; tiêu đề chung ghi tên gọi ngắn gọn, dễ hiểu nhưng phản ánh đầy đủ nội dung và ý nghĩa của bảng và được đặt ở phía trên đầu bảng; tiêu mục là tên riêng của từng hàng ngang và cột dọc, thường ngắn gọn, có thể chỉ là một từ như nam, nữ nhưng phải thể hiện rõ nội dung của hàng và cột; bảng phải nêu rõ đơn vị tính của các con số; nếu tất cả số liệu cùng đơn vị tính thì ghi ở đầu bảng bên phải với “đơn vị tính: …”; nếu không đồng nhất, ghi đơn vị theo dòng hoặc theo cột, nhưng phải nhất quán: ghi theo dòng thì tất cả các dòng phải hiển thị đơn vị, tuyệt đối không ghi theo cột, và ngược lại; các hàng và cột phản ánh quy mô của bảng và tạo thành các ô để điền số liệu; các hàng và cột được đánh số để tiện cho việc trình bày; các con số là kết quả của quá trình tổng hợp thống kê và được ghi vào ô, mỗi con số phản ánh một đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu; về nội dung, bảng thống kê gồm hai phần là phần chủ đề và phần giải thích, trong đó phần chủ đề nêu tổng thể hiện tượng được trình bày và cách phân chia thành các đơn vị hoặc bộ phận.
Trong bài 3 Trình bày dữ liệu thống kê STA302_Bai2_v1.0013109206, đối tượng nghiên cứu của bảng thống kê là các đơn vị đo lường và loại hình dữ liệu được trình bày; đôi khi chủ đề của bảng phản ánh địa phương hoặc thời gian nghiên cứu khác nhau của một hiện tượng Phần giải thích (còn gọi là phần tân từ) gồm các chỉ tiêu giải thích đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, tức là diễn giải phần chủ đề của bảng Phần chủ đề thường được đặt ở bên trái của bảng, còn phần giải thích nằm ở phía trên của bảng; đôi khi người ta đổi vị trí và để phần giải thích ở bên trái, phần chủ đề ở phía trên Cấu thành của bảng thống kê có thể được thể hiện bằng sơ đồ như sau: Bảng 3.2 … (Tiêu đề chung của bảng) Phần giải thích – Phần chủ đề; Tên chỉ tiêu (cột 1), Tên chỉ tiêu (cột 2), Tên chỉ tiêu (cột 3), … Tổng số (A) … (1) (2) (3) … (n); Tên chủ đề 1 (tên hàng 1) …; Tên chủ đề 2 (tên hàng 2) …; Tổng số (chung) …
Các loại bảng thống kê căn cứ vào cấu trúc phần chủ đề có thể chia thành ba loại: bảng giản đơn, bảng phân tổ và bảng kết hợp Bảng giản đơn liệt kê các đơn vị tổng thể, tên gọi các địa phương hoặc các thời gian khác nhau của quá trình nghiên cứu ở phần chủ đề Bảng phân tổ là bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu được phân chia thành các tổ theo một tiêu chí nào đó; kết quả là bảng phân tổ Bảng kết hợp là loại bảng thống kê trong đó đối tượng nghiên cứu được phân tổ theo hai hoặc ba tiêu chí kết hợp với nhau Loại bảng kết hợp như vậy giúp ta nghiên cứu sâu sắc bản chất của hiện tượng, đi vào cấu trúc nội bộ và làm rõ mối quan hệ giữa các tổ, bộ phận của hiện tượng trong quá trình phát triển.
Yêu cầu chung khi xây dựng bảng thống kê là đảm bảo bảng được thiết kế một cách khoa học để nó trở nên gọn, rõ và phục vụ mục đích nghiên cứu Một bảng thống kê khoa học trình bày dữ liệu một cách có hệ thống, làm nổi bật các biến quan trọng và hạn chế dư thừa thông tin, từ đó cho phép người đọc nắm bắt kết quả một cách nhanh chóng Bảng thống kê hiệu quả hỗ trợ quá trình phân tích và so sánh, tăng tính khả thi và độ tin cậy của nghiên cứu.
Để bảng thống kê hiệu quả, quy mô không nên quá lớn và có thể chia thành hai hoặc ba bảng nhỏ thay cho một bảng quá dày đặc; tiêu đề và tiêu mục phải ngắn gọn, chính xác và dễ hiểu, nêu rõ nội dung chủ yếu cùng thời gian và địa điểm mà các con số phản ánh Phần đơn vị tính toán nên được quy định chung cho toàn bộ bảng; nếu đơn vị tính không đồng nhất, cần quy định riêng cho từng hàng hoặc từng cột Các hàng và cột thường được ký hiệu bằng chữ hoặc bằng số, với các cột của phần chủ đề ký hiệu bằng chữ cái như A, B, C và các cột của phần giải thích ký hiệu bằng số như 1, 2, 3; tuy nhiên, với bảng có ít hàng và cột và nội dung đã rõ, việc ký hiệu có thể bỏ qua Các chỉ tiêu giải thích trong bảng cần được sắp xếp theo thứ tự hợp lý phù hợp với mục đích nghiên cứu Cách ghi số liệu trong bảng: các ô phải chứa số liệu hoặc ký hiệu quy ước như -, , x; các số trong cùng một hàng hoặc một cột phải có cùng đơn vị tính và độ chính xác nhất quán; số cộng và tổng có thể ghi ở đầu hoặc ở cuối hàng, cuối cột tùy theo mục đích nghiên cứu, và được đặt ở đầu khi nghiên cứu đặc trưng hiện tượng, hoặc ở cuối khi phân tích chi tiết từng bộ phận Phần ghi chú ở cuối bảng dùng để giải thích rõ nội dung một số chỉ tiêu, nêu nguồn số liệu và các chi tiết cần thiết khác.
7.2 Đồ thị thống kê a) Khái niệm, ý nghĩa:
Biểu đồ và đồ thị thống kê là các hình vẽ và đường nét hình học được dùng để mô tả có tính quy ước các số liệu thống kê, giúp trình bày dữ liệu một cách trực quan và súc tích Khác với bảng thống kê, biểu đồ và đồ thị kết hợp số liệu với hình ảnh, màu sắc và yếu tố đồ họa để tóm tắt và trình bày các đặc trưng nổi bật của hiện tượng nghiên cứu Chúng phản ánh khái quát cơ cấu dữ liệu, xu hướng biến động, mối liên hệ giữa các biến và các quan hệ so sánh giữa các nhóm, từ đó người đọc có thể nhận diện nhanh các mẫu và thông tin có ý nghĩa Nhờ đó, đồ thị và biểu đồ thống kê trở thành công cụ hỗ trợ phân tích dữ liệu, diễn giải hiện tượng và ra quyết định dựa trên trực quan và hiệu quả.
Việc sử dụng hình vẽ, đường nét và màu sắc để biểu hiện các đặc trưng của hiện tượng làm cho tài liệu thống kê trở nên sinh động và có sức hấp dẫn, giúp người xem nhận thức nhanh các biểu hiện và nắm bắt được những nội dung chủ yếu của vấn đề nghiên cứu Trong phần tiếp theo, b) Các loại đồ thị thống kê sẽ được trình bày một cách hệ thống để bạn có thể lựa chọn loại đồ thị phù hợp với mục đích phân tích và tăng tính trực quan cho bài viết.
* Theo nội dung phản ánh của đồ thị, có thể phân chia đồ thị thành các loại sau đây:
- Đồ thị xu hướng biến động
- Đồ thị mối liên hệ
- Đồ thị hoàn thành kế hoạch
* Theo hình thức biểu hiện, có thể chia đồ thị thành các loại:
- Đồ thị hình tròn Đồ thị đường gấp khúc
* Một số ví dụ về đồ thị thống kê:
Ví dụ 1 trình bày đồ thị hình tròn thể hiện cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo giá thực tế, được phân theo các ngành kinh tế Đồ thị 1 cho thấy cơ cấu GDP của Việt Nam qua hai năm 1990 và 2003, giúp người đọc so sánh đóng góp của từng ngành vào GDP và nhận diện những biến động cũng như xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thời gian.
(Niên giám thống kê 2003) Thí dụ 2: Đồ thị hình cột Đồ thị 2 Số hộ điều tra vay vốn từ các nguồn vay của Việt Nam năm 2003
(Điều tra hộ nông dân trên 7 vùng ĐHNNI Hà Nội - 2003)
Thí dụ 3: Đồ thị đường gấp khúc Đồ thị 3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc trên thế giới 1990 - 2003
(Nguồn: FAOSTAT, Agricultural Data, 24/5/2004) c) Những vấn đề chú ý khi xây dựng biểu đồ và đồ thị thống kê:
Yêu cầu của một đồ thị hay biểu đồ thống kê là chính xác, đầy đủ, dễ hiểu và thể hiện tính thẩm mỹ cao Do đó, khi xây dựng đồ thị thống kê cần chú ý các điểm sau: chọn loại biểu đồ phù hợp với dữ liệu và mục tiêu trình bày; đảm bảo nhãn trục, đơn vị đo và chú thích rõ ràng; công khai nguồn dữ liệu và đảm bảo tính chính xác của thông tin; trình bày đầy đủ các biến liên quan và tránh bỏ sót thông tin quan trọng; tăng cường sự dễ hiểu bằng cách tối giản chi tiết thừa, phối màu và ký hiệu thống nhất; bố cục gọn gàng, cân đối giúp người đọc nắm bắt nhanh ý chính và thể hiện thẩm mỹ trong thiết kế.
Việc lựa chọn đồ thị phù hợp với nội dung và tính chất của số liệu là yếu tố then chốt để diễn đạt hiệu quả Mỗi loại đồ thị có khả năng diễn đạt khác nhau và có thể làm nổi bật nhiều khía cạnh của dữ liệu, vì vậy cần chọn loại đồ thị dễ quan sát và phù hợp nhất với mục tiêu trình bày Ví dụ, khi mô tả cơ cấu của một hiện tượng, đồ thị hình tròn là sự lựa chọn thích hợp; ngược lại, khi muốn biểu diễn sự biến động theo thời gian của hiện tượng ấy, đồ thị đường gấp khúc hoặc đồ thị hình cột sẽ cho thấy xu hướng một cách trực quan hơn.
* Xác định quy mô của đồ thị cho thích hợp
Quy mô của đồ thị được thể hiện qua chiều dài, chiều rộng và mối quan hệ tỷ lệ giữa
Kích thước đồ thị phù hợp phụ thuộc vào mục đích sử dụng Đối với báo cáo phân tích, đồ thị không nên quá lớn để người xem dễ đọc và tập trung vào dữ liệu; ngược lại, đối với các ấn phẩm tuyên truyền, cổ động, đồ thị cũng không nên quá nhỏ để thông điệp và số liệu được truyền đạt một cách rõ ràng.
* Các thanh đo tỷ lệ cần thống nhất và chính xác
Đối với từng loại đồ thị, cần ghi đầy đủ dữ liệu, đơn vị đo lường và các thông tin về thời gian và không gian của hiện tượng nghiên cứu sao cho phù hợp Cần ghi chú rõ các ký hiệu và màu sắc quy ước được dùng trên đồ thị để người đọc dễ hiểu và tránh nhầm lẫn; việc trình bày nhất quán các ký hiệu và màu sắc cũng góp phần tăng tính trực quan và cải thiện tối ưu hóa nội dung cho SEO.
Trong thực tế vẽ đồ thị, người ta thường dùng các phần mềm máy tính và Excel được sử dụng khá phổ biến, rộng rãi và tiện lợi Excel có thể liên kết tốt với các phần mềm soạn thảo văn bản như Word, giúp chèn và trình bày đồ thị một cách dễ dàng trong tài liệu Vì vậy nên sử dụng Excel để vẽ đồ thị nhằm tối ưu hóa quy trình làm việc và nâng cao hiệu quả trình bày dữ liệu.
Câu 1: Trình bầy sự ra đời và phát triển của thống kê học
Câu 2: Nhiệm vụ của thống kê học là gì? Cơ sở phương pháp luận của thống kê học
Câu 3: Nêu một số khái niệm thường dùng trong thống kê học
Câu 4: Trình bầy bảng thống kê và đồ thị trong thống kê học
Quá trình nghiên cứu của thống kê
Điều tra thống kê
1.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê
Điều tra thống kê nhằm thu thập đầy đủ thông tin cần thiết về hiện tượng nghiên cứu làm cơ sở cho tổng hợp và phân tích Đối tượng của thống kê thường là các hiện tượng có quy mô lớn, phức tạp với nhiều đơn vị và yếu tố khác nhau, đồng thời luôn biến động theo thời gian và không gian Vì vậy, việc thu thập thông tin này rất phức tạp và đòi hỏi một kế hoạch tổ chức khoa học Do sự đa dạng, phong phú và phức tạp của đối tượng nghiên cứu, để đạt được mục tiêu nghiên cứu hoặc giải quyết các vấn đề đã được định trước, các cuộc điều tra thống kê phải được chuẩn bị chu đáo và thực hiện theo các nguyên tắc khoa học nhất định Điều tra thống kê là quá trình tổ chức có hệ thống việc thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện thời gian, không gian cụ thể Khi được tổ chức chặt chẽ theo các nguyên tắc khoa học, điều tra thống kê sẽ đáp ứng được nhiều yêu cầu về lý thuyết và thực tế, đồng thời cung cấp nền tảng cho tổng hợp và phân tích dữ liệu.
1.2 Các loại điều tra thống kê Điều tra thống kê có nhiều loại khác nhau, tùy theo mục đích nghiên cứu, đặc điểm của đối tượng điều tra và điều kiện thực tế mà người ta có thể sử dụng loại nào cho phù hợp Sau đây là một số cách phân loại điều tra chủ yếu: Điều tra thường xuyên và không thường xuyên
Dựa vào tính liên tục của việc thu thập thông tin, ta phân thành hai loại điều tra thống kê: điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên Điều tra thường xuyên là việc thu thập và ghi chép dữ liệu ban đầu của hiện tượng một cách liên tục, có hệ thống, thường theo dõi quá trình phát sinh và phát triển của hiện tượng Ví dụ điển hình bao gồm tổ chức chấm công lao động, theo dõi số công nhân đi làm hàng ngày tại các doanh nghiệp và ghi nhận số sản phẩm nhập, xuất kho hàng ngày Điều tra không thường xuyên là việc thu thập dữ liệu đầu vào của hiện tượng một cách không liên tục, không gắn với quá trình phát sinh và phát triển Loại điều tra này thường áp dụng cho những hiện tượng biến động ít hoặc biến động chậm và không cần theo dõi thường xuyên; chỉ khi có nhu cầu nghiên cứu, người ta mới tiến hành Có thể thực hiện ở phạm vi toàn bộ hoặc không toàn bộ.
Điều tra thống kê được phân thành hai loại dựa trên phạm vi đối tượng: điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ Điều tra toàn bộ hay tổng điều tra là quá trình thu thập tài liệu ban đầu trên toàn thể các đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu, không loại trừ bất kỳ đơn vị nào; ví dụ các cuộc tổng điều tra dân số được thực hiện vào ngày 1/4/1989, 1/4/1999 và 1/4/2009 ở nước ta Vì được thu thập trên toàn bộ hệ thống đơn vị nên điều tra toàn bộ là nguồn cung cấp dữ liệu đầy đủ nhất cho nghiên cứu thống kê, vừa làm cơ sở để tính các chỉ tiêu tổng hợp cho toàn thể vừa cung cấp số liệu chi tiết cho từng đơn vị Nhờ tính toàn diện và trực tiếp, điều tra toàn bộ có thể đáp ứng nhiều yêu cầu nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là để nắm bắt các hiện tượng ở mức cơ bản; tuy nhiên với các hiện tượng lớn và phức tạp, nó đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn, số lượng người tham gia đông đảo và thời gian thực hiện kéo dài.
Điều tra toàn bộ hiếm khi được tiến hành đầy đủ và thường chỉ giới hạn ở một số nội dung chủ yếu Điều tra không toàn bộ là quá trình thu thập tài liệu ban đầu từ một mẫu đơn vị được chọn trong toàn bộ các đơn vị thuộc tổng thể, nhằm ước lượng các đặc tính của tổng thể một cách hợp lý.
Căn cứ vào phương pháp lựa chọn các đơn vị để điều tra, có thể phân chia điều tra không toàn bộ thành 3 loại khác nhau:
Điều tra chọn mẫu là quá trình chọn ra một số đơn vị đại diện để điều tra thực tế Các đơn vị này được lựa chọn dựa trên các nguyên tắc khoa học nhằm đảm bảo tính đại diện cho tổng thể chung Kết quả điều tra từ mẫu được dùng để đánh giá và suy rộng cho toàn bộ hiện tượng.
Điều tra trọng điểm là phương pháp điều tra tập trung ở bộ phận chủ yếu nhất của tổng thể nhằm nắm bắt tình hình cơ bản của hiện tượng và phù hợp với những đối tượng có bộ phận tương đối tập trung, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể; kết quả thu được không được dùng để suy rộng thành đặc điểm của toàn bộ tổng thể, nhưng vẫn cung cấp cái nhìn khái quát về hiện trạng Ngược lại, điều tra chuyên đề tiến hành trên một số rất ít, hoặc thậm chí chỉ một đơn vị của tổng thể, nhưng đi sâu nghiên cứu nhiều khía cạnh của đơn vị đó để rút ra vấn đề cốt lõi và bài học kinh nghiệm chung phục vụ chỉ đạo phong trào; tài liệu thu được không được dùng làm căn cứ để đánh giá tình hình cơ bản của hiện tượng mà thường được dùng để nghiên cứu các vấn đề mới, học hỏi kinh nghiệm của các đơn vị tiên tiến hoặc phân tích nguyên nhân yếu kém của các đơn vị lạc hậu.
1.3 Các phương pháp điều tra thống kê Để thu thập các dữ kiện ban đầu, tùy theo nguồn kinh phí và đặc điểm của đối tượng cần thu thập thông tin, ta có thể sử dụng các phương pháp sau: a) Phương pháp trực tiếp
Phương pháp thu thập dữ liệu bằng quan sát là quá trình xem xét có hệ thống các hành vi, thái độ và hình thái của đối tượng được nghiên cứu trong các tình huống cụ thể Thông qua quan sát trực tiếp hoặc bằng công cụ ghi nhận hình ảnh, video và ghi chú, phương pháp này cho phép thu thập dữ liệu tự nhiên và khách quan về cách đối tượng biểu hiện hành vi và thể hiện thái độ trong bối cảnh thực tế Việc phân tích dữ liệu quan sát giúp nhận diện mẫu hành vi, mức độ tương tác và sự biến đổi hình thái của đối tượng, từ đó cung cấp những hiểu biết giúp giải thích hiện tượng nghiên cứu và xây dựng giả thuyết một cách chặt chẽ.
Quan sát thái độ của khách hàng khi dùng thử sản phẩm, cùng với việc theo dõi cách trưng bày hàng hóa và tìm hiểu giá cả tại các siêu thị, giúp hiểu rõ hành vi người tiêu dùng và từ đó tối ưu hóa chiến lược tiếp thị và bán hàng Dữ liệu từ những quan sát này có thể được dùng để điều chỉnh bố cục trưng bày, mức giá và chương trình khuyến mãi, từ đó nâng cao trải nghiệm mua sắm và tăng doanh số.
Phỏng vấn qua điện thoại là một hình thức thu thập thông tin phổ biến nhờ tính tiện lợi và nhanh chóng, giúp tiết kiệm thời gian cho cả người phỏng vấn và người được phỏng vấn Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này gồm chi phí tốn kém và nội dung thông tin thường bị hạn chế so với phỏng vấn trực tiếp, khiến dữ liệu thu được ít chi tiết và sâu sắc hơn Vì vậy, khi lên kế hoạch sử dụng phỏng vấn qua điện thoại cho nghiên cứu hoặc báo cáo, cần cân nhắc giữa lợi ích về thời gian và chi phí với giới hạn về chất lượng thông tin để đạt hiệu quả tối ưu.
Phỏng vấn trực tiếp là phương pháp thu thập thông tin chi tiết và phong phú thông qua tiếp xúc trực tiếp, đặc biệt phù hợp cho các khảo sát mức sống của các tầng lớp dân cư khi cần thu thập lượng dữ liệu lớn và có tính phức tạp cao Phương pháp này thường mang lại kết quả điều tra chính xác nhờ độ sâu, tính xác thực và tính đại diện của những gì người được phỏng vấn chia sẻ.
Phỏng vấn cá nhân: Tiếp xúc với đối tượng cung cấp thông tin tại nhà riêng hoặc tại nơi làm việc
Phỏng vấn nhóm là kỹ thuật nghiên cứu định tính giúp thu thập quan điểm từ một nhóm từ 6 đến 10 người để thảo luận về các đề tài như chất lượng sản phẩm và vấn đề quảng cáo, từ đó nắm bắt ý kiến đa chiều và đánh giá mức độ quan tâm của thị trường Bên cạnh đó, phương pháp gián tiếp được sử dụng như một lựa chọn bổ sung nhằm thu thập dữ liệu một cách kín đáo và giảm ảnh hưởng từ sự hiện diện của người phỏng vấn, từ đó bổ sung cái nhìn toàn diện cho nghiên cứu hoặc bài viết của bạn.
Gửi thư là phương pháp điều tra trong đó nhân viên điều tra gửi bảng câu hỏi tới đối tượng cung cấp thông tin qua đường bưu điện Phương pháp này có thể thu thập thông tin với khối lượng lớn và tiết kiệm chi phí, nhưng tỷ lệ trả lời tương đối thấp Muốn áp dụng phương pháp này có hiệu quả, cần có danh sách của đối tượng điều tra để gửi thư và quản lý quá trình thu thập dữ liệu.
* Ví dụ: Tiến hành điều tra thăm dò ý kiến khách hàng thông qua danh sách khách hàng đặt mua sản phẩm như vi tính, tạp chí
1.4 Các hình thức tổ chức điều tra thống kê a) Báo cáo thống kê định kỳ:
Đây là hình thức tổ chức thu thập dữ liệu ban đầu một cách thường xuyên và định kỳ, được thực hiện theo các quy định về hình thức, nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo đã quy định trước Mục tiêu của quy trình là đảm bảo dữ liệu được thu thập đầy đủ, chính xác và kịp thời, phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá và ra quyết định Việc chuẩn hóa các yếu tố như hình thức thu thập, nội dung và phương pháp giúp tăng tính tin cậy, dễ so sánh giữa các chu kỳ và bảo đảm tính nhất quán của dữ liệu sơ cấp Quá trình này đòi hỏi tuân thủ lịch trình, chuẩn hóa mẫu biểu và duy trì chế độ báo cáo phù hợp với yêu cầu quản lý, từ đó tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao chất lượng dữ liệu đầu vào.
Tổng hợp thống kê
2.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê
Tổng hợp thống kê là quá trình tập trung, chỉnh lý và hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu ban đầu thu được từ điều tra thống kê, nhằm biến các đặc trưng riêng biệt ở từng đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành những đặc trưng chung của toàn bộ hiện tượng.
Nhiệm vụ cốt lõi của tổng hợp thống kê là khái quát hóa các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị thành các đặc trưng chung của toàn tổng thể, từ đó chuyển các biểu hiện riêng của tiêu thức điều tra thành các biểu hiện chung về đặc điểm của hiện tượng được nghiên cứu.
2.2 Những vấn đề chủ yếu của tổng hợp thống kê a, Yêu cầu của tổng hợp thống kê
Xây dựng kế hoạch tổng hợp một cách khoa học là một công việc thống kê lớn và phức tạp, bắt đầu từ kiểm tra, đánh giá tài liệu điều tra, nhập dữ liệu và kiểm tra dữ liệu đã nhập, xác định các chỉ tiêu tổng hợp để làm rõ đặc trưng của từng bộ phận cũng như của toàn thể, xây dựng hệ thống biểu mẫu tổng hợp, chạy chương trình tính toán các chỉ tiêu và phân chia tổng thể thành các tổ có tính chất khác nhau; số đơn vị điều tra càng nhiều và nội dung điều tra càng phong phú thì công tác tổng hợp càng phức tạp và đòi hỏi quy trình quản lý dữ liệu chặt chẽ.
Dựa trên cơ sở phân tích lý luận để lựa chọn các chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa Các hiện tượng mà thống kê nghiên cứu, nhất là các hiện tượng kinh tế - xã hội luôn tồn tại trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau Hầu hết các mối quan hệ này đã được đúc rút, tổng kết thành những lý luận khoa học nhất định Tuy nhiên, trong mỗi điều kiện lịch sử cụ thể, biểu hiện về lượng của các mối liên hệ này không hoàn toàn giống nhau, trong khi vẫn tuân theo các quy luật đã được đúc kết Tiến hành phân tích lý luận để tìm ra chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa chẳng những giúp ta tìm được những chỉ tiêu tổng hợp phù hợp với mục đích nghiên cứu, tránh được tình trạng thừa hoặc thiếu chỉ tiêu cho việc phân tích sau này, đảm bảo tính khoa học của các chỉ tiêu tổng hợp, lại vừa tiết kiệm được thời gian, công sức trong quá trình tổng hợp và phân tích
Việc phân tích lý luận dựa trên điều kiện lịch sử cụ thể cho phép xác định chính xác hệ thống các chỉ tiêu cần tổng hợp đầy đủ và đúng đắn về mặt lý luận Trên cơ sở đó, nội dung tổng hợp được xây dựng có hệ thống, tập trung làm rõ các yếu tố lý thuyết, thiết lập mối quan hệ giữa chúng và cung cấp nền tảng vững chắc cho việc tổng hợp, diễn giải và ứng dụng trong thực tiễn nghiên cứu.
Nội dung tổng hợp là danh mục các biểu hiện của những tiêu thức được xác định trong nội dung điều tra, được chọn lọc để bảo đảm nội dung tổng hợp vừa đủ đáp ứng mục đích nghiên cứu Cụ thể, nội dung tổng hợp ghi nhận các biểu hiện của tiêu thức điều tra và phân chia theo từng biểu hiện thành các nhóm khác nhau nhằm phản ánh các cơ cấu đa dạng phù hợp với mục đích nghiên cứu và với hình thức tổ chức của nội dung tổng hợp.
Có hai hình thức tổ chức tổng hợp thống kê chủ yếu: Tổng hợp từng cấp và tổng hợp tập trung
Quy trình tổng hợp từng cấp là quá trình tổ chức tổng hợp tài liệu điều tra ở từng cấp theo kế hoạch đã được vạch sẵn, bắt đầu từ cấp dưới và lên cấp trên Các cơ quan phụ trách tổng hợp ở mỗi cấp tiến hành tổng hợp trong phạm vi được phân công, sau đó gửi kết quả lên cấp cao hơn để tổng hợp ở phạm vi rộng hơn Theo trình tự này, cuối cùng các tài liệu được gửi về trung ương để tiến hành tổng hợp lần cuối và tính ra các chỉ tiêu chung phản ánh tình hình toàn bộ hiện tượng nghiên cứu Tổng hợp từng cấp thường được áp dụng trong báo cáo thống kê định kỳ và một số cuộc điều tra chuyên môn.
Tổng hợp tập trung là quá trình tập trung toàn bộ tài liệu điều tra về một nơi để tiến hành tổng hợp từ đầu đến cuối Nhờ sử dụng các phương tiện và công cụ tính toán hiện đại, tổng hợp tập trung cho phép tính toán nhanh chóng và chính xác các chỉ tiêu phức tạp, từ đó giảm thiểu công việc thủ công Thực tế, hai hình thức tổ chức tổng hợp có thể được kết hợp với nhau để phù hợp với yêu cầu nghiên cứu Theo yêu cầu của các cấp, cơ quan tổng hợp trung ương giao cho các cấp tổng hợp một số chỉ tiêu đáp ứng yêu cầu trước mắt, sau đó gửi kết quả và toàn bộ tài liệu về cơ quan tổng hợp trung ương để tổng hợp theo kế hoạch đã định Với hình thức này, kết quả tổng hợp phục vụ kịp thời cho các cấp và trung ương.
Phân tích và dự báo thống kê
Phân tích và dự đoán thống kê là giai đoạn cuối cùng của quá trình nghiên cứu thống kê, nhằm tổng hợp và diễn giải kết quả dựa trên dữ liệu đã thu thập Đây là một lĩnh vực rộng lớn, bao gồm nhiều nội dung và phương pháp khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và bối cảnh áp dụng Trong phạm vi bài viết này, chúng ta chỉ đề cập đến những vấn đề lý luận chung nhất của phân tích thống kê để làm căn cứ và điều kiện cho các nội dung, phương pháp cụ thể sẽ được trình bày ở các bài sau.
3.1 Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tích và dự báo thống kê
Phân tích và dự báo thống kê là quá trình tổng hợp dữ liệu và các biểu hiện của hiện tượng kinh tế - xã hội, nhằm làm rõ lượng, bản chất và tính quy luật của các quá trình trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể Quá trình này xác định các mức độ và biến thiên của hiện tượng để từ đó xây dựng các mô hình dự báo cho tương lai và các kịch bản phát triển Nhờ vậy, người làm thống kê có thể nhận diện xu hướng, đánh giá tác động và hỗ trợ quyết định trong bối cảnh kinh tế - xã hội luôn biến động.
Phân tích và dự đoán thống kê là quá trình vận dụng các phương pháp so sánh, đối chiếu, liên kết và tính toán trên số liệu thu được từ điều tra và tổng hợp thống kê nhằm xác định mức độ, nêu lên sự biến động và các quy luật, biểu hiện tính chất và trình độ chặt chẽ của mối liên hệ giữa các hiện tượng, đồng thời dự đoán xu hướng phát triển trong tương lai Khác với các loại phân tích khác, phân tích và dự đoán thống kê dựa trên số liệu thống kê làm tư liệu, lấy các biểu hiện về lượng làm căn cứ và dùng các phương pháp thống kê làm công cụ để rút ra các kết luận có căn cứ.
3.2 Những vấn đề chủ yếu của phân tích và dự báo thống kê a, Các yêu cầu của phân tích và dự đoán thống kê
Phân tích và dự đoán thống kê phải dựa trên một cơ sở khoa học nhất định; để đảm bảo cơ sở này, các bước phân tích và dự đoán thống kê cần tuân thủ các yêu cầu cơ bản nhằm tăng tính khách quan, độ tin cậy và khả năng tái lập của kết quả.
Phân tích thống kê phải tiến hành trên cơ sở phân tích lý luận kinh tế - xã hội và mối quan hệ giữa mặt lượng với mặt chất của hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội; thống kê nghiên cứu mặt lượng liên hệ mật thiết với thực chất của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể, thuộc phạm vi thống kê kinh tế xã hội Vì vậy, khi muốn vận dụng các phương pháp phân tích và dự báo để xác định các chỉ tiêu nói lên bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, thống kê cần dựa trên phân tích lý luận sâu sắc và toàn diện đối với đối tượng nghiên cứu Việc kết hợp giữa khung lý thuyết và dữ liệu thực tiễn giúp làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố, từ đó nâng cao tính đúng đắn và khả năng dự báo của các phương pháp phân tích thống kê kinh tế xã hội.
Phân tích thống kê và phân tích lý luận có mối liên hệ mật thiết với nhau: phân tích lý luận làm cơ sở cho phân tích thống kê bằng cách định hình giả thuyết và khung phân tích, trong khi kết quả của phân tích thống kê lại là luận chứng cho sự chính xác của phân tích lý luận và góp phần làm cho phân tích lý luận ngày càng phát triển, hoàn thiện và mạnh mẽ hơn.
- Phân tích thống kê phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện và phân tích trong sự liên hệ ràng buộc lẫn nhau giữa các hiện tượng
Nghiên cứu thống kê là nghiên cứu quy luật lượng của hiện tượng Để tìm ra bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, người ta dựa trên cơ sở dữ liệu số lượng lớn và tổng hợp toàn bộ sự thật thu được Tuyệt đối không được tùy tiện chọn ra vài hiện tượng cá biệt để phân tích và rút ra kết luận Chỉ khi các yếu tố ngẫu nhiên được bù trừ và triệt tiêu, bản chất quy luật phát triển mới được thể hiện một cách chính xác, các nguyên nhân gây thay đổi hiện tượng được làm sáng tỏ Bởi các hiện tượng thống kê thường phức tạp và tồn tại trong mối quan hệ tác động lẫn nhau, việc phân tích thống kê phải đặt hiện tượng được nghiên cứu trong bối cảnh mối liên hệ với các hiện tượng khác.
- Đối với các hiện tượng có tính chất và hình thức phát triển khác nhau phải áp dụng các phương pháp phân tích thống kê khác nhau
Trong thống kê có nhiều phương pháp phân tích khác nhau, mỗi phương pháp có đặc điểm riêng, tác dụng riêng và đi kèm với ưu nhược điểm cũng như điều kiện vận dụng riêng Vì vậy, không thể áp dụng một phương pháp duy nhất cho mọi tình huống và trong một trường hợp cụ thể cũng không thể dùng tất cả các phương pháp phân tích Để phân tích và dự đoán hiệu quả, cần xem xét mục tiêu nghiên cứu, loại dữ liệu và hoàn cảnh thực tế để chọn phương pháp phân tích phù hợp, đồng thời nhận diện giới hạn của từng phương pháp.
Trong thống kê, có nhiều phương pháp phân tích và dự báo khác nhau, mỗi phương pháp mang đặc điểm riêng, tác dụng rõ ràng và có những ưu nhược điểm cùng với điều kiện vận dụng cụ thể Việc hiểu và so sánh các đặc điểm này sẽ giúp chọn được công cụ phù hợp cho từng bài toán và mục tiêu nghiên cứu Nội dung chi tiết về từng phương pháp sẽ được trình bày ở các bài viết tiếp theo trên website/blog này.
Câu 1: Nêu khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của điều tra thống kê
Câu 2: Điều tra thống kê bằng các phương pháp nào
Câu 3: Nêu khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của tổng hợp thống kê
Câu 4: Trình bầy những vấn đề chủ yếu của phân tích và dự báo thống kê