Nền thần học này từ chối công nhận thẩm quyền của Giáo hoàng, với niềm xác tín rằng chỉ có Kinh Thánh không phải Truyền thống thánh hoặc quyền giải thích Kinh Thánh dành cho các chức sắc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG
Ho Chi Minh City University of Foreign Languages -
Information Technology
BÀI THU HOẠCH
MÔN: CÁC VẤN ĐỀ VỀ DÂN TỘC HỌC VÀ TÔN GIÁO
ĐỀ TÀI: ĐẠO TIN LÀNH CỦA NGƯỜI KINH Ở KHU VỰC
MIỀN NAM
Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Thảo
Nhóm: 07 (Thứ 4 tiết 9-10) Lớp: NB1801
Tp Hồ Chí Minh, 12/6/2022
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - TIN HỌC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG
1 Huỳnh Trần Gia Thịnh (nhóm trưởng) 18DH690713 28
2 Nguyễn Thị Hoài Phương 18DH690867 22
3 Trần Mỹ Duyên 18DH690877 3
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
GV chấm lần 1 GV chấm lần 2
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC RA ĐỜI, KHÁI NIỆM VÀ QUÁ TRÌNH DU NHẬP VÀO VIỆT
NAM 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Nguồn gốc ra đời 3
1.3 Quá trình du nhập vào Việt Nam 5
CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH CỦA NGƯỜI KINH Ở VIỆT NAM 9
2.1 Sự phát triển và những dấu mốc quan trọng của đạo Tin lành tại Việt Nam 9
2.1.1 Trong thời kỳ chiến tranh 9
2.1.2 Sau khi đất nước thống nhất 14
2.2 Đặc trưng của tôn giáo này với tín đồ là người Kinh 15
2.2.1 Chức sắc và tổ chức giáo hội 15
2.2.2 Biểu tượng 15
2.2.3 Kiến trúc 16
2.2.4 Giáo lý và kinh thánh 17
2.2.5 Đức tin 18
2.2.6 Những điều cấm kỵ 19
2.2.7 Những ngày lễ 20
CHƯƠNG 3 SO SÁNH ĐẠO TIN LÀNH VÀ ĐẠO CÔNG GIÁO 21
3.1 Những điểm chung 21
3.2 Những điểm khác biệt 21
3.2.1 Kiến trúc 21
3.2.2 Nội dung giáo lý 21
3.2.3 Luật lệ và lễ nghi 21
3.2.4 Tổ chức giáo hội 22
3.2.5 Chuộc tội 22
3.2.6 Linh mục 22
3.2.7 Đức mẹ Maria 23
3.2.8 Phép Bí tích 23
3.2.9 Các Tông đồ, thiên sứ 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 25
Trang 5CHƯƠNG 1: NGUỒN GỐC RA ĐỜI, KHÁI NIỆM VÀ QUÁ TRÌNH
DU NHẬP VÀO VIỆT NAM
1.1 Khái niệm
Danh xưng Tin Lành thường được dùng để chỉ một cộng đồng các giáo hội khởi phát từ cuộc cải cách tôn giáo bắt đầu vào thế kỷ 16 bởi Martin Luther Là tu sĩ Dòng Augustine, mục tiêu ban đầu của Luther là kêu gọi cải cách từ bên trong Giáo hội Công giáo Rôma, về sau ông tách rời khỏi Giáo hội Công giáo và thành lập Giáo hội Luther Trong khi đó tại Châu Âu, nhiều người có quan điểm tương tự như của Luther cũng bắt đầu tách khỏi Công giáo và thành lập các giáo phái khác nhau Họ được gọi dưới tên chung là Kháng Cách, hay Tân giáo (để phân biệt với Cựu giáo là Công giáo) Kháng Cách được xem là một trong ba nhánh chính của Cơ Đốc giáo, cùng với Công giáo La
Mã và Chính Thống giáo Đông phương
Cộng đồng Kháng Cách bao gồm các giáo hội thuộc Cơ Đốc giáo chấp nhận nền thần học của cuộc Cải cách Tin Lành Nền thần học này từ chối công nhận thẩm quyền của Giáo hoàng, với niềm xác tín rằng chỉ có Kinh Thánh (không phải Truyền thống thánh hoặc quyền giải thích Kinh Thánh dành cho các chức sắc cao cấp của giáo hội) là nguồn chân lý duy nhất, và tin rằng chỉ bởi ân điển của Thiên Chúa mà con người được cứu rỗi
đã trở nên phổ biến Từ năm 1095 đến 1204 các Giáo hoàng đã thông qua một loạt các cuộc thánh chiến đẫm máu và tốn kém trong nỗ lực đẩy lùi sự đi lên của Hồi Giáo và giải phóng Jerusalem Qua nhiều năm, một số cá nhân đã cố gắng kêu gọi sự chú ý về việc vi phạm và sử dụng sai thần học, chính trị, và nhân quyền của Giáo Hội La Mã Tất cả những người này đều bắt phải im lặng bằng nhiều cách khác nhau Tuy nhiên vào năm 1517, một tu sĩ người Đức tên là Martin Luther đã đứng lên chống lại giáo hội,
và nhiều người đã lắng nghe Từ đây, Luther đến với Cuộc Cải Chánh Tin Lành, và thời
kỳ Trung Đại cũng khép lại
Trang 6Hình 1.1: Các nhánh của Kitô Giáo (Nguồn: Internet)
Những nhà cải chánh bao gồm Luther (1483-1546), Calvin (1509-1564), và Zwingli (1484-1531) đã có sự khác nhau trong nhiều điểm tinh tế chuyên biệt về thần học, nhưng họ đều nhất quán về việc nhấn mạnh thẩm quyền tối cao của Kinh Thánh lên trên giáo hội truyền thống và chân lý rằng tội nhân được cứu nhờ ân điển chỉ bởi đức tin chứ không phải việc làm (Kinh Thánh sách Ê-phê-sô chương 2, câu 8-9) Mặc
dù Công Giáo đã cố gắng làm mọi sự trở lại như trước tại Châu Âu, cùng với đó là một loạt chiến tranh giữa những người chống đối (Tin Lành) và Công Giáo xảy ra sau đó, tuy nhiên Sự Cải Chánh đã xóa bỏ thành công quyền lực của Giáo Hội Công Giáo La
Mã và giúp mở một cách cửa vào thời kỳ hiện đại
Hình 1.2: Mục sư Martin Luther người khởi xướng ra đạo Tin Lành (Nguồn: Internet)
Trang 7Hình 1.3: Chín mươi lăm luận đề của Martin Luther (Nguồn Internet)
1.3 Quá trình du nhập vào Việt Nam
Theo sách Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam (1911-1965) của Mục sư Tiến
sĩ Lê Hoàng Phu, đạo Tin Lành đã du nhập vào nước ta từ rất sớm
“Trái với điều mọi người tin, các giáo sĩ Công Giáo La Mã không phải là những đại diện đầu tiên của Cơ-Ðốc giáo vào Việt-nam Các giáo sĩ của Nestorien đã thăm viếng nước Việt-nam cổ trên đường sang Trung hoa, trước khi mãn thế kỷ thứ X Theo
Sử Ðịa của Earisi, Loukin (Kinh thành Lou có lẽ là Hoa Lư, kinh đô nước Việt-nam vào thế kỷ thứ 10) đã được thăm bởi Nedjran trong hành trình truyền giáo sang Trung hoa năm 980 Tuy nhiên không có dấu hiệu chỉ rằng những giáo sĩ Nestorien đã hoàn thành công trình đáng kể nào tại Việt Nam
Trong đời Hoàng đế Lê Anh Tông (1557-1573), một thập tự giá rất cổ được tìm thấy trong bức tường trong quá trình vẽ lại kiểu mấy ngôi đền thờ cổ Theo báo cáo, sự khám phá nầy đã gây một ấn tượng trên vị quân vương đến nỗi người hạ lịnh tiếp nhận các giáo sĩ Công Giáo La mã, tạm thời bãi bỏ lệnh cấm đạo áp đặt năm 1553 bởi Lê Trang Tông vào lúc mà hầu hết các xứ Ðông Nam Á lánh mặt họ Dầu người Công Giáo
La Mã khởi sự công việc của họ tại Việt-nam vào thế kỷ thứ XVI và thành công trong việc xây dựng một giáo hội mạnh trong thế kỷ XVIII, chẳng có nhà lãnh đạo Tin Lành nào chú ý đến xứ nầy, ngay cả trong thế kỷ thứ XIX, thường được gọi là ‘thế kỷ quan trọng của các Hôi Truyền giáo Tin Lành.’
Trang 8George Bois, trong sách không xuất bản của ông về các Hội Truyền giáo Tin Lành tại Ðông Dương, báo cáo rằng tùy theo những điều chung đoán của Jacques Pannier trong cuốn khảo cứu cấp tốc tại Thư viện Quốc gia ở Hà-nội, có vài giáo sĩ Tin Lành đã đến Ðông Dương vào thế kỷ thứ XVII Một số người Tin Lành từ miền Picardie (miền Bắc Pháp) đã vào phục dịch trong Công ty Hòa Lan và Ðông u như những thương gia, ủy viên, chủ tàu và thủy thủ, binh sĩ và sĩ quan Charles Martsingh, một thương gia và nhà ngoại giao của nhóm nầy đã thiết lập sự định cư đầu tiên của Công ty trong vùng châu thổ sông Hồng (Bắc kỳ) Năm 1794, J H Chaigeaux, một sĩ quan hải quân Tin Lành cùng với các sĩ quan và kỹ thuật gia Pháp khác, đã gia nhập các lực lượng bao vây của Gia-Long trong cuộc nội chiến khốc hại nhất tại Việt-nam, và trong 29 năm đã giúp người tái thống nhất xứ sở và củng cố triều đại nhà Nguyễn Sau ba năm về nghỉ hạn ở Pháp, Chaigeaux trở lại Việt-nam vào năm 1821 như vị lãnh sự và đại biểu của chính phủ Pháp, nhưng nhất định phải rời khỏi xứ năm 1821, hỏng việc bởi chính sách của Minh Mạng đối với nước Pháp Tuy nhiên, ông thành công trong việc giúp 4 giáo sĩ Công Giáo La Mã bí mật đổ bộ lên miền duyên hải Nam Việt-nam Sau cuộc chinh phục Việt-nam bởi quân đội Pháp vào cuối thế kỷ thứ XIX, một số tuyên úy Tin Lành đã đến
xứ nầy phục vụ thời gian ngắn trong các đơn vị khác nhau, đặc biệt là đạo quân lê dương ngoại bang
Năm 1884, Hội truyền giáo Tin Lành ở các thuộc địa của Pháp gửi vị mục sư đầu tiên đến thành phố cảng Hải Phòng để tổ chức một Hội thánh cho ‘các tín hữu Tin Lành u châu’ cả dân chính lẫn quân nhân Có hai Hội thánh khác đã được thiết lập sau
đó ở Hà-nội và Sàigòn (1902) Dưới sự lãnh đạo đắc lực của Adolphe de Richmond, Jacques Pannier, D de Saint André, T Calas, C D Goekler… các Hội thánh nầy được hưng thịnh cho đến ngày 9.3.1945, khi đạo quân Nhật bản lật đổ chính thể chung của Ðông Dương, loại bỏ chính quyền Pháp và câu lưu tất cả những người có quốc tịch Pháp Tuy nhiên, những thật sự trên có rất ít hoặc chẳng có ảnh hưởng gì đến lịch sử truyền giảng đức tin Tin Lành cho người Việt-nam Dù đã ở Việt-nam lâu, Chaigeaux chẳng bao giờ được công nhận là người Tin Lành, ông chỉ phục vụ quyền lợi của Gia Long và của Pháp Sự có mặt của những tuyên úy và mục sư dân chính trước thập niên
1920, người Việt-nam chẳng hề biết đến Bị bắt buộc làm việc túi bụi bởi những đòi hỏi của giáo dân u châu, họ chẳng có thời gian đảm trách công việc truyền giáo giữa người Việt-nam Vì thời gian phục vụ của họ tương đối ngắn, họ không thể học thấu đáo tiếng Việt cũng chẳng thể giao thiệp cách có ý nghĩa với người dân bản xứ Ngay cả người Việt-nam nói tiếng Pháp cũng không được thu hút vào trong nhà thờ họ, có lẽ chỉ có một trường hợp ngoại lệ George Bois chỉ ghi nhận có một người trở lại đạo trước năm
1911, ấy là Trung sĩ Dương, nhưng không nói rõ ông Dương đã nghe Tin Lành ở nam hay ở Pháp Cũng rất thích thú mà ghi nhận rằng một số báo định kỳ đặc biệt “Ðức
Trang 9Việt-tin và Ðời sống” (do Hội thánh Tin Lành tại Pháp xuất bản tháng 11.1906) mô tả những nhu cầu của Ðông Dương, một tiếng gọi hùng biện được gửi đến các tín hữu Tin Lành Pháp vì các dân tộc Ðông Dương Mục sư Adolphe de Richmond, tác giả của bài báo hiện hộ cho ba nguyên tắc truyền giáo, một vài điều có vẻ mới lạ trong thời kỳ đó vì dân tộc (Việt-nam) nầy đã được ‘văn minh hóa trong vòng 15 thế kỷ’ rất cần người có văn hóa cao để gánh vác công cuộc truyền giáo, họ phải cẩn thận lựa chọn địa điểm truyền giáo để tránh tranh chấp với công trình của Công Giáo La Mã, họ phải giữ mình đừng biến những người đến hỏi đạo ‘thành người Tin Lành’ nhưng thà hơn là gắng sức
‘biến cải tâm hồn họ’ chớ đừng thay đổi ‘nhãn hiệu tôn giáo’ của họ’ Dầu tín hữu Pháp chậm đáp ứng với lời kêu gọi nầy và không đóng góp tích cực vào cố gắng truyền giáo tại Việt-nam cho đến thời kỳ sau có hai tổ chức từ Anh quốc và Mỹ quốc chuẩn bị vào trong công trường truyền giáo nầy (mà chưa ai đặt chân đến) ‘Thánh Thơ Công Hội’ (Anh quốc và Hải ngoại) và Hội Truyền Giáo Phước m Liên Hiệp
THÁNH THƠ CÔNG HỘI: Sau một cố gắng không thành để khởi sự công việc phiên dịch tại Sàigòn, Thánh Thơ Công Hội gửi ông Bonnet đến Ðà-nẵng (Tourane) năm 1902 Ông nầy mua một miếng đất của ông Nguyễn văn Phúc, tọa lạc ở giữa nhà
ga xe lửa trung tâm thành phố và kho đạn Một trung tâm nhỏ được thiết lập và từ đó Bonnet phải có ít nhất ba nhân viên bán sách dạo (An, Lộ, và Yên) đi bán và phân phát Tân Ước và các phần sách Tin Lành bằng Hán văn trong tỉnh Quảng nam, nhưng không
có kết quả tức khắc và cũng không có công tác thường xuyên được tán trợ trước năm
1911 Tuy nhiên Thánh Thơ Công Hội nầy đã siêng năng theo đuổi mục tiêu và vào giữa thập niên 1920, đã trở thành đại lý lớn nhất ở Việt-nam để truyền bá sứ điệp Cơ-Ðốc càng nhiều bằng những trang sách in
HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC M LIÊN HIỆP: Ấy là một mục sư và lãnh tụ truyền giáo Gia-nã-đại đã gây niềm hứng khởi cho các tín hữu sống ở Bắc Mỹ, phát động một chương trình có hệ thống để đem sứ điệp Tin Lành đến Việt-nam Trên cơ sở thường xuyên Hội Ðoàn được thiết lập năm 1889 và Hội Truyền Giáo Phước m Liên Hiệp đã sai các giáo sĩ đầu tiên đến trong các xứ năm 1911
NGƯỜI SÁNG LẬP: Albert B Simpson, người sáng lập Hội Truyền Giáo Phước
m Liên Hiệp, sanh ngày 15 tháng 12 năm 1843 tại Bayvier, đảo Prince Edward, đại Năm 21 tuổi, A.B Simpson tốt nghiệp trường Ðại học Knox ở Toronto, trở nên mục sư của Hội Trưởng Lão Knox tại Hamilton, Ontario
Gia-nã-HỘI TRUYỀN GIÁO PHƯỚC M LIÊN HIỆP TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 1927: Việt-nam là một trong những mục tiêu đầu tiên của phong trào truyền giáo do Tấn sĩ A B Simpson lãnh đạo Trong tờ Nguyệt san “Lời, Công tác và Thế giới’ (tháng
Trang 101911-2 1887), Simpson đã lưu ý những người theo mình về thật sự rằng ‘bán đảo Nam Á đã
bị lãng quên nhiều’ và ‘vương quốc An Nam rộng lớn cùng với Tây Tạng phải được coi
là công trường truyền giáo tương lai của Hội’
MỞ ÐƯỜNG: Simpson thăm viếng Ðông Á trong một vòng du lịch quanh thế giới năm 1892 và 1893 Có lẽ theo lời yêu cầu của ông, David Lelacheur, chủ nhiệm của Ðoàn Truyền giáo Liên Hiệp tại Á châu đã đến Sài Gòn để nghiên cứu ngắn hạn về
xứ trong năm 1893 Ông lại trở qua gặp Tấn sĩ Simpson ở Singapore và trần thuật cho người về điều ông gọi là ‘các cửa mở tại Anam’ Báo cáo nầy đã ấn tượng sâu sắc trên Simpson, người về sau cứ nhắc đến xứ nầy mải trong các bài báo ông viết Tuy nhiên, Việt-nam vẫn còn ở dưới sự bảo trợ của người Pháp, họ chẳng có lý nào hoan nghênh giáo sĩ ngoài những người Công Giáo La Mã Theo các Hòa ước Giáp Tuất (1874), khoản 9 và Hòa ước Giáp Thân (1884) khoản 14, chỉ những giáo sĩ Pháp và Tây Ban Nha mới có phép hoạt động trong xứ Simpson quyết định thiết lập ngay một Hội Truyền Giáo Phước m Liên Hiệp ở tỉnh Quảng Tây, Nam Trung hoa, mà ông dường như tin rằng nơi đó sau cùng có thể làm bàn đạp cho Hội tràn vào Việt-nam Giáo sĩ và bà C
H Reeves đổ bộ tại Macao năm 1893, kế tiếp có 5 thanh niên theo sau gồm một cặp và
3 phụ nữ Những người nầy cùng đi với Tấn sĩ và bà R.H Glover Năm 1897, ban truyền giáo nầy được thiết lập xong, Reeves vượt qua biên giới và thực hiện cuộc thăm viếng
ở Bắc Bộ Việt-nam Theo báo cáo, ông được tiếp đãi cách rất lịch thiệp bởi sĩ quan và binh lính Pháp
R A Jaffray, một giáo sĩ mới của Hội Truyền Giáo Phước m Liên Hiệp ở Hoa Nam, đi dọc theo sông Hồng tới Hà-nội năm 1889, nhưng không chiếm được một chỗ cho công việc truyền giảng Tin Lành Suy nghĩ rằng một người Pháp Gia-nã-đại có lẽ
sẽ giao thiệp tốt hơn với nhà nước Pháp, Jaffray thuyết phục Sylvian Dayan, và vợ ông tới Việt-nam năm 1902, họ được phép đổ bộ lên Hải Phòng, nhưng sau một năm lưu lại tại đó, nhận thấy không có chỗ nứt rạn trên bức tường chống đối kịch liệt, họ sang Trung quốc, đành chịu hỏng việc Hội Truyền Giáo Phước m Liên Hiệp tại Hoa Nam lại thử một cách khác mà các đoàn thể truyền giáo thường dùng để tiến tới một công trường truyền giáo bị đóng cửa, thiết lập một giáo sở trạm gần biên giới nhất trên một xứ bạn, rồi từ đó các sách Tin Lành có thể được mang qua biên giới và sứ điệp Tin Lành có thể được giới thiệu với khách từ xứ bị cấm viếng thăm Kết quả là năm 1905, một giáo sở trạm được mở ở Lung Chow, một thị trấn Trung hoa gần tỉnh Lạng Sơn, từ đó hi vọng Tin Lành có thể được đưa qua biên giới mà vào Bắc kỳ và Trung kỳ Tuy nhiên, các giáo sĩ không cứu xét đến một nhân tố lớn – tức là sự kiểm soát biên giới gắt gao áp đặt bởi các nhà chức trách Pháp – đường thâm nhập mới nầy chẳng dẫn họ đến mục tiêu ấy
là quần chúng Việt-nam.”
Trang 11CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG CỦA ĐẠO TIN LÀNH CỦA NGƯỜI
KINH Ở VIỆT NAM
2.1 Sự phát triển và những dấu mốc quan trọng của đạo Tin lành tại Việt Nam
2.1.1 Trong thời kỳ chiến tranh
Với những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư… Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo và loại hình tín ngưỡng Trước khi đạo Tin lành được truyền vào, Việt Nam đã có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Lão giáo, Công giáo Đạo Tin lành
có mặt ở Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX do tổ chức Tin lành Liên hiệp phúc
âm và truyền giáo Mỹ (CMA) truyền vào Tổ chức này đã cử nhiều mục sư sang Việt Nam để tìm hiểu và thăm dò: Mục sư Tiến sĩ A B Sumpsm (1887); D Leclacher (1893); C.H Reves (1897); R A Jaffray (1899); S Dayan (1901) … Đến năm 1911, CMA đã
cử R.A Jaffray, Paul.M Husel, G LoyHugher đến Đà Nẵng lập Hội thánh đầu tiên Đây là sự kiện đánh dấu mốc cho sự truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam Từ cơ sở ở
Đà Nẵng, các giáo sĩ hội truyền giáo mở thêm một số cơ sở khác ở những vùng lân cận như: Hội An, Tam kỳ, Đại Lộc… và cử người dân đi truyền đạo ở Bắc kỳ và Nam kỳ với các hoạt động chủ yếu là: dịch kinh thánh, lập nhà in và mở trường đào tạo mục sư truyền đạo
Tuy nhiên, chính quyền Pháp ở Việt Nam không ưa đạo Tin lành, họ lo ngại ảnh hưởng của Mỹ thông qua việc phát triển đạo Tin lành Do đó đạo Tin lành trong thời kỳ này hoạt động rất khó khăn Khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, thực dân Pháp cho rằng các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh đóng cửa nhà thờ Tin lành và cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động Ngoài ra người Pháp còn dựa vào Hoà ước 6/6/1884 chỉ cho phép Thiên chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam Toàn quyền Đông dương đã cho đóng cửa nhà thờ, trục xuất giáo sỹ truyền giáo CMA Phải tới năm 1927, khi phong trào dân chủ Pháp lên cao thì những lệnh cấm này mới được huỷ bỏ Thế nhưng trong sự cấm đoán đó, đạo Tin lành vẫn tìm mọi cách để phát triển Tới năm
1918, CMA đã lập được 5 chi hội ở Bắc kỳ, 6 chi hội ở Trung kỳ và 5 chi hội ở Nam
kỳ Tất cả các chi hội Tin lành lúc đó đều được giấy phép hoạt động cả của khâm sứ 3
kỳ và đều lấy tên là: “Hội thánh Tin lành Đông Pháp” (MEI)
Từ năm 1924 đến năm 1927, đã có 4 Đại hội đồng của Đạo Tin lành được tổ chức Đại hội đồng lần thứ IV ở Đà Nẵng đã bầu ra Ban Trị sự Tổng liên Hội thánh Tin lành Việt Nam do mục sư Hoàng Trọng Thừa làm Hội trưởng đầu tiên Cũng trong giai đoạn thập niên 1930, các mục sư Tin Lành cũng đã có cơ hội trò chuyện và nói về đạo cho các nhân vật hoàng tộc nhà Nguyễn, các vị chí sĩ cách mạng như cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ
Trang 12Phan Bội Châu Những cuộc gặp gỡ này đã được chép lại trong hồi ký 46 Năm Trong Chức Vụ của cố mục sư Lê Văn Thái - Hội trưởng Hội Thánh Tin Lành Việt Nam giai đoạn 1942-1960 như sau
“Năm 1933 ông bà Mục sư Ông Văn Huyên được Hội Thánh cử đến thay cụ Hoàng Trọng Thừa làm Mục sư tại Huế Tôi từ Hà Nội vào và lưu lại một tuần để hợp tác giảng Tin Lành cho đồng bào Nhân dịp nầy, chúng tôi tìm cách đến thăm một số nhân vật trong hoàng tộc một số thương gia, quan lại và một vài nhà chí sĩ tại cố đô Huế
để làm chứng về Chúa và mở rộng phạm vi rao truyền Tin Lành
Nhân vật hoàng tộc đầu tiên mà chúng tôi có dịp tiếp xúc là ông Ưng Khoa giữ chức vụ Trợ Quốc Khanh trong hoàng triều Sau đó tôi cùng ông này đến thăm Quận công Hường Oai ở phủ Hòa Thạnh Quận Vương, cuối đường Gia Hội Cụ là cháu nội của vua Minh Mạng Khi chúng tôi đến biếu sách và nói về Chúa cho cụ nghe thì cụ rất lấy làm lạ Cầm quyển sách trong tay, cụ vui vẻ nói: “tôi chưa hề được nghe một Tin Lành cứu chuộc đơn giản như thế” Mặc dù trong gia đình đã có mấy người cháu gọi cụ bằng chú đã tin nhận Chúa rồi, nhưng chưa có ai dám nói về Tin Lành cho cụ nghe cả
Buổi sáng ngày hôm sau, cụ Huyên và tôi sắp đặt chương trình để làm chứng đạo Chúa cho cụ Huỳnh Thúc Kháng, là một chí sĩ hiện đang điều khiển tờ báo Tiếng Dân tại phố Hàng Bè, Huế trong dịp này cụ Giáo sĩ Stebbins cùng đi với chúng tôi Chúng tôi gặp ngay cụ Kháng tại văn phòng tòa soạn Cụ rất vui tiếp chúng tôi, nhưng khi biết qua mục đích cuộc thăm viếng nầy là chỉ để làm chứng về Tin Lành cứu rỗi, thì thái độ của cụ bỗng đổi khác Từ cách nói chuyện đến cách cụ nhìn khói thuốc bay tỏa trong văn phòng không mấy rộng, khiến chúng tôi có cảm nghỉ rằng cụ cho chúng tôi ngây thơ quá chỉ làm phí thì giờ của cụ Nhận thấy không thể nói thêm trong lúc nầy, chúng tôi tặng vài quyển sách rồi từ giã Ra đường, tôi và cụ Huyên đã nói với nhau: “Ông già thật kiêu hãnh!” Nhưng vẻ kiêu hãnh đó không còn nữa trong những lần gặp gỡ sau, nhất là vào khoảng năm 1946-47, tôi thường có dịp tiếp xúc với cụ Huỳnh Thúc Kháng khi cụ làm Bộ trưởng Nội vụ tại Bắc bộ phủ Trong những lần như vậy, tôi thường nói chuyện với cụ về Tin Lành và ơn cứu chuộc của Chúa Jêsus Tôi cũng đã biếu cụ một
bộ Kinh Thánh Tân Cựu Ước, rồi ít lâu sau gặp lại, tôi hỏi cụ có xem không, thì cụ cho hay là đang xem và rất vui khi xem Kinh Thánh Hồi nầy thái độ kiêu hãnh của ông già trong tòa soạn báo Tiếng Dân khi xưa không thấy nữa Hiện diện trước mặt tôi là một nhà chí sĩ, một cách mạng gia lão thành khiêm nhường khả kính Tôi đã cầu nguyện thật nhiều để Lời Chúa trở nên ánh sáng cho đường lối của cụ
Chiều hôm đó, cụ Huyên và tôi đến thăm cụ Phan Bội Châu để tặng Kinh Thánh
và làm chứng Tin Lành Đồng bào ở Huế thời đó thường gọi cụ là ông già Bến Ngự, vì
Trang 13sau khi bị bắt và bị kết án, người Pháp đã quản thúc cụ Phan trong một chiếc thuyền lớn trang bị đầy đủ tiện nghi và thuyền nầy thường đậu tại Bến Ngự Nhưng sau đó ít lâu
họ không để cụ ở dưới thuyền nữa mà dời lên một căn nhà trên đường đi Nam Giao gọi
là đường Ba Dốc (Huế) Nhà nầy cũng do người Pháp xây cất để cụ ở, lương thực cũng
do họ cung cấp và dĩ nhiên mọi hoạt động của cụ đều có người theo dõi cẩn thận Vì tính cách biệt cư đó, cho nên đồng bào không mấy ai dám giao thiệp với cụ Tôi và cụ Huyên vì vô tình nên không hay cớ sự như vậy Vả lại mục đích của chúng tôi là đem Tin Lành đến cho cụ Phan mà thôi Mọi chi tiết khác đều không đáng kể
Khoảng ba giờ chiều chúng tôi đến căn nhà nói trên, được cụ Phan ra tiếp Nhìn quanh nhà không thấy ai khác ngoài cụ Nhưng khi ngồi xuống ghế thì một người đàn ông lực lưỡng mang súng lục từ ngoài bước vào Cụ Phan giới thiệu: “Đây là người bạn ngày đêm ở gần tôi theo lệnh của người Pháp, vì họ kể tôi như là một thứ vi trùng hay lây nên sợ ai đến gần sẽ bị lây” Trong khi ấy thì anh chàng nầy thản nhiên tay cởi súng đặt lên bàn, miệng nói: “Tôi ở đây giúp cụ và hầu chuyện cho cụ vui” Chúng tôi tự giới thiệu là Mục sư Tin Lành xin đến thăm cụ và tặng cụ quyển Kinh Thánh có lời của sự sáng và cũng có lời của sự sống Cụ Phan đứng lên hai tay đưa ra nhận quyển Kinh Thánh và nói: “Trong đời lưu vong của tôi, tôi chỉ có một người có thể gọi là bạn, là một vị Mục sư Trung Hoa khi tôi ở bên Quảng Tây, vị Mục sư ấy cũng có đọc Thánh Kinh cho tôi nghe”
Chúng tôi giãi bày Lời Chúa là Lời Sự Sống và cũng là Lời Sự Sáng cho cụ Thái
độ của cụ rất khiêm tốn và những câu hỏi của cụ tỏ ra cụ đang muốn tìm con đường giải thoát Sau khi trình bày cặn kẽ về sự chết của Chúa Jesus trên thập tự giá và quyền năng phục sinh của Ngài cho cụ, chúng tôi từ giã cụ ra về Cụ tiễn chúng tôi ra ngoài sân, thấy tôi chăm chú nhìn ngôi mộ mới ở góc vườn Dường như cụ đã đoán được tôi đang
để ý ngôi mộ mới ấy Cụ chỉ tay vào ngôi mộ rồi nói: Đây là cái mộ của con chó Vá của tôi chết vài tuần nay Tôi có bài thơ định viết trên lòng bia để nhớ nó, nhưng chưa có bia, tôi đọc để cụ nghe, rồi cụ đọc:
“Vì có dũng nên liều chết phấn đấu
Vì có nghĩa nên trung thành chủ
Nói thời dễ, làm thực khó
Người còn vậy, huống gì chó!
Ôi! Con Vá nầy đủ hai đức đó
Há như ai kia, mặt người lòng thú
Trang 14Trong thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ 2, phát xít Nhật vào Đông Dương, tình hình chính trị xã hội phức tạp, Uỷ ban truyền giáo của CMA New York đã có lệnh triệu hồi tất cả các giáo sĩ rời Đông Dương Hội thánh Tin lành Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái, các sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ cũng bị xáo trộn Lúc này, cố mục sư Lê Văn Thái đã có cuộc gặp quan trọng với Chủ tịch Hồ Chí Minh Ông chép lại cuộc gặp
gỡ này như sau
“Sau hai vụ nổ bom nguyên tử tại Okinawa và Nagasaki, ngày 15-8-1945, nước Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện Chế độ quân phiệt suy tàn cùng với giấc mộng thôn tính toàn cõi Đại Đông Á của con cháu Thái dương Thần nữ
Nhân cơ hội nầy, ngày 23-8-1945 mặt trận Việt Minh đứng lên cướp chính quyền trong tay người Nhật Đến 2-9-1945 tại công viên Ba Đình, ông Hồ Chí Minh với tư cách chủ tịch, đã tuyên bố Việt Nam Độc Lập Thế là, lịch sử quốc gia lại bắt đầu một giai đoạn mới với những thể chế khác biệt hơn Trong những ngày đầu, toàn dân hân hoan đều chào mừng chiến thắng Cuộc tranh đấu trường kỳ giành độc lập kể như đã thành công Lúc bấy giờ, cũng như những đoàn thể tôn giáo khác, vào ngày 8-9-1945, tôi cùng ông Mục sư Trần Văn Đệ và ông Bùi Hoành Thử đại diện cho Hội Thánh Tin Lành Việt Nam đến chào mừng cụ Hồ tại Bắc bộ phủ Trong buổi tiếp xúc đầu tiên với
vị chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, vấn đề sau đây đã được đem ra thảo luận: “HỘI THÁNH TIN LÀNH VIỆT NAM CÓ NÊN LẬP TIN LÀNH CỨU QUỐC HAY KHÔNG VÀ CÁC NHÀ THỜ TIN LÀNH CÓ PHẢI TREO CỜ HAY KHÔNG?” Ngay từ lúc đầu cụ Hồ Chí Minh đã nhìn thẳng vào tôi và nói: “Ông nên lập Tin Lành Cứu Quốc trong Hội Thánh” Tôi nhận thấy đề nghị đó không thể chấp nhận được vì