1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Cung cấp điện NGÀNHNGHỀ Điện công nghiệp

144 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cung cấp điện Ngành Nghề Điện công nghiệp
Tác giả Ngô Thị Oanh
Trường học Trường Cao Đẳng Nghề Hà Nam
Chuyên ngành Điện Công Nghiệp
Thể loại Giáo trình môn học
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nam
Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 3,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀ NAM GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Cung cấp điện NGÀNHNGHỀ Điện công nghiệp TRÌNH ĐỘ Cao đẳngTrung cấp Ban hành kèm theo Quyết định.giáo trình học tập, tài liệu cao đẳng đại học, luận văn tiến sỹ, thạc sỹ

Trang 1

SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM

TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ HÀ NAM

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC: Cung cấp điện NGÀNH/NGHỀ: Điện công nghiệp TRÌNH ĐỘ: Cao đẳng/Trung cấp

Ban hành kèm theo Quyết định số 234/QĐ- CĐN ngày 05 tháng 8 năm 2020

của Trường Cao Đẳng Nghề Hà Nam

Hà Nam, năm 2020

Trang 2

1

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN

Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên nghề Điện công nghiệp trong trường Cao đẳng nghề Hà Nam Chúng tôi đã thực hiện biên

soạn tài liệu Cung cấp điện này

Tài liệu được biên soạn thuộc loại giáo trình phục vụ giảng dạy và học tập, lưu hành nội bộ trong nhà trường nên các nguồn thông tin có thể được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo

Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm

Dựa theo giáo trình này, có thể giảng dạy cho các trình độ hoặc ngành/nghề khác của nhà trường

Trang 3

2

LỜI GIỚI THIỆU

Khoa điện Trường Cao đẳng Nghề Hà Nam đã tham gia biên soạn giáo trình đào tạo phục vụ cho giảng viên, giáo viên giảng dạy và học tập, thực tập của học sinh, sinh viên nghề Điện công nghiệp Trong đó tài liệu môn học Cung cấp điện đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo và hình thành các kỹ năng cơ bản cho các học viên, sinh viên theo học nghề Điện công nghiệp

Khi biên soạn, nhóm biên soạn đã cố gắng cập nhật những kiến thức mới có liên quan đến nội dung chương trình đào tạo và phù hợp với mục tiêu đào tạo, nội dung lý thuyết và thực hành được biên soạn gắn với nhu cầu thực tế trong sản xuất đồng thời có tính thực tiển cao

Nội dung giáo trình được biên soạn với dung lượng thời gian đào tạo 45 giờ và được thiết kế gồm 4 chương:

Bài mở đầu: Khái quát về hệ thống cung cấp điện

Chương 1 Tính toán phụ tải

Chương 2 Tính toán mạng và tổn thất

Chương 3 Lựa chọn thiết bị trong cung cấp điện

Chương 4 Chiếu sáng công nghiệp

Trong quá trình sử dụng giáo trình, tuỳ theo yêu cầu cũng như khoa học và công nghệ phát triển có thể điều chỉnh thời gian và bổ sung những kiến thức mới cho phù hợp Trong giáo trình, chúng tôi có đề ra nội dung thực tập của từng bài để người học cũng cố và áp dụng kiến thức phù hợp với kỹ năng

Mặc dù đã cố gắng tổ chức biên soạn để đáp ứng được mục tiêu đào tạo song không tránh được những khiếm khuyết Rất mong nhận được đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo, bạn đọc để nhóm biên soạn sẽ hiệu chỉnh hoàn thiện hơn

Hà Nam, ngày 6 tháng 6 năm 2020

Tham gia biên soạn Chủ biên: Ngô Thị Oanh

Trang 4

3

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU 2

MỤC LỤC 3

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC 5

1 Nguồn năng lượng tự nhiên và đặc điểm của năng lượng điện 6

2 Nhà máy điện 7

2.1 Nhà máy nhiệt điện 7

2.2 Nhà máy thuỷ điện 8

2.3 Nhà máy điện nguyên tử 10

3 Mạng lưới điện 11

4 Hộ tiêu thụ 12

5 Hệ thống điện Việt Nam 13

CÂU HỎI ÔN TẬP 14

BÀI 1: TÍNH TOÁN PHỤ TẢI 16

1 Xác định nhu cầu điện 16

1.1 Đặt vấn đề 16

1.2 Đồ thị phụ tải điện 16

1.3 Các phương pháp xác định công suất tính toán (phụ tải tính toán) 18

1.4 Phương pháp tính một số phụ tải đặc biệt 28

1.5 Xác định tâm phụ tải điện 31

2 Chọn phương án cung cấp điện 33

2.1 Khái quát 33

2.2 Chọn điện áp định mức của mạng điện 33

2.3 Sơ đồ mạng điện cao áp 34

2.4 Sơ đồ mạng điện áp thấp 40

2.5 Đường dây cáp 42

CÂU HỎI ÔN TẬP 46

BÀI 2: TÍNH TOÁN MẠNG VÀ TỔN THẤT 47

1 Tính tổn thất điện áp, tổn thất công suất, tổn thất điện năng 47

1.1 Sơ đồ thay thế lưới điện 47

1.2 Tính toán mạng hở cấp phân phối 50

2 Trạm biến áp 66

2.1 Khát quát và phân loại 66

2.2 Sơ đồ nối dây của trạm biến áp 68

2.3 Đo lường và kiểm tra trong trạm biến áp 72

2.4 Nối đất trạm biến áp và đường dây tải điện 73

2.5 Cấu trúc của trạm 76

Trang 5

4

2.6 Vận hành trạm biến áp 77

CÂU HỎI ÔN TẬP 78

BÀI 3 : LỰA CHỌN THIẾT BỊ TRONG CUNG CẤP ĐIỆN 78

1 Lựa chọn dây dẫn, thiết bị đóng cắt bảo vệ 79

1.1 Lựa chọn máy biến áp 79

1.2 Lựa chọn máy cắt điện 81

1.3 Lựa chọn cầu chì, dao cách ly 84

1.4 Lựa chọn áp tô mát 90

1.5 Lựa chọn thanh góp 91

1.6 Lựa chọn dây dẫn và cáp 93

2 Chống sét và nối đất 96

2.1 Sự hình thành sét và tác hại của sét 96

2.2 Bảo vệ chống sét đánh trực tiếp 98

CÂU HỎI ÔN TẬP 104

BÀI 4: CHIẾU SÁNG CÔNG NGHIỆP 105

1 Tính toán chiếu sáng 105

1.1 Khái niệm chung về chiếu sáng 105

1.2 Một số đại lượng dùng trong tính toán chiếu sáng 108

1.3 Nội dung thiết kế chiếu sáng 111

1.4 Thiết kế chiếu sáng dân dụng 120

1.5.Thiết kế chiếu sáng công nghiệp 122

2 Nâng cao hệ số công suất 127

2.1 Khái niệm chung 127

2.2 Hệ số công suất cosφ và ý nghĩa của việc nâng cao hệ số công suất 127

2.2 Các giải pháp bù cosφ tự nhiên 130

2.4 Các thiết bị bù 135

2.4 Phân phối tối ưu dung lượng bù trong mạng điện xí nghiệp 137

CÂU HỎI ÔN TẬP 142

TÀI LIỆU THAM KHẢO 143

Trang 6

5

GIÁO TRÌNH MÔN HỌC

Tên môn học: Cung cấp điện

Mã môn học: MH 19

Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:

- Vị trí: Môn học cung cấp điện phải học sau khi đã hoàn thành các môn học,

mô đun: An toàn lao động, Mạch điện, Đo lường điện, Vẽ điện, Khí cụ điện, Vật liệu điện, Thiết bị điện gia dụng

- Tính chất: Là môn học chuyên môn nghề

- Ýnghĩa và vai trò của môn học:

Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, ngành công nghiệp điện giữ vai trò hết sức quan trọng, bởi điện năng là nguồn năng lượng được

sử dụng rộng rãi nhất trong các ngành kinh tế quốc dân

Khi xây dựng nhà máy, khu công nghiệp, khu dân cư, thành phố…trước tiên người ta phải xây dựng hệ thống cung cấp điện để cung cấp điện năng cho các máy móc và phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người

Nội dung môn học này nhằm trang bị cho học viên những kiến thức, kỹ năng cơ bản về kỹ thuật Cung cấp điện

Mục tiêu của môn học:

- Kiến thức: Chọn phương được án, lắp đặt được đường dây cung cấp điện cho một phân xưởng phù hợp yêu cầu cung cấp điện theo Tiêu chuẩn Việt Nam

+ Hướng dẫn tối thiểu, giám sát những người khác thực hiện việc tính chọn trên; chịu trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm đối với nhóm

+ Đánh giá chất lượng tính toán sau khi hoàn thành và kết quả thực hiện của các thành viên trong nhóm

Nội dung môn học:

Trang 7

1 Nguồn năng lượng tự nhiên và đặc điểm của năng lượng điện

Ngày nay trên thế giới đã tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất, trong số đó năng lượng cũng là một dạng của cải vật chất quan trọng

Năng lượng ngày càng cần nhiều theo nhu cầu ngày càng tăng của đời sống và sản xuất, thiên nhiên xung quanh ta rất giàu nguồn năng lượng, than đá, dầu khí, nguồn nước và nguồn nhiệt lượng đó là những nguồn năng lượng vô cùng quí báu với con người

Năng lượng điện hay còn gọi là điện năng, hiện nay đã là một dạng năng lượng phổ biến, sản lượng điện trên thế giới ngày càng tăng, chiếm hàng nghìn tỷ KWh Sở

dĩ điện năng được thông dụng như vậy vì nó có nhiều ưu điểm như dễ dàng chuyển hóa thành các dạng năng lượng khác (cơ, hóa, nhiệt vv ) dễ truyền tải đi xa, hiệu suất lại cao

Trong quá trình sản xuất và phân phối, điện năng có một số đặc điểm chính như sau:

- Điện năng sản xuất ra nói chung không tích trữ được (trừ một vài trường hợp đặc biệt với công suất rất nhỏ như pin, ắc quy) Tại mọi thời điểm luôn phải bảo đảm cân bằng giữa lượng điện năng sản xuất ra với lượng điện năng tiêu thụ kể cả tổn thất do truyền tải

- Các quá trình về điện xảy ra rất nhanh (chẳng hạn sóng điện từ lan truyền trong dây dẫn với tốc độ rất lớn xấp xỉ tốc độ ánh sáng 300.000km/s), sóng sét lan truyền trên đường dây, thời gian đóng cắt mạch điện, thời gian tác động của các bảo vệ thường xẩy ra trong khoảng < 0,1s

Đặc điểm này đòi hỏi chúng ta phải sử dụng rộng rãi các thiết bị tự động trong công tác vận hành, điều độ hệ thống cung cấp điện ở trạng thái làm việc bình thường cũng như lúc sự cố, nhằm đảm bảo cho hệ thống cung cấp điện làm việc an toàn, tin cậy và kinh tế

Trang 8

2 Nhà máy điện

Điện năng là một sản phẩm được sản xuất ra từ các nhà máy điện Hiện nay các nhà máy điện lớn đều phát ra năng lượng dòng điện xoay chiều ba pha, rất ít nhà máy phát năng lượng dòng điện một chiều Trong công nghiệp muốn dùng năng lượng dòng điện một chiều thì người ta dùng chỉnh lưu để biến đổi năng lượng dòng điện xoay chiều thành dòng điện một chiều

Nguyên lý chung để sản xuất ra điện ở các nhà máy điện là từ một dạng năng lượng sơ cấp nào đó muốn chuyển thành điện năng đều phải biến đổi qua một cấp trung gian là cơ năng làm quay máy phát điện để phát ra điện năng Nguồn năng lượng thường dùng trong đa số các nhà máy điện hiện nay vẫn là năng lượng các chất đốt và năng lượng nước Từ năm 1954, ở một số nước tiên tiến đã bắt đầu xây dựng một số nhà máy điện dùng năng lượng nguyên tử

2.1 Nhà máy nhiệt điện

Đây là dạng nguồn điện kinh điển nhưng đến nay vẫn chiếm tỷ lệ quan trọng trong tổng công suất của hệ thống điện nước ta

Hình 1-1 Nhà máy nhiệt điện Quá trình biến đổi năng lượng trong nhà máy nhiệt điện xảy ra như sau :

Nhiệt năng → cơ năng → điện năng

- Nhiệt năng (của than) → cơ năng (tua pin) → điện năng => nhà máy nhiệt điện chạy than

- Nhiệt năng (của khí gas) → cơ năng (tua pin khí) → điện năng => nhà máy nhiệt điện chạy khí

- Nhiệt năng (của dầu) → cơ năng (động cơ điezen) → điện năng => nhà máy nhiệt điện điezen

Hiện nay ở miền Bắc nước ta do có mỏ than lớn nên đã xây dựng các nhà máy nhiệt điện chạy than lớn như Nhiệt điện Phả Lại 1 (400 MW), Phả Lại 2 (600 MW),

Trang 9

8

Uông Bí (300 MW),… và một số nhà máy nhiệt điện khác

Ở miền nam, do có nguồn khí khai thác từ các mỏ dầu nên đã xây dựng một số nhà máy nhiệt điện chạy khí lớn như: Phú Mĩ (900MW) Phú Mĩ 2,1 và 2,2 (gần 600 MW) do có nguồn khí lớn nên dự kiến xây thêm một số nhà máy nhiệt điện chạy khí

ở khu vực này

Nhà máy nhiệt điện diezen có công suất nhỏ (khoảng hàng trăm KW) thường được dùng làm nguồn dự phòng, hoặc làm nguồn điện cho những vùng chưa có điện lưới quốc gia

*Ưu điểm của nhà máy nhiệt điện:

- Có thể xây dựng ở nhiều nơi trong lãnh thổ đất nước

- Phát điện không phụ thuộc vào thời tiết, chỉ cần đủ nhiên liệu

- Thời gian xây dựng ngắn

- Diện tích xây nhà máy không lớn

*Nhược điểm của nhà máy nhiệt điện:

- Phải phải khai thác và vận chuyển nhiên liệu

- Hiệu suất thấp (0,3÷0,6)

- Thời gian khởi động nhà máy lâu (4÷5)h và thời gian dừng máy kéo dài (6 ÷12)h

- Thiết bị phức tạp nên khó tự động hoá, kém an toàn, số nhân công lao động trong quản lý vận hành nhiều (cao hơn thuỷ điện gấp khoảng 13 lần)

- Công suất tự dùng của nhà máy cao (chiếm (8 ÷13)%)

- Giá thành điện năng cao (cao hơn thuỷ điện (5 ÷10) lần)

2.2 Nhà máy thuỷ điện

Nhà máy thuỷ điện sử dụng năng lượng của dòng nước làm quay tuabin thuỷ lực dẫn đến quay máy phát điện

Đối với nhà máy thuỷ điện, quá trình biến đổi năng lượng được thực hiện như sau:

Thuỷ năng - Cơ năng - Điện năng

Thuỷ năng (cột của nước) cơ năng (tua bin nước) điện năng  nhà máy thuỷ điện

Động cơ sơ cấp của máy phát là tuabin nước, nối dọc trục với máy phát Công suất nguồn nước của nhà máy thuỷ điện phụ thuộc chủ y ế u vào hai yếu tố sau: Lưu lượng dòng nước Q và chiều cao cột nước h, thể hiện qua biểu thức:

P = 9,81.Q h (kW) (1-1) Trong đó:

- Q là lưu lượng của dòng nước (m3/s)

- h là chiều cao cột nước (m)

Công suất của nhà máy thuỷ điện được xác định theo biểu thức:

PF = 9,81.Q h.ηTB ηMF ηBT (1-2) Trong đó:

- ηTB là hiệu suất của tuabin

- ηMF là hiệu suất của máy phát

- ηBT là hiệu suất của bộ truyền

Từ biểu thức (1-1) và (1-2) ta thấy rằng để tăng công suất của thuỷ điện, có thể

Trang 10

9

xây dựng loại đập chắn trên những đoạn tương đối bằng phẳng của dòng nước để tạo ra lưu lượng Q lớn, hoặc xây dựng ở những đoạn có độ chênh lệch lớn giữa hai mức nước để tạo độ cao h lớn

Nhà máy TĐ được phân bố đều trên cả nước ta: Ở miền Bắc có nhà máy TĐ Hoà Bình (1920 MW), nhà máy TĐ Thác Bà (108 MW) Ở miền Trung có nhà máy

TĐ Ya Ly (700 MW) Ở miền Nam có nhà máy TĐ Trị An (400 MW) Ngoài ra còn

có một số nhà máy TĐ khác có công suất nhỏ hơn như TĐ Vĩnh Sơn, TĐ Sông Hinh,

TĐ Đa Nhim Trong tương lai nước ta sẽ xây thêm một số nhà máy TĐ lớn như TĐ Sơn La, TĐ Sông Gâm ở miền Bắc, TĐ Bản Mai ở miền Trung Thuỷ điện nhỏ được khuyến khích phát triển ở miền Bắc và miền Trung Nhìn chung giá thành điện năng

do nhà máy TĐ sản xuất ra tương đối rẻ, hơn nữa công trình thuỷ điện thường kết hợp với tưới tiêu, chống lũ, giao thông, nuôi cá , v.v…nên đưa lại nhiều lợi ích Vì vậy khi lập kế hoạch phát triển nguồn điện người ta thường ưu tiên phát triển thuỷ điện Tuy nhiên giữa thuỷ điện và nhiệt điện phải có tỷ lệ hợp lý thì hệ thống điện quốc gia mới có thể vận hành an toàn và kinh tế

Hình 1- 2 Nhà máy thủy điện

*Ưu điểm của nhà máy thuỷ điện:

- Dùng năng lượng nước để chạy máy phát điện nên không phải vận chuyển nhiên liệu như nhiệt điện, nguồn nước thiên nhiên rất phong phú

- Hiệu suất cao (0,8÷0,9)

- Thời gian mở máy nhỏ (<2 phút), thời gian dừng máy nhỏ (<1 phút)

- Dễ tự động hoá, an toàn, số công nhân quản lý vận hành không nhiều

- Công suất tự dùng của nhà máy nhỏ (khoảng (0,5÷1)%

- Giá thành điện năng thấp hơn so với nhiệt điện

*Nhược điểm của nhà máy thuỷ điện:

- Chỉ xây dựng được ở nơi có nguồn nước

- Sản lượng điện năng phụ thuộc vào lượng nước của nguồn nước

- Thời gian xây dựng dài, vốn đầu tư xây dựng lớn

- Trường hợp phải xây dựng hồ chứa nước có thể làm ngập một diện tích đất đai lớn

Do những ưu khuyết điểm nói trên, nhiệt điện và thuỷ điện phải hỗ trợ cho nhau

Trang 11

10

Nơi nào không có nguồn nước hoặc cần thiết phải xây dựng nhanh chóng thì xây dựng nhà máy nhiệt điện Ở những nơi có nguồn nước và kết hợp với mục đích thuỷ lợi khác phải chú ý đến khả năng xây dựng nhà máy thuỷ điện

Thực tế việc xây dựng các nhà máy thuỷ điện có tác dụng tích cực cho phòng chống lũ lụt, thủy lợi, giao thông Tuy nhiên cũng làm thay đổi căn bản hệ sinh thái của cả một vùng rộng lớn

2.3 Nhà máy điện nguyên tử

Với tốc độ phát triển của đời sống xã hội và các ngành công nghiệp như hiện nay dẫn đến nhu cầu sử dụng điện ngày một tăng, các nhà máy nhiệt điện phải chạy hết công suất sẽ làm cho nguồn dự trữ các chất đốt đã tìm thấy trên trái đất sẽ hao cạn dần, công việc khai thác ngày càng trở nên khó khăn hơn, giá thành sẽ cao hơn Mặt khác các chất đốt đặc biệt là dầu lửa được sử dụng cho các mục đích khác Vì vậy từ nửa đầu thế kỷ XX, một số nước tiên tiến trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu sử dụng một nguồn năng lượng mới là năng lượng nguyên tử Năm 1954, Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới đã xây dựng thí nghiệm thành công nhà máy điện nguyên tử có công suất 5000 kW Hiện nay các nước phát triển trên thế giới như: Nga, Pháp, Anh, Đức, Thụy Điển, Nhật Bản đã xây dựng những nhà máy điện nguyên tử lớn và ở nước ta sẽ xây dựng nhà máy điện nguyên tử vào những năm

2010

Hình 1-3 Nhà máy điện nguyên tử Năng lượng nguyên tử được sử dụng từ nhiệt năng thu được khi phá vỡ liên kết hạt nhân nguyên tử của một số chất ở trong lò phản ứng hạt nhân Vì vậy đối với nhà máy điện nguyên tử, quá trình biến đổi năng lượng cũng được thực hiện như ở nhà máy nhiệt điện:

Nhiệt năng - Cơ năng - Điện năng

Thực chất nhà máy điện nguyên tử là một nhà máy nhiệt điện, nhưng lò đốt được thay bằng lò phản ứng hạt nhân

* Ưu, nhược điểm:

Trang 12

11

+ Vốn đầu tư xây dựng lớn

+ Nguy hiểm cho người và thiết bị do phóng xạ

* Nhận xét:

Điện năng là một dạng năng lượng đặc biệt không dự trữ được (việc sản xuất luôn đồng hành cùng với tiêu thụ) Hiện nay trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, việc sản xuất điện năng là rất phong phú, ngoài các nhà máy như nhiệt điện (Uông Bí) thuỷ điện (Sơn La), điện nguyên tử, ta còn sử dụng năng lượng gió, mặt trời để sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng

Mạng điện có các cấp điện áp định mức như sau: 220V, 380V, 600V, 3kV, 6kV, 10kV, 20kV, 35kV, 110kV, 150kV, 220kV, 330kV, 500kV, 750kV

Cấp điện áp định mức của mạng điện được chọn càng cao khi công suất truyền tải và độ dài truyền tải càng lớn, để chi phí kim loại màu và tổn thất điện năng trong mạng điện giảm Tuy nhiên cấp điện áp càng cao thì vốn đầu tư xây dựng mạng điện cũng như chi phí vận hành cũng tăng theo Do đó, tùy theo một công suất và khoảng cách tải điện nhất định, ta phải tiến hành tính toán so sánh về kinh tế và kỹ thuật để chọn cấp điện áp định mức mạng điện cho hợp lý

Theo kinh nghiệm thiết kế và vận hành của Liên Xô, người ta đã xây dựng được đường cong giới hạn điện áp tải điện kinh tế Ngoài ra có thể áp dụng một số công thức thực nghiệm khác của Mỹ hay Đức để tính chọn cấp điện áp định mức truyền tải cho thích hợp

Mạng điện được phân loại theo nhiều cách khác nhau:

- Căn cứ theo tiêu chuẩn điện áp cao, thấp và khoảng cách dẫn điện xa, gần Mạng điện có thể phân ra làm hai loại:

+ Mạng điện khu vực: Cung cấp và phân phối điện cho một khu vực rộng lớn, với bán kính hoạt động từ 30km trở lên tới (200÷300) km Điện áp của mạng điện khu vực thông thường là 35kV, 110kV đến 220kV

+ Mạng điện địa phương: Như các mạng điện công nghiệp, thành phố, nông thôn cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ trong bán kính không quá (15-30) km Điện

áp của mạng điện địa phương thông thường là: 6kV, 10kV đến 35kV

- Căn cứ theo hình dáng, mạng điện có thể phân làm hai loại

+ Mạng điện hở: Là mạng điện mà ở mỗi hộ tiêu thụ được cung cấp điện chỉ từ một phía (hình 1-2) Mạng điện này vận hành đơn giản, dễ tính toán nhưng mức bảo đảm cung cấp điện thấp

Trang 13

12

F1

Hình 1-2: Mạng điện hở + Mạng điện kín: Là mạng điện mà ở mỗi hộ tiêu thụ có thể được cấp điện ít nhất từ hai phía (hình 1-3) Mạng điện này tính toán khó khăn, vận hành phức tạp nhưng tính liên tục cung cấp điện cao

F1 F2

Hình 1-3: Mạng điện kín

- Căn cứ theo công dụng mạng điện chia ra làm hai loại

+ Mạng điện cung cấp: Là mạng điện truyền tải điện năng đến các trạm p hân phối trung gian khu vực và từ đó cấp điện cho các mạng phân phối

+ Mạng điện phân phối: Là mạng điện phân phối trực tiếp cho các hộ tiêu thụ như: Động cơ điện, máy biến áp

- Căn cứ theo chế độ trung tính của mạng chia ra làm hai loại

+ Mạng điện ba pha trung tính cách điện với đất hoặc nối đất q u a cuộn dập

hồ quang còn gọi là mạng có dòng chạm đất nhỏ

+ Mạng điện ba pha trung tính nối đất trực tiếp: Các mạng có điện áp 22kV và

từ 110kV trở lên đều có trung tính trực tiếp nối đất

- Dựa theo cấp điện áp mạng điện được chia làm 3 loại:

+ Mạng điện hạ áp là mạng có điện áp dưới 1000V

+ Mạng điện cao áp là mạng có điện áp từ 1kV đến 220kV

+ Mạng điện siêu cao áp là mạng có điện áp trên 220kV

Ngoài ra người ta còn phân mạng điện thành các mạng điện đường dây trên không, mạng cáp, mạng điện xoay chiều, mạng điện một chiều…

4 Hộ tiêu thụ

Hộ tiêu thụ điện hay còn gọi là hộ dùng điện, phụ tải điện Trong hệ thống năng lượng thì phụ tải điện rất đa dạng và được phân thành nhiều loại dưới các khía cạnh xem xét khác nhau Các hộ tiêu thụ điện được chia làm 3 loại như sau:

Hộ loại I

Hộ loại I gồm các thiết bị nếu ngừng cung cấp điện sẽ gây ra nguy hiểm đến tính mạng con người, làm hư hỏng nặng thiết bị, rối loạn quá trình sản xuất của xí nghiệp, gây ra hàng loạt phế phẩm, ảnh hưởng lớn về chính trị và gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế quốc dân

Trang 14

Hộ loại II

Hộ loại II gồm các thiết bị nếu ngừng cung cấp điện sẽ gây ra nhiều phế phẩm, ngừng sản xuất trong xí nghiệp, có thể có hư hỏng thiết bị nhưng ở mức độ nhẹ hơn trường hợp trên, lãng phí lao động

Như vậy đối với hộ loại II nếu ngừng cung cấp điện chỉ dẫn đến thiệt hại về kinh

Hộ loại III

Hộ loại III gồm các thiết bị còn lại không nằm trong hai loại trên Hộ loại III

có yêu cầu liên tục cung cấp điện thấp hơn so với hai loại trên Cho phép mất điện trong một thời gian để sửa chữa, thay thế các thiết bị khi cần thiết Phương án cung cấp điện cho hộ loại III có thể dùng một nguồn, đường dây đơn (1 lộ)

Chú ý: Việc phân chia các thiết bị điện thuộc hộ loại I, II hay III chỉ là tương đối Phải kết hợp với tình hình cụ thể của xí nghiệp để phân chia cho hợp lý Cùng một loại thiết bị, ở xí nghiệp này do có vai trò rất quan trọng nên được xếp vào

hộ loại I, nhưng ở xí nghiệp khác thì lại có thể xếp vào hộ tiêu thụ loại II

5 Hệ thống điện Việt Nam

Hệ thống điện của Việt Nam bao gồm: Phần điện của nhà máy điện thuỷ điện Hoà Bình, Sơn La, nhiệt điện Phả Lại Phú Mĩ

Lưới điện: Các trạm biến áp tăng áp, các đường dây truyền tải, phân phối điện

và trạm biến áp giảm áp

+ Lưới điện đô thị: Gồm thành phố lớn, nhỏ và thị trấn, điện áp trung áp thường

sử dụng trong đô thị là 22KV và 10KV Mỗi thành phố tuỳ theo lớn nhỏ, có thể được cung cấp bởi một hai hay hoặc nhiều trạm biến áp trung gian

+ Lưới điện nông thôn: Mỗi huyện thường được cấp điên từ một đến hai trạm biến áp trung gian Cấp điện áp 10KV và 35KV Do điều kiện địa lý lưới điện trung

áp có cấu trúc như cành cây Từ trạm biến áp trung gian xây dựng vuông góc với đường trục trung áp, các đường rẽ nhánh từ những đường trục vươn về xã để cấp điện cho các trạm phân phối

Tất cả các tuyến dây đều là dây trần không vỏ không hở trạm biến áp kiểu cột Mỗi thôn thường được đặt một trạm biến áp phân phối ở giữa thôn làng từ đây có đường trục rẽ vào các ngõ xóm

+ Lưới điện xí nghiệp công nghiệp (XN,CN): Điện năng cấp cho XN, CN được lấy từ các trạm biến áp trung gian bằng các đường dây trung áp.Tuỳ theo công suất

Trang 15

Theo số liệu thông tin nguồn điện vào tháng 01/2000, tổng công suất lắp đặt của các nhà máy điện của nước ta là 5710MW, công suất khả dụng hơn 5382MW, trong đó thủy điện chiếm 54%; nhiệt điện chiếm 22%; điêzen và tuốc bin khí 24% Tổng sản lượng của các nhà máy điện năm 1999 là 23,738 tỷ kWh, trong đó thủy điện chiếm 58,7%; nhiệt điện chiếm 22,7%; điêzen và tuốc bin khí 18,6%

Tỷ trọng tiêu thụ điện trong năm 1999 như sau:

+ Điện công nghiệp: 38,7%

+ Điện nông nghiệp: 3,0%

+ Điện sinh hoạt: 51,1%

Năm 2007: tổng sản lượng của các nhà máy điện đến tháng 3/2007 là 12,612

tỷ kWh, trong đó:

+ Điện công nghiệp - xây dựng: 48,82%

+ Điện sinh hoạt, quản lý, tiêu dùng, dân cư: 41,57%

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Trình bày đặc điểm, các yêu cầu đối với nguồn năng lượng, nhà máy điện, mạng lưới điện, hộ tiêu thụ, hệ thống điện Việt Nam?

2 Phân loại các hộ tiêu thụ điện trong hệ thống cung cấp điện?

Trang 16

15

Trang 17

16

BÀI 1: TÍNH TOÁN PHỤ TẢI

Mã chương: MH 19 - 01 Giới thiệu:

Tính toán phụ tải điện bao gồm xác định phụ tải điện và lựa chọn phương án cung cấp điện

Xác định phụ tải điện là nhiệm vụ đầu tiên khi thiết kế cung cấp điện Nhu cầu điện không chỉ xác định theo phụ tải thực tế mà còn phải tính đến khả năng phát triển trong tương lai Xác định nhu cầu điện có vai trò rất quan trọng, là tiền đề cho việc thiết kế cung cấp điện

Việc lựa chọn phương án cung cấp điện bao gồm những vấn đề: chọn cấp điện

áp, chọn nguồn điện, chọn sơ đồ nối dây và chọn phương thức vận hành… Các vấn

đề này có ảnh hưởng trực tiếp đến vận hành, khai thác và phát huy hiệu quả của hệ thống cung cấp điện

Mục tiêu:

- Nhận thức chính xác về sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng từ đó phục vụ cho việc tiếp thu tốt những bài học tiếp theo

- Phân tích các thông số kỹ thuật cần thiết trong một hệ thống điện

- Vận dụng phù hợp các phương pháp tính toán phụ tải, vẽ được đồ thị phụ tải, tâm phụ tải

- Chọn được phương án cung cấp điện phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật

- Rèn luyện tính cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác, tư duy khoa học và sáng tạo

1.2 Đồ thị phụ tải điện

Phụ tải điện là một hàm theo thời gian, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đặc điểm của quá trình công nghệ, chế độ vận hành v.v… Tuy vậy đối với mỗi loại hộ tiêu thụ (xí nghiệp, trạm bơm tưới tiêu, mạng lưới giao thông v.v…) cũng có thể đưa ra một dạng phụ tải điển hình Lúc thiết kế nếu biết đồ thị phụ tải điển hình thì

sẽ có căn cứ để chọn các thiết bị điện, tính điện năng tiêu thụ Lúc vận hành nếu biết

đồ thị phụ tải điển hình thì có thể định phương thức vận hành các thiết bị điện sao cho kinh tế, hợp lý nhất Các nhà máy phát điện cần nắm được đồ thị phụ tải của các

hộ tiêu thụ để định phương thức vận hành của các máy phát điện cho phù hợp vì vậy đồ thị phụ tải là một tài liệu quan trọng trong thiết kế cũng như vận hành hệ thống cung cấp điện Tuỳ theo yêu cầu sử dụng mà người ta xây dựng các loại đồ thị

Trang 18

Là đồ thị phụ tải trong một ngày đêm 24h Trong thực hành có thể dùng dụng

cụ đo điện từ tự ghi để vẽ đồ thị phụ tải, hoặc do nhân viên vận hành ghi lại giá trị của phụ tải sau từng khoảng thời gian nhất định (hình 2-1a,b) Thông thường để thuận tiện cho việc tính toán đồ thị được vẽ lại theo hình bậc thang (hình 2 -1c) Nghiên cứu đồ thị phụ tải hàng ngày của hộ tiêu thụ ta có thể biết được tình trạng làm việc của các thiết bị Từ đó có thể định quy trình hợp lý nhất nhằm đạt được đồ thị

Hình 2 -1 Đồ thị phụ tải hàng ngày

a) Do dụng cụ đo điện tự ghi

b) Do nhân viên vận hành ghi chép

c) Đồ thị phụ tải vẽ theo hình bậc thang

phụ tải tương đối bằng phẳng Như thế sẽ đạt được mục đích vận hành kinh tế các thiết bị điện giảm được tổn thất trong mạng điện Đồ thị phụ tải hàng ngày cũng

là tài liệu làm căn cứ để chọn thiết bị điện, tính điện năng tiêu thụ

Hình 2 -2: Đồ thị phụ tải hàng tháng

Nghiên cứu đồ thị phụ tải hàng tháng chúng ta có thể biết được nhịp độ làm việc của hộ tiêu thụ, từ đó định ra lịch vận hành sửa chữa các thiết bị điện một cách hợp lý, đáp ứng được yêu cầu sản xuất

Ví dụ : Xét đồ thị phụ tải hàng tháng của một xí nghiệp hình 2-2 ta thấy rằng vào khoảng tháng 4, 5 phụ tải của xí nghiệp là nhỏ nhất, vì vậy vào lúc này nên tiến hành sửa chữa vừa và lớn các thiết bị điện Còn những tháng cuối năm phụ tải của xí

Trang 19

18

nghiệp là lớn nhất, nên trước những tháng đó (tháng 9, tháng 10) phải có kế hoạch sửa chữa nhỏ, bảo dưỡng hoặc thay thế thiết bị điện hỏng để có thể đáp ứng được yêu cầu của sản xuất

để chọn dung lượng máy biến áp, chọn thiết bị điện, đánh giá mức độ sử dụng điện

và tiêu hao điện năng

Trong các sổ tay tra cứu người ta thường cho các đồ thị phụ tải hàng ngày và hàng năm điển hình ứng với các loại hộ tiêu thụ điện khác nhau

KW

a b

a) b) c)

Hình 2- 3 Đồ thị phụ tải hàng năm a) Đồ thị phụ tải điển hình của một ngày mùa đông, b) Đồ thị phụ tải điển hình của một ngày mùa hè

c) Đồ thị phụ tải hằng năm

1.3 Các phương pháp xác định công suất tính toán (phụ tải tính toán)

Các đại lượng cơ bản dùng trong xác định công suất tính toán:

- Công suất định mức P đm

Công suất định mức của các thiết bị điện thường được các nhà chế tạo ghi rõ trong lý lịch máy hoặc trên nhãn hiệu máy Đứng về mặt cung cấp điện, chúng ta quan tâm đến công suất đầu vào của động cơ gọi là công suất đặt (hình 2 - 4)

Pđm

Hình 2-4

Vì hiệu suất định mức của động cơ tương đối cao (đối với động cơ không đồng

bộ rô to lồng sóc ηđc = (0,8÷ 0,95) nên để cho tính toán được đơn giản, người ta thường cho phép bỏ qua hiệu suất, lúc này lấy :

Pđ ≈ Pđm (2-2)

- Công suất đặt P đ

Công suất được tính như sau:

(2-1)

Trong đó:

Pđ - Công suất đặt của động cơ, KW

Pđm- Công suất định mức của động cơ,

KW

ηđc - Hiệu suất định mức của động cơ

Trang 20

19

1 Đối với thiết bị chiếu sáng, công suất đặt là công suất tương ứng với số ghi trên đế hay ở bầu đèn, công suất này bằng công suất được tiêu thụ bởi đèn khi điện áp mạng là định mức

2 Đối với động cơ điện làm việc ở chế độ ngắn hạn lặp lại như sau: Cần trục, máy hàn, khi tính phụ tải điện chúng ta phải quy đổi về công suất định mức ở chế độ làm việc dài hạn, tức là quy đổi về chế độ làm việc có hệ số tiếp điện ε% = 100 % Công thức quy đổi như sau:

đm đm đm

4 Đối với máy biến áp hàn, thì công suất đặt được tính toán qui đổi về hệ số tiếp điện εđm như sau:

đm đm đm

P  cos   (2-4) Các tham số định mức trên đã cho trong lý lịch của máy

- Phụ tải trung bình P tb

Phụ tải trung bình là một đặc trưng tĩnh của một phụ tải trong một khoảng thời gian nào đó Tổng phụ tải trung bình của các thiết bị đã cho ta căn cứ để đánh giá giới hạn dưới của phụ tải tính toán Trong thực tế phụ tải trung bình được tính theo công thức sau:

- ∆P, ∆Q: Điện năng tiêu thụ trong một khoảng thời gian khảo sát KW, KVAR

- t: Thời gian khảo sát, h

Phụ tải trung bình của nhóm thiết bị được tính theo công thức sau:

n

i i

Q

1

(2-6) Biết phụ tải trung bình chúng ta có thể đánh giá được mức độ sử dụng thiết bị Phụ tải trung bình là một số liệu quan trọng để xác định phụ tải tính toán, tính tổn hao điện năng Thông thường phụ tải trung bình được xác định ứng với thời gian khảo sát là một ca làm việc, một tháng hoặc một năm

- Phụ tải cực đại P max

Phụ tải cực đại được chia ra làm hai nhóm :

1.Phụ tải cực đại Pmax là phụ tải trung bình lớn nhất tính trong khoảng thời gian tương đối ngắn (thường lấy bằng 5, 10 hoặc 30 phút), hình (2 -5) ứng với các

ca làm việc có phụ tải lớn nhất trong ngày Đôi khi người ta dùng phụ tải cực đại được xác định như trên để làm phụ tải tính toán

Trang 21

2 Phụ tải đỉnh nhọn Pđn

Phụ tải đỉnh nhọn Pđn: phụ tải cực đại xuất hiện trong khoảng thời gian từ 1-2s Phụ tải đỉnh nhọn được dùng để kiểm tra dao động điện áp, điều kiện tự khởi động của động cơ, kiểm tra điều kiện làm việc của cầu chì, tính dòng điện khởi động của rơle bảo vệ…

Phụ tải đỉnh nhọn thường xảy ra khi động cơ khởi động Chúng ta không những chỉ quan tâm đến trị số phụ tải đỉnh nhọn mà còn quan tâm đến tần số xuất hiện của nó Bởi vì số lần xuất hiện của phụ tải đỉnh nhọn càng tăng thì càng ảnh hưởng tới sự làm việc bình thường của các thiết bị dùng điện khác ở trong cùng một mạng điện

- Phụ tải tính toán P tt

Phụ tải tính toán là 1 số liệu rất cơ bản dùng để thiết kế cung cấp điện

Phụ tải tính toán Ptt: Là phụ tải giả thiết lâu dài không đổi tương đương với phụ tải thực tế (biến đổi) về mặt hiệu ứng nhiệt lớn nhất Nói 1 cách khác phụ tải tính toán cũng làm nóng dây dẫn lên tới nhiệt độ bằng nhiệt độ lớn nhất do phụ tải thực tế gây

ra Như vậy nếu chọn các thiết bị điện theo phụ tải tính toán thì có thể đảm bảo an toàn (về mặt phát nóng) cho các thiết bị đó trong mọi trạng thái vận hành Quan hệ giữa phụ tải tính toán và phụ tải khác được nêu trong bất đẳng thức sau:

Ptb ≤ Ptt ≤ PmaxHằng số thời gian phát nóng của các vật liệu dẫn điện được lắp đặt trong không khí, dưới đất và trong ống dao động xung quanh trị số 30 phút Vì thế người ta thường lấy trị số trung bình của phụ tải lớn nhất xuất hiện trong khoảng 30 phút để làm phụ tải tính toán (hình 2 -5) Cũng chính vì thế mà có sách gọi phụ tải tính toán

là phụ tải nửa giờ P30 Cũng có 1 số trường hợp người ta lấy Ptt tương ứng với khoảng thời gian 10 phút hoặc 15 phút

Trang 22

21

đm

tb sd

đm

đmi i

P P

k P

đm

n n sd

t t

t P

t P t

P t P k

.

2 1

2 2 1 1

Hệ số sử dụng nói nên mức độ sử dụng, mức độ khai thác công thức của thiết bị điện trong 1 chu kì làm việc Hệ số sử dụng là 1 số liệu tính phụ tải tính toán

Trang 23

22

Ksd= 1 Ksd= 0,2 Ksd= 0,1

Kmax

3,0 2,0

tb tb tt đm

tt

P

P P

P P

P

Cũng như hệ số cực đại, hệ số nhu cầu thường tính cho phụ tải tác dụng

Có khi knc được tính cho phụ tải phản kháng nhưng số liệu này ít được dùng hơn Trong thực tế hệ số nhu cầu thường do kinh nghiệm vận hành mà tổng kết lại

Bảng 2.1 Tra trị số Kmax theo Ksd và nhq

n hq Giá trị k max khi ks d

Trang 24

Hệ số thiết bị hiệu quả nhq

Số thiết bị hiệu quả nhq là số thiết bị giả thiết có cùng công suất và chế độ làm việc, chúng đòi hỏi phụ tải bằng phụ tải tính toán của nhóm phụ tải thực tế (gồm các thiết bị có chế độ làm việc và công suất khác nhau)

Công thức để tính nhq như sau:

n hq

đmi i

P n

P P

pn và pn1: Tổng công suất ứng với n và n1 thiết bị

Sau khi tính được n* và p* thì dùng (bảng 2 -2) hoặc đường cong ở (hình 2-8) để tìm nhq*, từ đó tính nhq theo công thức:

nhq = nhq*.n

Số thiết bị hiệu quả là 1 trong những số liệu quan trọng để xác định phụ tải tính toán:

Trang 25

P P

P

0,1 0,15 0,20 0,25 0,3 0,35 0,4 0,45 0,5 0,55 0,6 0,65 0,7 0,75 0,8 0,85 0,9 0,95 1,0 0,02 0,71 0,51 0,36 0,26 0,19 0,14 0,11 0,09 0,07 0,06 0,05 0,01 0,04 0,03 0,03 0,03 0,02 0,02 0,02

Trang 26

25

nhq*

0,2 0,4 0,6 0,8 1,0

0

0,04 0,08

0,120,160,2

0,24 0,28 0,32

n * p*=const

Hình 2-8: Đường cong biểu diễn quan hệ nhq* = f(n* ; p*) Hiện nay có nhiều phương pháp tính phụ tải tính toán Những phương pháp đơn giản, tính toán thuận tiện, thường kết quả không thật chính xác lắm Ngược lại, nếu độ chính xác được nâng cao thì phương pháp tính phức tạp Vì vậy tuỳ theo giai đoạn thiết kế, tuỳ theo yêu cầu cụ thể mà chọn phương pháp tính cho thích hợp Sau đây sẽ trình bày 1 số phương pháp xác định phụ tải tính toán thường dùng nhất

3.1 Xác định phụ tải tính toán theo công suất đặt và hệ số nhu cầu

Công thức tính:

(2.15)

Q ttP tt tg (2.16)

 cos

2

tt tt tt

P P

P

1

(2.19) Trong đó:

pđi, pđmi - công suất đặt và công suất đinh mức của thiết bị thứ i, KW

ptt, Qtt, Stt - công suất tác dụng, phản kháng và toàn phần tính toán của nhóm thiết bị, KW, KVAr, KVA;

n - số thiết bị trong nhóm

Nếu hệ số công suất cosφ của các thiết bị trong nhóm không giống nhau

thì phải tính hệ số công suất trung bình theo công thức sau:

n

n n

P P

P

P P

cos cos

cos

2 1

2 2 1

U

S I

3

Trang 27

26

là 1 số liệu cho trước và không phụ thuộc vào chế độ vận hành, thiết bị trong nhóm máy.Ta có knc =ksd.kmax có nghĩa là hệ số nhu cầu phụ thuộc vào những yếu tố kể trên Vì vậy, nếu chế độ vận hành và số thiết bị trong nhóm thay đổi nhiều thì kết quả tính phụ tải tính toán theo hệ số yêu cầu sẽ không chính xác

3.2 Xác định phụ tải tính toán theo suất phụ tải trên 1 đơn vị diện tích sản xuất

Công thức tính:

Ptt = P0.F (2.21) Trong đó:

- P0: suất phụ tải trên 1m2 diện tích sản xuất KW/m2

- F: diện tích sản xuất, m2 (tức là diện tích dùng để đặt máy sản xuất)

Giá trị P0 có thể tra được trong các sổ tay Giá trị P0 của từng loại hộ tiêu thụ

do kinh nghiệm vận hành thống kê lại mà có

Phương pháp này chỉ cho kết quả gần đúng, vì vậy nó thường được dùng trong giai đoạn thiết kế sơ bộ Nó cũng được dùng để tính phụ tải các phân xưởng có mật

độ máy móc sản xuất phân bố tương đối đều, như phân xưởng gia công ty cơ khí, dệt, vòm bi…

Ví dụ Xác định phụ tải tính toán của phân xưởng gia công nguội của nhà máy

cơ khí Cho biết S0 = 0,3 KVA/m2 Diện tích phân xưởng F =13000m2

M - số đơn vị sản phẩm được sản xuất ra trong 1 năm (sản lượng)

W0- suất tiêu hao điện năng trong 1 đơn vị sản phẩm, kWh/đơn vị sản phẩm

Tmax thời gian sử dụng công suất lớn nhất, (h)

Phương pháp này thường được dùng để tính toán cho các thiết bị điện có đồ thị phụ tải ít biến đổi như: Quạt gió, bơm nước, máy nén khí Khi đó phụ tải tính toán gần bằng phụ tải trung bình và kết quả tính tương đối chính xác

Ví dụ: Tính phụ tải tính toán của nhóm máy nén khí Biết rằng trong nhóm máy đó sản xuất được 312.106 m3 khí nén điện năng tiêu thụ cho 103m3 khí nén là

W0=100KWh/103m3 thời gian sử dụng công suất lớn nhất T

max = 7000h Phụ tải tính toán:

Ptt = 4457 ( )

10 7 10

10 10 312

3 3

2 6

k W

Trang 28

Q tttt ;

 cos

2

tt tt tt

P P

Q

đm

tt tt

U

S I

3

Khi tính phụ tải theo phương pháp này, trong 1 số trường hợp cụ thể dùng các công thức gần đúng sau:

1 Trường hợp n ≤ 3 và nhq < 4, phụ tải tính toán được tính theo công thức:

Ptt =

1

n đmi i

2

tt tt tt

P P

Q

đm

tt tt

U

S I

3

Trong đó:

- n: Số thiết bị thực tế trong nhóm (n ≤ 3)

- tgdmi: Ứng với hệ số công suất định mức của thiết bị thứ i Khi không có các

số liệu về trị số cosφđmi thì ta lấy cosφ = 0,8

Đối với thiết bị làm việc ở chế độ ngắn hạn lặp lại thì:

Stt =

875 , 0

1

Trong đó:

Kpti : hệ số phụ tải của từng máy

Nếu không có số liệu chính xác về kpt và cosφđmi, ta có thể lấy giá trị trung bình của chúng như sau:

kpt= 0,9; cosφđm = 0,8 đối với thiết bị làm việc ở chế độ dài hạn

Trang 29

28

kpt= 0,75; cosφđm = 0,7 đối với thiết bị làm việc ở chế độ ngắn hạn lặp lại

3 Nếu nhq > 300 và ksd < 0,5 thì hệ số cực đại kmax được lấy ứng với nhq =

300 Còn khi nhq > 300 và ksd ≥ 0,5 thì:

Ptt = 1,05.ksd.Pđm (2.28) (vì bảng chỉ có giá trị nhq đến 300)

4 Đối với các thiết bị có đồ thị phụ tải bằng phẳng (các máy bơm, quạt nén khí ) phụ tải tính toán có thể lấy bằng phụ tải trung bình:

Ptt = Pca = Ptb = ksd.Pđm (2.29)

Ví dụ 1: Xác định phụ tải tính toán theo hệ số cực đại (Kmax) và công suất trung bình (Ptb) cho một phân xưởng cơ khí với các thiết bị và số liệu ghi ở bảng sau :

Tên các thiết bị Số lượng Pđm/máy (KW) Cosφ/1máy

0,7 0,6 0,65 0,50 0,50

Đ

áp án:

Qtt1

=

19,2

4 (kVAr)

1.4 Phương pháp tính một số phụ tải đặc biệt

a Tính toán phụ tải cho thiết bị điện một pha

Nếu trong mạng có các thiết bị điện một pha thì phải cân đối các thiết bị một pha vào mạng 3 pha của mạng sao cho mức không cân bằng giữa các pha là nhỏ nhất Khi đó:

Tên thiết bị Ký hiệu Số lượng Pđm (KW) Cos Ksd

Trang 30

29

a) Nếu tại một điểm cung cấp (tủ phân phối, đường dây chính…) mà phần công suất không cân bằng nhỏ hơn 15% tổng công suất tại điểm đó, thì các thiết bị một pha

đó phải được coi như thiết bị ba pha có công suất tương đương Tức là:

∑Pkhông cân bằng ≤ 0,15∑Pcân bằng

Thì phụ tải không cân bằng được tính toán như phụ tải cân bằng

b) Nếu phần công suất không cân bằng lớn hơn 15% tổng công suất các thiết bị

ở điểm xét thì phụ tải tính toán quy đổi về 3 pha Ptt(3 pha) của các thiết bị 1 pha được tính như sau:

- Trường hợp thiết bị một pha nối vào điện áp pha của mạng thì:

Ptt (3 pha) = 3.P1 pha (max) (2.30)

Với P1 pha (max) : Tổng công suất các thiết bị một pha của pha có phụ tải lớn nhất Vậy phụ tải tính toán 3 pha bằng 3 lần phụ tải tính toán của pha có phụ tải lớn nhất

- Trường hợp thiết bị một pha nối vào điện áp dây của mạng điện thì:

P tt (3 pha) = P 1 pha (2.31)

- Trường hợp mạng điện vừa có thiết bị một pha mắc vào điện áp pha, vừa có thiết bị một pha mắc vào điện áp dây thì phải quy đổi các thiết bị nối vào điện áp dây thành thiết bị nối vào điện áp pha

Phụ tải tính toán của một pha bằng tổng phụ tải của thiết bị 1 pha nối vào điện

áp pha và phụ tải quy đổi của các thiết bị 1 pha nối vào điện áp dây đã quy đổi về điện áp pha Sau đó cũng như trên ta tính phụ tải của ba pha bằng 3 lần phụ tải của pha có phụ tải lớn nhất

Ví dụ: Một mạng điện có thiết bị một pha nối vào điện áp dây Uab, Uac và điện

áp pha Uao Hãy quy đổi phụ tải pha a

Giải:

Phụ tải tác dụng của pha a:

Ppha a = Pab p(ab)a + Pac p(ac)a+ Pao

Phụ tải phản kháng của pha a:

Qpha a = Qab q(ab)a + Qac q(ac)a+ Qao

Trang 31

Ngoài việc quan tâm đến giá trị đỉnh nhọn Iđn, ta cần phải quan tâm đến tần số xuất hiện của nó Dòng điện đỉnh nhọn xuất hiện khi động cơ khởi động, lò hồ quang hay máy hàn làm việc…

Đối với một máy, dòng điện đỉnh nhọn chính là dòng điện mở máy

Iđn = Imm = kmm.Iđm (2.32)Trong đó: kmm là bội số mở máy của động cơ

Khi không có số liệu chính xác thì bội số mở máy có thể lấy như sau:

- Đối với động cơ không đồng bộ rôto lồng sóc: kmm = 5÷7

- Đối với động cơ điện một chiều hoặc động cơ không đồng bộ rôto dây quấn :

Iđn = Imm(max) + (Itt – ksd.Iđm(max)) (2.33)

Trong đó:

- Imm là dòng điện mở máy lớn nhất trong dòng điện mở máy của các động cơ trong nhóm

- Itt là dòng điện tính toán của nhóm máy

- Ksd là hệ số sử dụng của động cơ có dòng điện mở máy lớn nhất

- Iđm(max) là dòng điện định mức của đông cơ có dòng điện mở máy lớn nhất đã quy đổi về chế độ làm việc dài hạn

Trong một số trường hợp đặc biệt như: hộ tiêu thụ có phụ tải xung kích (ví dụ như lò hồ quang mạnh, các bộ truyền động biến đổi chính không có bánh đà của máy cán thép liên hợp) thì dòng điện đỉnh nhọn được tính toán theo phương pháp đặc biệt

Ví dụ: Tính dòng điện đỉnh nhọn của đường dây cung cấp cho phụ tải có số liệu sau:

Động cơ Pđm (kW) ε% Cosφ Iđm (A) Kmm

Trang 32

đmi đm

9  ≈ 13,2 (KVA)

Dòng điện tính toán của nhóm máy:

Dòng điện định mức của động cơ nâng hàng quy đổi về ε% = 100%

Để xác định sơ bộ vị trí của các trạm BATG, trạm PPTG, trạm BAPX và trạm

BA hạ áp của từng khu vực khi thiết kế hệ thống cung cấp điện cho xí nghiệp công nghiệp, hoặc khu dân cư cần xây dựng bản đồ phụ tải để thể hiện giá trị phụ tải tính toán theo từng địa danh trên bản đồ (mặt bằng ), địa lý của xí nghiệp hay địa bàn khu vực (Hình 2 - 10)

Trang 33

32

Hình 2 - 10: Bản đồ phụ tải trên mặt bằng tổng thể của xí nghiệp và tâm phụ tải

Để xây dựng bản đồ phụ tải của xí nghiệp hay một địa bàn khu vực, cần xác định bán kính vòng tròn phụ tải đối với từng phân xưởng, hay từng địa danh cụ thể trong xí nghiệp hay địa bàn khu vực

Diện tích hình tròn πr2 được biểu diễn theo tỷ lệ xích m π r2 bằng phụ tải toàn phần của phân xưởng hoặc địa danh cụ thể Stt (KVA):

Stti = m π.r2 từ biểu thức trên, bán kính hình tròn được xác định theo công thức:

Góc biểu diễn tỷ lệ phụ tải chiếu sáng:

b Xác định tâm phụ tải điện

Để Xác định tâm của phụ tải điện, ta dựa trên cơ sở xác định điểm tựa tối ưu của các lực cơ học Trên mặt phẳng đồng nhất, có dạng phức tạp theo lý thuyết cơ học, để nâng một vật nặng sao cho tốn lực ít nhất

Ở đây ta quan niệm phụ tải của các phân xưởng hoặc các địa danh là lực, điểm tựa hay điểm kê là trạm biến áp hoặc trạm phân phối trung gian, cánh tay đòn là khoảng cách từ phụ tải tới điểm cấp nguồn

Theo quan niệm này, bài toán được đặt ra là tìm vị trí đặt trạm BA trung gian hoặc trạm phân phối trung gian sao cho tổn thất công suât, tổn thất điện năng, và tổn thất điện áp trong lưới điện xí nghiệp hoặc lưới điện của địa bàn là nhỏ nhất Tâm phụ tải điện được xác định theo các công thức sau theo hệ trục toạ độ x, y tự chọn

Trong đó: x0, y0 – các kích thước toạ độ của tâm phụ tải A (x0,y0)

S1 - phụ tải toàn phần của phân xưởng thứ i

xi ,yi - kích thước các toạ độ trên mặt bằng của phụ tải thứ i

n

i i i

S

x S X

1

1 0

n

i i i

S

y S Y

1

1 0

.

Trang 34

Mỗi cách giải được hiểu là một phương án, có lời giải, đáp số riêng Phương án tối ưu là phương án có lời giải hợp lí nhất trong số các lời giải của các phương án được chọn theo một vài chỉ tiêu định trước

Thông thường không có lời giải tối ưu cho tất cả các mục tiêu đề ra (tối ưu đa mục tiêu) Trong bài toán cung cấp điện chỉ đề cập tới hai chỉ tiêu cơ bản: Kinh tế (vốn đầu tư và chi phí) và kĩ thuật (chất lượng điện áp và tần số)

So sánh kinh tế kĩ thuật lựa chọn phương án tối ưu là việc thực hiện các tính toán về mặt kinh tế, kĩ thuật đối với từng phương án so sánh đối chiếu để tìm ra phương án có lời giải tốt nhất theo hai chỉ tiêu trên

2.2 Chọn điện áp định mức của mạng điện

a Chọn cấp điện áp cho lưới điện truyền tải cao, trung áp

Để cung cấp điện cho các hộ tiêu thụ (nhà máy, xí nghiệp, cụm công nghiệp cũng như các khu vực dân cư) có phụ tải lớn, cách xa nguồn không thể cung cấp điện trực tiếp từ các lưới điện áp thấp được cần phải lựa chọn các cấp điện áp cao hơn Trong thực tế, khi tính toán thiết kế hệ thống cung cấp điện thường sử dụng các công thức kinh nghiệm của các nước

Trong công thức trên:

l - khoảng cách truyền tải, (km)

S hoặc P – công suất truyền tải, MVA hoặc MW

Các cấp điện áp tính được theo các công thức (3.1) và (3.4) là các cấp điện áp không tiêu chuẩn Sau đó cần so sánh lựa chọn theo các cấp điện áp định mức tiêu chuẩn có giá trị gần nhất

Trang 35

2.3 Sơ đồ mạng điện cao áp

Khi chọn sơ đồ nối dây của mạng điên, chúng ta phải căn cứ vào các yêu cầu cơ bản của mạng điện, vào tính chất của hộ dùng điện, vào trình độ vận hành thao tác của công nhân, vào vốn đầu tư v.v việc lựa chọn sơ đồ nối dây phải dựa trên sơ đồ tính toán so sánh kĩ thuật Nói chung sơ đồ sơ đồ nối dây có hai dạng cơ bản sau đây:

- Sơ đồ hình tia (hình 2-11a)

32

1 Thanh cái trạm phân phối, 2 Đường dây điện cao áp

3 Biến áp phân xưởng, 4 Hộ tiêu thụ, 5 Đường dây trục chính

Sơ đồ hình tia có ưu điểm là nối dây rõ ràng, mỗi hộ dùng điện được cung cấp từ một đường dây, do đó chúng ít ảnh hưởng lẫn nhau, độ tin tưởng cung cấp điện tương đối cao, dễ thực hiện các biện pháp bảo vệ và tự động hoá, dễ vận hàng bảo quản

Trang 36

Trong thực tế người ta thường kết hợp hai dạng sơ đồ cơ bản đó thành những sơ

đồ hỗn hợp Để nâng cao trình độ tin cậy và tính linh hoạt của sơ đồ người ta thường đặt các mạch dự phòng chung hoặc riêng Sau đây chúng ta xét một sơ đồ điển hình

a Sơ đồ hình tia có đường dây dự phòng chung

Trong sơ đồ này (hình 2-12) các trạm biến áp được cung cấp từ những đường dây hình tia dẫn từ trạm phân phối tới

Hình 2-12 Sơ đồ cung cấp điện kiểu hình tia có đường dây dự phòng chung Ngoài ra các trạm biến áp còn được cung cấp từ đường dây dự phòng chung (đường nét đứt) lấy từ hai phân đoạn của trạm phân phối Bình thường đường dây dự phòng không làm việc, chỉ khi nào có đường dây chính bị hư hỏng thì đường dây dư phòng mới làm việc để thay thế nó Do cách nối nên đường dây dự phòng có thể thay thế cho bất kỳ đường dây chính nào, vì vậy nó là đường dây dự phòng chung

Nguồn cung cấp cho đường dây dự phòng có thể lấy từ các phân đoạn của trạm phân phối hoặc từ nguồn thứ hai khác

b Sơ đồ phân nhánh có đường dây dự phòng chung

Trong sơ đồ này (hình 2-13) các trạm biến áp được cung cấp từ các đường dây phân nhánh Để nâng cao độ tin cậy cung cấp điện người ta đặt thêm đường dây dự

Trang 37

36

phòng chung Nhờ có đường dây dự phòng chung nên khi có sự cố trên một phân nhánh nào đó ta có thể cắt phần bị sự cố ra và đóng đường dây dự phòng vào để tiếp tục làm việc

Hình 2-13: Sơ đồ cung cấp điện kiểu phân nhánh có đường dây dự phòng

chung

c Sơ đồ phân nhánh có đường dây dự phòng riêng cho từng trạm biến áp

Trong sơ đồ này (hình 3 - 4) các đường dây dự phòng (đường nét đứt) được nối

ở phía điện áp thấp của các trạm biến áp Khi máy biến áp hoặc đường dây bị hỏng ta đóng đường dây dự phòng vào làm việc

6 ~ 10kV Trạm phân phối

Hình 2-14: Sơ đồ cung cấp điện kiểu phân nhánh có đường dây dự phòng riêng

Trang 38

37

cho từng trạm biến áp

d Sơ đồ phân nhánh nối hình vòng để tăng độ tin cậy

Ở sơ đồ này (hình 2-15) với mục đích tạo điều kiện vận hành đơn giản, thông thường người ta cắt đôi mạch vòng thành hai nhánh riêng lẻ Khi xảy ra sự cố, sau khi cắt phần tử bị sự cố ra khỏi mạng, người ta nối lại để tiếp tục cung cấp điện Loại sơ

đồ này thường được dùng cho mạng điện thành phố hoặc các xí nghiệp có nhiều phân xưởng được bố trí trên phạm vi rộng

6 ~ 10kV

Hình 2-15 Sơ đồ cung cấp điện kiểu phân nhánh nối hình vòng

e Sơ đồ hình tia được cung cấp bằng hai đường dây để tăng độ tin cậy

Đối với những hộ quan trọng,

ngoài việc dùng sơ đồ hình tia, ta có thể

đặt thêm một đường dây song song lấy

từ nguồn thứ hai hoặc từ phân đoạn thứ

hai tới (hình 3-6)

Ở phía điện áp cao của trạm biến áp

người ta thường đặt máy phân đoạn và

thiết bị tự động đóng dự trữ, như vậy độ

tin cậy của sơ đồ tăng lên rõ rệt

Trang 39

TĐD

MCPĐ TĐD

MC

Hình 2-16 (b):

1 Thanh cái trạm phân phối, 2 Đường dây điện cao áp

3 Biến áp phân xưởng, 4 Hộ tiêu thụ

f Sơ đồ phân nhánh được cung cấp bằng hai đường dây để nâng cao độ tin cậy

Độ tin cậy của sơ đồ này tương đối cao (hình 2-17) Phía điện áp cao của trạm biến áp có thể đặt máy cắt phân đoạn và thiết bị tự động dự trữ như hình 3-6

6 – 10 KV

Hình 2-17: Sơ đồ cung cấp điện kiểu phân nhánh được cung cấp bằng hai đường

dây a) Có thanh cái phân đoạn ở phía điện cao áp b) Không có thanh cái ở phía điện áp cao Hoặc thay hình 2-17 (a), (b) bằng hình 2-17 (c)

Trang 40

Hình 2- 18: Sơ đồ cung cấp điện kiểu “ dẫn sâu ”

Sơ đồ cung cấp điện kiểu ‘dẫn sâu’ có những ưu nhược điểm sau:

Ưu điểm:

- Do trực tiếp đưa điện áp cao áp vào trạm biến áp phân xưởng nên giảm bớt được trạm phân phối, do đó giảm được số lượng các thiết bị điện và sơ đồ nối dây sẽ rất đơn giản

- Do đưa điện áp cao vào gần phụ tải, nên giảm được tổn thất điện áp điện năng,

Ngày đăng: 27/12/2022, 17:44

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w