1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÁO cáo CHỦ đề 6 nạn THẤT NGHIỆP ở CHÂU á – THÁI BÌNH DƯƠNG

74 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nạn Thất Nghiệp Ở Châu Á – Thái Bình Dương
Trường học Đại học Quốc Gia Hà Nội - Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Khoa học Xã hội
Thể loại Báo cáo chủ đề
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 875,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. Đặt vấn đề về nạn thất nghiệp (4)
    • 1. Khái niệm và phân loại loại hình của thất nghiệp (4)
      • 1.1. Khái niệm thất nghiệp (4)
      • 1.2. Phân loại loại hình thất nghiệp (6)
    • 2. Khái quát về thất nghiệp trên thế giới (9)
      • 2.1. Tình hình thất nghiệp trước đại dịch Covid – 19 (9)
      • 2.2. Tình hình thất nghiệp do ảnh hưởng của đại dịch Covid – 19 (10)
  • II. Hiện trạng nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (13)
    • 1. Khái quát tình hình chung của thị trường lao động của Châu Á – Thái Bình Dương. 13 Thị trường lao động Châu Á – Thái Bình Dương trước khi bùng phát đại dịch (13)
      • 1.2 Tình trạng thất nghiệp ở Châu Á – Thái Bình Dương trong đại dịch COVID (16)
    • 2. Nạn thất nghiệp ở một số quốc gia ở Châu Á- Thái Bình Dương (19)
      • 2.1 Tình trạng thất nghiệp ở Trung Quốc (19)
      • 2.2 Tình trạng thất nghiệp ở Australia (21)
      • 2.3 Tình trạng thất nghiệp ở Malaysia (22)
      • 2.4 Tình trạng thất nghiệp ở Hàn Quốc (23)
      • 2.5 Tình trạng thất nghiệp ở Nhật Bản (27)
      • 2.6. Tình trạng thất nghiệp ở Đài Loan (28)
  • III. Tác động của thất nghiệp đến khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (30)
    • 1. Tác động của thất nghiệp đến kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (30)
      • 1.1. Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung (30)
      • 1.2. Đối với một số nước Châu Á –Thái Bình Dương (32)
    • 2. Tác động của thất nghiệp đến xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (36)
  • IV. Nguyên nhân thất nghiệp ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (41)
    • 1. Nguyên nhân chủ quan của nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 41 Trình độ học vấn (41)
      • 1.2. Không tìm được nghề nghiệp phù hợp (41)
      • 1.3. Thế hệ NEET (42)
    • 2. Nguyên nhân khách quan của nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (42)
      • 2.1. Ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 (43)
      • 2.2. Sự phát triển của khoa học kĩ thuật (45)
      • 2.3. Chính sách của chính phủ (47)
  • V. Giải pháp giải quyết nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (48)
    • 1. Giải pháp chung cho khu vực Châu Á Thái Bình Dương (48)
    • 2. Giải pháp cho một số quốc gia Châu Á (49)
      • 2.2. Giải pháp của Trung Quốc (51)
      • 2.3. Giải pháp của Nhật Bản (54)
      • 2.4. Giải pháp của các nước Đông Nam Á (55)
  • VI. Nạn thất nghiệp ở Việt Nam (61)
    • 1. Tình hình thất nghiệp tại Việt Nam trước khi xuất hiện Đại dịch Covid (61)
    • 2. Tình hình thất nghiệp tại Việt Nam sau khi xuất hiện Đại dịch Covid (65)
    • 3. Một số biện pháp của Việt Nam ứng phó với nạn thất nghiệp (69)
  • VII. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO (71)

Nội dung

Ở Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm.Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO, “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người

Hiện trạng nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Khái quát tình hình chung của thị trường lao động của Châu Á – Thái Bình Dương 13 Thị trường lao động Châu Á – Thái Bình Dương trước khi bùng phát đại dịch

1.1 Thị trường lao động Châu Á – Thái Bình Dương trước khi bùng phát đại dịch COVID (năm 2019)

* Phần lớn những người từ 15 tuổi trở lên ở Châu Á- Thái Bình Dương đã có việc làm

Trong năm 2019, tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực chậm lại mặc dù đã có nhiều thập kỷ tăng trưởng ấn tượng, nhưng ít quốc gia vượt qua được những thách thức của thị trường lao động Các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi trong khu vực vẫn đặc trưng với sự phát triển của khu vực tư nhân và sự mở rộng nhanh chóng của các trung tâm đô thị, cùng với nhiều công việc được trả lương cao và thấp do đầu tư nước ngoài vào công nghiệp và dịch vụ thúc đẩy Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia vẫn duy trì các khu vực phi chính thức lớn, nơi tồn tại thặng dư lao động tay nghề thấp và mức lương thấp, đồng thời vào năm 2019, có 1,9 tỷ người có việc làm, 1,3 tỷ người ngoài lực lượng lao động và 87 triệu người thất nghiệp trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Tỷ lệ người ngoài lực lượng lao động (gọi là “không hoạt động”) đã gia tăng theo thời gian, trong khi tỷ lệ việc làm giảm xuống, phần lớn là do số lượng thanh niên nhập học tăng, khiến tỷ lệ việc làm của dân số đạt 57,9% vào năm 2019, thấp hơn gần 7 điểm phần trăm so với năm 1999 và gần bằng mức trung bình toàn cầu Sự khác biệt về tỷ lệ việc làm cũng rất lớn theo các tiểu vùng, với tỷ lệ cao nhất là 66,1% ở Đông Nam Á vào năm 2019.

Tỷ lệ việc làm của phụ nữ tại các khu vực khác nhau cho thấy sự chênh lệch đáng kể, với Đông Á đạt 64,7% và Thái Bình Dương 59,9%, trong khi Nam Á có tỷ lệ thấp hơn nhiều, chỉ 48,2% Tỷ lệ việc làm thấp ở Nam Á phản ánh tỷ lệ lao động nữ rất nhỏ và đang giảm dần, chỉ còn 22% vào năm 2019, đồng thời kéo theo khoảng cách giới trong thị trường lao động của tiểu vùng này lên đến 51 điểm phần trăm.

Bảng A Người có việc làm, người thất nghiệp và bên ngoài lực lượng lao động, từ

Bảng B Tỷ lệ việc làm trên dân số, theo tiểu vùng, 1999 và 2019 (tỷ lệ %)

* Tỷ lệ thất nghiệp thấp ở hầu hết các nước trong khu vực; thanh niên thất nghiệp là ngoại lệ

Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực này vẫn tương đối thấp, ở mức 4,4% vào năm

Năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu là 5,4%, ít thay đổi trong thập kỷ qua Các quốc gia trong các tiểu vùng có mức độ thất nghiệp khác nhau, cao nhất là Nam Á với 5,3%, tiếp theo là các đảo Thái Bình Dương với 4,6%, Đông Á với 4,4%, và Đông Nam Á với 2,5% Phần lớn các quốc gia ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp dưới 5%, nhưng có một số ngoại lệ như Iran (11,1%), Mông Cổ (10%) và Samoa (14,5%) Khoảng cách giới trong tỷ lệ thất nghiệp hẹp, phổ biến là dưới 1 điểm phần trăm ở khoảng một nửa số quốc gia, nhưng ở một số đảo Thái Bình Dương, khoảng cách rõ rệt hơn, như Samoa và Tuvalu, nơi tỷ lệ thất nghiệp của nữ vượt quá 10%, thể hiện sự bất bình đẳng giới rõ rệt trong thị trường lao động.

Bảng C Việc làm của nam và nữ - tỷ lệ trên dân số, theo tiểu vùng, 2019(%)

Bảng D Tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu và khu vực, thanh niên và tổng số, từ 1991 đến

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã có xu hướng tăng đều đặn trong thập kỷ qua, trái ngược với tỷ lệ thất nghiệp chung của toàn nền kinh tế Đến năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đạt 13,5%, lần đầu tiên hội tụ với tỷ lệ toàn cầu kể từ khi các số liệu bắt đầu được thống kê từ năm 1991.

1.2 Tình trạng thất nghiệp ở Châu Á – Thái Bình Dương trong đại dịch COVID

Theo báo cáo mới của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), cuộc khủng hoảng COVID-19 đã gây ra mức sụt giảm đáng kể về thời giờ làm việc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc làm và thu nhập của người lao động khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Báo cáo Triển Vọng Việc làm và Xã hội châu Á - Thái Bình Dương 2020 nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vượt qua khủng hoảng COVID-19 để hướng tới một tương lai việc làm lấy con người làm trung tâm Theo đó, đại dịch COVID-19 đã gây thiệt hại kinh tế ước tính khoảng 81 triệu việc làm trong năm 2020 Phần lớn các nền kinh tế trong khu vực ghi nhận giảm số lượng việc làm so với năm 2019 trong các số liệu theo quý của năm 2020, phản ánh tác động tiêu cực của khủng hoảng đến thị trường lao động.

Theo bà Chihoko Asada Miyakawa, Phó Tổng Giám đốc ILO kiêm Giám đốc Văn phòng ILO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đại dịch COVID-19 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho thị trường lao động trong khu vực Nhiều chính phủ còn hạn chế khả năng ứng phó do diện bao phủ an sinh xã hội thấp và năng lực thể chế hạn chế, khiến các quốc gia gặp khó khăn trong việc hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động duy trì hoạt động Tình hình thêm phần phức tạp bởi số lượng lớn người lao động vẫn còn làm trong khu vực phi chính thức, phản ánh những điểm yếu tồn tại từ trước thời kỳ khủng hoảng.

Ngày 18 đã tác động nghiêm trọng đến nhiều người, khiến họ phải chịu đựng nỗi đau mất an ninh kinh tế do đại dịch gây ra, gây tổn thất lớn về thời gian làm việc và cơ hội việc làm.

* Phụ nữ và thanh niên bị ảnh hưởng đặc biệt nặng nề

Báo cáo cho biết, hầu hết các quốc gia trong khu vực ghi nhận mức sụt giảm đáng kể về thời giờ làm việc và việc làm của phụ nữ so với nam giới, đồng thời phụ nữ dễ rơi vào tình trạng không còn hoạt động kinh tế hơn nam giới Thanh niên cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự giảm thời giờ làm việc và mất việc làm, với tỷ lệ thanh niên trong tổng số lao động mất việc cao hơn từ 3 đến 18 lần.

Báo cáo cho thấy rõ sự bất bình đẳng trong việc mất việc của thanh niên và phụ nữ so với các lao động khác, khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng khiến họ gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh kiếm việc làm mới, đồng thời những công việc có thể tìm được còn không phù hợp với nguyện vọng của họ Hàng triệu phụ nữ phải trả giá đắt vì tình trạng này, và những người rời khỏi lực lượng lao động có thể mất nhiều năm để quay trở lại làm việc toàn thời gian Sara Elder, Chuyên gia Kinh tế Cao cấp của Văn phòng ILO khu vực châu Á - Thái Bình Dương và là tác giả chính của báo cáo, nhấn mạnh rằng tỷ lệ thất nghiệp tăng khiến thanh niên và phụ nữ dễ bị bỏ lại phía sau trong thị trường lao động.

Việc số giờ làm việc được trả lương ít hơn đã dẫn đến giảm thu nhập trung bình của người lao động Trong ba quý đầu năm 2020, ước tính thu nhập từ việc làm tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương giảm khoảng 10%, tương đương với mức giảm 3% trong tổng sản phẩm quốc nội Hệ quả của biến động này là sự gia tăng số người có việc làm nhưng vẫn rơi vào tình trạng nghèo đói.

Tính về con số tuyệt đối, ước tính ban đầu mà báo cáo đưa ra là sẽ có thêm 22 đến

Có đến 25 triệu người có việc làm nhưng vẫn rơi vào tình trạng nghèo đói, do thu nhập hàng ngày của họ chưa đến 1,90 đô la Mỹ Số lượng người lao động nghèo này góp phần làm tăng tổng số người có việc làm nhưng vẫn đang sống trong cảnh nghèo khó, phản ánh rõ rệt về thực trạng bất bình đẳng về thu nhập Đây là vấn đề nghiêm trọng cần được ưu tiên giải quyết để nâng cao chất lượng cuộc sống và thúc đẩy phát triển bền vững cho cộng đồng lao động.

19 của khu vực châu Á - Thái Bình Dương tăng lên mức 94 đến 98 triệu người vào năm

Báo cáo cảnh báo rằng, xét đến quy mô thiệt hại đối với thị trường lao động, các biện pháp tài khóa hiện tại của khu vực vẫn còn thiếu và chưa đủ để đối phó hiệu quả, đặc biệt ở những nền kinh tế đang phát triển Những khoảng trống trong chi tiêu tài khóa có thể làm tình hình trở nên nghiêm trọng hơn, dẫn đến việc cuộc khủng hoảng có khả năng làm gia tăng bất bình đẳng giữa các quốc gia trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Các chính sách an sinh xã hội và việc làm ngày càng chứng minh hiệu quả trong việc duy trì việc làm và ổn định thu nhập Hy vọng rằng cuộc khủng hoảng sẽ thúc đẩy các khoản đầu tư lớn hơn và lâu dài vào các lĩnh vực thiết yếu, nhằm tăng cường khả năng chống chịu và xây dựng một tương lai việc làm lấy con người làm trung tâm.

Nạn thất nghiệp ở một số quốc gia ở Châu Á- Thái Bình Dương

2.1 Tình trạng thất nghiệp ở Trung Quốc

Tình trạng việc làm tại Trung Quốc đang ngày càng xấu đi, theo các số liệu thống kê mới nhất Chỉ số thất nghiệp và thiếu việc làm được công bố bởi công ty tư vấn tài chính Fathom của Anh cho thấy tỷ lệ này hiện là 12,3%, gấp ba lần mức của năm 2012 Các số liệu này phản ánh rõ ràng xu hướng tiêu cực trên thị trường lao động Trung Quốc, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế nước này.

Thống kê tỷ lệ thất nghiệp tại Trung Quốc (%)

Tỷ lệ thất nghiệp theo số liệu chính thức của Cục Thống kê Trung Quốc (NBS) luôn duy trì quanh mức 4,1% kể từ năm 2010, không có sự thay đổi đáng kể kể cả trong giai đoạn nền kinh tế đang chững lại hiện nay Tuy nhiên, các số liệu này không phản ánh đầy đủ thực tế tình hình tai nạn việc làm tại Trung Quốc.

NBS công bố tỷ lệ thất nghiệp dựa trên phương pháp thống kê mới, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức 5% trong thời gian dài, cho thấy chưa có sự thay đổi định kỳ đáng kể Hiện tại, Trung Quốc chưa công bố chính thức các số liệu về tình trạng thiếu việc làm, phản ánh mức độ thiếu độ tin cậy của các thống kê về thị trường lao động Thống kê chính thức thường dựa trên số người đăng ký nhận trợ cấp thất nghiệp, nhưng cách thức này bỏ sót hơn 270 triệu lao động nhập cư không đăng ký trợ cấp tại địa phương hoặc nơi làm việc, dẫn đến sai số lớn trong dữ liệu.

Theo các nhà phân tích của Fathom, tỷ lệ thất nghiệp cao là vấn đề nghiêm trọng đang bị che giấu của Trung Quốc, góp phần làm rõ lý do vì sao nước này phải dựa vào các động lực tăng trưởng cũ để thúc đẩy kinh tế.

Trung Quốc hiện chưa có số liệu chính thức về tỷ lệ thất nghiệp đối với các doanh nhân tự doanh và công nhân di cư Với khoảng 149 triệu người tự làm chủ và 174 triệu công nhân làm thuê ở xa, phần lớn các lao động này thường rời quê hương để tìm việc làm tại các thành phố lớn.

Trước năm 2018, Bắc Kinh công bố dữ liệu về số lượng người lao động thành phố đăng ký thất nghiệp với chính quyền Tuy nhiên, dữ liệu này loại trừ nhóm lao động nhập cư không sinh sống trong đô thị và không đủ điều kiện hưởng các phúc lợi xã hội địa phương Để được xác định là thất nghiệp, người lao động phải trong độ tuổi từ 16 trở lên và đáp ứng các tiêu chuẩn đăng ký thất nghiệp theo quy định.

59 Dữ liệu này được tách khỏi thực tế thị trường lao động tổng quát, đặc biệt là trong cuộc

Trong khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, hơn 20 triệu lao động nhập cư đã bị thất nghiệp, nhưng tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc gần như không thay đổi Điều này cho thấy sự ổn định của thị trường lao động Trung Quốc bất chấp tác động của khủng hoảng Kể từ năm đó, Trung Quốc đã duy trì chính sách ổn định kinh tế và tạo việc làm hiệu quả để đảm bảo phát triển bền vững.

Năm 2018, Trung Quốc dựa vào tỷ lệ thất nghiệp theo khảo sát hàng tháng làm chỉ số chính để đánh giá thị trường lao động Dữ liệu này bao gồm tất cả cư dân thường xuyên sinh sống tại các khu vực đô thị, không giới hạn độ tuổi trên Việc sử dụng tỷ lệ thất nghiệp dựa trên khảo sát hàng tháng giúp cung cấp cái nhìn chính xác về tình hình việc làm tại Trung Quốc.

Dựa trên điều tra xã hội, tỷ lệ thất nghiệp của Trung Quốc đã tăng từ 5,2% vào tháng 12/2019 lên mức cao kỷ lục 6,2% vào tháng 2/2020 do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 Sau đó, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống còn 5,9% vào tháng 3/2020, theo Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc Trong tháng 3/2020, tổng số việc làm ở đô thị giảm 6% so với ngày 1/1/2020, tương đương khoảng 26 triệu việc làm bị mất Ngoài ra, khoảng 18,3% lực lượng lao động trong quý 1/2020 bị chấm dứt tuyển dụng, giảm lương hoặc nghỉ không lương, theo thống kê của Trung Quốc Nếu tình hình kinh tế vẫn còn yếu, nhiều vị trí việc làm tại Trung Quốc sẽ tiếp tục chịu áp lực trong tương lai.

2.2 Tình trạng thất nghiệp ở Australia

Australia luôn được biết đến là một quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp cao, ngay từ trước khi dịch COVID bắt đầu Tuy nhiên, khi đại dịch bùng phát, tỷ lệ thất nghiệp tại Australia đã đạt mức cao kỷ lục, gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế và đời sống người dân.

Theo số liệu từ Cơ quan Thống kê Australia công bố ngày 22/6/2020, tỷ lệ thất nghiệp tại Australia trong tháng 5 đạt 7,1%, tăng 0,7% so với tháng trước, đồng thời ghi nhận thêm 835 nghìn người thất nghiệp từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 Các đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất là phụ nữ và thanh niên từ 15 đến 24 tuổi Các bang Tây Australia, Queensland và Nam Australia có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất trong thời điểm đó.

Thủ tướng Australia Scott Morrison cho biết, dịch Covid-19 là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khó khăn của nền kinh tế nước này Ông nhấn mạnh rằng, tác động của dịch bệnh đã khiến nền kinh tế Australia gặp nhiều thách thức nghiêm trọng Chính phủ đang nỗ lực thúc đẩy các biện pháp nhằm phục hồi kinh tế và giảm thiểu tác động tiêu cực từ dịch bệnh.

Suy thoái kinh tế hiện nay do tác động của dịch Covid-19, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế ổn định và phát triển mạnh mẽ trước đó Dịch bệnh đã gây ra tình trạng mất việc làm hàng loạt và làm trì trệ hoạt động kinh tế Theo dự đoán, Australia có thể mất tới 2 năm để phục hồi hoàn toàn sau tác động của đại dịch Covid-19.

Vào ngày 18/6/2020, Hội đồng ngành Công nghiệp Du lịch Australia công bố số liệu cho thấy việc đóng cửa biên giới giữa các bang khiến Australia mất 5.000 việc làm mỗi tuần và thiệt hại 84 triệu AUD/ngày cho nền kinh tế Các số liệu này tạo áp lực lớn lên hai bang chưa xác định thời điểm mở cửa biên giới là Tây Australia và Tasmania Thủ tướng Scott Morrison khẳng định rằng khi Australia kiểm soát tốt dịch bệnh, các bang cần mở cửa biên giới để thúc đẩy phục hồi kinh tế và tạo việc làm cho người dân.

2.3 Tình trạng thất nghiệp ở Malaysia

Năm 2019, tỷ lệ thất nghiệp của Malaysia là 3,40%, theo số liệu mới nhất từ Ngân hàng Thế giới Tỷ lệ thất nghiệp của Malaysia đã tăng 0,04% so với năm 2018, khi tỷ lệ này là 3,36%.

Tác động của thất nghiệp đến khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Tác động của thất nghiệp đến kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

1.1 Đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung

Thất nghiệp gia tăng đồng nghĩa với việc lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến sự lãng phí nguồn nhân lực quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trong khi đó, thất nghiệp tăng cao phản ánh nền kinh tế đang suy thoái, do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng và thiếu hụt vốn đầu tư, phần lớn do ngân sách bị thu hẹp từ nguồn thuế giảm và phải hỗ trợ người lao động mất việc làm.

Tỷ lệ thất nghiệp tăng cao có thể đẩy nền kinh tế đến bờ vực của lạm phát Mối quan hệ nghịch lý ba chiều giữa tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp và lạm phát luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường, khi tốc độ tăng trưởng GDP giảm thì thất nghiệp và lạm phát đều tăng, và ngược lại Trong bối cảnh năm 2019, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 làm tăng nhanh tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực và ảnh hưởng mạnh mẽ đến kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương Việc hiểu rõ mối quan hệ này là rất quan trọng để điều chỉnh các nhân tố kích thích phát triển và ổn định xã hội.

Hơn một nửa các nền kinh tế trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã đạt mức tăng trưởng GDP trên 4% trong năm 2019, nhưng những thành tựu này đang đối mặt với nguy cơ suy giảm do đại dịch COVID-19 Đại dịch gây ra tỷ lệ thất nghiệp gia tăng và thu nhập giảm sút nghiêm trọng do các biện pháp phong tỏa khiến hoạt động kinh doanh và sinh hoạt của người dân bị đình trệ Tác động nặng nề của COVID-19 làm nền kinh tế châu Á rơi vào suy thoái, với mức tăng trưởng âm, kéo theo ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu Để đối phó với cuộc khủng hoảng, nhiều quốc gia đã tung ra các gói hỗ trợ tài chính lớn chưa từng có trong lịch sử nhằm ngăn chặn suy thoái kinh tế.

Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), tổng thời gian làm việc đã giảm đáng kể do hơn 125 triệu nhân viên mất việc vì các cửa hàng và nhà máy tại Trung Quốc cũng như toàn châu Á phải đóng cửa Ngân hàng đầu tư đa quốc gia cùng các dịch vụ tài chính dự báo tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ cuối năm nay có thể lên tới 12,6% Ngoài ra, các tổ chức tài chính quốc tế ước tính tổng số trái phiếu phát hành của các chính phủ trong năm nay sẽ khoảng 2,1 triệu tỷ USD.

Thất nghiệp gia tăng là một trong những yếu tố chính khiến nền kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương có xu hướng giảm sút nhanh chóng Khi thất nghiệp tăng, các doanh nghiệp gặp khó khăn, dẫn đến khủng hoảng tài chính và cắt giảm nhân lực, làm giảm mức chi tiêu vào các ngành nghề Đồng thời, nhiều doanh nghiệp trì hoãn các khoản đầu tư, từ đó làm giảm tổng cầu thị trường và ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Những yếu tố này đều góp phần làm giảm năng suất GDP đầu người, năng suất thu nhập và năng suất doanh nghiệp dựa trên mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế.

Trên khía cạnh kinh tế vĩ mô, có thể chia ra làm hai loại chi phí liên quan đến thất nghiệp:

Chi phí bằng tiền, chủ yếu từ ngân sách và quỹ xã hội, được sử dụng để hỗ trợ người lao động qua chế độ bảo hiểm thất nghiệp, giúp bù đắp một phần thu nhập khi mất việc, đồng thời thúc đẩy học nghề, duy trì và tìm kiếm việc làm dựa trên đóng góp vào Quỹ BHTN Ngoài ra, lãng phí sản phẩm xã hội xảy ra khi các yếu tố sản xuất sẵn có không được sử dụng một cách hiệu quả, gây tổn thất lớn cho nền kinh tế xã hội.

Chi phí bằng tiền bao gồm ngân sách nhà nước, quỹ doanh nghiệp và xã hội chi cho bảo hiểm thất nghiệp, trợ cấp mất việc làm, và các khoản chi phí xã hội khác trong chương trình chống thất nghiệp Lãng phí này được xác định theo định luật A OKUN, chỉ ra khoảng cách giữa GDP thực tế và GDP tiềm năng khi đạt mục tiêu việc làm đầy đủ Theo đó, cứ mỗi 1% thất nghiệp vượt quá tỷ lệ tự nhiên thì GDP giảm khoảng 2,5%, phản ánh rõ mối liên hệ giữa thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế.

1.2 Đối với một số nước Châu Á –Thái Bình Dương

Kể từ năm 1990, số người thất nghiệp ở Nhật Bản đã tăng gấp đôi, gây ra những hậu quả nghiêm trọng theo tiêu chuẩn của quốc gia này Dù thấp hơn nhiều so với các quốc gia phương Tây, tình trạng thất nghiệp tăng đã ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế Nhật Bản Đặc biệt kể từ năm 2019, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 khiến tỷ lệ thất nghiệp gia tăng rõ rệt, gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế Tính đến tháng 10 năm 2020, tỷ lệ thất nghiệp của Nhật Bản đã tăng lên mức 3,1%, mức cao nhất trong vòng 3 năm trở lại đây.

Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản, tổng số người thất nghiệp đã tăng lên 80.000 người

GDP của Nhật Bản – nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới sau Mỹ và Trung Quốc – đã giảm 3,4% trong quý I/2020, phản ánh tác động của đại dịch Trước đó, vào quý IV/2019, GDP của Nhật Bản giảm 7,3% do hoạt động tiêu dùng và đầu tư bị ảnh hưởng bởi việc chính phủ tăng thuế tiêu dùng từ 8% lên 10% từ ngày 1/10/2019 Mức giảm này được xem là lớn nhất kể từ quý II/2014, khi tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi đợt tăng thuế của chính phủ Nhật Bản vào tháng 4/2014, cho thấy sự ảnh hưởng của chính sách thuế đến nền kinh tế quốc gia.

Nền kinh tế Nhật Bản chính thức rơi vào tình trạng suy thoái sau hai quý tăng trưởng âm liên tiếp, trong đó quý IV/2019 ghi nhận tăng trưởng âm Đây là lần đầu tiên kể từ năm 2015, nền kinh tế Nhật Bản bị suy thoái, cho thấy tác động tiêu cực của các yếu tố kinh tế trong thời gian qua.

Vào tháng 4 năm 2020, Chính phủ Nhật Bản công bố gói kích thích kinh tế thứ 3 nhằm thúc đẩy nền kinh tế, với tổng quy mô lên tới 117 nghìn tỷ yên (khoảng 1,1 nghìn tỷ USD), tương đương 22% GDP quốc gia Gói hỗ trợ này tập trung chủ yếu vào việc duy trì việc làm và hỗ trợ doanh nghiệp, chiếm khoảng 75% ngân sách, trong khi phần còn lại được phân bổ cho hệ thống chăm sóc sức khỏe, các chiến dịch thúc đẩy tiêu dùng và đầu tư công nhằm phục hồi nền kinh tế trong bối cảnh đại dịch COVID-19.

Vào tháng 5 năm 2020, Chính phủ Nhật Bản đã công bố gói kích thích kinh tế bổ sung trị giá 117 nghìn tỷ yên, tương đương quy mô của gói kinh tế mới nổi thứ ba, nhằm ứng phó với các tác động của đại dịch COVID-19 Các biện pháp chính trong gói hỗ trợ này bao gồm thiết lập các khoản trợ cấp hỗ trợ phí thuê nhà cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp họ vượt qua khó khăn tài chính Đồng thời, chính phủ còn cung cấp các khoản vay phụ lớn hơn cho các công ty lớn nhằm duy trì hoạt động sản xuất và ổn định nền kinh tế.

Tại Nhật Bản, trợ cấp thất nghiệp được giới hạn ở mức 50-80% tiền lương trước đó đối với những người từng là nhân viên chính thức

Hàn Quốc đang đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế đất nước Thị trường lao động chịu tác động nặng nề từ suy giảm kinh tế, dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên Hàn Quốc tháng 8 tăng cao nhất trong 18 năm Những khó khăn này đặt ra nhiều thách thức lớn cho chính phủ mới tại xứ Kim chi trong việc thúc đẩy thị trường việc làm và phục hồi nền kinh tế.

Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15 đến 29 tuổi ở Hàn Quốc đã tăng lên 9,4%, mức cao nhất kể từ năm 1999, phản ánh khó khăn của thị trường lao động Tăng trưởng việc làm giảm xuống mức thấp nhất trong 4 năm rưỡi, đặc biệt ảnh hưởng đến các ngành dịch vụ như du lịch do lượng du khách Trung Quốc giảm đáng kể Khu vực tiêu dùng tư nhân vẫn chưa phục hồi hoàn toàn khiến các công ty tuyển dụng ít đi, trong khi số việc làm trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản cũng giảm do chính phủ siết chặt kiểm soát đầu cơ.

Trước tình hình thất nghiệp ngày càng tăng, Tổng thống Moon Jae-in đã đặt ra các ưu tiên hàng đầu về thúc đẩy tạo việc làm kể từ khi nhậm chức vào đầu tháng 5 Vào cuối tháng 7, Quốc hội Hàn Quốc đã phê duyệt ngân sách bổ sung trị giá 11.200 tỷ won nhằm hỗ trợ các chương trình giảm thất nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tác động của thất nghiệp đến xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế mà còn đe dọa đến chất lượng cuộc sống và xã hội của các quốc gia Người lao động mất việc làm sẽ mất nguồn thu nhập, gây khó khăn cho cuộc sống cá nhân và gia đình, đồng thời ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp Thất nghiệp còn tác động đến sức khỏe, gây khó khăn trong chăm sóc y tế và giáo dục con cái Trước tình hình này, người lao động dễ rơi vào tình trạng bần cùng, chán nản, thậm chí dẫn đến các hành vi tiêu cực vì mất phương hướng và hy vọng.

Thất nghiệp gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần và thể chất, làm tăng nguy cơ tử vong và ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình Người mất việc làm có sức khỏe tâm thần kém hơn rõ rệt so với người lao động có việc làm ổn định, với mức độ hài lòng trong cuộc sống và hôn nhân thấp hơn Các nghiên cứu cho thấy thất nghiệp liên quan đến trầm cảm, lo lắng, triệu chứng tâm lý, cùng mức độ hạnh phúc cá nhân giảm rõ rệt.

8 Sức khỏe tâm lý và thể chất trong thời gian thất nghiệp - McKee-Ryan, Song, Wanberg và Kinicki, 2005

37 lòng tự trọng kém Người lao động thất nghiệp có khả năng cao gấp đôi gặp các vấn đề tâm lý so với các những người có việc làm 9

Thất nghiệp có thể làm giảm tuổi thọ, với một nghiên cứu từ những năm 1970 và 1980 cho thấy tỷ lệ tử vong trong năm sau khi chuyển việc cao hơn 50% đến 100% so với dự kiến và giảm dần theo thời gian Ngay cả sau khi sức khỏe ổn định, người lao động thất nghiệp vẫn báo cáo tình trạng sức khỏe kém hơn rõ rệt và có nhiều triệu chứng trầm cảm hơn so với những người vẫn duy trì công việc ổn định Công việc lương thấp thường hạn chế cơ hội phát huy kỹ năng cá nhân và đi kèm với nhiều kết quả tiêu cực, như giảm tự trọng, tăng sử dụng rượu, tỷ lệ trầm cảm cao hơn và nhẹ cân ở trẻ sơ sinh sinh ra từ phụ nữ thiếu việc làm.

Thất nghiệp gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm lý của gia đình, khiến người đàn ông trở nên cáu kỉnh, căng thẳng và dễ nổi nóng hơn Trẻ em phải chịu đựng trong môi trường gia đình khi cha mẹ thất nghiệp thường xuyên căng thẳng và làm việc chăm sóc con cái không chu đáo Nghiên cứu cho thấy triệu chứng trầm cảm tăng cao ở những bà mẹ đơn thân thất nghiệp, và các bà mẹ này thường xuyên trừng phạt con cái, dẫn đến trẻ vị thành niên ngày càng có triệu chứng trầm cảm rõ rệt.

Thất nghiệp có thể tác động tiêu cực đến các quyết định về hôn nhân và ly hôn, khiến các đàn ông thất nghiệp hoặc có thu nhập thấp ít có khả năng kết hôn hơn và dễ ly hôn hơn so với những người đàn ông còn ổn định về tài chính.

Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến từng cá nhân và gia đình mà còn gây tác động tiêu cực đến cộng đồng và khu phố Tỷ lệ thất nghiệp cao đi đôi với tỷ lệ nghèo đói tăng, làm gia tăng sự phân hóa xã hội và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của các khu dân cư Việc làm xuất hiện một cách bền vững là yếu tố then chốt để cải thiện chất lượng cuộc sống và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

9 Thất nghiệp làm suy giảm sức khỏe tâm thần: Phân tích tổng hợp - Paul và Moser (2009)

10 Di chuyển công việc và tỷ lệ tử vong: Sullivan & von Wachter, 2009

11 Hướng tới một tương lai tốt hơn về ảnh hưởng của việc mất việc làm đối với sức khỏe - Burgard, Brand, & House,

12 Chi phí xã hội của thiếu việc làm; Nhà xuất bản Đại học Cambridge Dooley, D., & Prause, J (2004)

13 Chênh lệch tuổi tác trong nỗ lực của người lao động để đối phó với khủng hoảng kinh tế - Rook, K., Dooley, D.,

Khu dân cư nghèo phản ánh chính xác tác động của thất nghiệp khi đối mặt với nhà ở không đầy đủ và chất lượng thấp, thiếu thốn trường học, hạn chế hoạt động giải trí, khó tiếp cận các dịch vụ và giao thông công cộng, đồng thời cơ hội việc làm ngày càng hạn chế Những điều kiện này góp phần làm cho việc trở lại làm việc của người dân trở nên khó khăn hơn, ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng phát triển kinh tế và ổn định cuộc sống trong cộng đồng.

Mạng lưới nghề nghiệp chịu ảnh hưởng đáng kể, khi các đồng nghiệp không mất việc vẫn lo ngại rằng họ có thể sớm bị sa thải và phải gánh chịu khối lượng công việc nặng nề hơn.

Hiện tại, họ phải đảm nhận công việc của người đồng nghiệp cũ, dẫn đến những trải nghiệm tâm lý và cảm xúc tương tự như những người lao động bị mất việc Điều này ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của họ và gây áp lực lớn trong công việc hàng ngày Việc chuyển đổi nhiệm vụ đột ngột này có thể làm tăng mức độ căng thẳng và lo lắng cho nhân viên Các tổ chức cần quan tâm đến vấn đề này để hỗ trợ nhân viên vượt qua giai đoạn khó khăn, duy trì tinh thần làm việc tích cực và đảm bảo sự ổn định trong công việc.

Thất nghiệp gia tăng gây mất ổn định về trật tự xã hội, dẫn đến hiện tượng lãn công, bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc và quyền sống, phản ánh sự bất mãn của người lao động Đồng thời, các hiện tượng tiêu cực xã hội như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút và mại dâm cũng gia tăng theo, làm trật tự xã hội đảo lộn và ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng Sự suy giảm trong sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng làm tăng nguy cơ xáo trộn xã hội và biến động chính trị Thất nghiệp kéo theo giảm thu nhập, gây áp lực lớn lên nhà nước trong việc đưa ra các chính sách hỗ trợ đời sống, tạo công ăn việc làm và nâng cao chế độ phúc lợi xã hội để duy trì ổn định và an sinh.

Những đối tượng dễ bị tổn thương nhất liên quan tới vấn đề thất nghiệp có thể được kể đến như sau:

Thanh niên vốn đã đối mặt với tỷ lệ thất nghiệp cao và thiếu việc làm nay càng dễ bị tổn thương hơn khi cầu lao động giảm sút, như đã từng xảy ra trong các cuộc khủng hoảng tài chính trước đây Những người lao động cao tuổi cũng chịu tác động tiêu cực khi nền kinh tế rơi vào trạng thái dễ bị tổn thương, đặc biệt sau dịch MERS bùng phát, khi họ dễ bị mất việc làm hơn.

14 Chi phớ nhõn sự của việc thu giảm quy mụ tổ chức - Kivimọki, M., Vahtera, J., Elovainio, M., Pentti, J., &

39 thiếu việc làm, cũng như bị giảm giờ làm nhiều hơn so những người trong độ tuổi lao động vàng 15

Nhóm người có bệnh lý nền và người cao tuổi gặp khó khăn trong việc duy trì thể trạng tốt để tham gia các ngành nghề lao động Trong gần như mọi trường hợp, những người thuộc nhóm này thường xuyên bị hạn chế khả năng tuyển dụng, đặc biệt khi nhu cầu di chuyển và hoạt động giảm sút trong thời kỳ dịch bệnh Ngay cả những người trẻ tuổi chưa cao, cũng thường được tuyển vào các công việc đơn giản như bảo vệ hoặc trông xe, nhưng tình hình dịch bệnh khiến cơ hội việc làm của họ bị thu hẹp đáng kể Điều này khiến họ trở thành nhóm lao động dễ bị tổn thương và gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm công việc phù hợp.

Hiện nay, hơn 70% phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi lao động tham gia lực lượng lao động, cao hơn mức trung bình toàn cầu là 47,2% và khu vực châu Á - Thái Bình Dương là 43,9% Tuy nhiên, sự tham gia tích cực của phụ nữ vào lực lượng lao động không đồng nghĩa với cơ hội lao động công bằng; phụ nữ thường phải đối mặt với những thách thức như chăm sóc gia đình, sinh con và chăm sóc con cái, dẫn đến chất lượng việc làm của nữ giới trên thế giới, đặc biệt trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thường thấp hơn nam giới.

Theo bà Valentina Barcucci, chuyên gia Kinh tế Lao động của ILO Việt Nam, trước đại dịch Covid-19, cả phụ nữ và nam giới đều dễ dàng tiếp cận việc làm, nhưng chất lượng việc làm của phụ nữ thấp hơn so với nam giới Lao động nữ chiếm đa số trong các công việc dễ bị tổn thương, đặc biệt là công việc gia đình Tỷ lệ phụ nữ đảm nhận các vị trí ra quyết định còn rất thấp, mặc dù phụ nữ chiếm gần một nửa lực lượng lao động lành nghề, nhưng chỉ giữ chưa đến 25% các vị trí lãnh đạo và quản lý chung.

Dưới tác động của đại dịch Covid-19, tổng số thời gian làm việc đã giảm đáng kể, khiến nhiều người gặp khó khăn trong công việc và đời sống hàng ngày Phụ nữ chịu thiệt thòi nặng nề nhất trong bối cảnh này, đối mặt với những thách thức đặc biệt trong công việc và vai trò gia đình Sự bùng nổ của dịch bệnh đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường lao động, làm suy giảm năng suất và gây ra nhiều tác động tiêu cực đến cuộc sống của phụ nữ.

Nguyên nhân thất nghiệp ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương

Nguyên nhân chủ quan của nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 41 Trình độ học vấn

1.1 Trình độ học vấn Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, tồn tại các quốc gia phát triển vươn lên vị trí dẫn đầu thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc…Nhưng bên cạnh đó vẫn có các quốc gia đang trong giai đoạn phát triển như Lào, Campuchia, Đông Timor, Việt Nam…vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó là vấn đề phổ cập giáo dục Khi công cuộc hiện đại hóa đang được tiến hành sôi nổi trên trường quốc tế, sự phát triển của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khoa học kĩ thuật đã làm thay đổi thị trường lao động Đồng nghĩa với đó, trình độ học vấn cũng như các kỹ năng về khoa học, kĩ thuật của người lao động cũng phải được nâng cao nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động Có thể lấy ví dụ như Việt Nam, hiện nay đang trong quá trình phát triển Tuy nhiên, sự khác biệt về tỷ lệ thất nghiệp giữa thành thị và nông thôn vẫn có sự chênh lệch lớn, tỷ lệ thất nghiệp cao chủ yếu ở nông thôn do cơ sở hạ tầng, trình độ học vấn của người lao động nông thôn không thể đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động

1.2 Không tìm được nghề nghiệp phù hợp

Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất thường gặp ở tầng lớp thanh thiếu niên, đặc biệt là những người mới bước vào thị trường lao động, chưa có định hướng rõ ràng về nghề nghiệp Vấn đề thất nghiệp của sinh viên diễn ra phổ biến ở cả các nước phát triển và đang phát triển, do thiếu phù hợp với khả năng hoặc mức lương không đáp ứng mong đợi Những người có năng lực và kinh nghiệm vẫn phải nhận công việc chân tay với mức lương thấp, trong khi những người có trình độ thấp lại mong muốn tìm kiếm công việc văn phòng với mức lương cao Điều này phản ánh sự bất cập trong việc phân bổ lao động và định hướng nghề nghiệp.

42 được công việc phù hợp, khiến họ chấp nhận không đi làm và ở nhà chờ đợi một công việc phù hợp, hoặc làm những công việc tạm thời

NEET là từ viết tắt của cụm từ “Not in Education, Employment or Training,” có nghĩa là không tham gia học tập, việc làm hoặc đào tạo Thuật ngữ này xuất phát từ phương Tây nhưng hiện nay đã trở nên phổ biến tại Nhật Bản và Trung Quốc Những người thuộc nhóm NEET thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm hoặc không tự tin về khả năng tìm việc, dẫn đến việc trở thành NEET.

Họ thường là những người không chấp nhận các chuẩn mực xã hội truyền thống Trong xã hội Nhật Bản, giá trị cốt lõi tập trung vào việc tìm kiếm việc làm toàn thời gian sau khi tốt nghiệp hoặc theo đuổi các ngành nghề truyền thống Những chuẩn mực này phản ánh ý thức hệ của Nhật Bản về sự ổn định và thành công bền vững trong sự nghiệp.

Những người thuộc thế hệ NEET, thường trong độ tuổi từ 15-34, chưa kết hôn và có xu hướng từ bỏ cơ hội việc làm, sống dựa vào gia đình hoặc người yêu Nhiều NEET dù đã hơn 30 tuổi nhưng vẫn còn sợ hãi nhiều điều như ra đường ban đêm, gặp gỡ người lạ hoặc yêu đương, và thiếu kỹ năng thiết yếu như rút tiền ATM hay vay tiền mua nhà, mua xe Giới NEET dễ dàng sa vào các tệ nạn như nghiện ngập, bạo lực và phạm tội Ngoài ra, việc thanh niên không làm việc, sống phụ thuộc vào cha mẹ gây ra xung đột với hệ thống dưỡng lão hạn chế ở các quốc gia như Trung Quốc và Nhật Bản, đồng thời làm lãng phí nguồn nhân lực lớn của xã hội.

Nguyên nhân khách quan của nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Nguyên nhân chính dẫn đến mất việc làm của người lao động chủ yếu bắt nguồn từ ảnh hưởng của nền kinh tế toàn cầu Các yếu tố tác động đến nền kinh tế và phương thức sản xuất trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình việc làm của người lao động Trong thời gian gần đây, đại dịch Covid-19 đã gây ra tác động nghiêm trọng tới nền kinh tế của các quốc gia trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, khiến tỷ lệ thất nghiệp tăng cao.

The rise of new unemployed individuals in China is a direct consequence of the "one-child policy," which has significantly impacted the country's demographic structure This policy led to an aging population and a shrinking workforce, resulting in increased unemployment rates among young adults As a result, China's labor market faces considerable challenges, including skill mismatches and reduced economic growth potential Addressing these issues requires comprehensive reforms to adapt to the changing demographic landscape and to create new employment opportunities.

Sự phát triển của phương thức sản xuất hiện đại, đặc biệt là máy móc công nghiệp, đã gây ra thay đổi lớn trong thị trường lao động Nhiều nghề nghiệp truyền thống ngày càng giảm và bị thay thế bởi công nghệ cao, dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng Vấn đề này đang trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, khi nền kinh tế ngày càng phát triển và yêu cầu chất lượng lao động ngày càng cao.

2.1 Ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 Đại dịch Covid 19 đã gây nên sự gián đoạn lớn đối với nền kinh tế và thị trường lao động, dẫn tới tỷ lệ thất nghiệp tăng cao tại châu Á- Thái Bình Dương Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy, vấn đề việc làm của thanh niên ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương đang bị thách thức nghiêm trọng do đại dịch Covid 19 gây ra Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên đã tăng lên tại 6 trên 9 nền kinh tế bao gồm Australia, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia và Việt Nam cũng như Hồng Kông, Trung Quốc “Những thách thức trong thời kỳ khủng hoảng đã tăng lên bội phần do đại dịch Covid 19 Nếu không được quan tâm thích đáng, chúng tôi sợ rằng khủng hoảng này có nguy cơ tạo nên một “thế hệ bị phong tỏa”, họ sẽ phải gánh chịu hệ quả gây nên bởi cuộc khủng hoảng này nhiều năm sau nữa”-

Theo bà Sara Elder, Trưởng bộ phận Phân tích Kinh tế và Xã hội khu vực của ILO, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp buộc phải thu hẹp hoạt động hoặc đóng cửa hoàn toàn, dẫn đến mất việc làm hàng loạt, ước tính khoảng 81 triệu việc làm bị ảnh hưởng trong năm 2020 Khi thị trường lao động sụp đổ, hàng triệu người lao động bị đẩy ra khỏi hoạt động kinh tế hoặc thất nghiệp, chủ yếu do giảm giờ làm việc Báo cáo của ILO dự báo tỷ lệ thất nghiệp chung ở các nước châu Á - Thái Bình Dương năm 2020 sẽ tăng từ 5,2% lên 5,7%, phản ánh tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tới thị trường lao động khu vực.

The ILO and ADB reports highlight the severe impact of the COVID-19 pandemic on youth employment in Asia-Pacific, revealing heightened unemployment rates and lost job opportunities for young people The findings underscore the urgent need for targeted policies to support youth employment recovery and address the economic disruptions caused by the pandemic According to the ILO, the pandemic has accelerated existing labor market vulnerabilities among young workers, emphasizing the importance of sustainable and inclusive employment strategies Accessed on April 13, 2021, the reports call for increased investment in skills development and social protection to mitigate the long-term effects of the crisis on the region’s youth workforce.

18 “Châu Á- Thái Bình Dương mất 81 triệu việc làm trong năm nay”- Tin tức lao động Hàn Quốc, truy cập ngày 14/4/2021

Trong vòng hai thập kỷ, Hàn Quốc đã mất nhiều việc làm nhất, với tỷ lệ thất nghiệp tăng cao nhất trong 10 năm do ảnh hưởng của làn sóng Covid-19 khiến nhiều doanh nghiệp phải sa thải hàng loạt Tính đến nay, quốc gia này đã trải qua 4 lần tăng trưởng tỷ lệ thất nghiệp đáng kể trong lịch sử, bao gồm các khủng hoảng như khủng hoảng dầu mỏ năm 1984, khủng hoảng tiền tệ châu Á năm 1998, khủng hoảng thẻ tín dụng năm 2003 và khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2009.

Mất việc làm tại Hàn Quốc phản ánh tác động của các biện pháp giãn cách xã hội nhằm kiểm soát dịch COVID-19 khi số ca nhiễm tăng cao Các hoạt động kinh doanh như nhà hàng, quán karaoke và dịch vụ giải trí phải đóng cửa, gây ra thiệt hại lớn cho ngành dịch vụ, đặc biệt trong kỳ lễ cuối năm Chuyên gia kinh tế An Young-jin của SK Securities nhận định rằng, việc không tổ chức các bữa tiệc cuối năm và mức tiêu dùng giảm mạnh đã dẫn đến mất việc làm trong ngành dịch vụ Nền kinh tế Hàn Quốc phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu và ngành sản xuất, nên ảnh hưởng của COVID-19 đã tác động trực tiếp đến các lĩnh vực này.

Ngành sản xuất đã gặp phải sự suy giảm trong sản xuất và phải cắt giảm nhân công do áp lực tăng chi phí lao động từ trước Covid-19 Theo Giáo sư Sung Tae-yoon của Đại học Yonsei, đại dịch đã khiến ngành này đối mặt với nhiều khó khăn hơn nữa Mặc dù ngành xuất khẩu có dấu hiệu phục hồi, nhưng chưa chắc đã dẫn đến tăng trưởng việc làm trong lĩnh vực công nghệ.

Trung Quốc là quốc gia đầu tiên trên thế giới bùng phát dịch Covid-19 và ảnh hưởng của đại dịch để lại rất nặng nề Các biện pháp phong tỏa toàn cầu gây ra tác động kinh tế lớn, trong đó Trung Quốc không ngoại lệ Ước tính có tới 70 triệu người dân Trung Quốc bị ảnh hưởng bởi các biện pháp hạn chế này, tác động đáng kể đến nền kinh tế của quốc gia.

19 “Số người có việc làm tại Hàn Quốc giảm kỉ lục trong hơn 20 năm qua”- Theo KBS World, truy cập ngày

14/4/2021 https://world.kbs.co.kr/service/contents_view.htm?lang=v&menu_cate=business&id=&board_seq97289

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, Trung Quốc ghi nhận hơn 45 triệu người thất nghiệp do nhiều cửa hàng, nhà hàng và nhà máy phải đóng cửa vì lệnh phong tỏa và giảm nhu cầu tiêu dùng toàn cầu Nhu cầu giảm mạnh đã khiến các doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất, đóng cửa hoặc sa thải nhân viên, khiến thị trường lao động ngày càng trở nên ảm đạm.

Do ảnh hưởng của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, nền kinh tế Trung Quốc phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng, trong khi tình hình thất nghiệp trở nên nghiêm trọng hơn do dịch Covid-19 lan rộng Việc duy trì sự ổn định của thị trường lao động trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, theo các nhà kinh tế Trung Quốc Ouyang Jun và Qin Fang.

Nhật Bản, cũng là một trong những quốc gia có số ca nhiễm Covid-19 cao ở châu Á-Thái Bình Dương, đã phải đối mặt với tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng do tác động của dịch bệnh Nền kinh tế Nhật Bản suy giảm trầm trọng, tiêu dùng giảm mạnh và xuất khẩu trì trệ, dẫn đến nhiều nhà máy phải cắt giảm sản xuất và người lao động mất việc làm Chính sách phong tỏa và đóng cửa các cửa hàng để phòng chống dịch khiến tình trạng thất nghiệp càng trở nên nghiêm trọng hơn Theo Văn phòng Nội các Nhật Bản, tỷ lệ thất nghiệp năm 2020 đã tăng lên mức cao kỷ lục trong 11 năm do ảnh hưởng của Covid-19, gây ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động quốc gia.

2.2 Sự phát triển của khoa học kĩ thuật

Trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo và máy móc hiện đại đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, mở ra những phương thức mới và nâng cao hiệu quả lao động Tuy nhiên, điều này cũng đồng thời đe dọa vị trí của người lao động khi tự động hóa thay thế nhiều công việc truyền thống Các lĩnh vực kinh tế - xã hội bị ảnh hưởng mạnh mẽ, đặt ra thách thức lớn về việc thích nghi và đảm bảo quyền lợi cho người lao động trong thời kỳ chuyển đổi số.

Theo nguồn tin RFI (Đài phát thanh quốc tế Pháp), Trung Quốc đang đối mặt với khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng do “quả bom nổ chậm” gây ra, khiến khoảng 70 triệu người lao động mất việc làm tính đến tháng 4 năm 2021 Tình trạng thất nghiệp gia tăng này đặt ra nhiều thách thức lớn cho kinh tế Trung Quốc trong bối cảnh phục hồi sau ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 Các số liệu này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách hỗ trợ việc làm và phục hồi kinh tế để giảm thiểu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng.

Giải pháp giải quyết nạn thất nghiệp ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Nạn thất nghiệp ở Việt Nam

Ngày đăng: 27/12/2022, 11:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] “Thất nghiệp là gì? Thất nghiệp được phân loại như thế nào” https://raffles-international-college-hcm.edu.vn/that-nghiep-la-gi/, Truy cập ngày 14/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất nghiệp là gì? Thất nghiệp được phân loại như thế nào
[3] Bài giảng “Thất nghiệp” – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân http://eldata3.neu.topica.vn/ECO102/Giao%20trinh/05.NEU_ECO102_Bai5_v1.0013101216.pdf, Truy cập ngày 14/4/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất nghiệp
[4] Bài giảng “Thất nghiệp” – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân http://eldata3.neu.topica.vn/ECO102/Giao%20trinh/05.NEU_ECO102_Bai5_v1.0013101216.pdf, Truy cập ngày 14/4/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thất nghiệp
[5] Đề tài nghiên cứu: “Tác động của khủng hoảng kinh tế đến việc làm trên thế giới” – TS Nguyễn Văn Lịch. Học viện Ngoại giao Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của khủng hoảng kinh tế đến việc làm trên thế giới
[6] “ ILO: Hơn 35% số người thất nghiệp trên thế giới là thanh niên” https://dangcongsan.vn/the-gioi/nhung-van-de-toan-cau/ilo-hon-35-so-nguoi-that-nghiep-tren-the-gioi-la-thanh-nien-462884.html, Truy cập ngày 15/4/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ILO: Hơn 35% số người thất nghiệp trên thế giới là thanh niên
[7]“Thị trường lao động thế giới "lạc nhịp” vì COVID-19” https://bnews.vn/thi-truong-lao-dong-the-gioi-lac-nhip-vi-covid-19/176757.html, Truy cập ngày 15/4/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường lao động thế giới "lạc nhịp” vì COVID-19
[16] “Giới thất nghiệp mới, hệ quả của thời con một ở Trung Quốc”- Career Builer, truy cập ngày 14/4/2021https://careerbuilder.vn/vi/talentcommunity/gioi-that-nghiep-moi-he-qua-cua-thoi-con-mot-o-trung-quoc.35A4EBB1.html?fbclid=IwAR1afeotgwSAKfC_-2nqeVQoJ-efPun32DgEWUdluYGKocbXQlWQBy9VLkc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thất nghiệp mới, hệ quả của thời con một ở Trung Quốc
[18] “Châu Á- Thái Bình Dương mất 81 triệu việc làm trong năm nay”- Tin tức lao động Hàn Quốc, truy cập ngày 14/4/2021https://www.labortoday.co.kr/news/articleView.html?idxno=200380&fbclid=IwAR0r_ZJqFl_ei3GCOIn4FFHnFWqtgIwPZ97DsjEiC7JkN7RfhW72UFu5n54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châu Á- Thái Bình Dương mất 81 triệu việc làm trong năm nay
[19] “Số người có việc làm tại Hàn Quốc giảm kỷ lục trong hơn 20 năm qua”- Theo KBS World, truy cập ngày 14/4/2021https://world.kbs.co.kr/service/contents_view.htm?lang=v&menu_cate=business&id=&board_seq=397289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số người có việc làm tại Hàn Quốc giảm kỷ lục trong hơn 20 năm qua
[20] “Quả bom nổ chậm tại Trung Quốc: 70 triệu người thất nghiệp”- theo RFI (Đài phát thanh quốc tế Pháp), truy cập ngày 14/4/2021https://www.rfi.fr/vi/ch%C3%A2u-%C3%A1/20200615-qu%E1%BA%A3-bom-n%E1%BB%95-ch%E1%BA%ADm-t%E1%BA%A1i-trung-qu%E1%BB%91c-70-tri%E1%BB%87u-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-th%E1%BA%A5t-nghi%E1%BB%87p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quả bom nổ chậm tại Trung Quốc: 70 triệu người thất nghiệp
[8] Sức khỏe tâm lý và thể chất trong thời gian thất nghiệp - McKee-Ryan, Song, Wanberg và Kinicki, 2005 Khác
[9] Thất nghiệp làm suy giảm sức khỏe tâm thần: Phân tích tổng hợp - Paul và Moser (2009) Khác
[11] Hướng tới một tương lai tốt hơn về ảnh hưởng của việc mất việc làm đối với sức khỏe - Burgard, Brand, & House, 2007 Khác
[12] Chi phí xã hội của thiếu việc làm; Nhà xuất bản Đại học Cambridge. Dooley, D., & Prause, J. (2004) Khác
[13] Chênh lệch tuổi tác trong nỗ lực của người lao động để đối phó với khủng hoảng kinh tế. - Rook, K., Dooley, D., & Catalano, R. (1991) Khác
[14] Chi phớ nhõn sự của việc thu giảm quy mụ tổ chức - Kivimọki, M., Vahtera, J., Elovainio, M., Pentti, J., & Virtanen, M. (2003) Khác
[15] Ảnh hưởng của dịch bệnh đến thị trường lao động: xác định nạn nhân của Hội chứng hô hấp tại thị trường lao động Hàn Quốc - Int J Equity Health. 2016; 15: 196. Lee, A. and J. Cho 2016 Khác
[17] Báo cáo của ILO- ADB: Khủng hoảng việc làm đối với thanh niên do đại dịch Covid 19 tại châu Á- Thái Bình Dương- Tổ chức Lao động quốc tế ILO. Truy cập ngày13/4/2021 Khác

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w