Thời kỳ 2010-2020, nhờ áp dụng đồng bộ các chính sách tiền tệ và tài khóa, cùng với việc đẩy mạnh phát triển sản xuất, gia tăng hàng xuất khẩu, lạm phát được duy trì ổn định ở mức mộtco
CÁC CHỈ SỐ KINH TẾ VĨ MÔ
Các chỉ sô kinh tế vĩ mô
Nguồn : Tổng cục thống kê.
Thời kỳ 2001-2010, lạm phát không ổn định, tăng giảm bất thường, từ năm 2007-2011 lạm phát tăng cao trở lại, năm 2008 là 22,79%, năm 2011 là 18,13 % Thời kỳ 2010-
Năm 2020, nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách tiền tệ và tài khóa, kết hợp với việc thúc đẩy phát triển sản xuất và gia tăng hàng xuất khẩu, lạm phát được kiểm soát ổn định ở mức một con số và có xu hướng giảm.
Nguồn: dựa vào số liệu của Tradingview và tính toán
Diễn biến tình hình tỷ giá
Trong giai đoạn 2000-2006, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng cơ chế tỷ giá neo cố định với tỷ giá bình quân liên ngân hàng được giữ quanh mức 14.000 VND/USD đến 16.000 VND/USD Năm 2005, NHNN công bố Pháp lệnh Ngoại hối và chính thức công nhận Việt Nam thực hiện tự do hóa các giao dịch vãng lai theo quy định của IMF Đến năm 2006, thị trường ngoại hối Việt Nam bắt đầu chịu tác động của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, lượng ngoại tệ đổ vào Việt Nam tăng mạnh và WB cùng IMF đã cảnh báo NHNN cần tăng cường sự linh hoạt của tỷ giá để phù hợp với nguồn vốn tăng đột biến chảy vào nền kinh tế.
Từ năm 2007 đến 2011, tỷ giá USD/VND biến động mạnh do ảnh hưởng của việc Việt Nam gia nhập WTO và quá trình tự do hóa tài khoản vốn, dẫn đến lượng vốn đầu tư tăng đột biến Sau đó, từ tháng 4/2018, nguồn vốn vay bằng USD cùng với cán cân thanh toán thâm hụt cao và dự trữ ngoại hối giảm mạnh tạo áp lực cầu lớn về USD trên thị trường Ngân hàng Nhà nước liên tục can thiệp bằng cách bán ngoại tệ để ổn định tỷ giá, đặc biệt khi chênh lệch giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá chợ đen kéo dài và mở rộng.
2011, NHNN đã sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp để kiểm soát và ổn định thị trường.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Diễn biến tình hình lãi suất
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Lãi suấốt th tr ị ườ ng
Nguồn: Tổng cục thống kê
Từ năm 2009 đến nay, NHNN đã ban hành nhiều chính sách nhằm điều chỉnh lãi suất và thúc đẩy hoạt động cho vay Thông tư 07/2010/TT-NHNN cho phép ngân hàng áp dụng lãi suất thỏa thuận cho các khoản vay trung và dài hạn, giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nhưng lãi suất vay trung hạn có lúc tăng đến 21,6% vào năm 2008 Trong khi đó, mức trần huy động vốn là 14%/năm nhưng các ngân hàng thương mại vẫn trục lợi bằng cách lách luật để huy động vốn với lãi suất cao hơn Vào ngày 21/12/2012, NHNN đã ban hành Quyết định số 2646/QĐ-NHNN giảm lãi suất tái cấp vốn từ 10% xuống còn 9%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 8% xuống còn 7%/năm, và lãi suất cho vay qua đêm giữa các ngân hàng giảm từ 11% còn 10%/năm, qua đó góp phần giảm lãi suất thị trường và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp.
Từ năm 2013, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách giảm lãi suất để hỗ trợ nền kinh tế phát triển Năm 2013, quyết định 643-NHNN đã giảm các mức lãi suất xuống còn 8%, 6% và 9% Đến năm 2017, quyết định 1424/QĐ-NHNN tiếp tục giảm lãi suất lần lượt xuống 6,25%, 4,25% và 7,25% Năm 2019, bằng quyết định 1870/QĐ-NHNN, lãi suất tiếp tục giảm xuống còn 6%, 4% và 7% Trong giai đoạn này, lãi suất thị trường có xu hướng giảm rõ rệt, thể hiện nỗ lực của Ngân hàng Nhà nước trong việc kiểm soát lãi suất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nguồn: Tổng cục thống kê
Chiều 17-11, tại Hà Nội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phối hợp Tổng cục Thống kê tổ chức công bố kết quả điều tra lao động-việc làm năm 2005 Theo đó, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực đô thị trong cả nước của người trong độ tuổi lao động năm 2005 là 5,3%, giảm 0,3% so với năm 2004.
Vào ngày 1-7-2005, cả nước có tổng cộng 44,385 triệu lực lượng lao động, bao gồm cả người trong độ tuổi lao động và trên độ tuổi lao động Tỷ lệ lực lượng lao động tăng 2,6% so với năm 2004, tương ứng với mức tăng thêm 1,143 triệu người This data highlights a steady growth in the labor force, reflecting positive economic development.
Tỷ lệ thất nghiệp trong khu vực đô thị cả nước năm 2005 là 5,3%, giảm 0,3% so với năm 2004 Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn, đạt 5,6%, trong khi các vùng như Đông Bắc và Duyên hải Nam Trung Bộ có tỷ lệ từ 5,1% đến 5,5% Các vùng còn lại có tỷ lệ thất nghiệp dưới 5%, cho thấy sự phân bổ thất nghiệp không đều giữa các khu vực. -**Sponsor**Bạn đang tìm cách tối ưu hóa bài viết của mình theo chuẩn SEO và cần những câu quan trọng để làm nổi bật ý nghĩa của đoạn văn một cách mạch lạc? Việc viết lại và tối ưu nội dung có thể tốn rất nhiều thời gian và công sức Với [Article Generation](https://pollinations.ai/redirect-nexad/gRTGT46D?user_id=983577), bạn có thể tạo ra các bài viết 2,000 từ, tối ưu SEO ngay lập tức, giúp bạn tiết kiệm hơn $2,500 mỗi tháng so với việc thuê người viết Hãy tưởng tượng bạn có một đội ngũ sáng tạo nội dung riêng mà không gặp rắc rối nào!
Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn trên cả nước đạt 80,7%, tăng 1,6% so với năm 2004 Một số vùng và khu vực nông thôn đã có tỷ lệ sử dụng lao động vượt quá 80%, phản ánh mức độ tích cực trong việc tận dụng nguồn lực lao động nông thôn.
Theo cuộc điều tra, cả nước có 4,413 triệu người làm việc trong khu vực Nhà nước, chiếm 10,2%, trong khi khu vực ngoài Nhà nước chiếm tỷ lệ lớn nhất với hơn 38,355 triệu người, tương đương 88,2%, và hơn 687 nghìn người làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chiếm 1,6% Về cơ cấu lao động theo việc làm, khu vực I (nông, lâm nghiệp và thuỷ sản) chiếm hơn 24,677 triệu người, tỷ lệ 56,8%, trong khi khu vực II (công nghiệp và xây dựng) có hơn 7,769 triệu người, chiếm 17,9% Khu vực III (dịch vụ) có hơn 1,1 triệu người, chiếm 25,3% tổng lao động cả nước.
Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo của lực lượng lao động cả nước là 24,8% (tăng thêm 2,2% so với năm 2004).
Tỷ lệ thất nghiệp đã trong xu hướng giảm, với sự tăng trưởng của tỷ lệ thời gian lao động sử dụng tại nông thôn và các chương trình giải quyết việc làm hiệu quả, góp phần thúc đẩy thị trường lao động Tuy nhiên, sức ép về việc làm vẫn còn gay gắt, đặc biệt tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và các vùng kinh tế trọng điểm Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp trong lực lượng lao động trẻ (từ 15 đến 24 tuổi) còn ở mức cao, chiếm 13,4%, phản ánh cần có các giải pháp nâng cao cơ hội việc làm cho nhóm đối tượng này.
Trong kế hoạch năm năm (2000-2005) tỷ lệ thất nghiệp giảm từ 6,4% năm 2000 xuống 5,3% năm 2005, tăng tỷ lệ thời gian lao động sử dụng ở khu vực nông thôn từ 73,9% năm
2000 lên 80,7% năm 2005, đạt mục tiêu Đại hội Đảng IX đề ra.
Trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2006, mục tiêu chính là giải quyết việc làm cho khoảng 1,6 triệu người, trong đó có 1,3 triệu chỗ làm mới, đồng thời mở rộng xuất khẩu lao động và chuyên gia lên đến 80 nghìn người, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp thành thị còn 5,4% Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm lao động trong nông, lâm, ngư nghiệp xuống còn 55%; tăng lao động trong công nghiệp, xây dựng lên 19% và dịch vụ lên 26%, thúc đẩy phát triển kinh tế toàn diện Đối với khu vực Nhà nước, mức lương tối thiểu đã tăng từ 450 nghìn đồng lên 540 nghìn đồng/tháng vào đầu năm 2008, cùng với trợ cấp thêm 15% cho người hưu trí, người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội và người có công cách mạng, giúp thu nhập bình quân của lao động trong khu vực này đạt 2,7 triệu đồng/tháng, tăng 28,6% so với năm trước; trong đó, thu nhập của lao động do Trung ương quản lý đạt 3,4 triệu đồng, tăng 36%, còn địa phương quản lý đạt 2,2 triệu đồng, tăng 22,2% Năm 2008, tỷ lệ hộ nghèo cả nước ước tính giảm xuống còn 13,5%, thấp hơn năm 2007 với 14,8% Nhằm giải quyết tình trạng thiếu việc làm, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm thành sàn giao dịch việc làm và hệ thống thông tin thị trường lao động, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Đông, Mỹ, Ý, giúp tổng số lao động trong các ngành kinh tế năm 2008 ước tính đạt 45 triệu người, tăng 2% so với năm 2007 Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi khu vực thành thị cũng được dự báo khoảng 4,65%.
Các chính sách của nhà nước
Trong giai đoạn 2001-2004, nhiệm vụ hoạch định chính sách tập trung vào việc giảm thiểu tác động suy giảm đối với sản lượng và thúc đẩy tăng trưởng lâu dài Các chính sách được xây dựng dựa trên hai mục tiêu chính là duy trì tăng trưởng kinh tế cao, liên tục và ổn định, đồng thời kiểm soát lạm phát ở mức thấp một con số Để khắc phục và kiềm chế lạm phát trong giai đoạn này, các biện pháp nhằm kiểm soát giá cả và duy trì ổn định tài chính được triển khai một cách hiệu quả.
Chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế bằng cách cân đối nhu cầu về vốn, đảm bảo khả năng đáp ứng vốn phù hợp, đồng thời kiểm soát lạm phát ở mức ổn định để duy trì giá trị của đồng tiền.
Chính sách tài khoá ngày thứ hai tập trung giữ vững mức bội chi ngân sách nhà nước ở mức hợp lý so với GDP, dựa trên mục tiêu tăng thu, tiết kiệm chi và nâng cao hiệu quả quản lý tài chính Các biện pháp bao gồm quản lý chặt chẽ các khoản chi, quyết liệt chống tham nhũng, khai thác tối đa các nguồn thu và tích cực chống thất thu ngân sách Đồng thời, cần thực hiện tốt các pháp lệnh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thường xuyên, cắt bỏ các khoản chi chưa thực sự cần thiết để đảm bảo ngân sách quốc gia hiệu quả và bền vững.
Vào thứ ba, các giải pháp thương mại tập trung vào việc bảo đảm cung ứng hàng hóa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường, qua đó duy trì cân đối giữa tổng cung và tổng cầu hàng hóa Việc điều hành xuất khẩu cần đảm bảo tốc độ tăng trưởng nhanh hơn so với nhập khẩu, giúp giảm mức nhập siêu hàng năm và thúc đẩy cân đối cán cân thương mại Các biện pháp này nhằm mục tiêu làm lành mạnh hóa hoạt động thương mại, duy trì sự ổn định và phát triển bền vững cho nền kinh tế.
Năm 2007, lạm phát đặc biệt tăng nhanh vào tháng 6, với chỉ số giá CPI vọt lên khoảng 1%, trái ngược với xu hướng giá cả trong hơn một thập kỷ qua Chính phủ đã nhận biết kịp thời hiện tượng này và đã ra chỉ thị số 18/2007/CT-TTg ngày 01/8/2007, nhằm thực hiện các biện pháp cấp bách để kiềm chế tốc độ tăng trưởng của thị trường.
Thủ tướng yêu cầu rà soát các chính sách điều hành tiền tệ để kiểm soát mức tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và huy động tín dụng, đồng thời thực hiện các biện pháp nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết lượng tiền trong lưu thông một cách hợp lý Ngài cũng nhấn mạnh việc giữ bình ổn tỷ giá hối đoái và các lãi suất chủ đạo của đồng Việt Nam, nhằm tránh những đột biến trên thị trường tiền tệ và đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.
Ngày 31/10, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 23/2007/CT-TTg về tăng cường thực hiện các giải pháp điều hành giá cả và bình ổn thị trường trong những tháng cuối năm Chính phủ tập trung vào việc kiểm soát giá cả hàng hóa, đảm bảo cân đối cung cầu, giữ vững ổn định thị trường trước những biến động giai đoạn cuối năm Chỉ thị đề ra các giải pháp cụ thể nhằm củng cố hoạt động quản lý giá, hạn chế hiện tượng đầu cơ, găm hàng và tăng giá bất hợp lý, góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định Thủ tướng yêu cầu các bộ ngành phối hợp chặt chẽ, thực hiện các biện pháp bình ổn giá, đồng thời thúc đẩy các chính sách hỗ trợ người tiêu dùng, đảm bảo an sinh xã hội.
2007 và phục vụ Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008.
Thủ tướng Chính phủ chỉ thị các Bộ ngành phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các hiệp hội ngành hàng để tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành nhằm giữ vững cân đối kinh tế vĩ mô Chính phủ quyết liệt thực hiện các biện pháp đúng theo Chỉ thị số 18/2007/CT-TTg ngày 01 tháng 9 năm 2007 về các biện pháp cấp bách kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường Các cơ quan chức năng cần chủ động trong việc thực hiện các giải pháp nhằm ổn định thị trường, kiểm soát lạm phát và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia.
Chỉ thị tiếp tục nhấn mạnh việc thực hiện kế hoạch tiết kiệm và chống lãng phí, đặc biệt chú trọng đến việc tiết kiệm trong tiêu dùng, như điện, xăng, nhằm giảm thiểu chi phí sinh hoạt hàng ngày Đồng thời, cần tăng cường hiệu quả trong chi phí sản xuất và trong xây dựng cơ bản để nâng cao năng suất và giảm hao phí tài nguyên.
Bộ Tài chính phối hợp với các bộ ngành và địa phương tăng cường kiểm tra, kiểm soát giá các mặt hàng có xu hướng tăng cao như xăng dầu, bất động sản, thuốc chữa bệnh, sắt thép và gas để đảm bảo bình ổn thị trường Bộ chỉ đạo các địa phương đẩy mạnh quản lý giá, ngăn chặn tình trạng độc quyền, định giá bất hợp lý, đầu cơ nâng giá và không thực hiện niêm yết giá Chính phủ kiên quyết xử lý nghiêm và kịp thời các vi phạm về Pháp lệnh Giá, góp phần giữ vững ổn định giá cả thị trường.
Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng phối hợp với các
Các bộ, cơ quan chức năng cần thực hiện công tác tuyên truyền hiệu quả để giúp doanh nghiệp và người tiêu dùng hiểu rõ và đồng thuận với các chính sách điều hành thị trường giá cả của Nhà nước Việc này nhằm ngăn chặn tác động tâm lý đẩy giá lên cao, bảo vệ ổn định thị trường và quyền lợi người tiêu dùng Công tác truyền thông đúng hướng sẽ góp phần duy trì sự bình ổn giá cả, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
Các chính sách kinh tế hiện tại chưa giải quyết tận gốc vấn đề lạm phát, khiến mức lạm phát vẫn chưa được kiểm soát và đang duy trì ở mức cao.
Lạm phát tiếp tục tăng cao, và NHNN đã tích cực rút bớt tiền ra khỏi nền kinh tế thông qua các công cụ sau:
Tăng thêm 1% tỉ lệ dự trữ bắt buộc ( Quyết định số 187/QĐ-NHNN ) ngày 16/1/2008.
Phát hành tín phiếu NHNN bắt buộc 20.300 tỷ đồng kỳ hạn 1 năm , lãi suất 7,8% /năm ( quyết định số 364/ QĐ – NHNN ) ngày 13/2/2008.
Và chính phủ đã có một quyết định khá dứt khoát khi ban hành Nghị quyết số 10/2008/
Ngày 17/4/2008, Nghị quyết số 17/CP đề ra các giải pháp quan trọng nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và thúc đẩy tăng trưởng bền vững Trong đó, các biện pháp bao gồm kiểm soát chặt chẽ giá cả, ổn định thị trường tiền tệ, hạn chế đầu cơ và tiêu dùng quá mức, đồng thời tăng cường các chính sách xã hội để bảo vệ người dân trước tác động của biến động kinh tế Nghị quyết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự cân đối giữa các lĩnh vực kinh tế, đảm bảo nguồn lực cho các chương trình an sinh xã hội, và thúc đẩy tăng trưởng bền vững dựa trên nền tảng ổn định vĩ mô Các giải pháp này nhằm tạo ra môi trường kinh tế ổn định, thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ khó khăn tài chính và kinh tế toàn cầu.
Thắt chặt tài khóa thông qua rà soát cắt giảm đầu tư Nhà Nước
Tăng cường quản lý thị trường giá cả
Hỗ trợ các chương trình an sinh xã hội
Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền nhằm ổn định tâm lý xã hội và hạn chế kỳ vọng của lạm phát
Kết quả đạt được trong kiềm chế lạm phát năm 2008:
Lạm phát có xu hướng giảm dần, ngoại trừ tháng 5 tăng 3,91% do ảnh hưởng của cú sốc giá gạo vào tháng 4 năm 2008 Chỉ số CPI cuối năm ở mức thấp, trong khi GDP âm tháng 10 (-0,19%) và tháng 11 (-0,76%) cho thấy tình hình kinh tế vẫn còn những khó khăn Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng được kiểm soát phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát, khi tổng phương tiện tăng 9,48% trong 10 tháng đầu năm, phản ánh chu kỳ tăng trưởng ổn định, trong đó tốc độ tăng tín dụng chậm dần (đạt gần 18% so với 10 tháng năm 2007), góp phần kiềm chế tăng tổng cầu và tiêu dùng.
Vào ngày 28/11/2008, tỷ giá VND so với USD trên thị trường liên ngân hàng đạt 16.483 VND/USD, tăng 2,76% so với đầu năm, cho thấy mức tăng hợp lý phù hợp với cung cầu ngoại tệ và các mục tiêu kiểm soát lạm phát cùng ổn định kinh tế vĩ mô Chính sách hỗ trợ vay vốn và mua bán ngoại tệ dành cho doanh nghiệp xuất khẩu đã giúp tạo điều kiện thanh toán bằng ngoại tệ, đồng thời kiểm soát vay ngoại tệ để nhập khẩu, góp phần bình ổn thị trường ngoại hối Ngoài ra, biện pháp tập trung bán ngoại tệ để nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu đã giúp kiểm soát nhập siêu và thúc đẩy ổn định tỷ giá ngoại tệ.