1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MÔN kỹ NĂNG làm VIỆC NHÓM CHỦ đề tìm HIỂU bản sắc dân tộc tày

21 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu bản sắc dân tộc Tày
Người hướng dẫn Nguyễn Khánh Hoàng
Trường học Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kỹ năng làm việc nhóm
Thể loại Báo cáo thực tập
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 920,42 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤLỜI MỞ ĐẦUKhảo cứu nhiều dòng họ người Tày ở Cao Bằng cho thấy, nhiều dòng họ người Tày tại đây có nguồn gốc khác nhau, có thể là người Tày cổ trước đây còn gọi l

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

1 NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

2BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

LỜI MỞ ĐẦUKhảo cứu nhiều dòng họ người Tày ở Cao Bằng cho thấy, nhiều dòng họ người Tày tại đây có nguồn gốc khác nhau, có thể là người Tày cổ trước đây còn gọi là người Thổ (cư dân bản địa đã sinh sống từ lâu đời), có thể là Tày lưu quan (từ nơi khác đến làm quan và ở lại) cũng có thể là người Kinh từ miền xuôi lên, người Hoa từ Trung Quốc sang,….Điều đó chứng tỏ rằng, người Tày ngày nay có nhiều nguồn gốc hoà hợp, cụ thể như: dòng họ Bế đều khai là dân tộc Tày, nhưng cụ tổ là người Thanh Hoá lên Cao Bằng dạy chữ Nho rồi bén duyên với con gái dân tộc Tày và ở

rể tại Cao Bằng Theo phong tục tập quán của người Tày, người chồng đến ăn nghiệp bên vợ, con cái sinh ra phải mang họ vợ và họ của người chồng thường chỉ còn một chữ đệm giữa họ và tên, con cái được xác định là người dân tộc Tày Gia phả các dòng họ Thân dân tộc Tày ở xã Bình Long, huyện Hoà An ghi lại, họ vốn làngười Nam Định, Hải Dương, Bắc Giang…

Ngôn ngữ của dân tộc Tày là tiếng Tày Tiếng Tày có vị trí quan trọng và được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày của cư dân bản xứ Song để biểu thị các khái niệm xã hội, chính trị, pháp lý, khoa học…thì tiếng Tày phải vay mượn từ tiếng Hán và đặc biệt từ tiếng phổ thông là tiếng Việt Sự vay mượn được hình thành trong thực tiễn đời sống nên phù hợp với quy luật, điều đó đã làm cho tiếng Tày trở nên phong phú, có sức sống mãnh liệt, bền bỉ trở thành công cụ giao tiếp trong cộng đồng cư dân người Tày xưa và nay

Ngày nay truyền thống văn hóa dân gian luôn được bảo tồn, khai thác và phát huy trong sản xuất và phát triển kinh tế xã hội, cùng với các tộc người khác trong tỉnh

Trang 4

người Tày góp phần to lớn của mình trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển quê hương Yên Bái ngày một giàu đẹp.

MỤC LỤCNHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ

DANH MỤC BẢNG BIỂU HÌNH ẢNH

LỜI NÓI ĐẦU

MỤC LỤC

I NGUỒN GỐC LỊCH SỬ, SỐ LƯỢNG VÀ ĐỊA BÀN CƯ TRÚ

II VĂN HOÁ VẬT CHẤT

1)Nhà ở

a) Cấu trúc của ngôi nhà

b)Những tập quán, tín ngưỡng liên quan đến dựng nhà mới

2)Trang phục

3) Văn hoá ẩm thực 4)Làng bản

5)Tập quán hôn nhân

6)Sinh đẻ

7)Nghi lễ tang ma

8)Quan niệm, tín ngưỡng

9)Văn hoá dân gian

10)Lễ hội tranh đầu pháo 1111)Phong tục tập quán

Trang 5

- Tên gọi khác: Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao

- Cư trú: ở Việt Nam dân tộc Tày cư trú tại các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Thái Nguyên Tại tỉnh Thái Nguyên dân tộc Tày cư trú ở tất cả các huyện, thàn

- Số lượng:

Ở Thái Nguyên, năm 1999, dân tộc Tày có khoàng 106.238 người, đứng thứ hai trong các dân tộc của tỉnh (chiếm 10,15%) hiện đang có mặt ở tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, tập trung đông nhất ở huyện Định Hoá (41,1%) tiếp đến

là huyện Phú Lương (18,6%), Đại Từ (12,7%) và ít nhất là thị xã Sông Công (0,39%)

Dân tộc Tày tính đến năm 2009 toàn tỉnh có 123.197 người phân bố ở tất cảcác huyện, thành, thị xã toàn tỉnh Tập trung đông nhất ở huyện Định Hoá là 46.004người, chiếm 37,3% số lượng dân tộc Tày toàn tỉnh; tiếp đến là Phú Lương: 20.863người, chiếm 16,9%; TP Thái Nguyên: 19.312 người chiếm 15,7%; huyện Đại Từ:15.654 người chiếm 12,7%; huyện Võ Nhai: 14.583, chiếm 11,8% ít nhất là thị xãSông Công: 889 người, chiếm 0,7%

II VĂN HOÁ VẬT CHẤT

1 Nhà ở:

a) Cấu trúc của ngôi nhà:

- Nhà sàn: Là loại nhà có từ lâu đời của người Tày Trước đây, do còn nhiềurừng nên họ chỉ dựng nhà bằng các loại nguyên vật liệu được lấy từ rừng như tre,

gỗ, lá cọ Cách đây vài chục năm loại hình nhà sàn cột chôn là loại hình phổ biến Chỉ từ sau năm 1960, khi thành lập HTX nông nghiệp, người ta mới có điều kiệnlàm loại nhà sàn cột kê trên đá tảng Phần sàn dùng cho người ở, phần gác để sấykhô, cất giữ một số lương thực, thực phẩm và gầm sàn dùng để nhốt gia súc, giacầm, chất củi, để nông cụ, cối giã và đan lát

Người Tày không tính quy mô ngôi nhà bằng số gian mà tính bằng cột chính, chẳnghạn loại nhà 8 cột, 10 cột, 12 cột Mặt bằng nhà có dạng hình chữ nhật hay dạnggần hình vuông, trong đó dạng gần hình vuông là phổ biến Ngay cả một số gia đìnhngười Sán Chay, Nùng ở Phú Lương và Định Hoá cũng chịu ảnh hưởng kiểu nhàcủa người Tày

Đối với loại nhà sàn có cấu trúc dạng vì kèo ba cột như trước đây thì mỗi vìkèo được bố trí ba cột, hai chiếc xà ngang và một bộ vì kèo Với loại nhà này xungquanh thường được bưng bằng ván, bằng phên hay liếp tre còn mái lợp bằng lá cọ.Đây là loại nhà cổ nhất nhưng hiện nay không còn thấy phổ biến nữa

Trang 6

Khoảng 20 năm trở lại đây, nhất là sau đổi mới rất nhiều gia đình người Tày ở TháiNguyên bắt đầu chuyển từ nhà sàn xuống ở nhà nền đất Nguyên nhân chủ yếu là dohiện nay thiếu nguyên liệu gỗ để làm nhà, rừng không còn nhiều để khai thác nữa Cấu trúc nhà nền đất của người Tày ở đây có đặc điểm là hầu hết các ngôi nhàđều được xây dựng khá cao

b) Những tập quán, tín ngưỡng liên quan đến dựng nhà mới

- Trước hết: phải xem hướng làm nhà Tránh làm nhà ở cạnh sông vì theo quanniệm của họ nước sông suối động chạm đến tổ tiên, không có tài lộc Tránh để mặtnhà nhìn thẳng vào tảng đá vì như vậy khó giữ gìn của cải, làm ăn ít gặp may mắn

Kỵ phía trước nhà có ngọn núi nào đó có hướng đâm thẳng vào nhà bởi đó là hướngsát chủ, dễ bị chết oan

- Kiêng kỵ khi làm nhà: Ngày và tháng khởi công đào đắp nền nhà cũng nhưviệc khởi công lấy nguyên vật liệu, ngày dựng nhà và ngày làm lễ vào nhà mới chọnnhững ngày không xung khắc với tuổi của chủ nhà Không chọn ngày khởi côngđào đắp nền nhà vào ngày hoả hay ngày có tiếng sấm đầu năm, ngày trùng với ngàychết của cha mẹ bởi vì những ngày đó là ngày xấu không mang lại sự may mắn chocác công việc làm nhà tiếp theo Trong ngày đầu nhất thiết phải đốn lấy cột nóc.Tuyệt đối không lấy những cây bị gãy ngọn, cây bị sét đánh để làm nhà vì họ chorằng những cây đó bị thần, ma làm hỏng lấy về làm nhà sẽ bị tai hoạ

Sau khi nền nhà làm xong để nguyên một thời gian cho đất chặt lại chắc chắnmới tiến hành các công đoạn dựng nhà Ngày khởi công xây dựng nhà mới gia chủcũng phải tiến hành làm lễ cúng gia tiên và thổ thần

- Nghi thức vào nhà mới: Ở đây người Tày làm đơn giản: chọn một nam ở họnội và một nữ ở họ ngoại Những người này phải đạt tiêu chuẩn là uy tín, nhà không

có tang, gia đình hoà thuận, có cả con trai lẫn con gái, am hiểu phong tục Trước hếtmỗi người cầm một bó đuốc đi vào nhà, nam đi trước nữ đi sau, khi đến bếp họchụm hai bó đuốc vào nhóm lửa và lên tiếng chúc gia đình may mắn, làm ăn phátđạt, theo sau người nhóm bếp là anh em mang thóc, ống nước, ống mẻ và bình vôivào nhà mới Bếp lửa cháy suốt ba ngày ba đêm không tắt

Những tập quán, tín ngưỡng liên quan đến ăn ở trong ngôi nhà

Một trong những đặc điểm thể hiện rõ nét tập quán sinh hoạt trong nhà ở củangời Tày là cách bố trí giường ngủ Nếu trong nhà chỉ có một đôi vợ chồng cùngvới các con còn nhỏ thì chỉ đặt một chiếc giường ngủ ở trong buồng cạnh bếp sưởi.Khi các con trai và con gái đến tuổi trưởng thành thì đặt thêm những chiếc giườngkhác tại những vị trí đã được qui định Trường hợp trong nhà có con trai lấy vợ thì

sẽ làm thêm một buồng ngủ, đối diện với buồng ngủ của con gái Các con trai đãtrưởng thành được bố trí ngủ ở gian giữa hay ở gian bên cạnh nhưng thường là chỗgần với bàn thờ tổ tiên Cùng với những qui định về chỗ ngủ, trong nhà còn cónhững qui định khá nghiêm ngặt Thường ngày, bố chồng không được đi vào cácbuồng ngủ của các cô dâu, không đến chỗ ngủ của các cô con gái đã lớn tuổi; cô dâukhông được vào buồng ngủ của bố chồng, anh em trai chồng đã có vợ Bàn thờ giatiên được coi là chốn linh thiêng, kiêng sản phụ đi qua, không được treo những thứ

6

Trang 7

được gọi là uế tạp như quần áo, đặc biệt là đồ mặc của sản phụ, tã lót của trẻ sơsinh

Áo cổ truyền thường được may bằng vải nhuộm chàm hoặc từ vải láng, phin đenkhông trang trí, dài đến tận bắp chân, ống tay hẹp Cổ áo to nhỏ tuỳ người sử dụng.Khi mặc cài cúc ở bên nách phải Ngoài chiếc áo dài một số người còn mặc bêntrong một chiếc áo ngắn khác với màu áo dài, được may như kiểu áo của ngườiKinh

- Váy và quần: Trước kia các cụ bà Tày mặc váy, nhưng hiện nay hầu hết phụ nữTày ở Thái Nguyên đều mặc quần Những chiếc quần họ mặc thường ngày cũngnhư mặc trong nghi lễ đều có màu chàm đen Hiện nay, do người Tày không còntrồng bông dệt vải nữa nên quần mặc hàng ngày của họ chủ yếu được may khâu từvải chéo đen hoặc hoặc vải lụa hay láng đen Khi mặc quần và áo được giữ chặtbằng cách buộc dây lưng

- Thắt lưng cổ truyền của người phụ nữ Tày là một tấm vải màu chàm hoặc màuđen Khi mặc váy hoặc quần hoặc quần và áo xong thì người ta mới quấn dây thắtlưng nhiều vòng quanh eo sau đó buộc vắt ra phía sau

- Giày: Thường ngày phụ nữ người Tày ít đi giày, chủ yếu đi dép, thậm chí đi chânđất, mỗi khi lên sàn đều phải rửa chân Chỉ trong những ngày lễ tết hoặc nhữngngày trời lạnh họ mới đi giày vải Ngày nay, trong những ngày lễ hoặc tết phụ nữthường đi giày nhung đen

Trang 8

Nguồn thực phẩm: chủ yếu là gà, lợn, vịt, ngan và dê, các loại rau trồng trên nương.Ngoài ra còn săn bắt hái lượm thêm để cải thiện đời sống.

- Các món ăn

Người Tày biết chế biến khá nhiều món ăn Có món được kế thừa từ đời ôngcha, có món tiếp thu từ việc giao lưu văn hoá với các dân tộc anh em: cơm, xôi nếp,cơm lam, cơm tẻ, các loại cháo, ngô bung các món giàu chất đạm và béo như xào,rán, canh từ thịt

Mỗi ngày người Tày ăn hai bữa chính: trưa, tối và hai bữa phụ là sáng và nửachiều Tuỳ theo tập quán từng nới mà hai bữa phụ có thể là hai hay một bữa Trongmột gia đình thường người ta ngồi ăn cùng mâm, phần đông là bố chồng và con dâukhông ngồi chung mâm Khi nhà có khách thường chia thành nhiều mâm để ănuống, tuy nhiên hiện nay trong một nhà cũng đã có hiện tượng chia thành nhiềumâm ăn uống

- Uống, hút và ăn trầu

Đồ uống thường chia thành hai loại: đồ uống thông thường: nước lã, nước chè,nước lá và đồ uống có chất kích thích như rượu, nước hoa quả, thuốc nam

Đàn ông có thói quen hút thuốc lào, thuốc lá tự gieo trồng Hiện nay người dân

ở Võ Nhai vẫn trồng cây thuốc lá nhưng họ không hút thuốc lá tự cuốn mà họchuyển sang hút thuốc lào hoặc thuốc lá bán bao

Đến nay một số phụ nữ Tày ở Thái Nguyên vẫn ăn trầu, riêng lớp trẻ đã bỏ tậpquán này Thành phần của trầu gồm trầu không, vôi, thuốc lào và vỏ cây

- Phương tiện vận chuyển

Phổ biến nhất là gánh, dùng ngựa thồ, trâu bò kéo Những bản ở ven sông vàsuối lớn thì dùng bè, mảng Hiện nay ngoài các phương tiện trên còn có xe đạp, xemáy, công nông

4 Làng bản

Tổ chức mường của người Tày đã bị giải thể từ lâu, các hình thức tổ chức nhưchâu, tổng, xã được hình thành sớm, nhưng hiện nay đơn vị xã hội cơ sở của ngườiTày hiện nay vẫn là bản Người Tày ở Thái Nguyên thường tụ cư giữa vùng giápranh giữa rừng và ruộng Các bản của người Tày thường dựa lưng vào núi, hướngxuống thung lũng Mỗi bản thường có địa vực cư trú riêng Quy mô bản của ngườiTày nhỏ, mỗi bản thường chỉ có khoảng 30 đến trên dưới 60 hộ Mỗi bản thường cónhiều chòm xóm nhỏ, phân bố tương đối biệt lập, đều hướng ra cánh đồng hoặc conđường cái chạy qua

Trong mỗi bản có những họ là gốc Tày cổ, có những họ là gốc Kinh bị Tàyhóa

Xưa kia dưới chế độ thực dân nửa phong kiến các bản Tày thường nằm dướithiết chế quan phương như châu, tổng, xã, bản Đôi khi những thôn bản lớn cũngđược cấu trúc thành một xã trong bộ máy nhà nước với người đứng đầu là lý trưởng.Với những thôn bản nhỏ, chính quyền phong kiến thường ghép những vài thôn bản

Trang 9

thành một xã đứng đầu là trưởng bản Hiện tại mỗi xóm bản đều có một trưởng xómbản

5 Tập quán hôn nhân:

Chế độ hôn nhân của người Tày trước đây xây dựng trên chế độ tư hữu về tàisản, mang tính chất mua bán môn đăng hậu đối Người con trai bỏ tiền mua hiện vật

và người con gái về Nguyên tắc là cùng thờ tổ tiên thì không được lấy nhau nhưngcon chị em gái có thể lấy nhau được Hôn nhân người Tày mang tính phụ quyềncao

Hình 1: Tái hiện nghi lễ Đám cưới của người Tày qua ngôn ngữ Then

Tình yêu nam nữ được thể hiện qua các dịp hội hè hàng năm như Lồng Tồng (lễxuống đồng), các buổi chợ phiên, những ngày cưới của bạn bè thể hiện qua nhữngbài hát đối đáp như lượn, phong slư Trước cách mạng tháng 8 ở Thái Nguyên còntồn tại tục “trộm vợ” khi bố mẹ khước từ tình yêu của đôi trai gái, hay tục “ngủchết” phản kháng bố mẹ phản đối tình yêu của con

Tồn tại chế độ một vợ một chồng từ lâu đời Hiện tượng ngoại tình, hoang thai, ly

dị cũng rất ít xảy ra Chồng chết, người phụ nữ phải ở lại chăm sóc bố mẹ chồngmột thời gian, sau 3 năm có thể đi lấy chồng Người đàn ông được phép lấy vợ mớisau khi tang vợ được 3 năm

Nghi lễ cưới hỏi:

Trang 10

Uớm hỏi, lễ nộp đồ thách cưới, lễ báo cưới và lễ cưới chính thức Đặc biệt trong lễcưới chính thức, nhà trai nhất thiết phải có lễ vật là một số tấm vải cho mẹ đẻ của

vợ để trả công nuôi dưỡng, gọi là “vải ướt khô” khoảng 48 vuông kèm theo môthoặc hai đồng bạc trắng

6 Sinh đẻ:

Khi người vợ có thai, người chồng kiêng chọc tiết lợn, kiêng đi viếng đám ma Phụ

nữ Tày đẻ ngồi hoặc nằm trong buồng Khi đứa trẻ ra đời dùng dao cắt rốn, chonhau đứa trẻ vào ống nứa dấu ở trong rừng không cho người lạ nhìn thấy Sau khisinh người mẹ được chăm sóc và kiêng kỵ chu đáo, quá trình ở cữ người phụ nữ chỉ

ở trong buồng, kiêng tắm gội, không gần bếp lửa, nơi thờ cúng linh thiêng đặc biệt

là bàn thờ tổ tiên Sản phụ chỉ được ra ngoài khi con so được 3 tháng, con rạ mộttháng Khi đứa trẻ ra đời trước cửa nhà treo một cành lá xanh để báo cho người lạbiết không được vào nhà

7 Nghi lễ tang ma:

Sau khi tắt thở người chết được tắm rửa, mặc quần áo mới, liệm 7 lớp (nam), 9 lớp(nữ) Thi hài được đặt ở gian giữa Thày tào làm lễ nhập quan, làm lễ cúng dâng đèncho người chết biết đường đi Kể từ lễ nhập quan, con cháu phải ăn chay, các chândường tháo rời khỏi mộng, vợ chồng phải cách ly, con trai không được cắt tóc.Trước mỗi bữa ăn gia đình phải có mâm cơm để ở dưới chân quan tài mời linh hồnngười chết về ăn Thầy tào thực hiện một số nghi lễ cúng phức tạp như: triệu tướng,phá ngục, khai quan, rửa tội, tống phỉ sau đó đưa người chết ra đồng lên rừngchôn Sau 3 năm người Tày làm lễ hết tang, linh hồn người chết được nhập vào bànthờ tổ tiên

Hình 2: Đám tang người Tày ở Bắc Cạn

8 Quan niệm, tín ngưỡng:

Người Tày quan niệm vũ trụ có 3 thế giới lớn: Trời, đất và nước Ở thế giớitầng trời mỗi ngày dài bằng một năm Theo quan niệm của đồng bào con người ởmặt đất sống gần gũi với con người ở tầng trời hơn là với người ở thế giới nước Cóthể du ngoạn đưa hồn người trần theo chim én lên thăm cảnh tiên

Từ mặt đất cũng có đường xuống dưới nước, nhưng muốn xuống phải có người

ở dưới nước ban phép hoặc mách bảo bí quyết

Ngoài ra, người Tày còn phân biệt hai thế giới là thế giới thực của con người

và thế giới vô hình của thần thánh, ma quỷ hay còn gọi là xứ người, xứ ma Cõingười có kẻ tốt người xấu và cõi ma cũng vậy Các ma lành là tổ tiên, thổ công, ma

Ngày đăng: 27/12/2022, 10:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w