1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ NHÓM 02 FIN53A06 BA BA TÁC ĐỘNG CHÚ Ý CỦA FDI TỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAYĐỘNG CHÚ ý của FDI tới VIỆT NAM GIAI đoạn HIỆN NAY

19 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tác Động Chú Ý Của FDI Tới Việt Nam Giai Đoạn Hiện Nay
Tác giả Nhóm tác giả
Người hướng dẫn TS. Mai Hương Giang
Trường học Trường Đại học Ngoại Thương
Chuyên ngành Đầu tư quốc tế
Thể loại Báo cáo chuyên đề
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 433,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG CHÍNH MỞ ĐẦU 2 I. TẠI SAO LỰA CHỌN ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM? 3 II. TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 5 1. Tác động FDI đến cung vốn tại Việt Nam 5 a. Tác động tích cực 7 b. Tác động tiêu cực 7 c. Kiến nghị giải pháp 8 2. Tác động của FDI đến dòng thương mại tại Việt Nam 8 a. Tác động tích cực 9 b. Tác động tiêu cực 10 c. Kiến nghị giải pháp 11 3. Tác động của FDI đến môi trường tại Việt Nam 12 a. Tác động tích cực 12 b. Tác động tiêu cực 13 c. Kiến nghị và giải pháp 15 Kết luận 16 TÀI LIỆU THAM KHẢO 16 PAGE 1 MỞ ĐẦU FDI là một loại hình đầu tư xuyên biên giới, trong đó nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động quản lý doanh nghiệp đặt tại quốc gia khác. Với lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư thông thoáng, môi trường chính trị, kinh tế vĩ mô ổn định, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí thấp, Việt Nam là một trong những quốc gia hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ các lợi thế đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương. Những năm gần đây tổng vốn đầu tư FDI nước ngoài luôn tăng. Nhưng trước tác động dịch bệnh, dòng vốn đầu tư FDI đã có biến động sụt giảm đáng kể. Năm 2019 tổng số vốn đầu tư FDI này tăng lên, ghi nhận ở mức 38,95 tỷ USD. Năm 2020 dưới ảnh hưởng của đại dịch Covid19, nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam có sự sụt giảm, chỉ đạt 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019. Mặc dù vẫn đang chịu ảnh hưởng của dịch COVID19, trong 10 tháng năm 2021 vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam đạt 23,74 tỷ USD được rót vào 18 lĩnh vực đã cho thấy sự khởi sắc trong nguồn vốn FDI đầu tư tại Việt Nam. Dòng vốn FDI lớn được đổ vào Việt Nam đã tác động, tạo ra sự thay đổi toàn diện kinh tế, xã hội đất nước cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực. Việc thu hút đầu tư làm gia tăng mạnh mẽ về dòng vốn, tác động lớn lên dòng thương mại và đặc biệt là mang theo những vấn đề về môi trường. Trong bài tập lớn này, nhóm chúng em tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ 2019hiện nay. Lý do nằm ở việc đây là giai đoạn ta có thể nhìn nhận sự thay đổi rõ nhất của các hoạt động FDI và nền kinh tế của Việt Nam trước và trong đại dịch Covid 19. Năm 2019, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và có nhiều thành tựu. Năm 2020, khi chưa có sự chuẩn bị để chống chịu lại các tác động đến mọi mặt kinh tế và xã hội, Việt Nam đối mặt nhiều với thách thức nhưng cũng nắm bắt được nhiều cơ hội và đạt được thành tựu nhất định so với các quốc gia khác. Những tháng đầu năm 2021, mặc dù tác động của Đại dịch diễn biến rất khó lường, với số ca PAGE 2 nhiễm và tử vong tăng, hoạt động sản xuất, vận tải và kinh doanh hầu hết bị đình trệ. Nhưng những gì Việt Nam làm được đã khẳng định sự bền bỉ của nền kinh tế Việt Nam. I. TẠI SAO LỰA CHỌN ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM? Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn là một trọng tâm trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Trong suốt những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực để tăng cường lợi thế cạnh tranh đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên thị trường quốc tế. Tính đến tháng 122019, giải ngân FDI đã đạt con số kỷ lục, với số giải ngân 20,38 tỷ USD. Các nhà đầu tư này đến từ 125 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hàn Quốc vẫn dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 7,92 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư. Hồng Kông đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 7,87 tỷ USD (trong đó, có 3,85 tỷ USD mua cổ phần vào Công ty TNHH Vietnam Beverage tại Hà Nội, chiếm 48,9% tổng vốn đầu tư của Hồng Kông), Singapore đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 4,5 tỷ USD. Tiếp theo là Nhật Bản, Trung Quốc.... Các con số cho thấy Việt Nam đã trở thành điểm đến được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn. Vậy điều gì khiến cho Việt Nam trở nên thu hút như vậy? Thứ nhất, Việt Nam đã và đang đảm bảo ổn định chính trị xã hội, và được biết đến là một trong những nền kinh tế năng động nhất. Tăng trưởng kinh tế từ năm 2016 đến năm 2019 đạt mức tăng trưởng cao trung bình 6,8% mỗi năm và mặc dù đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn từ đại dịch Covid19, tăng trưởng GDP vẫn tăng trưởng dương 2,91% xét bối cảnh chung và so sánh với các nền kinh tế khác thì đây vẫn là điều đáng ca ngợi, khi hầu hết các quốc gia lớn đều tăng trưởng âm hoặc sụt giảm mạnh. Việt Nam luôn thay đổi các quy định về đầu tư theo từng thời kì và đang tiếp tục triển khai các chính sách ưu đãi thu hút nhà đầu tư nước ngoài như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu một số ngành hàng, miễn giảm tiền thuê và sử dụng đất, v.v. Việc thay đổi chính sách được thể hiện như Luật đầu tư năm 2020 là văn bản pháp luật mới nhất được đưa ra để thay thế cho Luật đầu tư 2014, thay đổi, cải thiện và bổ sung những chính sách pháp luật mới, đãi ngộ tốt hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài. PAGE 3 Thứ hai, môi trường kinh donh không ngừng được cải thiện. Theo Cục đầu tư nước ngoài, trong thời gian qua, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam không ngừng được cải thiện theo hướng thông thoáng, minh bạch, và phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Một minh chứng khác cho thấy sự cởi mở của Việt Nam đối với nền kinh tế toàn cầu chính là rất nhiều hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết để thu hút thị trường. Chính trị – xã hội và kinh tế vĩ mô ổn định là một đặc điểm nổi bật cho sự tăng trưởng tiềm năng kinh doanh của Việt Nam. Tính đến hết năm 2020, đã có hơn 31.862 dự án FDI chọn Việt Nam làm trụ sở chính, với tổng vốn đăng ký khoảng 374 tỷ USD. Để đẩy mạnh hội nhập của đất nước vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào một loạt các hiệp định thương mại tự do, cả đa phương và song phương. Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng quan hệ ngoại giao với gần 190 quốc gia trên thế giới và ký kết khoảng 15 hiệp định FTA với các đối tác thương mại quan trọng. Việc Việt Nam tham gia vào nhiều hiệp định thương mại tự do đã tạo động lực mạnh mẽ cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Thứ ba, chính sách thu hút hỗ trợ từ Chính phủ. Chính phủ Việt Nam đang tiếp tục thúc đẩy thu hút hỗ trợ môi trường kinh doanh và đầu tư. Một cách tiếp cận mà Chính phủ đang thực hiện là thực hiện ba “đột phá chiến lược”: (1) xây dựng thể chế kinh tế thị trường và khung pháp lý; (2) xây dựng cơ sở hạ tầng tiên tiến và tích hợp, đặc biệt là giao thông vận tải; và (3) phát triển một lực lượng lao động chất lượng trình độ, tay nghề cao. Chính phủ cam kết đảm bảo môi trường chính trị – xã hội ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI trong nước. Trong trung và dài hạn, Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn FDI để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Việt Nam sẽ hướng tới dòng vốn FDI “chất lượng cao”, tập trung vào các dự án FDI sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên. Việt Nam cũng sẽ nhắm mục tiêu các dự án có sản phẩm cạnh tranh có thể là một phần của mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Trong tất cả các nhiệm vụ chính, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong khi kiểm soát lạm phát là tối quan trọng. Để đảm bảo đạt được mục tiêu này, Chính phủ đã yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước, Ủy ban nhân dân và các tổ chức trên toàn quốc nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao ở mức cao nhất. Đồng thời, Chính phủ cũng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp PAGE 4 chặt chẽ với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đưa ra chính sách tài khóa, tiền tệ để chủ động kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế hợp lý. Thứ tư, lực lượng lao động trẻ tay nghề cao, đồng thời chi phí cho lao động ở Việt Nam khá rẻ so với các nước trên thế giới. Lực lượng lao động hiện nay của Việt Nam được đánh giá là lực lượng lao động trẻ, số lượng lao động giao động từ 18 – 30 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao. Lực lượng lao động có tay nghề cao với tinh thần làm việc tốt và tỷ lệ biết chữ hơn 90%, người Việt Nam được trang bị trình độ học vấn cao và sẵn sàng phục vụ trong các ngành đòi hỏi kỹ năng cao như công nghệ thông tin, dược phẩm và dịch vụ tài chính. Bên cạnh lực lượng lao động dồi dào, có chất lượng, chi phí lao động tại Việt Nam được đánh giá là rất cạnh tranh so với khu vực. Hầu hết lao động Việt Nam có kỹ năng làm việc tốt và khả năng thích nghi cao với môi trường làm việc trong khi chi phí lao động mà nhà đầu tư nước ngoài phải trả thấp hơn so với các quốc gia khác. II. TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 1. TÁC ĐỘNG FDI ĐẾN CUNG VỐN TẠI VIỆT NAM Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến 20092021 đạt 22,15 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước tính đạt 13,28 tỷ USD. Thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, vốn đăng ký mới từ đầu năm đến nay đạt trên 13 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ. Trong đó Singapore là quốc gia dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 6,28 tỷ USD, chiếm 28,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,91 tỷ USD chiếm 17,7% tổng vốn đầu tư. Nhật Bản đứng thứ 3 đạt 3,27 tỷ USD, chiếm 14,7% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hà Lan, Hoa Kỳ,… PAGE 5 Nguồn: SSI Research Trước đó vào năm 2019, Việt Nam ghi nhận tổng vốn FDI đổ vào Việt Nam năm 2019 cao nhất trong vòng 10 năm. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam bao gồm vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và vốn góp mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đã đạt 38 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2018. Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, giải ngân vốn FDI năm 2019 đạt con số cao kỷ lục từ trước tới nay với 20,38 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2018. Điểm nổi bật trong năm 2019, là đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng vốn FDI. Cụ thể, nếu như năm 2017 đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần chiếm 17,2% tổng vốn đăng ký, năm 2018 chiếm 27,9% tổng vốn đăng ký, đến năm 2019 đã chiếm 40,7% tổng vốn đăng ký. Lượng vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm 64,6% tổng vốn đầu tư đăng ký. Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đăng ký cả về đăng ký vào các dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng và góp vốn, mua cổ phần. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,88 tỷ USD, chiếm 10,2% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo là các lĩnh vực bán buôn bán lẻ, hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ… PAGE 6 Bước sang năm 2020, theo báo cáo của UNCTAD, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,5 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019. Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành, lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 13,6 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; tiếp theo là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, với tổng vốn đầu tư trên 5,1 tỷ USD, chiếm 18%; sau đó lần lượt là các lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản, bán buôn bán lẻ với tổng vốn đăng ký tương ứng gần 4,2 tỷ USD và trên 1,6 tỷ USD… Việt Nam đã trở thành điểm sáng trong thu hút sự chuyển dịch dòng vốn FDI, lần đầu tiên nước ta lọt vào top 20 nước dẫn đầu thế giới về thu hút FDI. Việt Nam nắm giữ vị thế dẫn đầu trong cuộc đua giành FDI với các đối thủ tiềm năng như: Trung Quốc, Indonesia; Ấn Độ, Mexico. Cũng trong năm 2020, Việt Nam là một trong các trung tâm đón làn sóng chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc trong bối cảnh các doanh nghiệp trên thế giới đang đẩy nhanh quá trình đa dạng chuỗi cung ứng. a. Tác động tích cực Với đặc điểm ổn định và dài hạn, FDI giúp gia tăng nguồn tài chính cho hoạt động đầu tư tại Việt Nam, hỗ trợ nền kinh tế Việt Nam phát triển, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội. Bên cạnh đó, nó cho phép tạo ra các ngành mới hoàn toàn hoặc thúc đẩy sự phát triển của một số ngành quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa đất nước. Vốn FDI ngày càng có xu hướng tập trung vào một số ít nhóm ngành chủ lực. Vốn FDI vào ngành dịch vụ, nhất là kinh doanh bất động sản, có chiều hướng tăng nhanh và là ngành đứng thứ 2 về thu hút vốn FDI, chỉ sau công nghiệp chế biến, chế tạo. Những ngành trụ cột của Việt Nam như công nghiệp chế biến chế tạo, da giày, dệt may được hỗ trợ và thúc đẩy mạnh mẽ nhờ các FDI, giúp gia tăng nguồn vốn, mở rộng nhà máy, xí nghiệp, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh. b. Tác động tiêu cực Việc các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam sẽ mất đi một khoản đầu tư đối với các nhà đầu tư trong nước, giảm đi cơ hội phát triển của các nhà kinh doanh nội địa. Việc hỗ trợ và cung cấp vốn từ phía Chính phủ và các ngân hàng đầu tư dành cho các FDI với nhiều PAGE 7 ưu đãi và nguồn hỗ trợ lớn, có thể khiến cho lượng cung vốn cho các doanh nghiệp trong nước bị san sẻ. Nhiều địa phương vẫn còn dễ dãi trong việc chấp nhận khá nhiều dự án FDI quy mô nhỏ, không mang lại hiệu quả cho địa phương về tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách. Một số nơi còn có tình trạng cấp đất quá lớn cho dự án FDI mà không căn cứ vào quy hoạch của địa phương. Một vấn đề khác cần được đề cập ở đây là hệ thống tài chính của Việt Nam. Việc các doanh nghệp FDI hoạt động không hiệu quả đã khiến cho các nguồn vốn tài chính của Việt Nam bị ảnh hưởng khi các khoản vay không được hoàn trả và sinh lời. Bất kỳ sự biến động về dòng vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài có thể khiến thị trường vốn của Việt Nam mất đi sự ổn định và gây áp lực thiếu nguồn cung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành và lĩnh vực quan trọng của Việt Nam. c. Kiến nghị giải pháp FDI là một công cụ hữu dụng cung cấp vốn nhưng không phải là kênh chủ yếu mà một nền kinh tế dựa vào, do đó nhà nước cần phải củng cố hệ thống tài chính vững mạnh hơn nhằm tránh các tác động tiêu cực khi khủng hoảng xảy ra sẽ làm tổn thương đến hệ thống tài chính. Thu hút thêm nguồn vốn FDI nhưng đi kèm với sự kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động của các doanh nghiệp có nguồn vốn FDI. Bằng việc xây dựng thể chế, tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm, đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về FDI, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán để đảm bảo các doanh nghiệp FDI sử dụng đúng, hiệu quả nguồn lực, cũng như đảm bảo cam kết đầu tư. 2. TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN DÒNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM Trong những năm qua, xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. PAGE 8 Năm 2019, tổng kim ngạch XNK hàng hóa của cả nước lần đầu tiên cán mốc 500 tỷ USD (đạt 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% so với năm 2018). Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% và nhập khẩu đạt 253,07 tỷ USD, tăng 6,8%. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong năm 2019 lên 179,2 tỷ USD, tăng 4,3% so với năm trước, trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI đạt 144,64 tỷ USD, tăng 1,9% so với năm 2018 Sang năm 2020, Việt Nam đạt được kỷ lục mới về quy mô kim ngạch XNK. Tổng trị giá XNK hàng hóa của cả nước đạt 545,36 tỷ USD, tăng 5,4% với năm 2019. Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0% (tương ứng tăng 18,39 tỷ USD) và nhập khẩu đạt 262,70 tỷ USD, tăng 3,7% (tương ứng tăng 9,31 tỷ USD). Tính toán của Tổng cục Hải quan cho thấy cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong 10 tháng2021 lên mức thặng dư trị giá 20,95 tỷ USD. Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong 10 tháng2021 lên 197,49 tỷ USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước. Trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 10 tháng2021 đạt 176,54 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2020. a. Tác động tích cực Thành tích xuất khẩu ấn tượng của Việt Nam nhiều năm qua ghi dấu ấn đậm nét của các DN FDI. Những năm gần đây, tỷ trọng đóng góp của khối FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu ngày càng lớn. Năm 2020, khu vực FDI đóng góp 202,89 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chiếm tỷ trọng 71,7%. Trong quý I2021, con số này còn lên tới 76% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (trong khi trước đây, con số này chỉ hơn 60% hoặc xấp xỉ 70%). Có thể thấy rõ nhất, từ năm 2016 với hàng loạt các Hiệp định tự do thương mại FTA được ký kết, nguồn vốn FDI bắt đầu tăng lên đáng kể, góp phần cải thiện đáng kể cán cân thương mại. (Trước năm 2011 con số nhập siêu lên đến hàng tỷ USD, 20112015 sự cải thiện cán cân thương mại là chưa đáng kể, theo thống kê Hải quan). Điều này chứng minh rằng, khối lượng sản xuất và khả năng cung ứng của Việt Nam được cải thiện do dòng vốn FDI tăng.

Trang 1

BA TÁC ĐỘNG CHÚ Ý CỦA FDI TỚI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

GV: TS.MAI HƯƠNG GIANG

FIN53A06 | Đầu tư quốc tế

Trang 2

NỘI DUNG CHÍNH

MỞ ĐẦU

2

I TẠI SAO LỰA CHỌN ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM?

3

II TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

5

1 Tác động FDI đến cung vốn tại Việt Nam

5

a Tác động tích cực

7

b Tác động tiêu cực

7

c Kiến nghị giải pháp 8

2 Tác động của FDI đến dòng thương mại tại Việt Nam

8

a Tác động tích cực 9

b Tác động tiêu cực

10

c Kiến nghị giải pháp

11

3 Tác động của FDI đến môi trường tại Việt Nam

12

a Tác động tích cực

12

b Tác động tiêu cực

13

c Kiến nghị và giải pháp

15

Kết luận

16

Trang 3

16

PAGE 1

Trang 4

MỞ ĐẦU

FDI là một loại hình đầu tư xuyên biên giới, trong đó nhà đầu tư nước ngoài có quyền kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động quản lý doanh nghiệp đặt tại quốc gia khác

Với lợi thế cạnh tranh về môi trường đầu tư thông thoáng, môi trường chính trị, kinh tế

vĩ mô ổn định, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí thấp, Việt Nam là một trong những quốc gia hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài Nhờ các lợi thế đó, dòng vốn FDI vào Việt Nam những năm gần đây có xu hướng tăng lên, đặc biệt là sau khi Việt Nam tham gia vào các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương

Những năm gần đây tổng vốn đầu tư FDI nước ngoài luôn tăng Nhưng trước tác động dịch bệnh, dòng vốn đầu tư FDI đã có biến động sụt giảm đáng kể Năm 2019 tổng số vốn đầu tư FDI này tăng lên, ghi nhận ở mức 38,95 tỷ USD Năm 2020 dưới ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, nền kinh tế toàn cầu bị ảnh hưởng nghiêm trọng nên vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam có sự sụt giảm, chỉ đạt 28,53 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019 Mặc dù vẫn đang chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19, trong 10 tháng năm 2021 vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam đạt 23,74 tỷ USD được rót vào 18 lĩnh vực đã cho thấy sự khởi sắc trong nguồn vốn FDI đầu tư tại Việt Nam

Dòng vốn FDI lớn được đổ vào Việt Nam đã tác động, tạo ra sự thay đổi toàn diện kinh

tế, xã hội đất nước cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực Việc thu hút đầu tư làm gia tăng mạnh mẽ

về dòng vốn, tác động lớn lên dòng thương mại và đặc biệt là mang theo những vấn đề về môi trường

Trong bài tập lớn này, nhóm chúng em tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ 2019-hiện nay

Lý do nằm ở việc đây là giai đoạn ta có thể nhìn nhận sự thay đổi rõ nhất của các hoạt động FDI

và nền kinh tế của Việt Nam trước và trong đại dịch Covid 19 Năm 2019, nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và có nhiều thành tựu Năm 2020, khi chưa có sự chuẩn bị để chống chịu lại các tác động đến mọi mặt kinh tế và xã hội, Việt Nam đối mặt nhiều với thách thức nhưng cũng nắm bắt được nhiều cơ hội và đạt được thành tựu nhất định so với các quốc gia khác Những tháng đầu năm 2021, mặc dù tác động của Đại dịch diễn biến rất khó lường, với số ca

Trang 5

nhiễm và tử vong tăng, hoạt động sản xuất, vận tải và kinh doanh hầu hết bị đình trệ Nhưng những gì Việt Nam làm được đã khẳng định sự bền bỉ của nền kinh tế Việt Nam

I TẠI SAO LỰA CHỌN ĐẦU TƯ VÀO VIỆT NAM?

Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) luôn là một trọng tâm trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam Trong suốt những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực để tăng cường lợi thế cạnh tranh đồng thời cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên thị trường quốc tế

Tính đến tháng 12/2019, giải ngân FDI đã đạt con số kỷ lục, với số giải ngân 20,38 tỷ USD Các nhà đầu tư này đến từ 125 quốc gia và vùng lãnh thổ, Hàn Quốc vẫn dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 7,92 tỷ USD, chiếm 20,8% tổng vốn đầu tư Hồng Kông đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 7,87 tỷ USD (trong đó, có 3,85 tỷ USD mua cổ phần vào Công ty TNHH Vietnam Beverage tại

Hà Nội, chiếm 48,9% tổng vốn đầu tư của Hồng Kông), Singapore đứng thứ ba với tổng vốn đầu

tư đăng ký 4,5 tỷ USD Tiếp theo là Nhật Bản, Trung Quốc Các

con số cho thấy Việt Nam đã trở thành điểm đến được các nhà đầu tư nước ngoài lựa chọn Vậy điều gì khiến cho Việt Nam trở nên thu hút như vậy?

Thứ nhất, Việt Nam đã và đang đảm bảo ổn định chính trị - xã hội, và được biết đến là

một trong những nền kinh tế năng động nhất Tăng trưởng kinh tế từ năm 2016 đến năm

2019 đạt mức tăng trưởng cao trung bình 6,8% mỗi năm và mặc dù đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn từ đại dịch Covid19, tăng trưởng GDP vẫn tăng trưởng dương 2,91% -xét bối cảnh chung và so sánh với các nền kinh tế khác thì đây vẫn là điều đáng ca ngợi, khi hầu hết các quốc gia lớn đều tăng trưởng âm hoặc sụt giảm mạnh Việt Nam luôn thay đổi các quy định về đầu tư theo từng thời kì và đang tiếp tục triển khai các chính sách ưu đãi thu hút nhà đầu tư nước ngoài như miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế nhập khẩu một số ngành hàng, miễn giảm tiền thuê và sử dụng đất, v.v Việc thay đổi chính sách được thể hiện như Luật đầu tư năm 2020 là văn bản pháp luật mới nhất được đưa ra để thay thế cho Luật đầu tư 2014, thay đổi, cải thiện và bổ sung những chính sách pháp luật mới, đãi ngộ tốt hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài

Trang 6

Thứ hai, môi trường kinh donh không ngừng được cải thiện Theo Cục đầu tư nước ngoài,

trong thời gian qua, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam không ngừng được cải thiện theo hướng thông thoáng, minh bạch, và phù hợp với chuẩn mực quốc tế Một minh chứng khác cho thấy sự cởi mở của Việt Nam đối với nền kinh tế toàn cầu chính là rất nhiều hiệp định thương mại mà Việt Nam đã ký kết để thu hút thị trường Chính trị – xã hội và kinh tế vĩ mô ổn định là một đặc điểm nổi bật cho sự tăng trưởng tiềm năng kinh doanh của Việt Nam Tính đến hết năm 2020, đã có hơn 31.862 dự án FDI chọn Việt Nam làm trụ sở chính, với tổng vốn đăng

ký khoảng 374 tỷ USD Để đẩy mạnh hội nhập của đất nước vào nền kinh tế toàn cầu, Việt Nam

đã và đang tích cực tham gia vào một loạt các hiệp định thương mại tự do, cả đa phương và song phương Hiện nay, Việt Nam đã xây dựng quan hệ ngoại giao với gần

190 quốc gia trên thế giới và ký kết khoảng 15 hiệp định FTA với các đối tác thương mại quan trọng Việc Việt Nam tham gia vào nhiều hiệp định thương mại tự do đã tạo động lực mạnh mẽ cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam

Thứ ba, chính sách thu hút hỗ trợ từ Chính phủ Chính phủ Việt Nam đang tiếp tục thúc

đẩy thu hút hỗ trợ môi trường kinh doanh và đầu tư Một cách tiếp cận mà Chính phủ đang thực hiện là thực hiện ba “đột phá chiến lược”: (1) xây dựng thể chế kinh tế thị trường và khung pháp lý; (2) xây dựng cơ sở hạ tầng tiên tiến và tích hợp, đặc biệt là giao thông vận tải; và (3) phát triển một lực lượng lao động chất lượng trình độ, tay nghề cao Chính phủ cam kết đảm bảo môi trường chính trị – xã hội ổn định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp FDI trong nước

Trong trung và dài hạn, Việt Nam sẽ tiếp tục nỗ lực thu hút và sử dụng hiệu quả dòng vốn FDI để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam sẽ hướng tới dòng vốn FDI “chất lượng cao”, tập trung vào các dự án FDI sử dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên Việt Nam cũng sẽ nhắm mục tiêu các dự án có sản phẩm cạnh tranh có thể là một phần của mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu Trong tất cả các nhiệm vụ chính, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong khi kiểm soát lạm phát là tối quan trọng Để đảm bảo đạt được mục tiêu này, Chính phủ đã yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước, Ủy ban nhân dân và các tổ chức trên toàn quốc nỗ lực thực hiện nhiệm vụ được giao ở mức cao nhất Đồng thời, Chính phủ cũng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp

Trang 7

chặt chẽ với các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đưa ra chính sách tài khóa, tiền tệ để chủ động kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô để Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh

tế hợp lý

Thứ tư, lực lượng lao động trẻ tay nghề cao, đồng thời chi phí cho lao động ở Việt Nam

khá rẻ so với các nước trên thế giới Lực lượng lao động hiện nay của Việt Nam được đánh giá là lực lượng lao động trẻ, số lượng lao động giao động từ 18 – 30 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao Lực lượng lao động có tay nghề cao với tinh thần làm việc tốt và tỷ lệ biết chữ hơn 90%, người Việt Nam được trang bị trình độ học vấn cao và sẵn sàng phục vụ trong các ngành đòi hỏi kỹ năng cao như công nghệ thông tin, dược phẩm và dịch vụ tài chính Bên cạnh lực lượng lao động dồi dào, có chất lượng, chi phí lao động tại Việt Nam được đánh giá

là rất cạnh tranh so với khu vực Hầu hết lao động Việt Nam có kỹ năng làm việc tốt và khả năng thích nghi cao với môi trường làm việc trong khi chi phí lao động mà nhà đầu tư nước ngoài phải trả thấp hơn so với các quốc gia khác

II TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1 TÁC ĐỘNG FDI ĐẾN CUNG VỐN TẠI VIỆT NAM

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến 20/09/2021 đạt 22,15 tỷ USD, tăng 4,4% so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam ước tính đạt 13,28 tỷ USD Thông tin từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, vốn đăng ký mới từ đầu năm đến nay đạt trên 13 tỷ USD, tăng 11,6% so với cùng kỳ Trong đó Singapore là quốc gia dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 6,28 tỷ USD, chiếm 28,4% tổng vốn đầu tư vào Việt Nam; Hàn Quốc đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,91 tỷ USD chiếm 17,7% tổng vốn đầu tư Nhật Bản đứng thứ 3 đạt 3,27 tỷ USD, chiếm 14,7% tổng vốn đầu tư Tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Hà Lan, Hoa Kỳ,…

Trang 8

Nguồn: SSI Research

Trước đó vào năm 2019, Việt Nam ghi nhận tổng vốn FDI đổ vào Việt Nam năm 2019 cao nhất trong vòng 10 năm Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam bao gồm vốn đăng ký cấp mới, tăng thêm và vốn góp mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đã đạt

38 tỷ USD, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2018 Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, giải ngân vốn FDI năm 2019 đạt con số cao kỷ lục từ trước tới nay với 20,38 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2018 Điểm nổi bật trong năm 2019, là đầu tư theo hình thức góp vốn, mua

cổ phần có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng vốn FDI Cụ thể, nếu như năm 2017 đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần chiếm 17,2% tổng vốn đăng ký, năm 2018 chiếm 27,9% tổng vốn đăng ký, đến năm 2019 đã chiếm 40,7% tổng vốn đăng ký Lượng vốn đầu tư tập trung nhiều nhất vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo với tổng số vốn đạt 24,56 tỷ USD, chiếm 64,6% tổng vốn đầu tư đăng ký Đây cũng là lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong vốn đăng ký cả về đăng ký vào các dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng và góp vốn, mua cổ phần Lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 3,88 tỷ USD, chiếm 10,2% tổng vốn đầu tư đăng ký Tiếp theo là các lĩnh vực bán buôn bán lẻ, hoạt động chuyên môn khoa học - công nghệ…

Trang 9

Bước sang năm 2020, theo báo cáo của UNCTAD, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,5 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019 Các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 19 ngành, lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 13,6 tỷ USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư đăng ký; tiếp theo là lĩnh vực sản xuất, phân phối điện, với tổng vốn đầu tư trên 5,1 tỷ USD, chiếm 18%; sau đó lần lượt là các lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản, bán buôn bán lẻ với tổng vốn đăng ký tương ứng gần 4,2 tỷ USD và trên 1,6 tỷ USD… Việt Nam đã trở thành điểm sáng trong thu hút

sự chuyển dịch dòng vốn FDI, lần đầu tiên nước ta lọt vào top 20 nước dẫn đầu thế giới về thu hút FDI Việt Nam nắm giữ vị thế dẫn đầu trong cuộc đua giành FDI với các đối thủ tiềm năng như: Trung Quốc, Indonesia; Ấn Độ, Mexico Cũng trong năm 2020, Việt Nam là một trong các trung tâm đón làn sóng chuyển dịch đầu tư từ Trung Quốc trong bối cảnh các doanh nghiệp trên thế giới đang đẩy nhanh quá trình đa dạng chuỗi cung ứng

a Tác động tích cực

Với đặc điểm ổn định và dài hạn, FDI giúp gia tăng nguồn tài chính cho hoạt động đầu

tư tại Việt Nam, hỗ trợ nền kinh tế Việt Nam phát triển, giải quyết vấn đề thiếu vốn cho phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, nó cho phép tạo ra các ngành mới hoàn toàn hoặc thúc đẩy sự phát triển của một số ngành quan trọng đối với quá trình công nghiệp hóa đất nước Vốn FDI ngày càng có xu hướng tập trung vào một số ít nhóm ngành chủ lực Vốn FDI vào ngành dịch vụ, nhất là kinh doanh bất động sản, có chiều hướng tăng nhanh và là ngành đứng thứ 2 về thu hút vốn FDI, chỉ sau công nghiệp chế biến, chế tạo Những ngành trụ cột của Việt Nam như công nghiệp chế biến chế tạo, da giày, dệt may được hỗ trợ và thúc đẩy mạnh mẽ nhờ các FDI, giúp gia tăng nguồn vốn, mở rộng nhà máy, xí nghiệp, nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh

b Tác động tiêu cực

Việc các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại Việt Nam sẽ mất đi một khoản đầu tư đối với các nhà đầu tư trong nước, giảm đi cơ hội phát triển của các nhà kinh doanh nội địa Việc hỗ trợ và cung cấp vốn từ phía Chính phủ và các ngân hàng đầu tư dành cho các FDI với nhiều

Trang 10

ưu đãi và nguồn hỗ trợ lớn, có thể khiến cho lượng cung vốn cho các doanh nghiệp trong nước bị san sẻ

Nhiều địa phương vẫn còn dễ dãi trong việc chấp nhận khá nhiều dự án FDI quy mô nhỏ, không mang lại hiệu quả cho địa phương về tăng trưởng kinh tế, thu ngân sách Một số nơi còn có tình trạng cấp đất quá lớn cho dự án FDI mà không căn cứ vào quy hoạch của địa phương

Một vấn đề khác cần được đề cập ở đây là hệ thống tài chính của Việt Nam Việc các doanh nghệp FDI hoạt động không hiệu quả đã khiến cho các nguồn vốn tài chính của Việt Nam bị ảnh hưởng khi các khoản vay không được hoàn trả và sinh lời Bất kỳ sự biến động

về dòng vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài có thể khiến thị trường vốn của Việt Nam mất

đi sự ổn định và gây áp lực thiếu nguồn cung vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành và lĩnh vực quan trọng của Việt Nam

c Kiến nghị giải pháp

FDI là một công cụ hữu dụng cung cấp vốn nhưng không phải là kênh chủ yếu mà một nền kinh tế dựa vào, do đó nhà nước cần phải củng cố hệ thống tài chính vững mạnh hơn nhằm tránh các tác động tiêu cực khi khủng hoảng xảy ra sẽ làm tổn thương đến hệ thống tài chính

Thu hút thêm nguồn vốn FDI nhưng đi kèm với sự kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động của các doanh nghiệp có nguồn vốn FDI Bằng việc xây dựng thể chế, tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm, đình chỉ hoạt động theo quy định của pháp luật

Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về FDI, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán để đảm bảo các doanh nghiệp FDI sử dụng đúng, hiệu quả nguồn lực, cũng như đảm bảo cam kết đầu tư

2 TÁC ĐỘNG CỦA FDI ĐẾN DÒNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Trong những năm qua, xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi mạnh mẽ, trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế

Trang 11

Năm 2019, tổng kim ngạch XNK hàng hóa của cả nước lần đầu tiên cán mốc 500 tỷ USD (đạt 517,26 tỷ USD, tăng 7,6% so với năm 2018) Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4% và nhập khẩu đạt 253,07 tỷ USD, tăng 6,8% Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong năm 2019 lên 179,2 tỷ USD, tăng 4,3% so với năm trước, trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI đạt 144,64 tỷ USD, tăng 1,9%

so với năm 2018

Sang năm 2020, Việt Nam đạt được kỷ lục mới về quy mô kim ngạch XNK Tổng trị giá XNK hàng hóa của cả nước đạt 545,36 tỷ USD, tăng 5,4% với năm 2019 Trong đó, trị giá hàng hóa xuất khẩu đạt 282,65 tỷ USD, tăng 7,0% (tương ứng tăng 18,39 tỷ USD) và nhập khẩu đạt 262,70 tỷ USD, tăng 3,7% (tương ứng tăng 9,31 tỷ USD)

Tính toán của Tổng cục Hải quan cho thấy cán cân thương mại hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong 10 tháng/2021 lên mức thặng dư trị giá 20,95 tỷ USD Trong đó, xuất khẩu hàng hóa của khối doanh nghiệp FDI trong 10 tháng/2021 lên 197,49 tỷ USD, tăng 20,8% so với cùng kỳ năm trước Trị giá nhập khẩu của khối doanh nghiệp FDI trong 10 tháng/2021 đạt 176,54 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2020

a Tác động tích cực

Thành tích xuất khẩu ấn tượng của Việt Nam nhiều năm qua ghi dấu ấn đậm nét của các

DN FDI Những năm gần đây, tỷ trọng đóng góp của khối FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu ngày càng lớn Năm 2020, khu vực FDI đóng góp 202,89 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chiếm tỷ trọng 71,7% Trong quý I/2021, con số này còn lên tới 76% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (trong khi trước đây, con số này chỉ hơn 60% hoặc xấp xỉ 70%) Có thể thấy rõ nhất, từ năm 2016 với hàng loạt các Hiệp định tự do thương mại FTA được ký kết, nguồn vốn FDI bắt đầu tăng lên đáng kể, góp phần cải thiện đáng kể cán

cân thương mại (Trước năm 2011 con số nhập siêu lên đến hàng tỷ USD, 2011-2015 sự cải thiện cán cân thương mại là chưa đáng kể, theo thống kê Hải quan) Điều này chứng minh rằng, khối lượng sản xuất và khả năng cung ứng của Việt Nam được cải thiện do dòng vốn

FDI tăng

Ngày đăng: 27/12/2022, 14:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w