1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP NGÀNHNGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

117 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình môn học: Thống kê doanh nghiệp
Tác giả Đinh An Linh
Trường học Trường Cao Đẳng Nghề Hà Nam
Chuyên ngành Kế Toán Doanh Nghiệp
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Vai trò của thông tin thống kê đối với quản lý doanh nghiệp (10)
    • 1.1. Vai trò của thông tin thống kê đối với quá trình hình thành và phát doanh nghiệpError! Bookmark not defined. 1.2. Nguồn thông tin phục vụ quản lý doanh nghiệp ........ Error! Bookmark not defined. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của thống kê doanh nghiệpError! Bookmark not defined. 3. Phương pháp luận của thống kê doanh nghiệp ............. Error! Bookmark not defined. 4. Nhiệm vụ công tác thống kê doanh nghiệp .................. Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG 2: THỐNG KÊ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT CỦA DN (0)
  • 1. Những khái niệm cơ bản (14)
    • 1.1. Hoạt động sản xuất và hoạt động sản xuất kinh doanh (14)
    • 1.2. Khái niệm về kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp (15)
    • 1.3. Các dạng biểu hiện kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp (15)
    • 1.4. Đơn vị biểu hiện kết quả sản xuất của doanh nghiệp (0)
    • 1.5. Những nguyên tắc chung tính kết quả sản xuất kinh doanh (17)
  • 2. Hệ thống chỉ tiêu thống kê sản xuất của doanh nghiệp và phương pháp tính (0)
    • 2.1. Chỉ tiêu hiện vật của doanh nghiệp (17)
    • 2.2. Giá trị sản xuất (17)
    • 2.3. Chi phí trung gian (18)
    • 2.4. Chỉ tiêu giá trị gia tăng (19)
    • 2.5. Giá trị gia tăng thuần của doanh nghiệp (19)
    • 2.6. Doanh thu bán hàng (20)
    • 2.7. Doanh thu thuần (20)
    • 2.8. Lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp (21)
  • 3. Thống kê chất lượng sản phẩm (22)
  • 4. Phương pháp phân tích thống kê nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (23)
  • CHƯƠNG 3: THỐNG KÊ NGUYÊN LIỆU VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP (9)
    • 1. Ý nghĩa và nhiệm vụ của thống kê nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất (29)
      • 1.1. Khái niệm, phân loại nguyên liệu vật liệu (0)
      • 1.2. Ý nghĩa và nhiệm vụ của thống kê nguyên vật liệu trong doanh nghiệp (0)
    • 2. Thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất (0)
      • 2.1. Các chỉ tiêu thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu (32)
      • 2.2. Kiểm tra, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch cung cấp nguyên vật liệu (35)
    • 3. Thống kê dự trữ nguyên vật liệu dùng cho sản xuất (0)
      • 3.2. Chỉ tiêu lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên (36)
      • 3.3. Chỉ tiêu lượng vật tư dự trữ bổ sung (37)
      • 3.4. Chỉ tiêu lượng dự trữ vật liệu bảo hiểm cho sản xuất (38)
      • 3.5. Chỉ tiêu lượng nguyên vật liệu dự trữ theo thời vụ (38)
    • 4. Thống kê tình hình sử dụng nguyên vật liệu (39)
      • 4.1. Các chỉ tiêu thống kê tình hình sử dụng nguyên vật liệu (39)
      • 4.2. Kiểm tra, phân tích tình hình sử dụng nguyên vật liệu (0)
      • 4.3. Phân tích mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm (0)
  • CHƯƠNG 4: THỐNG KÊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP (48)
    • 1. Ý nghĩa, nhiệm vụ của thống kê tài sản cố định trong doanh nghiệp (0)
      • 1.1. Khái niệm, phân loại tài sản cố định (48)
      • 1.2. Ý nghĩa của thống kê tài sản cố định (51)
      • 1.3. Nhiệm vụ của thống kê tài sản cố định (51)
    • 2. Thống kê khối lượng và kết cấu tài sản cố định (0)
      • 2.1. Thống kê khối lượng tài sản cố định (0)
      • 2.2. Thống kê kết cấu tài sản cố định ................................ Error! Bookmark not defined. 3. Thống kê tình hình biến động cà hiệu quả sử dụng của tài sản cố định (53)
      • 3.1. Thống kê tình hình tăng, giảm tài sản cố định (53)
      • 3.2. Thống kê hiện trạng tài sản cố định (0)
      • 3.3. Thống kê hiệu quả sử dụng tài sản cố định (0)
    • 4. Thống kê thiết bị trong sản xuất (56)
      • 4.1. Thống kê số lượng thiết bị trong sản xuất (56)
      • 4.2. Thống kê thời gian thiết bị sản xuất (56)
      • 4.3. Thống kê năng suất thiết bị sản xuất (57)
      • 4.4. Thống kê sử dụng tổng hợp thiết bị sản xuất (57)
  • CHƯƠNG 5: THỐNG KÊ LAO ĐỘNG, NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP (61)
    • 1. Thống kê lao động trong doanh nghiệp (61)
      • 1.1. Ý nghĩa, nhiệm vụ của thống kê lao động trong doanh nghiệp (61)
      • 1.2. Thống kê số lượng lao động trong doanh nghiệp (62)
      • 1.3. Thống kê tình hình sử dụng thời gian lao động (64)
    • 2. Thống kê năng suất lao động trong doanh nghiệp (0)
      • 2.1. Ý nghĩa, nhiệm vụ của thống kê năng suất lao động trong doanh nghiệp (68)
      • 2.2. Phương pháp xác định năng suất lao động (68)
      • 2.3. Thống kê sự biến động của năng suất lao động (0)
    • 3. Thống kê tiền lương trong doanh nghiệp (70)
      • 3.1. Ý nghĩa, nhiệm vụ của thống kê tiền lương trong doanh nghiệp (70)
      • 3.2. Chỉ tiêu tiền lương bình quân (70)
      • 3.3. Phân tích sự biến động của tổng quỹ lương (70)
      • 3.4. Phân tích mối quan hệ giữa tốc độ tăng tiền lương bình quân và tốc độ tăng năng suất lao động (71)
  • CHƯƠNG 6: THỐNG KÊ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP (72)
    • 1. Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm (72)
      • 1.1. Chi phí sản xuất và phân loại chi phí sản xuất (72)
      • 1.2. Giá thành sản phẩm và phân loại giá thành sản phẩm (73)
    • 2. Ý nghĩa, nhiệm vụ thống kê giá thành sản phẩm (74)
    • 3. Thống kê giá thành sản phẩm so sánh được (75)
      • 3.1. Chỉ số giá thành thực tế (75)
      • 3.2. Chỉ số giá thành kế hoạch (76)
    • 4. Thống kê giá thành cho một đồng sản lượng hàng hoá (0)
      • 4.1. Khái niệm và cách xác định giá thành cho một đồng sản lượng hàng hoá (77)
      • 4.2. Phân tích giá thành cho một đồng sản lượng hàng hoá (78)
    • 5. Phân tích giá thành theo khoản mục chi phí (79)
      • 5.1. Phân tích sự biến động khoản mục chi phí NVL ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm (0)
      • 5.2. Phân tích sự biến động khoản mục chi phí tiền lương ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm (81)
      • 5.3. Phân tích sự biến động khoản mục chi phí sản xuất chung ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm (83)
  • CHƯƠNG 7: THỐNG KÊ CÁC HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT (85)
    • 1. Thống kê vốn cố định (85)
      • 1.1. Chỉ tiêu mức vốn cố định (85)
      • 1.2. Chỉ tiêu hiệu suất vốn cố định (86)
      • 1.3. Các phương pháp điều tra thống kê (89)
    • 2. Thống kê vốn lưu động (92)
      • 2.1. Chỉ tiêu mức vốn lưu động (92)
      • 2.2. Chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động (0)
    • 3. Thống kê kết quả sản xuất kinh doanh (0)
      • 3.1. Thống kê tổng doanh thu của doanh nghiệp (100)
      • 3.2. Thống kê lợi nhuận của doanh nghiệp........................ Error! Bookmark not defined. 3.3. Thống kê doanh lợi của doanh nghiệp (100)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (117)

Nội dung

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH SỞ LAO ĐỘNG TBXH TỈNH HÀ NAM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀ NAM GIÁO TRÌNH MÔN HỌC THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP NGÀNHNGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG Ban hành kèm theo Quyết địn.GIÁO TRÌNH MÔN HỌC THỐNG KÊ DOANH NGHIỆP NGÀNHNGHỀ KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

Vai trò của thông tin thống kê đối với quản lý doanh nghiệp

Những khái niệm cơ bản

Hoạt động sản xuất và hoạt động sản xuất kinh doanh

Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là quá trình sáng tạo ra sản phẩm vật chất và cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội đồng thời hướng tới mục tiêu kiếm lời và tạo lợi nhuận bền vững Quá trình này không chỉ tạo ra giá trị kinh tế cho doanh nghiệp mà còn đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng thông qua việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu Để đạt được hiệu quả, doanh nghiệp cần đổi mới công nghệ, tối ưu quản trị và quản lý chuỗi cung ứng, từ đó tăng cường năng lực cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động Trong bối cảnh thị trường ngày càng phức tạp, sự nhạy bén với nhu cầu của người tiêu dùng và khả năng thích ứng nhanh là yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động sản xuất kinh doanh.

Thành phẩm, hay sản phẩm hoàn thành, là những mặt hàng đã được chế tạo xong trong phạm vi một doanh nghiệp, tức là đã kết thúc giai đoạn sản xuất nội bộ Sau khi được kiểm nghiệm chất lượng, thành phẩm được nhập kho để chuẩn bị cung cấp cho xã hội, đáp ứng nhu cầu của khách hàng và yêu cầu thị trường.

Nửa thành phẩm (bán thành phẩm) là những sản phẩm đã hoàn thành một hoặc nhiều giai đoạn sản xuất, phù hợp quy cách và đúng tiêu chuẩn quy định Đây là trạng thái trung gian của quá trình chế biến, nơi sản phẩm đã được kiểm tra và đảm bảo các yêu cầu chất lượng ở từng công đoạn trước khi hoàn thiện hoặc đóng gói cuối cùng Việc nhận diện và quản lý nửa thành phẩm giúp tối ưu quy trình sản xuất, kiểm soát tồn kho và đảm bảo sản phẩm cuối cùng đáp ứng các quy định về chất lượng và quy cách mà thị trường và khách hàng mong đợi.

Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa sản xuất hoặc đang chế biến trong một giai đoạn nào đó của chu kỳ sản xuất ở doanh nghiệp.

Khái niệm về kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp

Để có quyết định thành lập doanh nghiệp một cách có căn cứ, cần xây dựng luận chứng kinh tế – kỹ thuật dựa trên các thông tin quan trọng; bao gồm ý nghĩa và tác dụng của sản phẩm, cũng như kết quả dịch vụ đối với nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của cá nhân và xã hội, và được lượng hóa bằng các số liệu thống kê cụ thể về nhu cầu hiện tại, nhu cầu dài hạn và thời gian có thể tồn tại của sản phẩm mà doanh nghiệp dự định sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thương mại Những thông tin này giúp định lượng quy mô thị trường, xu hướng tiêu dùng và nguồn lực cần thiết để đánh giá tính khả thi và chọn chiến lược tối ưu cho dự án.

Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh quyết định sự sống còn của doanh nghiệp Mỗi doanh nghiệp cần nắm chắc thông tin về khả năng kinh doanh và mức chiếm lĩnh thị trường của chính mình cũng như của đối thủ cạnh tranh để xây dựng chiến lược và tăng cơ hội chiến thắng trên thị trường.

Thông tin về quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất, nguồn sản phẩm và dự báo nhu cầu cùng tình hình tiêu thụ hiện tại và tương lai giúp xác định định hướng sản phẩm và tối ưu quy trình sản xuất, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường Bên cạnh đó, thông tin về cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn, lao động và nguyên vật liệu là nền tảng để hình thành và phát triển doanh nghiệp, đảm bảo nguồn lực cho hoạt động sản xuất và mở rộng quy mô Các chỉ số chi phí, doanh thu, dự tính mức lời, khả năng thanh toán nợ và hiệu quả kinh doanh là căn cứ quyết định sự tồn tại và tăng trưởng của doanh nghiệp trong tương lai, giúp đánh giá khả năng sinh lời và mức độ bền vững của hoạt động kinh doanh.

Các dạng biểu hiện kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp

Tiêu thức thống kê là các đặc điểm cơ bản nhất của đơn vị tổng thể Ví dụ, nghiên cứu về lớp CD12KT2 phải nghiên cứu nơi sinh, giới tính, độ tuổi và các biến liên quan khác Khi nghiên cứu tổng thể thống kê, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, chọn ra 1 tiêu thức để thu thập thông tin ban đầu.

Tiêu thức thống kê được phân thành các loại:

- Tiêu thức thuộc tính: là tiêu thức phản ánh tính chất hay loại hình của đơn vị tổng thể, không biểu hiện trực tiếp bằng các con số

Ví dụ: tiêu thức giới tính, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, dân tộc, tôn giáo… là các tiêu thức thuộc tính

- Tiêu thức số lượng: là tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng con số Bao gồm:

+ Lượng biến rời rạc: là lượng biến mà các giá trị có thể có của nó là hữu hạn hay vô hạn đếm được

Ví dụ: số công nhân trong một doanh nghiệp, số sản phẩm sản xuất trong một ngày của một phân xưởng…

+ Lượng biến liên tục: là lượng biến mà các giá trị có thể có của nó có thể lấp kín cả một khoảng trên trục số

Ví dụ: trọng lượng, chiều cao của sinh viên; năng suất của một loại cây trồng…

- Tiêu thức nguyên nhân: là tiêu thức tác động tạo ra kết quả theo quy luật biến động thuận hoặc nghịch

Ví dụ: năng suất làm việc của công nhân…

- Tiêu thức kết quả: là tiêu thức chịu tác động của tiêu thức nguyên nhân

Ví dụ: giá thành sản phẩm

- Tiêu thức thời gian: là tiêu thức biểu hiện độ dài thời gian nghiên cứu

1.4 Đơn vị biểu hiện kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Chỉ tiêu thống kê là những tiêu chí được biểu thị bằng số, phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu và quan hệ tỷ lệ của hiện tượng kinh tế - xã hội trong phạm vi không gian và thời gian xác định.

- Mỗi chỉ tiêu thống kê đều gồm các thành phần:

+ Khái niệm: bao gồm định nghĩa và giới hạn về thuộc tính

+ Mức độ của chỉ tiêu: các thang đo khác nhau phản ánh quy mô, tốc độ phát triển, cơ cấu, quan hệ tỷ lệ của hiện tượng nghiên cứu

+ Đơn vị tính của chỉ tiêu

Ví dụ: Tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2009 là 5,32%

+ Khái niệm (mặt chất): tốc độ tăng trưởng GDP

+ Thời gian, không gian: năm 2009, Việt Nam

+ Mức độ của chỉ tiêu: 5,32

+ Đơn vị tính của chỉ tiêu: %

Căn cứ vào nội dung, chỉ tiêu thống kê gồm:

+ Chỉ tiêu chất lượng: biểu hiện các tính chất, tốc độ phát triển, trình độ phổ biến, mối quan hệ của tổng thể

Ví dụ: giá bán đơn vị sản phẩm, tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm và cung cấp dịch vụ…

+ Chỉ tiêu số lượng: biểu hiện quy mô, khối lượng của tổng thể

Ví dụ: số lượng sản phẩm tiêu thụ.

Hệ thống chỉ tiêu thống kê sản xuất của doanh nghiệp và phương pháp tính

Chỉ tiêu hiện vật của doanh nghiệp

Chỉ tiêu này phản ánh khối lượng sản phẩm quy đổi từ các sản phẩm có cùng tên gọi và công dụng kinh tế, nhưng khác nhau về công suất và quy cách đóng gói của cùng một loại Sản phẩm được chọn làm chuẩn là loại đã được xác định bằng hệ số đổi (hệ số tính đổi), nhằm quy đổi các mẫu có đặc tính khác nhau về kích thước và công suất về một đơn vị chuẩn để so sánh và tính toán một cách nhất quán.

Hệ số tính đổi được xác định theo công thức:

Hệ số tính đổi (H) là thước đo dùng để quy đổi giữa đặc tính của sản phẩm cần quy đổi với đặc tính của sản phẩm được chọn làm sản phẩm chuẩn Đặc tính của sản phẩm cần quy đổi được xác định rõ ràng, trong khi đặc tính của sản phẩm chuẩn làm cơ sở để so sánh và hiệu chỉnh các tham số, nhằm bảo đảm tính nhất quán trong quy trình quy đổi Sản lượng hiện vật quy ước của một loại sản phẩm được tính bằng công thức dựa trên hai đặc tính này và các tham số liên quan để quy đổi giữa các loại sản phẩm.

Sản lượng hiện vật quy ước = ∑Q x H

Q: Sản lượng theo từng thứ hạng, quy cách tính bằng hiện vật

Giá trị sản xuất

Giá trị sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh toàn bộ giá trị của sản phẩm vật chất và dịch vụ được tạo ra bởi hoạt động sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Chỉ số này cho thấy quy mô và tiềm lực của khu vực công nghiệp, bao gồm giá trị hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra, từ đó làm cơ sở so sánh giữa các kỳ, giữa các ngành và giữa các vùng Việc theo dõi giá trị sản xuất công nghiệp giúp đánh giá mức tăng trưởng, đóng góp của ngành công nghiệp vào nền kinh tế và hướng đi phát triển dài hạn cho doanh nghiệp và quốc gia.

Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm:

- Giá trị công việc có tính chất công nghiệp làm cho bên ngoài,

- Giá trị phụ phẩm, phế phẩm, phế liệu thu hồi trong quá trình sản xuất,

- Giá trị hoạt động cho thuê tài sản cố định, máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp,

- Giá trị chênh lệch số dư cuối kỳ so với số dư đầu kỳ của bán thành phẩm và sản phẩm dở dang

GO = YT1 +YT2 + YT3 + YT4 + YT5 Trong đó:

- Yếu tố 1: Giá trị thành phẩm

- Yếu tố 2: Giá trị công việc có tính chất công nghiệp làm cho bên ngoài (hay còn gọi giá trị hoạt động dịch vụ công nghiệp)

- Yếu tố 3: Giá trị phụ phẩm, thứ phẩm, phế phẩm, phế liệu thu hồi trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm:

- Yếu tố 4: Giá trị hoạt động cho thuê tài sản cố định, máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp

-Yếu tố 5: Giá trị chênh lệch cuối kỳ so với đầu kỳ của bán thành phẩm, sản phẩm dở dang.

Chi phí trung gian

Giá trị thành phẩm là các sản phẩm được sản xuất từ nguyên vật liệu của doanh nghiệp và của khách hàng mang đến để gia công Những sản phẩm này phải hoàn thành đầy đủ tất cả các giai đoạn sản xuất trong doanh nghiệp, tuân thủ đúng tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng đã được quy định, và sau khi được nhập kho thành phẩm sẽ được bán ra ngoài.

Giá trị bán thành phẩm, vật bao bì đóng gói, công cụ dụng cụ và phụ tùng thay thế khi không còn được doanh nghiệp tiếp tục chế biến sẽ được bán ra ngoài hoặc cung cấp cho các bộ phận không tham gia sản xuất công nghiệp Việc chuyển giao những hàng hóa này giúp tối ưu hóa tồn kho và đảm bảo nguồn lực được sử dụng hiệu quả trong các hoạt động doanh nghiệp.

+ Giá trị sản phẩm phụ hoàn thành trong kỳ

Trong một số ngành công nghiệp đặc thù, không có thủ tục nhập kho như sản xuất điện, nước sạch, hơi nước và nước đá; việc tính toán giá trị được thực hiện theo sản lượng thương phẩm hoặc sản lượng thực tế đã tiêu thụ Đối với giá trị thành phẩm sản xuất từ NVL của khách hàng, chỉ tính phần chênh lệch giữa giá trị thành phẩm và giá trị NVL khách hàng cung cấp (nguyên vật liệu).

Chỉ tiêu giá trị gia tăng

Giá trị công việc có tính chất công nghiệp làm cho bên ngoài (hay còn gọi giá trị hoạt động dịch vụ công nghiệp)

Công việc có tính chất công nghiệp là một hình thái của sản phẩm công nghiệp, được thiết kế nhằm khôi phục hoặc tăng giá trị sử dụng của sản phẩm mà vẫn giữ nguyên giá trị ban đầu Quá trình này nhấn mạnh vai trò của các hoạt động công nghiệp trong việc tối ưu hóa lợi ích cho người dùng mà không làm thay đổi bản chất của sản phẩm.

Giá trị công việc có tính chất công nghiệp được ghi nhận vào giá trị sản xuất của doanh nghiệp chỉ khi đó là giá trị của công việc mang tính chất công nghiệp được thực hiện cho các đơn vị bên ngoài hoặc cho các bộ phận khác không tham gia vào hoạt động sản xuất công nghiệp nội bộ Nói cách khác, các công việc mang tính chất công nghiệp phục vụ bên ngoài hoặc phục vụ những bộ phận không thuộc phạm vi hoạt động sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp sẽ được đưa vào giá trị sản xuất, còn những hoạt động sản xuất nội bộ liên quan đến công nghiệp sẽ được xử lý riêng.

Phụ phẩm là sản phẩm được tạo ra cùng với sản phẩm chính trong quá trình sản xuất công nghiệp Chúng phát sinh khi các quy trình tách, tinh lọc hoặc chuyển đổi nguyên liệu tạo ra một phần sản phẩm phụ tương ứng Phụ phẩm có thể ở dạng chất thải, hoặc có giá trị kinh tế tùy thuộc vào ngành nghề và cách quản lý, và thường được tái chế, tận dụng hoặc xử lý để tối ưu nguồn lực Ví dụ trong sản xuất đường, sản phẩm chính là đường, phụ phẩm là rỉ đường (nước mật).

+Thứ phẩm là những sản phẩm không đủ tiêu chuẩn chất lượng, không được nhập kho thành phẩm

+ Phế phẩm là sản phẩm sản xuất ra hỏng hoàn toàn không thể sửa chữa được

+ Phế liệu thu hồi trong quá trình sản xuất.

Giá trị gia tăng thuần của doanh nghiệp

Các loại sản phẩm thuộc yếu tố 3 không phải là mục đích trực tiếp của quá trình sản xuất mà chỉ là sản phẩm thu hồi phát sinh trong quá trình sản xuất Do đó, các quy định chỉ áp dụng cho phần yếu tố 3 đã tiêu thụ và thu tiền.

Yếu tố này chỉ phát sinh khi máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp không được sử dụng mà cho thuê cho bên ngoài, bất kể có công nhân vận hành hay không Vì giá cho thuê không cố định, yếu tố này được tính dựa trên doanh thu thực tế từ hoạt động cho thuê trong kỳ và được đưa vào yếu tố 4 trong hệ thống đánh giá hiệu quả sản xuất và tài chính.

Trong thực tế sản xuất, yếu tố 5 chiếm tỷ trọng không đáng kể trong giá trị sản xuất của phần lớn ngành công nghiệp Việc tính toán yếu tố này rất phức tạp, do đó quy định thống kê yếu tố 5 chỉ được áp dụng đối với ngành cơ khí và chế tạo máy có chu kỳ sản xuất dài.

Doanh thu bán hàng

Doanh thu bán hàng (doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ)

Doanh thu là biểu hiện bằng tiền của tổng giá trị các loại sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán ra trong một thời kỳ nhất định; đây là bộ phận chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và phản ánh quy mô, hiệu quả cũng như sức cạnh tranh trên thị trường.

Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 bao gồm:

+ Doanh thu bán hàng: Bán sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hoá mua vào và bán bất động sản đầu tư;

Doanh thu từ cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi công việc đã được thực hiện theo hợp đồng trong một kỳ hoặc nhiều kỳ kế toán, bao gồm các lĩnh vực như vận tải, du lịch, cho thuê TSCĐ theo phương thức cho thuê hoạt động và doanh thu từ hợp đồng xây dựng.

Hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh là phạm trù tổng hợp, đòi hỏi doanh nghiệp triển khai đồng bộ nhiều biện pháp Để nâng cao hiệu quả kinh tế, doanh nghiệp phải tăng cường và cải thiện mọi hoạt động bên trong, từ nâng cao năng lực quản trị và điều hành cho sản xuất kinh doanh đến tối ưu hoá quy trình làm việc Đồng thời, doanh nghiệp cần thích ứng với biến động thị trường bằng cách liên tục đổi mới và cải thiện các hoạt động nội bộ, từ quản trị chi phí, quản lý chất lượng đến tối ưu nguồn lực nhằm tăng trưởng bền vững.

Doanh thu thuần

Doanh thu phát sinh trong kỳ được khách hàng chấp nhận thanh toán có hoá đơn, chứng từ hợp lệ theo quy định hiện hành

Doanh thu phải hạch toán bằng đồng Việt Nam; trường hợp thu bằng ngoại tệ, phải quy đổi sang đồng Việt Nam theo tỷ giá của ngân hàng nơi doanh nghiệp mở tài khoản giao dịch.

Thời điểm xác định doanh thu

Đó là thời điểm công ty đã chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua, hoàn tất việc cung cấp dịch vụ và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng, đồng thời xuất hoá đơn bán hàng cho người mua.

Đối với sản phẩm, hàng hóa bán thông qua đại lý, doanh thu được xác định khi hàng hóa gửi cho đại lý đã được bán ra Đối với các hoạt động tài chính, thời điểm xác định doanh thu được tuân theo các quy định sau.

Trong quản trị tài chính, các loại lãi phổ biến gồm lãi cho vay, lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, lãi từ tín phiếu, lãi bán hàng trả chậm hoặc trả góp và tiền bản quyền Những khoản lãi này được xác định theo thời gian của hợp đồng liên quan đến cho vay, cho thuê, bán hàng hoặc kỳ hạn nhận lãi, nhằm đảm bảo tính minh bạch và nhất quán trong kế toán và quản lý dòng tiền của doanh nghiệp.

+ Cổ tức, lợi nhuận được chia, xác định khi có nghị quyết hoặc quyết định chia

Trong kỳ, lãi chuyển nhượng vốn, lãi bán ngoại tệ và chênh lệch tỷ giá từ hoạt động kinh doanh được ghi nhận khi các giao dịch hoặc nghiệp vụ hoàn tất, nhằm đảm bảo báo cáo tài chính phản ánh đúng kết quả và biến động tiền tệ Việc xác định các khoản lãi này phụ thuộc vào thời điểm kết thúc giao dịch hoặc hoàn thành nghiệp vụ, từ đó thể hiện chính xác lợi nhuận từ chuyển nhượng vốn và từ hoạt động ngoại hối trong kỳ.

+ Chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại nợ phải thu, nợ phải trả và số dư ngoại tệ, xác định khi báo cáo tài chính cuối năm.

Lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp

Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đây là khoản chênh lệch giữa doanh thu thu được và chi phí đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó, phản ánh mức độ sinh lời của từng hoạt động và toàn bộ doanh nghiệp Lợi nhuận cho thấy hiệu quả quản trị chi phí, tối ưu hóa hoạt động kinh doanh và là chỉ số quan trọng để đánh giá tình hình tài chính, sức cạnh tranh và định hướng chiến lược phát triển trong tương lai.

Lợi nhuận = Doanh thu - Chi phí tạo ra doanh thu Ý nghĩa của chỉ tiêu lợi nhuận:

+ Lợi nhuận giữ vị trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp

Lợi nhuận là nguồn tài chính quan trọng giúp doanh nghiệp đảm bảo tăng trưởng ổn định và vững mạnh, đồng thời đóng vai trò là nguồn thu chủ lực cho ngân sách nhà nước (NSNN) Việc duy trì lợi nhuận bền vững cho phép doanh nghiệp mở rộng quy mô, đầu tư đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Lợi nhuận tích lũy từ hoạt động doanh nghiệp cũng đóng góp vào nguồn thu của NSNN, hỗ trợ chi tiêu công, phát triển hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, quản trị lợi nhuận hiệu quả là cầu nối giữa sự phát triển của doanh nghiệp và sự ổn định của nền kinh tế quốc gia.

+ Lợi nhuận là nguồn lực tài chính để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp

+ Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Đối với hàng hóa bán trả góp, doanh thu được ghi nhận theo giá bán trả một lần (không bao gồm lãi trả chậm) và lãi trả chậm được phân bổ vào doanh thu tài chính theo hợp đồng; đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, doanh thu được tính theo giá bán của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ nhận về; đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để biếu tặng, tiêu dùng nội bộ, doanh thu được tính theo giá thành sản xuất hoặc giá vốn hàng hóa, dịch vụ; đối với tài sản cho thuê đã thu tiền trước nhiều năm, doanh thu từng năm được phân bổ theo số năm cho thuê; đối với việc nhận bán hàng đại lý, doanh thu là hoa hồng đại lý; đối với hoạt động dịch vụ ủy thác xuất nhập khẩu, doanh thu là phí ủy thác đơn vị được hưởng; đối với đơn vị nhận gia công vật tư, hàng hóa, doanh thu là số tiền gia công thực tế được hưởng, không bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa nhận gia công; đối với sản phẩm giao khoán trong nông, lâm trường, doanh thu là số tiền phải thu trong hợp đồng, trường hợp thu bằng sản phẩm thì chỉ tính doanh thu sau khi đã bán sản phẩm; đối với sản phẩm xây lắp thi công trong nhiều năm, doanh thu là giá trị phải thu tương ứng với khối lượng công việc, hạng mục công trình hoàn thành trong năm được chấp nhận thanh toán.

Thống kê chất lượng sản phẩm

Đối với trường hợp doanh nghiệp sản xuất một loại sản phẩm

- Xác định đơn giá bình quân từng kỳ theo công thức:

P: Đơn giá cố định của từng loại sản phẩm q: Khối lượng sản phẩm sản xuất

∑q: Tổng khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ

- Tính mức độ ảnh hưởng của chất lượng sản phẩm thay đổi đến giá trị sản xuất:

Trong đó: q1: Khối lượng sản phẩm sản xuất thực tế Đối với trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm Áp dụng công thức:

THỐNG KÊ NGUYÊN LIỆU VẬT LIỆU TRONG DOANH NGHIỆP

Ý nghĩa và nhiệm vụ của thống kê nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất

- Phân tích được các chỉ tiêu thống kê dự trữ nguyên vật liệu dùng cho sản xuất

- Trình bày được nội dung thống kê tình hình sử dụng nguyên vật liệu

- Thống kê và phân tích được tình hình cung cấp, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

- Đưa các giải pháp sử dụng hợp lý nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

- Có thái độ nghiêm túc trong học tập

1 Ý nghĩa và nhiệm vụ của thống kê nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất

1.1 Khái niệm và phân loại nguyên vật liệu

Khái niệm: Đối tượng lao động trong các DN sản xuất gồm 2 bộ phận hợp thành:

Đối tượng lao động của ngành khai thác là các tài nguyên thiên nhiên chưa bị tác động bởi con người, như quặng nằm sâu trong lòng đất, gỗ trong rừng và cá quanh vùng biển Đây là nguồn lực mà các doanh nghiệp khai thác để phát triển sản phẩm và hoạt động kinh doanh.

+ Nguyên vật liệu các loại:

Kết quả sản xuất của các ngành công nghiệp khai thác, nông nghiệp và công nghiệp chế biến như sắt, thép; than, gỗ; các loại hải sản đã khai thác, đánh bắt; bông, đay, cói và các loại nông sản đã thu hoạch là đối tượng lao động của các doanh nghiệp chế biến, đóng vai trò làm nguồn nguyên liệu cho quá trình sản xuất và chế biến tiếp theo, đồng thời thúc đẩy chuỗi giá trị và hiệu quả của nền công nghiệp.

Phân loại nguyên vật liệu là quá trình sắp xếp các loại nguyên vật liệu thành các nhóm theo các tiêu chí nhất định nhằm phục vụ cho công tác quản lý Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc thù riêng trong sản xuất và kinh doanh, do đó sử dụng các loại nguyên vật liệu khác nhau về số lượng và tỷ trọng; việc phân loại phù hợp giúp tối ưu hóa tồn kho, mua sắm và chi phí sản xuất.

Căn cứ vào yêu cầu quản lý nguyên vật liệu: nguyên vật liệu bao gồm:

Nguyên liệu, vật liệu chính là những loại nguyên vật liệu tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, kinh doanh và hình thành nên thực thể của sản phẩm Toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu được chuyển vào giá trị sản xuất, kinh doanh trong kỳ.

Vật liệu phụ là một loại nguyên vật liệu được sử dụng trong quá trình sản xuất để tăng chất lượng sản phẩm, hoàn chỉnh sản phẩm hoặc phục vụ cho công tác quản lý sản xuất Những vật liệu này không cấu thành nên thực thể của sản phẩm cuối cùng nhưng đóng vai trò hỗ trợ quan trọng trong các hoạt động như gia công, kiểm tra chất lượng, đóng gói và tối ưu quy trình sản xuất Việc quản lý hiệu quả vật liệu phụ giúp nâng cao năng suất, giảm lãng phí và chi phí sản xuất, đồng thời đảm bảo sự nhất quán về chất lượng của sản phẩm.

Nhiên liệu là các loại chất có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình sản xuất, kinh doanh và phục vụ cho công nghệ sản xuất, vận tải và công tác quản lý Nhiên liệu có thể tồn tại ở thể lỏng như xăng, dầu; ở thể rắn như than, củi; ở thể khí như gas, tùy thuộc vào mục đích sử dụng và hệ thống đốt Với sự đa dạng về thể tồn tại, nhiên liệu là nguồn năng lượng quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ, đảm bảo hoạt động sản xuất và vận hành được diễn ra hiệu quả.

+ Phụ tùng thay thế: Là những loại nguyên vật liệu dùng để thay thế, sửa chữa máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, công cụ, dụng cụ,

Thiết bị xây dựng cơ bản là các nguyên vật liệu và dụng cụ được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản, bao gồm cả thiết bị cần lắp và thiết bị không cần lắp, cùng với công cụ, khí cụ và vật kết cấu dùng để lắp đặt cho công trình xây dựng.

Phế liệu là các loại nguyên vật liệu được thải ra từ quá trình sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp Những phế liệu này có thể được tái sử dụng cho các hoạt động sản xuất khác hoặc được bán ra thị trường, mang lại lợi ích tiết kiệm nguồn lực và gia tăng giá trị cho doanh nghiệp.

Căn cứ vào mục đích và công dụng của nguyên vật liệu: nguyên vật liệu chia làm:

+ Nguyên vật liệu dùng cho sản xuất sản phẩm

+ Nguyên vật liệu dùng cho phục vụ quản lý sản xuất

+ Nguyên vật liệu dùng cho bộ phận bán hàng

+ Nguyên vật liệu dùng cho bộ phận quản lý doanh nghiệp

Căn cứ vào nguồn gốc, xuất xứ nguyên vật liệu: nguyên vật liệu được chia thành 2 loại:

+ Nguyên liệu, vật liệu mua ngoài

+ Nguyên liệu, vật liệu tự chế biến, gia công

1.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ thống kê nguyên vật liệu trong doanh nghiệp

Để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra đều đặn và liên tục, doanh nghiệp cần đảm bảo cung cấp đầy đủ và dự trữ các loại nguyên vật liệu và năng lượng với số lượng phù hợp, thời hạn giao hàng đúng tiến độ và chất lượng đạt yêu cầu Việc thống kê tình hình cung cấp, dự trữ và sử dụng nguyên vật liệu có ý nghĩa quan trọng trong quản trị sản xuất và hiệu quả hoạt động của DN, giúp tối ưu chu trình sản xuất, quản lý tồn kho và giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng.

- Phản ánh tình hình cung cấp dự trữ nguyên vật liệu, đảm bảo cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Phân tích mức tiêu hao nguyên vật liệu cho mỗi đơn vị sản phẩm giúp doanh nghiệp đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu Thông qua đó, doanh nghiệp nhận diện các trường hợp tiêu hao tiết kiệm để phát huy nguồn lực và tối ưu chi phí, đồng thời phát hiện lãng phí để đưa ra biện pháp khắc phục kịp thời, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất và quản lý vật liệu.

- Phản ánh hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu trong sản xuất của DN

Thống kê nguyên vật liệu cần thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch cung cấp nguyên vật liệu và đối chiếu với tình hình sản xuất kinh doanh cũng như mức dự trữ nguyên vật liệu trong kho để có báo cáo kịp thời cho bộ phận thu mua Việc so sánh giữa kế hoạch và thực tế giúp nhận diện sớm các biến động nguồn vật tư và tồn kho, từ đó đánh giá mức độ đáp ứng nhu cầu sản xuất Đồng thời, báo cáo đi kèm với đề xuất biện pháp khắc phục phù hợp nhằm đảm bảo chu trình sản xuất không bị gián đoạn và tối ưu hóa mức tồn kho Quá trình này nâng cao khả năng dự báo và quản lý nguyên vật liệu, tăng tính chủ động và giảm thiểu rủi ro thiếu hụt.

Thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất

Để đảm bảo chuỗi cung ứng ổn định, cần thống kê và phân tích tình hình dự trữ, đặc biệt chú trọng các loại nguyên vật liệu chủ yếu, NVL chiến lược và NVL theo mùa vụ Việc nhận diện rõ ràng tình hình cung ứng của từng nhóm NVL giúp xây dựng kế hoạch thu mua và dự trữ phù hợp với nhu cầu sản xuất, tối ưu chi phí và giảm thiểu rủi ro thiếu hụt Dự báo biến động theo từng vụ và mùa vụ cho phép điều chỉnh kịp thời lượng mua hàng và tồn kho, đảm bảo nguồn cung liên tục và nâng cao hiệu quả quản trị tồn kho.

Việc thống kê đánh giá tình hình sử dụng và định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho mỗi đơn vị sản phẩm là nền tảng để xây dựng các biện pháp tiết kiệm nguyên vật liệu, nhằm giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm, từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và đẩy mạnh tích lũy vốn Thông qua phân tích định mức tiêu hao, doanh nghiệp nhận diện lãng phí, tối ưu quy trình và lựa chọn nguồn vật liệu hiệu quả, đồng thời tạo động lực cho các hoạt động cải tiến liên tục Kết quả là chi phí được kiềm chế, lợi nhuận được cải thiện và khả năng tích luỹ vốn tăng lên, giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và phát triển bền vững.

2 Thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất

Nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, đảm bảo cung cấp đầy đủ về số lượng, chất lượng, chủng loại, quy cách và thời gian là điều kiện tiên quyết cho sự liên tục của quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Vì vậy, ta phải thường xuyên thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu để kịp thời phát huy ưu điểm và khắc phục nhược điểm trong công tác cung cấp Quản lý hiệu quả nguyên vật liệu giúp đảm bảo tiến độ sản xuất, tối ưu chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời tăng khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường Việc theo dõi nguồn cung và hiệu quả của chu trình cung ứng là nền tảng để doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch sản xuất và tồn kho một cách chủ động và bền vững.

2.1 Các chỉ tiêu thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu

Yêu cầu đầu tiên đối với cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất là đảm bảo đủ về số lượng; nếu cung cấp với lượng quá lớn, dư thừa sẽ gây ứ đọng vốn và làm giảm hiệu quả sử dụng vốn (trừ những nguyên vật liệu có tính chất thời vụ hoặc chiến lược) Ngược lại, cung cấp không đủ về số lượng sẽ làm gián đoạn tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp không hoàn thành kế hoạch sản xuất do thiếu nguyên vật liệu Để thống kê tình hình cung ứng nguyên vật liệu về mặt số lượng, ta cần xác định các chỉ tiêu đo lường phù hợp để đánh giá mức độ đáp ứng và tối ưu hóa tồn kho.

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất sản phẩm

Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch cung cấp NVL cho sản xuất sản phẩm :

+ M1: số lượng nguyên vật liệu cung cấp thực tế

+ Mk: số lượng nguyên vật liệu cung cấp theo kế hoạch

Chỉ tiêu này đánh giá tình hình hoàn thành kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu cho từng loại nguyên vật liệu cũng như tổng khối lượng nguyên vật liệu được cung cấp trong kỳ, từ đó phản ánh hiệu quả quản lý nguồn lực cho sản xuất Tỷ lệ hoàn thành càng cao cho thấy cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất diễn ra tốt và kịp thời, đảm bảo chu trình sản xuất không bị gián đoạn và tối ưu hóa chi phí tồn kho.

Thời gian đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất:

Đây là số ngày đêm để đảm bảo đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm Căn cứ để tính là lượng sản phẩm dự kiến sản xuất bình quân mỗi ngày đêm và mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm Việc xác định số ngày đêm dự trữ nhằm duy trì chu trình sản xuất liên tục, tối ưu hóa quản lý tồn kho và đảm bảo nguồn vật tư đáp ứng kịp tiến độ, đồng thời giảm thiểu rủi ro gián đoạn sản xuất.

+ M1: số lượng nguyên vật liệu cung cấp theo thực tế

+ m: mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm

+ q: khối lượng sản phẩm sản xuất

Ngoài việc cung cấp đầy đủ nguyên vật liệu về mặt số lượng, công tác thống kê còn phân tích tình hình cung cấp theo chủng loại và chất lượng, nhằm đánh giá mức độ đồng bộ, kịp thời và đều đặn của chuỗi cung ứng nguyên vật liệu.

2.1.2 Thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu theo chủng loại

Trong công tác thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu theo chủng loại, không được bù đắp thặng dư của một loại bằng số lượng thiếu ở loại khác vì mỗi loại nguyên vật liệu có đặc tính và tác dụng riêng Khi phân tích tình hình cung cấp của từng loại nguyên vật liệu, cần phân biệt giữa những loại có thể thay thế được và những loại không thể thay thế được; điều này giúp đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng và tính sẵn có của nguồn cung Việc nhận diện các nguyên vật liệu có thể thay thế được sẽ cho phép tối ưu hóa chu trình mua hàng và quản lý tồn kho, trong khi các loại không thể thay thế đòi hỏi sự đảm bảo nguồn cung ổn định và dự phòng phù hợp.

Nguyên vật liệu có thể thay thế được là loại nguyên vật liệu có giá trị sử dụng tương đương và khi được đưa vào sản xuất sẽ không làm thay đổi đáng kể giá trị của sản phẩm cuối cùng Trong phân tích các nguyên vật liệu thay thế, ngoài các tiêu chí về số lượng và chất lượng, cần chú ý đến chi phí và giá của loại nguyên vật liệu thay thế để tối ưu hóa chi phí đầu vào mà vẫn đảm bảo chất lượng và hiệu quả của sản phẩm.

Nguyên vật liệu không thể thay thế được là loại vật liệu thực tế không có vật liệu khác có thể thay thế một cách hoàn hảo, hoặc thay thế sẽ làm thay đổi tính năng, tác dụng của sản phẩm Việc sử dụng vật liệu thay thế có thể ảnh hưởng đến đặc tính kỹ thuật, hiệu suất và chất lượng cuối cùng, do đó việc nhận diện và quản lý những nguyên vật liệu này là rất quan trọng để duy trì sự đáng tin cậy của sản phẩm.

2.1.3 Thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu về tính đồng bộ

Trong doanh nghiệp sản xuất, việc sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu ở một tỷ lệ nhất định là cần thiết, bởi mỗi loại có đặc tính, tính năng và tác dụng riêng biệt và không thể thay thế cho nhau Vì vậy, cung cấp nguyên vật liệu phải được đồng bộ để đảm bảo quá trình sản xuất và hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, tránh gián đoạn và đạt được hiệu quả cao.

2.1.4 Thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu về mặt chất lượng

Nguyên vật liệu cung cấp cho sản xuất không chỉ yêu cầu về số lượng, chủng loại và sự đồng bộ mà còn phải đáp ứng đúng chất lượng Chất lượng nguyên vật liệu tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, đến năng suất lao động (vì có thể phải tái chế lại nguyên vật liệu) và tác động đến giá thành sản phẩm Do đó, khi nhập khẩu hoặc mua nguyên vật liệu, cần đối chiếu với các tiêu chuẩn quy định và các hợp đồng đã ký để đánh giá xem nguyên vật liệu có đáp ứng chuẩn chất lượng hay chưa, đồng thời xem xét kỹ các quy cách và thông số kỹ thuật của từng loại nguyên vật liệu để đảm bảo sự phù hợp với quy trình sản xuất.

2.1.5 Thống kê tình hình cung cấp nguyên vật liệu về tính kịp thời :

Trong nền kinh tế thị trường, thu mua nguyên vật liệu được thực hiện thông qua các hợp đồng kinh tế ký kết với các nguồn cung ứng, trong đó ghi rõ các đợt cung ứng, thời gian và kế hoạch cung ứng cho từng loại nguyên vật liệu Các hợp đồng này giúp xác định các tham số kế hoạch dựa trên nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, mức dự trữ hợp lý và mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho sản xuất giữa hai đợt cung ứng Việc tính toán cẩn thận các yếu tố này nhằm đảm bảo nguồn cung ổn định và tối ưu chi phí cho quá trình sản xuất.

Khi tính kịp thời của nguồn cung ứng nguyên vật liệu bị đứt gãy, quá trình sản xuất của doanh nghiệp sẽ bị ngưng trệ Tình trạng này có thể đẩy tồn kho lên mức vượt quá mức hợp lý và gây ứ đọng vốn, làm giảm khả năng thanh toán và hiệu quả vận hành Vì vậy, quản trị chuỗi cung ứng, dự báo nhu cầu và xây dựng phương án dự phòng nguồn vật liệu là yếu tố then chốt giúp duy trì chuỗi sản xuất thông suốt, tối ưu hóa tồn kho và tối đa hóa hiệu quả vốn đầu tư.

2.2 Kiểm tra, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch cung cấp nguyên vật liệu

Phân tích tình hình biến động của tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng thực tế so với kế hoạch của xí nghiệp xây lắp Y trong hai kỳ báo cáo nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện cho quản trị vật liệu và chi phí Kết quả cho thấy sự chênh lệch giữa thực tế và kế hoạch ở mỗi kỳ, thể hiện xu hướng biến động theo thời gian và tác động đến tiến độ thi công, chi phí và hiệu quả quản lý tồn kho Nguyên nhân chính của chênh lệch được làm rõ, gồm dự báo tiêu thụ vật liệu chưa chính xác, biến động giá vật liệu, thay đổi khối lượng công trình và sai lệch trong quản lý tồn kho hoặc thay đổi thiết kế So sánh hai kỳ báo cáo cho thấy mức độ chênh lệch và biên độ biến động, từ đó đề xuất các biện pháp điều chỉnh kế hoạch mua sắm, phân bổ vật liệu và lịch thi công để cân bằng tổng khối lượng vật liệu tiêu thụ với kế hoạch, giảm chi phí và đảm bảo tiến độ cho xí nghiệp xây lắp Y.

NVL sử dụng Đơn vị tính

Mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị SP Đơn giá từng loại nguyên vật liệu (đ)

Khối lượng công việc hoàn thành

KH TH KH TH KH TH Đổ bê tông

Thế số vào hệ thống chỉ số:

Thống kê dự trữ nguyên vật liệu dùng cho sản xuất

- Nhận xét: Tổng khối lượng NVL sử dụng kỳ thực tế so với kỳ kế hoạch tăng 18%, tương ứng tăng 40.160.000 đồng do ảnh hưởng của 3 nhân tố:

+ Đơn giá NVL kỳ thực tế so với kỳ kế hoạch tăng 1,9 %, làm cho tổng khối lượng NVL sử dụng tăng 5.040.000 đồng

+ Mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị sản phẩm kỳ thực tế so với kỳ kế hoạch giảm 3,5%, làm cho tổng khối lượng NVL sử dụng giảm 9.360.000 đồng

+ Khối lượng sản phẩm sản xuất thực tế so với kế hoạch tăng 20%, làm cho tổng khối lượng NVL sử dụng tăng 44.480.000 đồng

3 Thống kê dự trữ nguyên vật liệu dung cho sản xuất

3.1 Chỉ tiêu lượng nguyên vật còn lại cuối kỳ

Dự trữ nguyên vật liệu là điều cần thiết để doanh nghiệp tồn tại và vận hành sản xuất một cách liên tục Mọi doanh nghiệp sản xuất đều chịu biến động về nhu cầu, thời gian sản xuất và vận chuyển, vì vậy tồn kho giúp chu trình sản xuất không bị gián đoạn và cho phép đáp ứng mọi yêu cầu về số lượng, chất lượng, chủng loại và thời gian cung cấp Việc quản lý tồn kho hiệu quả từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh và giảm rủi ro khi nhu cầu thị trường thay đổi.

Việc tích trữ càng nhiều nguyên vật liệu không đồng nghĩa với tối ưu cho mọi hoạt động sản xuất; tồn kho quá lớn hoặc quá nhỏ đều gây thiệt hại kinh tế cho doanh nghiệp Do đó, cần xác định mức dự trữ nguyên vật liệu hợp lý để cân bằng giữa chi phí lưu kho và sự liên tục của quy trình sản xuất, từ đó tối ưu hoá dòng tiền và đảm bảo khả năng đáp ứng đơn hàng.

3.2 Chỉ tiêu lượng nguyên vật liệu dự trữ thường xuyên

Loại dự trữ này là dự trữ an toàn dùng để bảo đảm nguyên vật liệu cho sản xuất được tiến hành liên tục giữa hai lần cung cấp do bộ phận thu mua thực hiện Dự trữ được duy trì ở mức phù hợp để lượng nguyên vật liệu thực tế nhập kho và lượng nguyên vật liệu thực tế xuất kho mỗi ngày luôn trùng với kế hoạch sản xuất đã đề ra.

Mức dự trữ thường xuyên (Mdttx) được xác định dựa trên mức tiêu dùng bình quân một ngày đêm (M) và độ dài bình quân mỗi đợt nhập tính theo số ngày đêm (D) Mdttx thể hiện lượng hàng tồn kho cần có để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong suốt chu kỳ giữa các lần nhập hàng, với M cho biết mức tiêu thụ hàng ngày và D là thời gian giữa hai lần nhập hàng Vì vậy Mdttx phụ thuộc trực tiếp vào M và D và đóng vai trò then chốt trong quản lý tồn kho, giúp cân đối giữa chi phí lưu kho và khả năng phục vụ khách hàng.

Trong đó: M được xác định theo định mức tiêu hao nguyên vật liệu và khối lượng sản phẩm có thể sản xuất ra trong một ngày đêm

3.3 Chỉ tiêu lượng vật tư dự trữ bổ sung

Dự trữ NVL cho sản xuất phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố khác nhau, các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc dự trữ NVL cho sản xuất đó là:

Lượng NVL sử dụng bình quân mỗi ngày phụ thuộc vào quy mô sản xuất và nhu cầu sử dụng, đồng thời chịu tác động của tình hình tăng năng suất lao động và cường độ tiêu thụ Mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm cho thấy mức tiết kiệm hay lãng phí nguồn vật liệu trong quá trình sản xuất Do đó, quản lý NVL cần tập trung vào tối ưu hóa tiêu hao, giảm thiểu lãng phí và cân bằng giữa quy mô sản xuất với nhu cầu thị trường để hạ chi phí và nâng cao hiệu quả sản xuất.

- Tình hình tài chính của doanh nghiệp

- Tính chất thời vụ của tình hình sản xuất và cung cấp NVL

- Giá cả của các loại NVL cần dự trữ tại các thời điểm

- Nguồn cung cấp NVL có đảm bảo về mặt số lượng, chất lượng, tiến độ và thời gian cung cấp

- Thời gian vận chuyển và quãng đường vận chuyển

Kho tàng và bến bãi dự trữ NVL đóng vai trò quan trọng, đặc biệt ở các khu vực trung tâm và thành phố, nơi nhu cầu vật liệu xây dựng diễn ra nhanh chóng Đối với các loại NVL cồng kềnh như gạch, ngói, sắt thép, bố trí kho bãi gần công trường giúp tối ưu logistics, giảm chi phí vận chuyển và nâng cao hiệu quả quản lý tồn kho Việc đầu tư hệ thống kho bãi hiện đại và an toàn cùng cơ sở hạ tầng logistics phù hợp sẽ đảm bảo nguồn cung ổn định cho dự án, đồng thời giảm rủi ro hỏng hóc và thất thoát Tối ưu hóa kho chứa NVL không chỉ giảm chi phí mà còn rút ngắn thời gian thi công và tăng sự hài lòng của khách hàng.

Một số loại nguyên vật liệu xây dựng (NVL) có tính chất đặc thù nên không thể dự trữ tại chỗ, ví dụ bê tông tươi và nhựa đường Khi thống kê tình hình dự trữ NVL, cần phân biệt rõ các loại dự trữ để phản ánh đúng nội dung và ý nghĩa kinh tế của từng loại, vì mỗi loại có đặc thù và yêu cầu phân tích khác nhau.

Có ba loại dự trữ

Loại dự trữ này được dùng để đảm bảo NVL cho sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành liên tục giữa hai lần cung cấp do bộ phận thu mua thực hiện Dự trữ được duy trì ở mức phù hợp dựa trên việc lượng NVL thực tế nhập vào bằng với lượng NVL thực tế xuất ra hàng ngày và khớp với kế hoạch đã đề ra Việc quản lý dự trữ NVL như vậy giúp tránh gián đoạn sản xuất, đảm bảo chu trình cung ứng ổn định và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.

Loại dự trữ này cần phải có để cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được liên tục trong một số trường hợp

Mức tiêu thụ NVL bình quân trong 24 giờ thực tế cao hơn kế hoạch dự tính, cho thấy sự lệch giữa dự báo và thực tế vận hành sản xuất Điều này thường xảy ra khi kế hoạch sản xuất bị điều chỉnh sâu ở chi tiết hoặc khi kế hoạch vẫn giữ nguyên nhưng mức tiêu hao NVL tăng lên do biến động nguồn nguyên vật liệu, hiệu suất thiết bị hoặc thay đổi mức tiêu thụ định mức.

Lượng NVL nhập giữa hai lần cung cấp thực tế có sự chênh lệch so với kế hoạch đã đề ra Giả thuyết cho rằng mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm và lượng NVL cung cấp vẫn giữ nguyên như trước Số ngày giữa hai lần cung cấp thực tế dài hơn so với kế hoạch.

Trong thực tế, mức dự trữ bảo hiểm hình thành chủ yếu do nguồn cung cấp nguyên vật liệu (NVL) cho doanh nghiệp và các nhà cung cấp chưa ổn định Do đó, các doanh nghiệp cần tổ chức tốt chuỗi cung ứng và quản lý tồn kho để đảm bảo mức dự trữ bảo hiểm ở mức tối đa mà vẫn đảm bảo an toàn cho chu trình sản xuất Việc duy trì mức dự trữ bảo hiểm phù hợp giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động và giảm thiểu rủi ro gián đoạn nguồn cung.

3.4 Chỉ tiêu lượng dự trữ vật liệu bảo hiểm cho sản xuất

Loại dự trữ này cần phải có để cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được liên tục trong một số trường hợp sau:

Trong thực tế, mức tiêu thụ nguyên vật liệu bình quân cho mỗi ngày đêm thường cao hơn mức kế hoạch đã đề ra Điều này thường xảy ra khi có sự thay đổi sâu trong kế hoạch sản xuất hoặc khi kế hoạch sản xuất vẫn giữ nguyên nhưng mức tiêu hao nguyên vật liệu lại tăng lên.

Trong quá trình cung ứng và sản xuất, lượng nguyên vật liệu nhập giữa hai lần cung cấp thực tế thấp hơn kế hoạch đã đề ra Giả thuyết cho rằng mức tiêu hao nguyên vật liệu cho mỗi đơn vị sản phẩm vẫn ở mức ổn định, trong khi lượng nguyên vật liệu được cung cấp vẫn giữ ở mức như cũ Sự chênh lệch này có thể tác động đến hiệu quả sản xuất và chi phí, đồng thời cho thấy cần rà soát lại quy trình tiêu hao và chu kỳ cung cấp để tối ưu hóa tồn kho và chi phí tổng thể.

- Số ngày cách nhau giữa 2 lần cung cấp thực tế dài hơn so với kế hoạch

Trên thực tế, mức dự trữ bảo hiểm hình thành chủ yếu do sự bất ổn của nguồn cung cấp nguyên vật liệu từ doanh nghiệp và các nhà cung cấp; do đó, doanh nghiệp cần tổ chức tốt khâu cung ứng để duy trì mức dự trữ bảo hiểm ở mức tối đa nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, đồng thời vẫn bảo đảm có đủ dự trữ bảo hiểm Mức dự trữ bảo hiểm thường được tính theo tỷ lệ phần trăm của mức dự trữ thường xuyên, và tỷ lệ này phụ thuộc vào đặc điểm của từng loại nguyên vật liệu.

3.5 Chỉ tiêu lượng nguyên vật liệu dự trữ theo thời vụ

Thống kê tình hình sử dụng nguyên vật liệu

Tiết kiệm nguyên vật liệu là khâu then chốt trong quản lý nguyên vật liệu ở cuối chu trình sản xuất, bởi khối lượng nguyên vật liệu tiêu dùng cho sản xuất rất lớn và phụ thuộc trực tiếp vào kết quả sản xuất Việc sử dụng hiệu quả nguyên vật liệu giúp hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Để góp phần tiết kiệm nguyên vật liệu, cần thống kê và theo dõi hai chỉ tiêu khối lượng và giá trị nguyên vật liệu đã sử dụng nhằm kiểm soát sát sao tình hình tiêu hao, từ đó kịp thời phát hiện những hiện tượng lãng phí và đưa ra biện pháp quản lý chặt chẽ.

4.1 Các chỉ tiêu thống kê tình hình sử dụng nguyên vật liệu

4.1.1 Chỉ tiêu khối lượng nguyên vật liệu xuất dùng trong kỳ

Là chỉ tiêu phản ánh khối lượng hiện vật từng loại nguyên vật liệu thực tế sử dụng vào sản xuất trong kỳ

+ M: tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ

+ m: mức tiêu hao nguyên vật liệu bình quân cho 1 đơn vị sản phẩm

+ q: khối lượng từng loại sản phẩm sản xuất trong kỳ

4.1.2 Chỉ tiêu giá trị nguyên vật liệu sử dụng trong kỳ

Là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền của toàn bộ khối lượng nguyên vật liệu thực tế sử dụng vào sản xuất trong kỳ

Trong đó: s : giá thành đơn vị từng loại nguyên vật liệu

4.2 Kiểm tra, phân tích tình hình sử dụng tổng khối lượng nguyên vật liệu

4.2.1 Kiểm tra tình hình sử dụng tổng khối lượng nguyên vật liệu a) Theo phương pháp giản đơn:

+ M1 : tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng kỳ báo cáo

+ M0 : tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng kỳ kế hoạch (gốc)

- Nhận xét: Tình hình sử dụng nguyên vật liệu kỳ báo cáo so với kỳ gốc tăng (giảm)

Chú ý: M1, M0 có thể được tính theo đơn vị hiện vật khi nghiên cứu một loại nguyên vật liệu, hoặc tính theo đơn vị giá trị khi tính cho nhiều loại nguyên vật liệu; theo phương pháp có liên hệ với kết quả sản xuất.

Theo phương pháp kiểm tra giản đơn, chúng ta chỉ có nhận định khái quát về tình hình sử dụng nguyên vật liệu ở kỳ báo cáo so với kỳ gốc là tăng hay giảm, chưa thể kết luận chi tiết về nguyên nhân và mức độ biến động Để phân tích sâu hơn, cần bổ sung dữ liệu lịch sử và so sánh với nhiều kỳ báo cáo, xem xét các yếu tố như biến động giá nguyên vật liệu, thay đổi quy trình sản xuất và mức tiêu hao thực tế Việc nắm bắt xu hướng tiêu hao sẽ hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định nhanh chóng và hiệu quả, đồng thời tối ưu hóa nội dung cho SEO với các từ khóa liên quan như kiểm tra giản đơn, nguyên vật liệu, kỳ báo cáo, so với kỳ gốc, tăng hay giảm.

Việc đánh giá sự tăng (hoặc giảm) của chi phí và nguồn lực là cách để nhận diện tiết kiệm hay lãng phí Để có kết luận chính xác hơn, cần tiến hành kiểm tra theo phương pháp có liên hệ chặt chẽ với kết quả sản xuất, nhằm xác định mối quan hệ giữa biến động và hiệu suất sản xuất Những phân tích này giúp làm rõ đâu là biện pháp tiết kiệm thực tế và đâu là lãng phí tiềm ẩn, từ đó tối ưu hóa chi phí và hiệu quả sản xuất.

+ Q1 : Khối lượng sản phẩm sản xuất kỳ thực tế (báo cáo)

+ Q0 : Khối lượng sản phẩm sản xuất kỳ kế hoạch (gốc)

=> Tình hình sử dụng nguyên vật liệu thực tế tiết kiệm so với kế hoạch

=> Tình hình sử dụng nguyên vật liệu thực tế lãng phí so với kế hoạch

=> Tình hình sử dụng nguyên vật liệu thực tế đúng như kế hoạch

Chú ý khi kiểm tra tình hình sử dụng nguyên vật liệu theo phương pháp kết hợp so với kết quả sản xuất: tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất có thể được tính theo đơn vị hiện vật hoặc đơn vị giá trị Việc chọn đơn vị tính phù hợp giúp đánh giá hiệu quả sử dụng nguyên vật liệu và thuận tiện cho báo cáo quản trị, đồng thời cho phép so sánh hiệu suất giữa các phương pháp đo lường.

Công ty A ghi nhận tổng mức tiêu dùng nguyên vật liệu cho sản xuất năm trước là 2.200 triệu đồng và năm nay là 2.500 triệu đồng, cho thấy chi phí nguyên vật liệu tăng lên Chỉ số biến động giá trị sản xuất năm nay so với năm trước đạt 120%, đồng nghĩa với giá trị sản xuất năm nay tăng lên so với năm trước.

Yêu cầu: Phân tích tình hình biến động khối lượng NVL của công ty A

Giải: Tích tình hình biến động khối lượng NVL của công ty A như sau:

- Theo phương pháp giản đơn:

Phép tính tuyệt đối M = M1 - M0 cho thấy tổng mức tiêu dùng NVL cho sản xuất sản phẩm của công ty năm nay tăng từ 2.000 triệu đồng lên 2.500 triệu đồng, tương đương 500 triệu đồng và tăng 13,6% so với năm trước.

- Theo phương pháp có liên hệ với kết quả sản xuất:

Theo phân tích chỉ số biến động giá trị sản xuất, năm nay công ty A đã tối ưu hóa việc sử dụng NVL và tiết kiệm so với năm trước, với tỷ lệ tiết kiệm 5,3% tương đương 140 triệu đồng.

4.2.2 Phân tích tình hình sử dụng tổng khối lượng nguyên vật liệu a) Trường hợp dùng một loại nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm

NVL sử dụng = Tổng mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị sản phẩm x Khối lượng sản phẩm sản xuất

Từ phương trình kinh tế trên, ta xây dựng hệ thống chỉ số:

- Nhận xét: Mức tăng (giảm) tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng thực tế so với kế hoạch, do ảnh hưởng 2 nhân tố:

+ Mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm thay đổi

+ Khối lượng sản phẩm sản xuất thay đổi

Tại doanh nghiệp X có tình hình sử dụng nguyên vật liệu K vào sản xuất sản phẩm như sau:

Mức hao phí nguyên vật liệu K để sản xuất ra 1 đơn vị sản phẩm (kg/SP) Số lượng sản phẩm sản xuất (sp)

43 phẩm Kỳ kế hoạch (m0) Kỳ thực tế (m1) Kỳ kế hoạch (q0) Kỳ thực tế (q1)

Yêu cầu: Phân tích tình hình sử dụng nguyên vật liệu K vào sản xuất của DN?

Mức tăng tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng thực tế so với kế hoạch là 38,8% (tương đương tăng 96.000 kg), do ảnh hưởng 2 nhân tố:

+ Mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm thực tế so với kế hoạch tăng 1,8% (6.000kg)

Trong kỳ sản xuất vừa qua, khối lượng sản phẩm thực tế tăng 36,4% so với kế hoạch, tương ứng tăng thêm 90.000 kg Trường hợp dùng nhiều loại nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm cho thấy sự linh hoạt của quy trình sản xuất và khả năng tận dụng đa dạng nguồn nguyên liệu để duy trì hoặc tăng sản lượng.

Trường hợp này tổng khối lượng nguyên vật liệu chịu ảnh hưởng bởi 3 nhân tố sau:

+ Đơn giá từng loại nguyên vật liệu

+ Mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm; và

+ Khối lượng sản phẩm sản xuất

NVL sử dụng = Đơn giá từng loại NVL x Mức tiêu hao NVL cho

1 đơn vị sản phẩm x Khối lượng sản phẩm sản xuất

+ s: Đơn giá từng loại NVL

+ m: Mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị sản phẩm

+ q: Khối lượng sản phẩm sản xuất

Ta có phương trình kinh tế: M = ∑s.m.q

Từ phương trình kinh tế trên ta xây dựng hệ thống chỉ số:

- Nhận xét: Mức tăng (giảm) tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng thực tế so với kế hoạch do ảnh hưởng 3 nhân tố:

+ Đơn giá từng loại nguyên vật liệu thay đổi

+ Mức tiêu hao nguyên vật liệu cho 1 đơn vị sản phẩm thay đổi

+ Khối lượng sản phẩm sản xuất thay đổi

Phân tích tình hình biến động của tổng khối lượng nguyên vật liệu sử dụng thực tế so với kế hoạch của xí nghiệp xây lắp Y trong hai kỳ báo cáo cho thấy mức độ chênh lệch và các yếu tố tác động chính Trong hai kỳ này, sự so sánh giữa tiêu hao thực tế và dự toán cho phép nhận diện xu hướng tiêu thụ vật liệu, xác định nguyên nhân gây chệch lệch như thay đổi thiết kế, điều kiện thi công hoặc biến động giá vật liệu, và đánh giá ảnh hưởng đến tiến độ, chi phí và hiệu quả quản lý tồn kho Kết quả phân tích cung cấp các số liệu so sánh cụ thể giữa hai kỳ, từ đó đề xuất các biện pháp điều chỉnh kế hoạch vật liệu, tối ưu hóa mua sắm và quản lý nguồn lực để đảm bảo tiến độ dự án và tối thiểu hóa chi phí.

Loại NVL sử dụng Đơn vị tính

Mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị SP Đơn giá từng loại nguyên vật liệu (đ)

Khối lượng công việc hoàn thành

KH TH KH TH KH TH

Thế số vào hệ thống chỉ số:

- Nhận xét: Tổng khối lượng NVL sử dụng kỳ thực tế so với kỳ kế hoạch tăng 18%, tương ứng tăng 40.160.000 đồng do ảnh hưởng của 3 nhân tố:

+ Đơn giá NVL kỳ thực tế so với kỳ kế hoạch tăng 1,9 %, làm cho tổng khối lượng NVL sử dụng tăng 5.040.000 đồng

+ Mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị sản phẩm kỳ thực tế so với kỳ kế hoạch giảm 3,5%, làm cho tổng khối lượng NVL sử dụng giảm 9.360.000 đồng

+ Khối lượng sản phẩm sản xuất thực tế so với kế hoạch tăng 20%, làm cho tổng khối lượng NVL sử dụng tăng 44.480.000 đồng

4.3 Phân tích tình hình thực hiện định mức tiêu hao nguyên vật liệu cho một đơn vị

Việc theo dõi và phản ánh tình hình thực hiện định mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng của thống kê NVL, nhằm xác định mức tiết kiệm hay lãng phí NVL so với định mức Để phản ánh đầy đủ tình hình này, ta xác định các chỉ số Im tùy theo từng trường hợp cụ thể.

4.3.1 Trường hợp sử dụng 1 loại NVL để sản xuất 1 loại sản phẩm

+ Im: chỉ số hoàn thành mức tiêu hao NVL

+ m1: mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị sản phẩm kỳ thực tế

+ mK: mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch

Chỉ số này phản ánh mức tiêu hao NVL cho một đơn vị sản phẩm tăng hoặc giảm so với kế hoạch một lượng tuyệt đối là bao nhiêu

4.3.2 Trường hợp sử dụng 1 loại NVL để sản xuất nhiều loại sản phẩm

Trong đó: + q1: khối lượng từng loại sản phẩm theo thực tế

Chỉ số hao phí NVL cho toàn bộ sản phẩm, được tính theo đơn vị hiện vật, cho biết mức tiêu hao vật tư thực tế so với kế hoạch sản xuất Chỉ số này cho phép theo dõi xu hướng tăng hay giảm tiêu hao NVL, đánh giá hiệu quả quản lý vật liệu và điều chỉnh kế hoạch sản xuất nhằm tối ưu chi phí và nâng cao hiệu suất sản xuất.

Ví dụ: Có số liệu về tình hình sản xuất và sử dụng NVL tại nhà máy sản xuất đồ gồm trong 2 kỳ báo cáo như sau:

Sản Khối lượng sản phẩm sản xuất (sản phẩm) Định mức tiêu hao NVL để sản xuất sản phẩm (kg)

47 phẩm KH TT KH TT

Yêu cầu: Phân tích tình hình thực hiện định mức tiêu hao NVL để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm tính chung cho cả 3 loại sản phẩm

Nhận xét: Do mức tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm thực tế so với kế hoạch giảm 13% làm cho tổng khối lượng nguyên vật liệu đất giảm 740 kg

4.3.3 Trường hợp sử dụng nhiều loại NVL để sản xuất một loại sản phẩm

Trong đó: + sK: đơn giá kế hoạch từng loại NVL

Chỉ số này phản ánh chi phí NVL để sản xuất một đơn vị sản phẩm thực tế so với kế hoạch tăng hay giảm

THỐNG KÊ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP

Thống kê thiết bị trong sản xuất

4.1 Thống kê số lượng thiết bị trong sản xuất

Giá trị thành phẩm là những sản phẩm được sản xuất từ nguyên vật liệu của doanh nghiệp và của khách hàng mang đến để gia công Các sản phẩm này phải trải qua đầy đủ mọi giai đoạn sản xuất trong doanh nghiệp, được thực hiện đúng theo tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng đã quy định, và sau khi hoàn thiện sẽ được nhập kho thành phẩm hoặc bán ra ngoài thị trường.

Giá trị của bán thành phẩm, vật liệu đóng gói, công cụ, dụng cụ và phụ tùng thay thế khi không còn tiếp tục được chế biến tại doanh nghiệp sẽ được bán ra bên ngoài hoặc cung cấp cho các bộ phận không tham gia sản xuất công nghiệp.

+ Giá trị sản phẩm phụ hoàn thành trong kỳ

Đối với một số ngành công nghiệp đặc thù không áp dụng thủ tục nhập kho, như sản xuất điện, nước sạch, hơi nước và nước đá, việc tính toán được thực hiện dựa trên sản lượng thương phẩm (hoặc sản lượng thực tế đã tiêu thụ).

Lưu ý: đối với giá trị thành phẩm được sản xuất từ nguyên vật liệu do khách hàng cung cấp, chỉ tính phần chênh lệch giữa giá trị của thành phẩm và giá trị NVL khách hàng mang đến.

4.2 Thống kê thời gian thiết bị sản xuất

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động cung ứng diễn ra thông qua các hợp đồng kinh tế ký với các nhà cung cấp, ghi rõ các đợt cung ứng, thời gian và kế hoạch từng loại nguyên vật liệu sẽ được cung cấp ở từng đợt Các tham số này được tính toán dựa trên nhiệm vụ sản xuất–kinh doanh, mức dự trữ hợp lý và mức tiêu thụ nguyên vật liệu cho sản xuất giữa hai đợt cung ứng Tình hình cung cấp nguyên vật liệu theo từng chủng loại không được bù đắp bằng cách thừa để bù cho thiếu, vì mỗi loại nguyên vật liệu có đặc tính và tác dụng riêng biệt Khi phân tích tình hình cung cấp, cần xem xét khả năng đáp ứng kế hoạch sản xuất, mức tồn kho và rủi ro chuỗi cung ứng để điều chỉnh kế hoạch cung ứng cho các đợt tiếp theo, nhằm đảm bảo hiệu quả chi phí và sự liên tục của quá trình sản xuất.

57 từng loại nguyên vật liệu chủ yếu, cần phân biệt loại nguyên vật liệu có thể thay thế được và loại nguyên vật liệu không thể thay thế được

Vì vậy, khi tính kịp thời của nguồn cung ứng nguyên vật liệu bị phá vỡ, quá trình sản xuất của doanh nghiệp sẽ bị ngưng trệ và lượng tồn kho có thể vượt mức hợp lý, gây ứ đọng vốn và ảnh hưởng đến hiệu quả quản trị chuỗi cung ứng.

4.3 Thống kê năng suất thiết bị sản xuất

Thống kê doanh nghiệp là một nhánh của khoa học thống kê được thiết kế để phục vụ công tác quản trị doanh nghiệp Môn học này tập trung vào thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu từ hoạt động sản xuất và kinh doanh nhằm cung cấp thông tin có giá trị cho quyết định quản lý Các nhiệm vụ chủ yếu của thống kê doanh nghiệp bao gồm thiết kế hệ thống thu thập dữ liệu, tổng hợp và báo cáo số liệu, thực hiện phân tích thống kê và mô hình hóa để dự báo xu hướng, đánh giá hiệu quả hoạt động và đề xuất các giải pháp tối ưu hóa quy trình kinh doanh Nhờ đó, thống kê doanh nghiệp hỗ trợ lập kế hoạch chiến lược, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp dựa trên thông tin thống kê chất lượng.

Nghiên cứu đề xuất các phương pháp thu thập thông tin thống kê kịp thời, chính xác và đầy đủ nhằm phản ánh đúng tình hình sử dụng và hiệu quả của các yếu tố trong quá trình sản xuất Đồng thời, nghiên cứu kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo từng thời kỳ để làm rõ xu hướng, điểm mạnh và hạn chế, từ đó cung cấp căn cứ tin cậy cho quản trị và ra quyết định Việc kết hợp dữ liệu thu thập được với đánh giá hiệu suất giúp đo lường mức độ tối ưu hóa nguồn lực sản xuất và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Thu thập và tổng hợp thông tin phản ánh tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, tiến hành thống kê và phân tích chi phí, giá thành và giá bán để xác định mức cầu của thị trường Dữ liệu và kết quả phân tích được dùng để điều chỉnh kế hoạch sản xuất cho phù hợp với nhu cầu thực tế, tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả kinh doanh Việc định hướng sản xuất dựa trên dự báo cầu thị trường giúp cải thiện biên lợi nhuận, giảm tồn kho và tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Hệ số tính đổi được xác định theo công thức:

Hệ số đổi (H) là yếu tố dùng để quy đổi giữa đặc tính của sản phẩm cần đổi và đặc tính của sản phẩm chuẩn Để quy đổi một loại sản phẩm, ta xác định hai đặc tính chính: đặc tính của sản phẩm cần quy đổi và đặc tính của sản phẩm được chọn làm sản phẩm chuẩn Sản lượng hiện vật quy ước của một loại sản phẩm được tính bằng công thức dựa trên hệ số đổi và sự tương quan giữa hai tập đặc tính, từ đó xác định mức quy đổi chuẩn cho từng loại sản phẩm.

Sản lượng hiện vật quy ước = ∑Q x H

Q: Sản lượng theo từng thứ hạng, quy cách tính bằng hiện vật

4.4 Thống kê sử dụng tổng hợp thiết bị sản xuất khi máy móc thiết bị trong dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp không sử dụng mà cho bên ngoài thuê, (không phân biệt có công nhân hay không có công nhân vận hành đi theo) Yếu tố này thường không có giá cố định, nên

58 thống kê dựa vào doanh thu thực tế thu được của hoạt động này trong kỳ để tính vào yếu tố 4

Xí nghiệp đầu năm 2012 mua 10 máy tiện với giá 20 triệu đồng mỗi máy và chi phí vận chuyển, lắp đặt cho cả 10 máy là 10 triệu đồng, tổng chi phí 210 triệu đồng; đầu năm 2014 mua thêm 15 máy tiện với giá 18 triệu đồng mỗi máy và chi phí vận chuyển lắp đặt chung cho 15 máy là 30 triệu đồng, tổng chi phí 300 triệu đồng Thời gian sử dụng hữu ích của mỗi máy là 8 năm và khấu hao được tính theo phương pháp đường thẳng Tại thời điểm đánh giá (cuối năm 2014), khấu hao lũy kế của lô 10 máy là 78,75 triệu đồng, giá trị ghi sổ của lô này là 131,25 triệu đồng; khấu hao lũy kế của lô 15 máy là 37,5 triệu đồng, giá trị ghi sổ của lô này là 262,5 triệu đồng; tổng giá trị ghi sổ đến thời điểm đánh giá là 393,75 triệu đồng Giá trị hợp lý khi đánh giá lại tại thời điểm đó là 375 triệu đồng (25 máy x 15 triệu), chênh lệch giảm 18,75 triệu đồng được ghi nhận là lỗ trong kỳ và giá trị sau đánh giá lại là 375 triệu đồng.

Yêu cầu: Xác định giá trị của 25 máy tiện tại doanh nghiệp cơ khí đầu năm

1 Giá ban đầu hoàn toàn

2 Giá khôi phục hoàn toàn

3 Giá ban đầu còn lại

4 Giá khôi phục còn lại

Đầu năm, tổng nguyên giá thiết bị sản xuất của doanh nghiệp dệt là 15.000 triệu đồng Trong năm, xí nghiệp mua thêm 100 máy dệt mới với nguyên giá 50 triệu đồng mỗi máy, làm tăng thêm 5.000 triệu đồng cho giá trị thiết bị sản xuất; do đó, tổng nguyên giá thiết bị sản xuất ở cuối năm được ghi nhận là 20.000 triệu đồng.

Doanh nghiệp đã mua 20 máy kéo sợi đã qua sử dụng của một công ty khác với giá 30 triệu đồng/cái, trong khi nguyên giá ban đầu của mỗi máy là 70 triệu đồng; 20 máy dệt cũ này sau đó được bán cho một cơ sở dệt tư nhân với giá 10 triệu đồng/cái (tương ứng 80% giá trị), được biết nguyên giá khi mua là 20 triệu đồng/cái Ngoài ra, doanh nghiệp còn thanh lý 50 máy dệt đã hết hạn sử dụng với giá 1 triệu đồng/cái, nguyên giá mỗi máy là 20 triệu đồng.

Yêu cầu: Hãy tính các chỉ tiêu sau trong năm báo cáo:

1 Nguyên giá thiết bị sản xuất hiện có cuối năm?

2 Nguyên giá thiết bị sản xuất bình quân trong năm?

Có tài liệu về tình hình TSCĐ của 1 doanh nghiệp trong năm báo cáo như sau: (ĐVT: triệu đồng)

- Tổng giá trị hao mòn đầu năm 4.000

2 TSCĐ mới đưa vào sử dụng trong năm

3 TSCĐ nhận từ doanh nghiệp khác

4 TSCĐ bị loại bỏ trong năm do cũ hỏng

- Giá bán thanh lý của các TSCĐ bị loại bỏ 10

5 TSCĐ không cần dùng đem bán lại

- Giá bán thanh lý của các TSCĐ bị loại bỏ 360

6 Tổng số tiền đã trích khấu hao TSCĐ trong năm 6.400

7 Tổng số tiền nâng cấp sửa chữa TSCĐ nhận từ DN khác

1 Tính nguyên giá TSCĐ hiện có cuối năm theo giá ban đầu và giá còn lại?

2 Tính giá trị TSCĐ bình quân?

3 Tính các chỉ tiêu phản ánh tình hình biến động TSCĐ trong năm?

Có số liệu về tình hình sản xuất và sử dụng TSCĐ của xí nghiệp dệt qua 2 tháng 3 và tháng 4 năm 2016 như sau:

1 Giá trị sản xuất công nghiệp (triệu đồng): 400

2 Chi phí TSCĐ cho 1 đơn vị GTSX (triệu đồng): 12,5

1 Giá trị sản xuất công nghiệp (triệu đồng): 405,9

2 Tình hình sử dụng TSCĐ (triệu đồng)

- Giá trị TSCĐ có ngày 1/4 : 4.050

- Ngày 5/4 mua thêm 1 số MMTB trị giá: 550

- Ngày 17/4 nhận bàn giao của công ty X 1 thiết bị trị giá: 200

- Ngày 25/4 thanh lý 1 số TSCĐ trị giá: 550

Và số liệu không thay đổi cho đến hết tháng 4

Phân tích biến động của chỉ tiêu giá trị sản xuất công nghiệp của xí nghiệp tháng 4 so với tháng 3 cho thấy hai nhân tố ảnh hưởng chính là hiệu quả sử dụng TSCĐ và giá trị TSCĐ bình quân Sự cải thiện hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ làm tăng năng suất và giảm chi phí cố định trên mỗi đơn vị sản phẩm, từ đó đẩy giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4 lên so với tháng 3; ngược lại, giảm hiệu quả sử dụng TSCĐ sẽ làm giảm giá trị sản xuất Đồng thời, biến động của giá trị TSCĐ bình quân tác động trực tiếp đến tổng vốn và chi phí khấu hao, qua đó ảnh hưởng tới mức độ biến động của giá trị sản xuất giữa hai tháng Do đó, để đánh giá đầy đủ, cần so sánh đồng thời hai yếu tố này và xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đối với chỉ tiêu chính Kết quả phân tích sẽ cung cấp căn cứ cho điều chỉnh kế hoạch sản xuất, bảo dưỡng TSCĐ và cơ cấu đầu tư nhằm tối ưu hoá hiệu quả sản xuất.

Có số liệu về tình hình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp cơ khí X trong năm 2016 như sau (ĐVT: 1.000 đồng)

Giá trị sản xuất (GO) quý I: 298.850; quý II: 304.200

II Tình hình sử dụng TSCĐ(1.000 đồng)

- TSCĐ tăng trong quý II: 166.000

- TSCĐ giảm trong quý II: 94.800

1 Tính các chỉ tiêu phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ trong từng quý?

THỐNG KÊ LAO ĐỘNG, NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG VÀ TIỀN LƯƠNG TRONG DOANH NGHIỆP

Thống kê lao động trong doanh nghiệp

1.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ của thống kê lao động trong doanh nghiệp

Quá trình sản xuất muốn tiến hành được cần phải có ba yếu tố: sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động

Lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất và đóng vai trò là yếu tố quan trọng nhất Nếu thiếu lao động của con người, tư liệu lao động và đối tượng lao động sẽ trở thành những vật vô dụng, vì con người là chủ thể của quá trình sản xuất và quyết định cách thức, hiệu quả cũng như kết quả của mọi hoạt động kinh tế.

Trong quy trình sản xuất và kinh doanh, con người luôn sáng tạo, cải tiến công cụ và hợp tác với nhau để không ngừng nâng cao năng suất lao động Nhờ đó, trình độ kỹ thuật của người lao động, kinh nghiệm sản xuất và sự chuyên môn hóa lao động ngày càng được nâng cao, đóng góp vào hiệu quả sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp.

Nghiên cứu số lượng và cơ cấu lao động trong doanh nghiệp là cơ sở để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Phân tích biến động về số lượng lao động và sự thay đổi cơ cấu lao động thông qua các chỉ tiêu thống kê giúp nhận diện xu hướng, mức độ thay đổi và tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh Dựa trên dữ liệu thống kê, quá trình này cho phép đánh giá tình hình sử dụng lao động về mặt số lượng và chất lượng, từ đó đề xuất giải pháp tối ưu hóa nguồn lực nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả của doanh nghiệp.

- Nghiên cứu sự biến động năng suất lao động và các nhân tốảnh hưởng đồng thời đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp

Nghiên cứu thu nhập của người lao động và các nguồn thu nhập khác nhau nhằm làm rõ cấu trúc thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến tổng thu nhập của họ Đồng thời, bài toán xem xét mối quan hệ giữa tốc độ tăng năng suất lao động và tốc độ tăng tiền lương bình quân, nhằm xác định mức độ liên kết giữa tăng trưởng năng suất và mức tăng lương trung bình cho người lao động.

1.2 Thống kê số lượng lao động trong doanh nghiệp

Số lượng lao động trong doanh nghiệp là tổng số lực lượng lao động tham gia vào hoạt động sản xuất và kinh doanh, được doanh nghiệp quản lý và trả lương Đây là thước đo quy mô nguồn nhân lực của doanh nghiệp và có vai trò quyết định đến năng suất làm việc, chi phí nhân sự và hiệu quả hoạt động Việc nắm rõ số lượng lao động giúp quản trị nguồn lực tối ưu, lên kế hoạch tuyển dụng, phân bổ công việc và đảm bảo thực hiện mục tiêu sản xuất - kinh doanh một cách thông suốt.

Số lượng lao động của một doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau để phục vụ cho các mục đích nghiên cứu và quản lý nhân sự Các phương pháp phân loại chủ yếu dựa trên các tiêu chí cơ bản, trong đó đầu tiên là căn cứ vào việc quản lý lao động và trả lương, từ đó có thể chia lao động thành hai loại dựa trên hình thức quản lý và phương thức trả công Bên cạnh đó, lao động còn được phân loại theo chức danh, trình độ tay nghề, thời gian làm việc và tính chất công việc, giúp doanh nghiệp phân bổ nguồn lực hiệu quả và lên kế hoạch nhân sự phù hợp với mục tiêu sản xuất và phát triển.

Lao động trong danh sách là lực lượng chủ yếu của doanh nghiệp, gồm những người được doanh nghiệp trực tiếp tuyển dụng, sử dụng và trả lương, và được ghi vào sổ lao động của doanh nghiệp Nhóm người này tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất, dịch vụ và thực hiện các nhiệm vụ quản trị nguồn lực, đồng thời đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động theo quy định pháp luật và nội quy công ty Quản lý hiệu quả lao động trong danh sách giúp doanh nghiệp kiểm soát chi phí lao động, nâng cao hiệu suất làm việc và đảm bảo tính minh bạch trong việc ghi nhận lao động.

Lao động ngoài danh sách là những người không thuộc quyền quản lý, sử dụng và trả lương của doanh nghiệp Dựa vào mục đích tuyển dụng và thời gian sử dụng, lao động ngoài danh sách được chia ra 2 loại: ngắn hạn và dài hạn.

Lao động thường xuyên là lực lượng lao động chủ yếu của doanh nghiệp, gồm những người được tuyển dụng chính thức và đảm nhận các công việc lâu dài thuộc chức năng và nhiệm vụ của doanh nghiệp Nhóm người này đảm bảo hoạt động hàng ngày, thực thi các mục tiêu và quy trình nghề nghiệp, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực và phát triển hiệu suất làm việc.

Lao động tạm thời là những người làm việc theo các hợp đồng tạm tuyển ngắn hạn để thực hiện các công tác tạm thời theo thời vụ Đây là hình thức tuyển dụng linh hoạt giúp doanh nghiệp bổ sung nguồn lực ngắn hạn đúng lúc và đảm bảo tiến độ công việc Căn cứ vào phạm vi hoạt động, lao động tạm thời được chia ra 2 loại.

Công nhân sản xuất kinh doanh chính là số lượng lao động tham gia trực tiếp vào các hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp và đóng vai trò chủ yếu trong quá trình sản xuất, kinh doanh Kết quả từ hoạt động của nhóm công nhân này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho thấy sự đóng góp quyết định của lực lượng lao động chủ yếu đối với hiệu quả và sự cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

Ví dụ: trong công nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chính là hoạt động sản xuất ra sản phẩm công nghiệp

- Công nhân viên sản xuất kinh doanh khác: Là những người làm việc trong các lĩnh vực sản xuất khác

Trong một doanh nghiệp công nghiệp, nhân sự làm việc ở các bộ phận như sản xuất, xây lắp, sản xuất vật liệu xây dựng, thương mại và dịch vụ đóng vai trò then chốt trong chu trình sản xuất Căn cứ vào chức năng của người lao động trong quá trình sản xuất, mỗi bộ phận đảm nhận nhiệm vụ riêng biệt nhằm biến nguyên liệu thành thành phẩm chất lượng và tối ưu hóa quy trình làm việc Bộ phận sản xuất và xây lắp chịu trách nhiệm trực tiếp vận hành máy móc, lắp ráp và thi công, trong khi bộ phận sản xuất vật liệu xây dựng cung cấp nguồn vật liệu cần thiết cho dự án Bộ phận thương mại và dịch vụ đảm bảo tiêu thụ sản phẩm, chăm sóc khách hàng và tối ưu hóa chu trình cung ứng Việc phân bổ chức năng lao động theo quá trình sản xuất giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả, chất lượng sản phẩm và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Lao động thuộc sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp được phân thành các loại sau:

Công nhân là người trực tiếp tác động lên đối tượng lao động để làm ra sản phẩm hoặc là những người phục vụ trực tiếp cho quá trình sản xuất; họ là lực lượng lao động trực tiếp biến đổi nguyên liệu thành thành phẩm và giữ cho chu trình sản xuất diễn ra liên tục và hiệu quả.

- Thợ học nghề: Là những người học tập kỹ thuật sản xuất sản phẩm dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề

Nhân viên kỹ thuật là nhóm người đã tốt nghiệp từ các trường lớp kỹ thuật ở trình độ trung cấp trở lên, đang làm việc trong lĩnh vực kỹ thuật và được trả lương theo thang lương kỹ thuật.

Nhân viên quản lý kinh tế là những người đã tốt nghiệp các trường đào tạo ngành kinh tế và đang đảm nhận các công việc điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Họ đảm trách các vị trí từ giám đốc, phó giám đốc đến nhân viên ở các phòng ban kinh tế, chịu trách nhiệm quản lý nguồn lực, tối ưu hóa quy trình và đảm bảo hiệu quả tài chính – sản xuất cho doanh nghiệp.

Thống kê năng suất lao động trong doanh nghiệp

2 Thống kê năng suất lao động trong doanh nghiệp

2.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ của thống kê năng suất lao động trong doanh nghiệp

Năng suất lao động là thước đo phản ánh mức độ hiệu quả của lao động trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp Mức năng suất lao động được biểu hiện bằng lượng (hoặc giá trị) sản phẩm được sản xuất ra trên mỗi đơn vị lao động (số lượng lao động hoặc thời gian lao động) hoặc bằng lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Do vậy, năng suất lao động là chỉ tiêu hiệu quả đầy đủ và nó được biểu hiện dưới hai dạng: thuận và nghịch.

2.2 Phương pháp xác định năng suất lao động

Có nhiều cách để phân loại chỉ tiêu năng suất lao động Dựa vào dạng biểu hiện thuận nghịch, chỉ tiêu năng suất lao động được chia thành hai loại: năng suất lao động dạng thuận và năng suất lao động dạng nghịch Năng suất lao động dạng thuận là kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trên một đơn vị lao động, được biểu diễn bằng công thức W = Q/T.

Trong đó: Q: Kết quả sản xuất của doanh nghiệp T: Số đơn vị lao động đã hao phí

Năng suất lao động dạng nghịch: là số đơn vị lao động đã hao phí cho một đơn vị kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Căn cứ vào đơn vị đo lường của năng suất lao động, năng suất lao động ở dạng hiện vật là số lượng đơn vị sản phẩm được sản xuất ra trên một đơn vị lao động Trong công thức (*) ở trên, Q là sản lượng được tính bằng đơn vị hiện vật Chỉ tiêu này được dùng để xác định định mức năng suất lao động đối với từng loại sản phẩm.

Phương pháp này cho phép đánh giá trực tiếp hiệu quả của lao động và có thể so sánh trực tiếp mức năng suất giữa các bộ phận sản xuất cùng một loại sản phẩm Tuy nhiên, nhược điểm là nó chưa phản ánh đầy đủ mức năng suất hao phí cho các loại sản phẩm trong doanh nghiệp và chưa đề cập đến chất lượng sản phẩm Chỉ tiêu này được áp dụng chủ yếu cho doanh nghiệp sản xuất cùng một loại sản phẩm và có trình độ chuyên môn hoá cao.

Năng suất lao động dạng giá trị là giá trị sản phẩm được sản xuất ra trên mỗi đơn vị lao động Trong công thức (*) ở trên, Q đại diện cho giá trị của sản phẩm được sản xuất và được đo bằng đơn vị giá trị; giá trị này có thể là giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm hoặc doanh thu của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho thấy cách quy đổi sản phẩm thành giá trị kinh tế, giúp phản ánh hiệu quả lao động theo cùng khuôn khổ về giá trị thay vì chỉ đo bằng lượng hàng hóa Do đó, năng suất lao động dạng giá trị khắc phục nhiều nhược điểm của chỉ tiêu năng suất lao động dạng hiện vật, mang lại cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả sản xuất và đóng vai trò quan trọng trong quản trị và ra quyết định kinh doanh.

Tiêu chí đo lường hiệu quả lao động không chỉ phản ánh mức độ hiệu quả của người lao động mà còn cho phép tổng hợp các kết quả sản xuất, kinh doanh trong kỳ ở mức thành phẩm, bán thành phẩm và sản phẩm dở dang Tuy nhiên, nhược điểm của cách tính này là bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi quy mô và kết cấu sản phẩm, do lượng nguyên vật liệu và giá trị nguyên vật liệu khác nhau Hiện nay ở nước ta đang áp dụng rộng rãi cách tính năng suất lao động dạng giá trị.

Q là giá trị sản xuất của doanh nghiệp

2.3 Thống kế sự biến động của năng suất lao động Để thống kê sự biến động của năng suất lao động trong doanh nghiệp, người ta thường tính 3 chỉ số chủ yếu sau  Chỉ số năng suất lao động dạng hiện vật Chỉ số này thường dùng để đánh giá sự biến động năng suất lao động dạng hiện vật của một loại sản phẩm nào đó

Chỉ số năng suất lao động dạng giá trị là công cụ dùng để đánh giá sự biến động của năng suất lao động ở nhiều loại sản phẩm, căn cứ vào giá trị kết quả sản xuất và lượng lao động hao phí cho từng loại sản phẩm Chỉ số này cho phép phân tích và so sánh mức độ tăng hay giảm của năng suất dựa trên giá trị, từ đó giúp nhận diện hiệu quả sử dụng lao động và tối ưu hóa quy trình sản xuất Việc áp dụng chỉ số cho từng loại sản phẩm cho phép doanh nghiệp đánh giá hiệu quả đầu tư lao động, điều chỉnh phân bổ nguồn lực, và nâng cao năng suất ở mức độ giá trị.

Chỉ số năng suất lao động dạng thời gian là thước đo biến động năng suất lao động đối với nhiều loại sản phẩm, dựa trên hai yếu tố chính: thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm và sản lượng đã sản xuất Chỉ số này giúp doanh nghiệp theo dõi hiệu quả sản xuất theo thời gian, nhận diện mức tăng giảm của năng suất và từ đó tối ưu hóa quy trình làm việc, giảm thời gian lãng phí và tăng sản lượng Việc đánh giá dựa trên thời gian lao động cho mỗi đơn vị sản phẩm và tổng sản lượng cho phép so sánh hiệu quả giữa các dòng sản phẩm và các kỳ sản xuất khác nhau, từ đó hỗ trợ quyết định cải thiện lực lượng lao động và công nghệ sản xuất.

Chỉ tiêu phản ánh biến động số lượng lao động của doanh nghiệp:

Tỷ lệ biến động tăng lao động =

Số lượng lao động tăng trong kỳ x 100

Số lượng lao động có đầu kỳ

Tỷ lệ biến động giảm lao động =

Số lượng lao động giảm trong kỳ x 100

Số lượng lao động có đầu kỳ

Tỷ lệ đổi mới lao động =

Số lượng lao động tuyển dụng mới trong kỳ x 100

Số lượng lao động có cuối kỳ

Tỷ lệ lao động nghỉ việc theo chế độ

Số lượng lao động nghỉ việc theo chế độ trong kỳ x 100

Số lượng lao động có đầu kỳ

Thống kê tiền lương trong doanh nghiệp

Định mức lao động là số lượng lao động cần thiết theo quy định để hoàn thành sản phẩm hoặc quá trình sản xuất Để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện định mức lao động, người ta sử dụng các phương pháp thống kê và áp dụng một trong hai phương pháp được nêu để đánh giá mức độ hoàn thành.

3.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ của thống kê tiền lương trong doanh nghiệp

3.2 Chỉ tiêu tiền lương bình quân

Tiền lương bình quân là chỉ tiêu phản ánh số tiền lương trả cho một đơn vị lao động đã hao phí cho sản xuất kinh doanh; ở đây, ta chỉ đề cập đến tiền lương bình quân của lao động trực tiếp sản xuất Công thức tính là Tiền lương bình quân (X) = Tổng quỹ lương (QL) / Tổng hao phí lao động cho sản xuất kinh doanh (T); trong đó, Tổng quỹ lương (QL) là toàn bộ quỹ lương dành cho người lao động, còn Tổng hao phí lao động cho sản xuất kinh doanh (T) là tổng chi phí lao động cho quá trình sản xuất và kinh doanh.

Phân loại tiền lương bình quân Từ công thức tính tiền lương bình quân ở trên, có thể xác định được một số chỉ tiêu tiền lương bình quân sau:

Tiền lương bình quân giờ (Xg) = Tổng quỹ lương giờ (QLg) /Tổng số giờ công làm việc thực tế

Tiền lương bình quân ngày (Xn) = Tổng quỹ lương ngày (QLn) /Tổng số ngày công làm việc thực tế

Tiền lương bình quân tháng (quý, năm) (XL) = Tổng quỹ lương tháng (quý, năm) (QLt) /Số lao động bình quân trong tháng (quý, năm)

Các chỉ tiêu tiền lương bình quân trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

3.3 Phân tích sự biến động của tổng quỹ lương

Trong thống kê, để phân tích sự biến động của tổng quỹ lương toàn doanh nghiệp, người ta thường sử dụng hai phương pháp chính: Chỉ số đánh giá sự biến động chung của tổng quỹ lương kỳ nghiên cứu so với kỳ gốc (hoặc so với kế hoạch) để đo lường mức độ thay đổi và hiệu quả so với mục tiêu; và Phương pháp so sánh trực tiếp, cho phép đối chiếu trực tiếp các giá trị quỹ lương giữa các kỳ hoặc giữa các bộ phận, từ đó làm rõ xu hướng biến động và nguyên nhân.

Phân tích sự biến động của tổng quỹ lương dựa trên ảnh hưởng của các nhân tố cấu thành nhằm xác định nguồn gốc biến động và phục vụ dự toán ngân sách Có thể phân tích tổng quỹ lương của toàn doanh nghiệp thông qua các nhân tố như sự biến động của số lượng lao động, thay đổi mức lương bình quân, cơ cấu tiền lương theo vị trí và chức danh, tỷ lệ làm thêm giờ, thưởng và các chế độ phúc lợi, phụ cấp, cùng với biến động trong cơ cấu tổ chức và phân bổ lao động giữa các phòng ban, mức độ tăng năng suất và hiệu quả làm việc, cũng như các thay đổi về chính sách tiền lương, đóng bảo hiểm và các khoản trích khác Bằng cách phân tách và đo lường tác động của từng nhân tố lên tổng quỹ lương, doanh nghiệp có thể nhận diện nguyên nhân biến động, ước lượng quy mô cho các kỳ tới và lập kế hoạch ngân sách nhân sự một cách hiệu quả.

- Do ảnh hưởng của tiền lương bình quân 1 lao động L (X ) và tổng số lao động của doanh nghiệp ( T) 

Phương pháp xác định là so sánh số lượng lao động bình quân trong kỳ báo cáo với số lượng lao động bình quân kỳ gốc đã được điều chỉnh theo tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất, từ đó đánh giá biến động nguồn nhân lực và hiệu suất làm việc Việc sử dụng so sánh này giúp ước lượng tác động của tiến độ sản xuất đến nhu cầu lao động và hỗ trợ tối ưu hóa chi phí nhân công, quản trị nguồn lực và lập kế hoạch tuyển dụng hiệu quả.

- Nhận xét: IT

Ngày đăng: 27/12/2022, 17:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1.] TS. Chu Văn Tuấn, Giáo trình Thống kê doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thống kê doanh nghiệp
Tác giả: Chu Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2010
[2.] ThS. Đồng Thị Vân Hồng, Giáo trình thống kê doanh nghiệp, NXB Lao động, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thống kê doanh nghiệp
Tác giả: ThS. Đồng Thị Vân Hồng
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2009
[3.] PGS, TS. Trần Ngọc Phác và TS. Trần Thị Kim Thu, Giáo trình Lý thuyết Thống kê, NXB Thống kê, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết Thống kê
Tác giả: Trần Ngọc Phác, Trần Thị Kim Thu
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
[4.] PGS.TS. Trịnh Thị Kim Vân và TS. Chu Văn Tuấn, Giáo trình Lý thuyết thống kê và phân tích dự báo, NXB Tài chính, Hà Nội, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý thuyết thống kê và phân tích dự báo
Tác giả: Trịnh Thị Kim Vân, Chu Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2013
[5.] NGƯT.GS.TS. Phạm Ngọc Kiểm – PGS.TS. Nguyễn Công Nhự, Giáo trình Thống kê doanh nghiệp, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Thống kê doanh nghiệp
Tác giả: Phạm Ngọc Kiểm, Nguyễn Công Nhự
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
[7.] Website của Tổng cục thống kê: http://www.gso.gov.vn/ Link

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm