Mục tiêu của tiểu luận - Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận và thực tiễn về đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp - Phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghi
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHÂN HIỆU ĐHĐN TẠI KON TUM
TÊN:
LỚP:
GVHD:
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGÀNH KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Kon Tum, 10/2019
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trong những năm vừa qua, ngành nông nghiệp Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nông nghiệp phát triển đã đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, tạo việc làm và thu nhập cho phần lớn lực lượng lao động xã hội, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phần phát triển kinh tế đất nước Hơn nữa, nông nghiệp còn
là bệ đỡ cho nền kinh tế trong những năm kinh tế đất nước gặp khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, nhờ đó giúp giảm nhẹ các ảnh hưởng tiêu cực của khủng hoảng kinh tế tới nền kinh tế cả nước
Đối với ngành sản xuất nông nghiệp của Việt Nam, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, quan trọng hàng đầu và không thể thay thế được Bởi vì đất không chỉ là nơi con người dùng để trồng trọt và chăn nuôi, đất còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng phát triển Tuy nhiên, dưới sức ép của quá trình đô thị hoá và sự gia tăng dân số cùng với việc khai thác quá mức mà chưa có biện pháp hợp lý để bảo
vệ nguồn tài nguyên quý giá này là nguyên nhân chính làm đất nông nghiệp nước ta đang suy giảm nhanh chóng cả về số lượng cũng như chất lượng
Kon Tum là một trong năm tỉnh khu vực Tây Nguyên, có tỷ lệ người đồng bào dân tộc thiểu số và tỉ lệ hộ nghèo cao so với khu vực và cả nước Thực tế quá trình phát triển kinh tế trong những năm qua đã chứng minh nông nghiệp là ngành kinh tế chủ lực, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở Kon Tum Tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế Kon Tum chiếm tỉ trọng từ 46-50%, trong khi tỷ trọng này của cả nước là 20-23% Đây cũng là khu vực giải quyết việc làm cho hơn 70% lao động của toàn tỉnh Trong những năm qua, kinh tế nông nghiệp của tỉnh đã có những bước phát triển tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng trưởng bình quân giai
đoạn 2009-2018 đạt 11,33%/năm (Sở Nông nghiệp tỉnh Kon Tum, 2018) Tuy nhiên,
những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh và chưa phát huy được lợi thế của từng vùng trên địa bàn Nông nghiệp phát triển chậm và thiếu quy hoạch Sức cạnh tranh thấp, chưa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn hạn chế, phổ biến vẫn là sản xuất nhỏ, phân tán, năng suất, chất lượng và giá trị nhiều mặt hàng thấp
Đất đai của Kon Tum đa dạng về chủng loại, đất nông nghiệp chiếm tới gần 90% tổng diện tích tự nhiên, nhưng phần lớn diện tích là đất dốc Tuy có diện tích tương đối lớn nhưng địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi, trình độ dân trí chưa cao nên việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là đất đai còn mang tính tự phát, chưa có cơ sở khoa học và chưa hoạch định một cách rõ ràng, nên đời sống của người dân còn thiếu ổn định và khó khăn Mặc khác, hiện tượng sử dụng đất chưa
Trang 3đúng mục đích, sử dụng lãng phí, làm ảnh hưởng đến môi trường vẫn còn diễn ra ở một số nơi trong tỉnh
Với những thực tế trên, việc đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tỉnh Kon Tum làm cơ sở để đề xuất giải pháp nhằm sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu cùng với sức ép của sự gia tăng dân số, của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang trở thành một vấn đề vấn đề bức thiết
2. Mục tiêu của tiểu luận
- Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận và thực tiễn về đất nông nghiệp và hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp
- Phân tích thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Tiểu luận được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Kon Tum
- Về thời gian: năm 2012-2018
PHẦN 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
Trang 4Đã có khá nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng Hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích thực trạng
và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Phần dưới đây sẽ điểm lại một số nghiên cứu điển hình
1 Nghiên cứu nước ngoài
William E.Rees (1997) khi nghiên cứu về vấn đề nông nghiệp đô thị tại cộng hòa Colombia, ông cho rằng đô thị hóa đã trở thành một hiện tượng toàn cầu trong nửa thế
kỉ qua Từ năm 2000, khoảng một nửa dân số thế giới sẽ trở thành cư dân thành phố
Vì vậy, nhu cầu về đất đai trong quá trình đô thị hóa là rất lớn và để đáp ứng nhu cầu
đó, một diện tích đáng kể đất nông nghiệp đã bị chuyển đổi mục đích sử dụng Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng vì diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp nên để đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực trong hiện tại và tương lai cần phải nâng cao hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp hiện có
Nhóm nghiên cứu của Nga(2000) đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và kết quả công bố đã chỉ ra rằng: Đất nông nghiệp là một tài nguyên vô giá của bất kì quốc gia nào, đặc biệt là các quốc gia phát triển dựa vào sản xuất nông nghiệp Kết quả nghiên cứu cũng khẳng định có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm: công nghệ, tổ chức sản xuất Các yếu tố này lại phụ thuộc vào đầu vào sử dụng hay những công bố về thành tựu của khoa học, kĩ thuật Trong khi đó, Gale (2002) cho biết, khả năng tiếp cận thị trường kém cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự kém hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp tại Trung Quốc Gale cho rằng tăng cường khả năng tiếp cận thị trường có thể góp phần duy trì năng lực sản xuất lương thực, thực phẩm, tăng thu nhập và từ đó làm cho sản xuất nông nghiệp trở nên hấp dẫn hơn so với các việc làm khác ở đô thị Tuy nhiên, muốn tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, đòi hỏi các quốc gia phải đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông và kho chứa nông sản Ví dụ điển hình là Trung Quốc, vì thiều kho và phương tiện bảo quản lạnh để cất trữ nông sản mà hậu quả là tủy lệ hao hụt và mất mát của nông sản là 1/3
Baiding Hu và Michael McAleer (2005) sử dụng dữ liệu bảng của 30 tỉnh sản xuất nông nghiệp tài Trung Quốc trong thời gian 7 năm để đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp dựa trên chỉ tiêu là hiệu quả kỹ thuật, được định nghĩa là sự khác biệt giữa đầu ra quan sát và sản lượng tối đa có thể đạt được Kết quả nghiên cứu dựa trên ước tính hàm sản xuất Cobb – Douglas cho thấy hiệu quả kỹ thuật nói chung đã tăng liên tục trong 7 năm Và hiệu quả kỹ thuật có sự khác biệt ở ba miền của Trung Quốc: miền Đông đạt hiệu quả kỹ thuật cao hơn miền Trung và miền Tây
Singh Vivek Kumar (2009) đã chỉ ra rằng nông nghiệp là một hoạt động kinh tế hữu cơ có một mối quan hệ chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên như đất và nước Ông cũng cho rằng hệ sinh thái thay đổi có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng các tài nguyên nông nghiệp, trong đó có đất đai Ngoài ra, ông cũng nhấn mạnh rằng
Trang 5Chính phủ và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cũng ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp
Orawan Srisompun và Somporn Isvilanonda (2012) nghiên cứu về sự thay đổi hiệu quả trong sản xuất gạo tại Thái Lan bằng việc sử dụng dữ liệu bảng Kết quả nghiên cứu cho thấy việc áp dụng các giống lứa hiện đại, ứng dụng công nghệ mới và
sử dụng nhiều phân bón hóa học dẫn đến năng suất lúa trung bình cao hơn tại Thái Lan trong những thập kỉ qua Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho biết hệ thống thủy lợi, quy mô sản xuất, sự liên kết của nông dân, các chương trình khuyến nông giảm giá đầu vào, khả năng tiếp cận tín dụng, cơ chế giám sát để đảm bảo rằng các khoản vay được sử dụng cho đầu vào sản xuất là các biến số quan trọng góp phần tăng năng suất lúa gạo ở Thái Lan
2 Nghiên cứu trong nước
Nguyễn Duy Tính (1995) chỉ ra rằng trên thế giới tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 148.647.000 km2 Trong đó, diện tích đất có khả năng cho sản xuất nông nghiệp là 3,3 tỷ ha, chiếm 22,0% và những loại đất không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp được là 11,7 tỷ ha, chiếm tới 78,0% Diện tích đất nông nghiệp giảm liên tục
về số lượng và chất lượng Ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên Trái đất bị thoái hoá do những hành động của con người gây ra Dân số thế giới tăng nhanh nhưng tiềm năng đất nông nghiệp thế giới lại có hạn Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh rằng
để có đủ lương thực và thực phẩm cho nhu cầu của con người, con người cần phải bảo
vệ và có định hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá là đất đai cho sản xuất nông nghiệp
Đoàn Công Quỳ (2006) nghiên cứu về hiệu quả kinh tế sử dụng đất canh tác ở các xã vùng đồng bằng huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây Trong nghiên cứu này, để đánh giá hiệu quả sử dụng đất, tác giả đã sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu như: giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất/lao động Trong khi đó, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Ngọc Châu (2008) đã sử dụng các chỉ tiêu như diện tích, năng suất cây trồng, hệ số sử dụng ruộng đất để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện A Lưới, tình Thừa Thiên Huế, giai đoạn 2005-2007 Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả chỉ ra rằng tình hình quản lý đất đai ở địa phương ngày càng chặt chẽ hơn, hiệu quả sử dụng đất cao hơn thể hiện ở diện tích, năng suất của hầu hết các cây trồng đều gia tăng Hệ số sử dụng ruộng đất cũng tăng nhanh Tuy nhiên, cơ cấu cây trồng vẫn nặng nề về sản xuất tự cấp, tự túc, chưa phát triển mạnh sản xuất hàng hóa, năng suất cây trồng chưa ổn định, …
Phạm Văn Dư (2009) đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại vùng Đồng bằng sông Hồng Nghiên cứu chỉ ra rằng trong những năm qua, do qui mô đất đai của các nông hộ quá nhỏ và manh mún nên không áp dụng được cơ giới hóa đồng bộ cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật, cách làm ăn cá thể, nhỏ lẻ đã đẩy chi phí sản xuất lên rất cao gần bằng với giá bán sản phẩm Vì vậy, thu nhập bình quân
Trang 6đầu người của người dân vùng này rất thấp Để khắc phục tình trạng này, tác giải cũng
đã đề xuất mọt số giải pháp như dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tích
tụ ruộng đất, đưa máy móc thiết bị vào sản xuất
Bùi Nữ Hoàng Anh (2013) đã nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh miền núi Yên Bái bằng sự kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính với phương pháp định lượng Tác giả đã lý giải được nguyên nhân của thực trạng sử dụng đất nông nghiệp cũng như phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong
sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất được một hệ thống các giải pháp khá toàn diện nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại một tỉnh miền núi trong bối cảnh nền nông nghiệp đang phải đối mặt với nhiều thách thức Hệ thống giải pháp bao gồm: Tăng hệ số sử dụng đất, tích cực khai thác đất trống đưa vào sử dụng, tăng cường áp dụng các quy trình canh tác tiên tiến, tập trung chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây ngắn ngày có giá trị kinh tế cao
Nguyễn Văn Bình (2017) đã xây dựng được bộ cơ sở dữ liệu về đánh giá tiềm năng đất đai trong sản xuất nông - lâm nghiệp ở các khu vực của thị xã Hương Trà trên quan điểm khai thác sử dụng đất hiệu quả, nhằm phục vụ tốt cho công tác quy hoạch sử dụng đất nói chung và đất nông nghiệp nói riêng trong tương lai Để đánh giá hiệu quả sử dụng đất, tác giả dùng chỉ tiêu GO và đánh giá tính hiệu quả về cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất để sử dụng bền vững đất nông nghiệp trong thời gian tới thì phải thực hiện các nhóm giải pháp, trong
đó cần tập trung vào nhóm giải pháp: Chính sách, tổ chức sản xuất, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ
PHẦN 2: CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1 Những vấn đề về đất nông nghiệp
1.1 Khái niệm
Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm
về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác (Luật đất đai, 2013)
1.2 Phân loại đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp: là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông
nghiệp, bao gồm: đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm
- Đất trồng cây hàng năm: là đất chuyên trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không vượt quá một năm Loại đất này bao gồm: đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào chăn nuôi và đất trồng cây hàng năm khác
- Đất trồng cây lâu năm: là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch nhiều năm Loại đất này bào gồm đất trồng các cây
Trang 7công nghiệp lâu năm (chè, cà phê, cao su, hồ tiêu, điều, ca cao, dừa, …), đất trồng cây
ăn quả lầu năm, đất trồng cây lầu năm khác (đất trồng cây lấy gỗ, lấy bóng mát, …)
Đất lâm nghiệp: là đất đang có rừng tự nhiên hoặc đang có rừng trồng đạt tiêu chuẩn
rừng, đất đang khoanh nuôi phục hồi rừng, đất để trồng rừng mới Loại đất này bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng
Đất nuôi trồng thuỷ sản: là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ
sản, bao gồm đất nuôi trồng thuỷ sản nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt
Đất làm muối: là ruộng muối để sử dụng vào mục đích sản xuất muối
Đất nông nghiệp khác: là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại
nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể các các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thuỷ sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp
Tóm lại: Căn cứ vào Luật đất đai 2013, tùy theo mục đích sử dụng mà đất nông nghiệp được chia ra thành nhiều loại khác nhau bao gồm:
- Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm
- Đất nông nghiệp dùng cho chăn nuôi
- Đất trồng cây lâu năm
- Đất rừng sản xuất
- Đất rừng phòng hộ
- Đất rừng đặc dụng
- Đất nuôi trồng thủy sản và đất làm muối
- Đất nông nghiệp khác
1.3 Vai trò của đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp chiếm một phần diện tích lớn trong tài nguyên đất đai của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng và không thể thay thế:
Trang 8- Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế Bởi vì đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Bên cạnh đó, đất đai
là sản phẩm của tự nhiên, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên khi biết sử dụng hợp lý và đúng cách (Nguyễn Văn Bình, 2017)
- Đất đai là tư liệu lao động Vì đất đai có thể phát huy được tác dụng như một tư liệu lao động khi con người sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi Không có đất đai thì không
có sản xuất nông nghiệp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
- Đất đai không chỉ là môi trường sống đối với sinh vật mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng nghiệp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013)
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế bởi ranh giới đất liền và bề mặt cầu địa cầu (Smith A.J and Dumaski, 1993) Đây chính là một đặc điểm làm ảnh hưởng đến việc mở rộng diện tích, quy mô sản xuất nông nghiệp trên từng vùng, lãnh thổ khác nhau Do đó, việc khai thác hợp lý quỹ đất nông nghiệp hiện có là vấn đề quan trọng và là xu thế chủ đạo trong việc nâng cao đời sống của người nông dân
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền (Smith A.J and Dumaski, 1993) Mỗi khoanh đất, thửa đất nông nghiệp ở các vùng, miền khác nhau thì sẽ có điều kiện tự nhiên khác nhau như: thổ nhưỡng, khí hậu, độ phì,…Do đó, việc chọn lựa và xác định các loại hình sử dụng đất, các loại cây trồng nông nghiệp phù hợp là có ý nghĩa to lớn để nâng cao hiệu quả kinh tế của từng hộ gia đình
1.4 Đặc điểm kinh tế của đất nông nghiệp
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế: Đất đai khác với các tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng Cụ thể, các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng sẽ bị hao mòn, hỏng hóc còn đất đai nều sử dụng hợp lí, khoa học sẽ ngày càng tốt hơn do đặc tính độ phì nhiêu của đất được tạo ra do quá trình phong hoá
tự nhiên hoặc do kết quả tác động có ý thức của con người
- Diện tích đất nông nghiệp là có hạn do giới hạn vùng miền và phạm vi lãnh thổ quốc gia Sự giới hạn về diện tích đất nông nghiệp còn thể hiện ở khả năng có hạn của hoạt động khai hoang, khả năng tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể
- Vị trí đất đai là cố định: Các tư liệu sản xuất khác có thể được di chuyển trong quá trình sử dụng từ vị trí này sang vị trí khác thuận lợi hơn nhưng đối với đất đai thì điều này là không thể Con người không thể di chuyển được đất đai theo ý muốn chủ quan
mà chỉ có thể canh tác trên những vị trí diện tích đất đai đã có sẵn
- Đất đai là sản phẩm của tự nhiên: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người và thuộc sở hữu chung của toàn xã hội
1.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong một thời kì nhất định Theo Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013, “hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp phản ánh quan hệ so sánh
Trang 9giữa kết quả kinh tế và chi phí kinh tế đã bỏ ra để đạt được kết quả đó trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp được sử dụng trong một thời kì nhất định”
Để tính hiệu quả kinh tế sử dụng đất trên một ha đất của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, sử dụng hệ thống các chỉ tiêu:
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là giá trị toàn bộ sản phẩm sản xuất ra trong kỳ sử dụng đất (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng và có thể tính cho cả công thức luân canh hay hệ thống sử dụng đất)
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ chi phí vật chất quy ra tiền sử dụng trực tiếp cho quá trình sử dụng đất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dụng cụ, nhiên liệu, nguyên liệu,…)
- Giá trị gia tăng (GTGT): Là giá trị mới tạo ra trong quá trình sản xuất được xác định bằng giá trị sản xuất trừ chi phí trung gian, GTGT = GTSX – CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên ngày công lao động thực chất là đánh giá kết quả lao động sống cho từng loại hình sử dụng đất và từng loại cây trồng, để so sánh chi phí cơ hội của từng người lao động, GTNC = GTGT/LĐ
Các chỉ tiêu phân tích được đánh giá định lượng bằng tiền theo thời gian, giá hiện hành Các chỉ tiêu đạt giá trị càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn
Đối với đất lâm nghiệp: Các cây trồng sử dụng đất lâm nghiệp thường với chu kỳ
kinh doanh nhiều năm, nên tùy theo đặc điểm sinh trưởng và phát triển của mỗi loại cây mà chu kỳ được tính từ khi bắt đầu trồng đến thu hoạch là khác nhau Do đó, để đánh giá hiệu quả kinh tế của cây trồng sử dụng đất lâm nghiệp, đề tài sử dụng các chỉ tiêu: giá trị lợi nhuận thuần (NPV), tỷ lệ thu nhập và chi phí (BCR), tỷ lệ hoàn vốn nội
bộ (IRR) với mức lãi suất vay ưu đãi cho hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp 7,0%/năm Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, thống
kê so sánh và phương pháp chuyên gia
PHẦN 3: THỰC TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI
KON TUM
1 Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh Kon Tum giai đoạn 2012-2018
Tỉnh Kon Tum có tổng diện tích đất tự nhiên là hơn 967 nghìn ha, chiếm 3% diện tích đất cả nước, chiếm 17.7% diện tích đất tự nhiên vùng Tây Nguyên Trong đó, phần lớn quĩ đất dành cho hoạt động nông nghiệp, trung bình chiếm hơn 90% tổng diện tích đất tự nhiên mỗi năm trong khi đó đất phi nông nghiệp (kể cả đất ở đô thị và nông thôn) chiếm 5% và đất chưa sử dụng có chiếm 5,5% diện tích tự nhiên
Bảng 1: Cơ cấu sử dụng đất ở Kon Tum từ 2012 đến nay
Đơn vị: nghìn ha
2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Trang 10Đất nông nghiệp
856.65 856.70 857.28 877.19 876.85 875.86 874.82 Đất phi nông nghiệp 42.76 43.84 45.05 49.63 50.02 50.43 51.73 Đất chưa sử dụng 69.56 68.42 66.63 41.23 41.18 41.13 41.08
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum các năm
Dựa vào số liệu bảng 1 có thể thấy giai đoạn từ năm 2012 đến nay, diện tích đất nông nghiệp tăng nhanh, đặc biệt năm 2015, tăng gần 19 nghìn ha tương ứng 2,3% Diện tích đất nông nghiệp tăng ở giai đoạn này là do việc đẩy mạnh khai thác tài nguyên đất chưa sử dụng theo quy hoạch, tăng cường diện tích trồng cây lương thực (lúa, khoai, sắn ) và một phần diện tích mở rộng dành cho cây công nghiệp như cao
su, chè, cà phê Mặc dù các năm sau đó diện tích nông nghiệp có xu hướng giảm nhưng mức độ giảm không nhiều, dao động từ 340 ha đến 1100 ha trên toàn tỉnh
Trong cơ cấu đất nông nghiệp, phần lớn là đất có rừng tự nhiên và rừng trồng kết hợp khoanh nuôi tự nhiên, chiếm hơn 60% qua các năm Phần còn lại là đất trồng cây hằng năm và lâu năm, đất chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản (Đồ thị 1)
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Kon Tum các năm
Diện tích đất trồng trọt được sử dụng vào việc gieo trồng các cây hàng năm và cây lâu năm Đối với cây hàng năm, cây lúa và cây sắn là hai loại cây trồng chủ lực, chiếm tỉ lệ tương ứng 36% và 44% trong tổng diện tích gieo trồng Trong khi đó, đối với loại cây lâu năm thì cao su và cà phê là hai loại cây trồng chủ lực với diện tích không ngừng được mở rộng trong giai đoạn 2014-2018 Hai loại cây trồng này chiếm
tỉ lệ 51% và gần 30% trong tổng diện tích gieo trồng
Bảng: Diện tích gieo trồng cây hàng năm phân và cây lâu năm
phân theo loại cây chủ yếu
ĐVT: Ha
2014 2015 2016 2017 2018 Cây hàng năm