1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo luật hình sự việt nam

101 39 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo luật hình sự Việt Nam
Tác giả Ngô Đình Bắc
Người hướng dẫn TS. Phan Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Luật TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 20,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. HÀNH VI CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT (12)
    • 1.1. Quy định của pháp luật hình sự về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (12)
    • 1.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (13)
    • 1.3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (24)
  • CHƯƠNG 2. ĐỊNH TỘI DANH TỘI CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU HÀNH VI PHẠM TỘI VỀ MA TÚY (29)
    • 2.1. Quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về (29)
    • 2.2. Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về (31)
    • 2.3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về định tội (38)
  • PHỤ LỤC (50)

Nội dung

Mặc dù Bộ luật hình sự BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung nhất định so với quy định của BLHS năm 1999 nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định tội danh đối với tội chứa chấ

HÀNH VI CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT

Quy định của pháp luật hình sự về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

Khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) quy định: “Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì…”

Theo Điều 256 Bộ luật hình sự năm 2015, tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành hình thức, trong đó mặt khách quan được xác định bởi dấu hiệu hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Hành vi chứa chấp bao gồm ba dạng chính: cho thuê địa điểm, cho mượn địa điểm, hoặc thực hiện bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255.

Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 do Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp ban hành nhằm hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999, trong đó có quy định về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Thông tư này nhằm thống nhất cách nhận diện và xử lý các hành vi liên quan đến ma túy, đồng thời tăng cường hiệu lực thi hành và sự phối hợp giữa các cơ quan tố tụng trong công tác đấu tranh và xử lý các tội phạm ma túy.

256 BLHS năm 2015 được hướng dẫn như sau: 2

Cho thuê hoặc cho mượn địa điểm là hành vi của chủ sở hữu hoặc người quản lý biết rõ đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại chính địa điểm đó, nhưng vẫn cho họ thuê hoặc mượn để họ trực tiếp sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Việc tiếp tay như vậy được xem như tạo điều kiện cho hoạt động phạm pháp xảy ra và có thể chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Mức độ trách nhiệm phụ thuộc vào sự chủ động và nhận thức của người cho thuê về hành vi vi phạm của đối tượng sử dụng Do đó, các bên liên quan cần xem xét kỹ các yếu tố thiết yếu như quyền chiếm hữu, quản lý và ý thức phạm pháp để xác định trách nhiệm pháp lý.

Trong phạm vi pháp luật, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được xem xét khi người sở hữu hoặc quản lý một địa điểm biết rõ rằng người khác (không thuộc các mối quan hệ gần như ông bà, cha mẹ, con cái, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng) đang sử dụng ma túy trái phép tại địa điểm đó, bất kể người đó có được cho phép hay không.

Trong lý thuyết hình sự, cấu thành tội phạm hình thức là loại tội phạm mà mặt khách quan được nhận diện chủ yếu thông qua hành vi; hậu quả hay ý chí phía sau không được xem xét để kết luận phạm tội Theo đó, hành vi được xem như dấu hiệu bắt buộc của cấu thành và định nghĩa tội phạm hình thức dựa trên tính hiện diện của hành vi ấy Vì vậy, khác với tội phạm có hệ quả, tội phạm hình thức chỉ căn cứ vào sự biểu hiện bên ngoài của hành vi mà không cần đánh giá hậu quả hay động cơ Tài liệu tham khảo: Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần Chung (tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung), NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.100.

2 Xem: Tiểu mục 7.1, 7.2 mục 7 phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP thuê, mượn địa điểm, nhưng lại để mặc cho họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc để mặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy

Như vậy, thông qua quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015 và hướng dẫn tại TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP thì hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý là hành vi tạo điều kiện thuận lợi cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy Xét về bản chất, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép ma túy phải là hành vi cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác tương tự nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy Còn nếu trong trường hợp người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm mà biết là họ dùng địa điểm đó không phải để họ sử dụng chất ma túy nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ về sử dụng chất ma túy, mà dùng địa điểm đó để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015 3

Xét về hình thức thể hiện của hành vi khách quan, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy có thể thực hiện dưới hai dạng: một là hành động phạm tội, ví dụ cho thuê hoặc cho mượn địa điểm để người khác sử dụng ma túy trái phép; hai là không hành động phạm tội, khi có người biết việc sử dụng ma túy đang diễn ra nhưng không ngăn chặn, không cho thuê hay cho mượn địa điểm và để mặc cho họ tiếp tục.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành hình thức Mặt khách quan của tội này được quy định bằng duy nhất một dấu hiệu hành vi khách quan: chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Vì vậy, tội phạm được coi là đã hoàn thành ngay khi người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Người chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, nghĩa là nhận thức rõ mức độ nguy hiểm của hành vi đối với xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện Đây cho thấy sự đồng ý có ý thức với hành vi phạm pháp và nhận thức được hậu quả có thể xảy ra Theo quy định của pháp luật, hành vi này được xử lý nghiêm nhằm răn đe và bảo đảm trật tự xã hội.

Một số vướng mắc trong thực tiễn xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

sử dụng trái phép chất ma túy

Trên cơ sở quy định của pháp luật hình sự về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, ta có thể nhận thức một cách rõ ràng về bản chất và mức độ nguy hiểm của hành vi này Nội dung của hành vi chứa chấp ma túy không chỉ là che giấu hoạt động sử dụng trái phép chất ma túy mà còn là tạo điều kiện thuận lợi cho người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, do đó nó có thể bị xem xét và truy cứu trách nhiệm hình sự dựa trên các yếu tố cấu thành tội phạm Các yếu tố này bao gồm vai trò của người chứa chấp, mức độ tham gia và hậu quả gây ra, cũng như các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong các điều luật Việc nhận diện đúng các dấu hiệu của hành vi chứa chấp và áp dụng đúng các nguyên tắc xử lý hình sự sẽ tăng cường công tác điều tra, truy tố và xét xử, đồng thời góp phần ngăn ngừa và kiềm chế tệ nạn ma túy trong xã hội.

Điểm b, tiểu mục 7.3, mục 7, Phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP quy định cách nhận diện hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thông qua các dấu hiệu như cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; người thực hiện sẽ bị xử lý hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS năm 2015) Nếu hành vi chứa chấp nhằm tổ chức cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015).

Thực tiễn xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, khiến cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy nói chung và tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng bị giảm hiệu quả Những vướng mắc này được thể hiện rõ qua nội dung của một số bản án điển hình cho thấy khó khăn trong việc xác định hành vi chứa chấp, phạm vi trách nhiệm của đương sự và mức độ tham gia của người liên quan đối với hoạt động sử dụng ma túy, cũng như sự bất đồng giữa các cơ quan xét xử về cách áp dụng quy định Từ đó cho thấy cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện chuẩn mực xác định hành vi chứa chấp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy.

Trong trường hợp biết người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình, chủ sở hữu hoặc người quản lý phải thực hiện các biện pháp ngăn chặn kịp thời để không bị coi là để mặc cho việc sử dụng trái phép chất ma túy hay là chứa chấp; các biện pháp này có thể bao gồm nhắc nhở, yêu cầu người vi phạm rời khỏi khu vực, báo cáo ngay cho cơ quan chức năng và ghi nhận vụ việc nhằm bảo đảm an ninh, tuân thủ quy định pháp luật và giảm thiểu rủi ro pháp lý cho chính mình Cụ thể như vụ án sau:

Bản án hình sự sơ thẩm (HSST) số 54/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của Tòa án nhân dân (TAND) huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Khoảng 14 giờ ngày 02/4/2019, Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T, Trịnh Ngọc H đến quán Karaoke Biển Đông (do Đoàn Văn T là người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đồng thời cũng là người quản lý) gặp chủ quán là chị C (vợ của T) thuê phòng hát số 02 và yêu cầu cho nhân viên nữ vào phòng để rót bia và phục vụ hát Sau đó, C gọi điện thoại cho chồng là Đoàn Văn T về rồi C đi ngủ

Khoảng 5 phút sau, Hoàng Văn H lấy từ trong người một bộ dụng cụ để sử dụng ma túy và đặt lên bàn, ma túy đã được bỏ sẵn bên trong Cùng lúc, chị Nông Thị X, một nhân viên của quán karaoke, vào phòng hát để rót bia và phục vụ cho việc hát Đoàn Văn T đi kiểm tra phòng hát và thấy trong phòng còn một màn hình ti vi chưa tắt.

Phụ lục số 01 ghi nhận sự kiện liên quan đến hành động mở cửa phòng và rời khỏi hiện trường trong quá trình biểu diễn Trong buổi hát, Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T và Trịnh Ngọc H đã thay phiên tự châm lửa và sử dụng chất ma túy khi hát.

Khoảng 30 phút sau thì có chị Bàn Ánh N - nhân viên quán vào phục vụ thấy Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T, Trịnh Ngọc H sử dụng ma túy nên khó chịu, đi ra quầy lễ tân ngồi Sau đó, T đi qua phòng hát thấy các đối tượng đang sử dụng ma túy nên mở cửa, gọi X là nhân viên của quán ra và bảo: “Vào trong phòng bảo bọn kia không được chơi nữa”, có nghĩa là “không sử dụng ma túy nữa” rồi T đi đến quầy lễ tân ngồi, còn

X vào phòng và nói "vứt đi", nhưng H, T và X vẫn tiếp tục sử dụng ma túy Một lúc sau, Hoàng Văn H ra quầy lễ tân để lấy khăn lạnh và gặp Đoàn Văn T; T nói với H.

Hoàng Văn H trả lời "không được chơi nữa, không là tắt phòng" và câu "sắp xong rồi" được hiểu là đang nhắc tới việc sử dụng ma túy sắp kết thúc, T không nói gì H quay lại phòng hát cùng Nguyễn Nho T Trịnh Ngọc H tiếp tục sử dụng ma túy và bị Công an kiểm tra, bắt quả tang Công an khám xét và thu giữ trên mặt bàn một chai nước bằng nhựa màu vàng-xanh, nấp đỏ được đục hai lỗ, một lỗ cắm ống hút nhựa màu trắng và một lỗ cắm ống hút màu xanh-trắng; trên cóng thủy tinh, đầu cóng chứa chất bám dính màu nâu đen, là ma túy có khối lượng 0,004 g loại Methamphetamine.

Quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) về việc xác định tội danh đối với hành vi của Đoàn Văn T:

Trong bản cáo trạng số 47/CT-VKS ngày 19/8/2019 do Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn ban hành, Đoàn Văn T bị truy tố về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 256 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Trong bản án HSST số 54/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa, Đoàn Văn T bị tuyên phạt 24 tháng tù về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, căn cứ khoản 1 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 Tòa xác định hành vi của T là đã để cho ba người sử dụng ma túy trong quán karaoke, thuộc trường hợp "bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" theo hướng dẫn tại điểm 7.2 tiểu mục 7 mục II Thông tư liên ngành số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 Động cơ và mục đích của bị cáo là kinh doanh quán karaoke; để thu hút khách, T không áp dụng biện pháp ngăn chặn việc Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T và Trịnh Ngọc H sử dụng trái phép chất ma túy tại quán, nên đã phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015.

Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:

Trong vụ án này, tác giả đồng tình với quan điểm của VKSND và TAND huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa khi xác định Đoàn Văn T có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể là hành vi “có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” và bị xử lý về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256 BLHS năm 2015; theo hướng dẫn tại tiểu mục 7.2 mục 7 Phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, Đoàn Văn T chỉ cho H, T và H thuê địa điểm để hát karaoke chứ không cho các đối tượng này thuê quán để sử dụng ma túy Khi T phát hiện H, T và H sử dụng ma túy, dù Đoàn Văn T đã hai lần ngăn cản và phản đối, nhưng vì muốn có khách nên T không có biện pháp ngăn chặn quyết liệt; do đó Hoàng Văn H, Nguyễn Nho T, Trịnh Ngọc H tiếp tục được sử dụng ma túy tại quán của Đoàn Văn T Có thể nói Đoàn Văn T đã có hành vi để nhiều người (ba người) sử dụng ma túy tại quán của mình, và vì vậy đây là hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy của Đoàn Văn T.

Vụ án cho thấy cần có văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về cách xử lý khi một người biết người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm mình có trách nhiệm quản lý; biện pháp ngăn chặn phải được xác định để tránh bị coi là có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và để làm rõ khái niệm "có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015, được hướng dẫn tại tiểu mục 7.2 TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP.

Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

Qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự được phân tích tại Mục 1.2 của Luận văn, nhận thấy việc xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy vẫn còn nhiều vướng mắc và khó khăn Các vướng mắc này tập trung vào việc xác định chuẩn mực cấu thành hành vi chứa chấp, phân biệt giữa chứa chấp và các hành vi đồng phạm khác, cũng như làm rõ mối quan hệ giữa người chứa chấp và người sử dụng ma túy trong quá trình xử lý của cơ quan tố tụng Việc làm rõ các yếu tố động cơ, mức độ tham gia và phạm vi đổ trách nhiệm pháp lý là cần thiết nhằm đảm bảo tính nhất quán của phán quyết và hiệu lực của pháp luật hình sự Do đó, có thể tóm tắt một số vướng mắc khi xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy như một tập hợp các thách thức mang tính hệ thống cần được giải quyết trong quá trình phân tích và áp dụng pháp luật.

Có văn bản hướng dẫn thống nhất dành cho trường hợp một người biết người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình, nhằm quy định các biện pháp ngăn chặn phù hợp để không bị coi là bỏ mặc hoặc chứa chấp việc sử dụng ma túy trái phép; văn bản cần nêu rõ trách nhiệm của chủ sở hữu, người quản lý và các cơ chế phối hợp với cơ quan chức năng, đồng thời khắc phục quy trình xử lý và báo cáo khi phát hiện hành vi này, đảm bảo tính nhất quán, tuân thủ pháp luật và giảm thiểu rủi ro pháp lý cho địa điểm và các bên liên quan.

Trong trường hợp một người vừa chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và đồng thời có các hành vi khác tạo điều kiện cho việc sử dụng trái phép chất ma túy, như cung cấp dụng cụ, phương tiện hoặc chất ma túy, cần có hướng dẫn thống nhất để xác định đây là hành vi phạm tội của chứa chấp hay là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Việc phân định đúng hai tội danh này ảnh hưởng đến cách xử lý và áp dụng hình phạt theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo sự công bằng và nhất quán trong xét xử.

Thứ ba, cần có văn bản hướng dẫn thống nhất việc áp dụng pháp luật trong trường hợp người nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình, nhằm làm rõ có hay không trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy và xác định các yếu tố cấu thành, căn cứ xử phạt cũng như mức độ trách nhiệm của người sở hữu, người quản lý hoặc người cho phép sử dụng, qua đó bảo đảm sự thống nhất và công bằng trong xét xử và thực thi pháp luật.

Thực tiễn cho thấy, nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên xuất phát từ các lý do sau:

- Liên quan đến dạng hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy:

Theo khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015 và Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là người có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu hoặc do mình quản lý mà biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng) là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy, dù không cho họ thuê hay mượn địa điểm, nhưng lại cho phép họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy; tuy nhiên, Thông tư liên tịch chưa hướng dẫn rõ thế nào là hai lần hay nhiều lần sử dụng như vậy.

Khi một người biết có người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền chiếm hữu hoặc quản lý của mình, họ không chỉ có trách nhiệm mà còn phải áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp để không bị xem là “để mặc” cho hành vi phạm pháp Các biện pháp này gồm: thiết lập nội quy sử dụng, tăng cường an ninh và quản lý khu vực, giám sát hợp lý, thu hồi quyền truy cập đối với người vi phạm, và hợp tác với cơ quan chức năng khi có dấu hiệu vi phạm Ngoài ra, chủ sở hữu hoặc người quản lý nên ghi nhận, lưu giữ bằng chứng và thực hiện các bước đúng pháp luật như báo cáo kịp thời, xử lý hoặc chấm dứt hợp đồng/thuê, đồng thời hỗ trợ hoặc định hướng người dùng ma túy đến các dịch vụ can thiệp phù hợp Việc thể hiện chủ động trong việc ngăn chặn và tuân thủ quy định pháp luật giúp bảo vệ tài sản, an toàn cộng đồng và giảm thiểu rủi ro pháp lý cho chủ sở hữu.

Pháp luật xác định rằng hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có thể đồng thời bao gồm hành vi chứa chấp thông qua chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị địa điểm cho việc sử dụng trái phép chất ma túy hoặc cho người khác sử dụng, theo sự chỉ huy của người khác Tuy vậy, khoản 1 Điều 256 Bộ luật hình sự năm 2015 đã loại trừ dạng hành vi này khỏi phạm vi của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, trừ khi hành vi đó thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này.

Vấn đề hiện nay là liệu người cho người nghiện ma túy sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy hay không Hiện có nhiều văn bản hướng dẫn áp dụng trái ngược nhau, khiến cho việc xác định căn cứ và mức hình phạt trở nên khó khăn Sự mâu thuẫn này dẫn tới thiếu nhất quán trong thực thi pháp luật và ảnh hưởng tới hiệu quả xử lý các vụ việc liên quan đến ma túy Cần rà soát, chuẩn hóa các văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn áp dụng để thống nhất tiêu chuẩn đánh giá hành vi chứa chấp trong bối cảnh người nghiện ma túy Mục tiêu là bảo đảm công bằng và nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm ma túy.

Trên cơ sở các vướng mắc đã nêu, để việc xác định hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được chính xác và thống nhất, tác giả đề xuất TANDTC ban hành Nghị quyết hướng dẫn về hành vi này với các nội dung cơ bản: khái niệm chứa chấp và phạm vi trách nhiệm, các yếu tố cấu thành hành vi, tiêu chí đánh giá sự tham gia của người chứa chấp, vai trò của người chứa chấp so với người sử dụng và cơ sở chứng cứ; nguyên tắc áp dụng pháp luật, trình tự tố tụng và các biện pháp xử lý được làm rõ nhằm bảo đảm sự đồng bộ trong toàn hệ thống tư pháp, nâng cao tính nhất quán trong phán quyết và tăng cường hiệu lực thi hành đối với hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Theo khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy xảy ra khi có địa điểm thuộc quyền chiếm hữu hoặc quản lý của người đó và biết người khác (không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng) đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm đó; dù không cho họ thuê, mượn địa điểm, nhưng lại cho phép họ hai lần sử dụng trái phép chất ma túy trở lên hoặc cho nhiều người sử dụng Trong trường hợp người quản lý biết về việc này, họ phải có biện pháp ngăn chặn để việc sử dụng trái phép chất ma túy không tiếp tục diễn ra; nếu không ngăn chặn hoặc ngăn chặn nhưng ngăn chặn không có hiệu quả thì vẫn bị coi là có hành vi chứa chấp.

Trong phạm vi quy định tại khoản 1 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015, khi một người không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 mà vừa có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời thực hiện các hành vi khác tạo điều kiện cho việc sử dụng trái phép chất ma túy như cung cấp dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng, cung cấp chất ma túy, tìm người sử dụng hoặc thực hiện chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa ma túy vào cơ thể người khác và các hành vi này có liên quan với nhau, thì cần xác định đây là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) chứ không cấu thành tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256 BLHS năm 2015.

Văn bản mới bãi bỏ hướng dẫn tại điểm đ mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP và ban hành văn bản hướng dẫn thay thế, với nội dung: “Người nào nghiện ma túy cho người nghiện ma túy khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì phải chịu TNHS về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy ” Kiến nghị này xuất phát từ thực tế cho thấy hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy mang tính nguy hiểm cao cho xã hội và thường do những người nghiện ma túy thực hiện.

Kiến nghị của tác giả đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống các tội phạm về ma túy và phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy do người nghiện ma túy thực hiện Giải pháp được đề xuất nhằm ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi liên quan đến ma túy, từ đó giảm thiểu tác động tiêu cực của tệ nạn này lên xã hội Việc thực thi kiến nghị sẽ nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về ma túy, tăng cường nhận thức cộng đồng và hỗ trợ quá trình can thiệp, điều trị cho người nghiện Đây là một bước đi có tính khả thi, phù hợp với bối cảnh thực thi pháp luật hiện hành.

Trong Chương 1 của Luận văn, tác giả đã phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS năm 2015) và một số vướng mắc trong thực tiễn xác định hành vi phạm tội này; từ đó, tác giả chỉ ra nguyên nhân của các vướng mắc, hạn chế và đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Kiến nghị TANDTC ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất nhằm làm rõ trường hợp một người biết người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền chiếm hữu hoặc do mình quản lý Văn bản này cần chỉ rõ các biện pháp ngăn chặn hiệu quả để chủ sở hữu hoặc người quản lý không bị xem là “để mặc” cho người khác sử dụng ma túy, đồng thời quy định rõ trách nhiệm và mức độ xử lý khi có căn cứ cho thấy hành vi này đang diễn ra tại khu vực do mình kiểm soát Nội dung hướng dẫn nên đưa ra nguyên tắc đánh giá mức độ vi phạm, cơ chế phối hợp với cơ quan chức năng và các biện pháp quản lý, giám sát an ninh nhằm bảo đảm an toàn, trật tự và tuân thủ pháp luật Việc ban hành văn bản thống nhất sẽ giúp xác định đúng vai trò và nghĩa vụ của chủ sở hữu cũng như người quản lý, hạn chế né tránh trách nhiệm và bảo đảm áp dụng đồng bộ các quy định tố tụng liên quan.

ĐỊNH TỘI DANH TỘI CHỨA CHẤP VIỆC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU HÀNH VI PHẠM TỘI VỀ MA TÚY

Quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về

Trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, định tội danh là quá trình xác định và ghi nhận sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự Điều 256 BLHS năm 2015 quy định về tội danh 'Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy', do đó định tội danh tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là việc xác định và ghi nhận sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội đã thực hiện với các dấu hiệu cấu thành tội phạm được quy định tại Điều 256 của Bộ luật hình sự.

BLHS năm 2015 xác định rằng tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là một trường hợp định tội danh cụ thể, nên nó vừa có các đặc điểm chung của định tội danh nói chung vừa có những đặc thù riêng được quy định nhằm nhận diện hành vi phạm tội và xác định yếu tố cấu thành.

Định tội danh chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là một quá trình lô-gíc có hệ thống nhằm xác định và ghi nhận sự phù hợp giữa hành vi phạm tội cụ thể với các dấu hiệu của cấu thành tội danh được quy định tại Điều 256 BLHS năm 2015 Quá trình này đòi hỏi phân tích toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan của vụ án để xác lập hành vi chứa chấp và mối liên hệ giữa người phạm với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Việc xác định sự phù hợp giữa trường hợp phạm tội và cấu thành tội danh đảm bảo tính hợp pháp của quyết định kết tội và làm rõ phạm vi, mức độ trách nhiệm trong pháp luật Việt Nam.

Định tội danh tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý đối với hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội, như cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, trừ khi hành vi đó thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 Việc xác định tội danh cần xem xét mức độ liên hệ giữa hành vi chứa chấp và việc sử dụng ma túy, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ xã hội khỏi tác hại của chất ma túy.

10 Võ Khánh Vinh (2013), Giáo trình Lý luận chung về định tội danh, NXB Công an nhân dân, tr.4

11 Võ Khánh Vinh (2013), tlđd (10), tr.10

Liên quan đến việc định tội danh tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, pháp luật hình sự Việt Nam hướng dẫn xác định vai trò và mức độ tham gia của từng người dựa trên chứng cứ và hành vi cụ thể để xác lập tội danh phù hợp Trong những trường hợp này, tội chứa chấp được xem xét khi có hành vi che giấu, giúp đỡ hoặc tạo điều kiện cho người khác sử dụng, mua bán hoặc tàng trữ ma túy trái phép; đồng thời cơ quan điều tra và tòa án cân nhắc yếu tố khách quan như thời gian, địa điểm, đối tượng và yếu tố chủ quan như nhận thức, động cơ để xác định khung hình phạt và mức độ trách nhiệm hình sự Khi có nhiều tội danh liên quan, tòa án sẽ tổng hợp các hành vi này để quyết định có kết án ở tội chứa chấp hay chỉ áp dụng các tội danh khác, đồng thời xem xét các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng nhằm đảm bảo sự công bằng và phù hợp với quy định của pháp luật.

Điểm a tiểu mục 7.3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn: người có địa điểm cho người khác mượn hoặc thuê biết rõ mục đích sử dụng của người mượn hoặc thuê là để đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy, chứ không phải để phục vụ mục đích hợp pháp, thì người cho mượn hoặc cho thuê địa điểm đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điều của Bộ luật hình sự.

Điểm e mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 quy định rõ rằng người bán trái phép chất ma túy cho người khác và đồng thời cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để dùng ma túy sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hai tội: mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy.

Hiện nay, các văn bản pháp luật hình sự mới chỉ quy định về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong các trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, gồm hai trường hợp chính: (1) người cho người khác mượn hoặc thuê địa điểm để người đó sử dụng ma túy tại địa điểm đó và từ đây dẫn đến việc đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác; (2) người vừa có hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác vừa chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Những quy định này làm rõ vai trò hỗ trợ và trách nhiệm hình sự của người liên quan trong các hành vi phạm tội về ma túy.

So với quy định về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều

BLHS năm 1999 quy định 12 điều về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, và khi chuyển sang BLHS năm 2015, Điều 256 không có sửa đổi, bổ sung lớn; các dấu hiệu định tội và khung hình phạt của tội này vẫn được giữ nguyên Cụ thể, Điều 256 BLHS năm 2015 quy định hành vi chứa chấp cho người khác sử dụng ma túy trái phép và áp dụng mức hình phạt tương tự so với bản trước, bảo đảm sự nhất quán giữa hai phiên bản luật.

12 Điều 198 BLHS năm 1999 quy định:

“Điều 198 Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

1 Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; b) Phạm tội nhiều lần; c) Đối với trẻ em; d) Đối với nhiều người; đ) Tái phạm nguy hiểm

3 Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” thay thuật ngữ “trẻ em” thành “người dưới 16 tuổi”, “phạm tội nhiều lần” thành

Việc sửa đổi từ 'phạm tội 02 lần trở lên' và 'đối với nhiều người' thành 'đối với 02 người trở lên' nhằm cụ thể hóa, thống nhất cách hiểu và hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp đối với quy định tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Đồng thời, so với cấu thành tội phạm cơ bản quy định tại khoản 1 Điều 198 BLHS năm 1999, khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm cụm từ: 'nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này', nhằm xác định hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có tính nguy hiểm cao hơn hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Việc bổ sung cụ thể này có thể dẫn đến các quan điểm khác nhau về việc định tội danh chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy.

Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về

sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy

Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là một trong các hành vi phạm tội về ma túy và có quan hệ chặt chẽ với các hành vi khác như mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ, vận chuyển và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; tuy nhiên, hiện nay theo phân tích tại mục 2.1 của Luận văn, chỉ có văn bản hướng dẫn định tội danh cho trường hợp chứa chấp để tổ chức sử dụng và cho trường hợp vừa có hành vi mua bán vừa có hành vi chứa chấp, nên khi một người có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, trong đó có hành vi chứa chấp, việc định tội danh còn nhiều vướng mắc; các vướng mắc thực tiễn được thể hiện qua nội dung các bản án về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy khi có nhiều hành vi phạm tội.

Trong trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội về ma túy liên quan chặt chẽ với nhau, gồm cả hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, việc xác định tội danh sẽ căn cứ vào mức độ liên kết giữa các hành vi, tính chất và hoàn cảnh của từng hành vi, cũng như quy định của pháp luật về xử lý các hành vi ma túy Xem xét các yếu tố như thời điểm, địa điểm, vai trò của người phạm và mức độ tổ chức của hành vi nhằm xác định tội danh phù hợp cho từng hành vi hoặc ghép chúng thành một hay nhiều tội danh tương ứng Quá trình xác định tội danh cần đánh giá toàn diện chứng cứ và tính liên tục giữa các hành vi để bảo đảm xét xử đúng pháp luật và nhất quán với quy định về ma túy.

Bản án HSST số 01/2020/HS-ST ngày 07/01/2020 của TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

Khoảng 23 giờ 40 phút ngày 27/8/2019, Nguyễn Đức T đang chơi game tại quán thì Nguyễn Văn V (là người cùng thôn với bị cáo) và Hoàng Đình M đến quán game Tại đây M đứng ở cửa quán đợi còn V đi vào trong quán và lại gần chỗ của T đang ngồi chơi game T rủ V về nhà T để sử dụng ma túy V đồng ý rồi T và V đứng dậy đi ra cửa quán nơi M đang đứng đợi Sau đó, T điều khiển xe mô tô của V chở sau là V, ngồi giữa là M về nhà của T để cùng nhau sử dụng ma túy

Khi về đến nhà, T cùng V và M lên giường nằm chơi điện thoại, còn T đi ra ngoài một lúc Sau đó, T quay lại với tay cầm một chai nước đã gắn ống hút ở nắp chai Tại nhà mình, câu chuyện dần được kể lại dựa trên những gì vừa diễn ra.

Tôi đã chuẩn bị một bộ dụng cụ gồm một ống nhựa màu vàng, một ống nhựa màu hồng có đầu gắn giấy bạc, một chai nhựa màu trắng chứa các hạt xanh, đỏ và vàng ở bên trong, và nắp chai màu vàng được đục hai lỗ để cắm hai ống hút màu vàng và màu hồng.

Trong phòng ngủ của T, T cùng hai người bạn là V và M đã dùng ma túy ngựa và ma túy đá Sau khi kết thúc, T giấu dụng cụ và bật lửa vào ngăn kéo tủ ở cạnh tường phía Đông, trong khi túi nilon màu trắng chứa chất gây nghiện được đặt trong một chiếc cốc trên bàn trước phòng ngủ.

Khoảng 00 giờ 15 ngày 28/8/2019 thì V, T, M bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ chất ma túy có khối lượng còn lại sau khi sử dụng là 0,1358 gam, loại ma túy: Methamphetamine

Ngày 07/10/2019, Bệnh viện sức khỏe tâm thần tỉnh Bắc Ninh có kết quả trả lời xác định Nguyễn Đức T không nghiện ma túy

Quan điểm của các CQTHTT về việc xác định tội danh đối với hành vi của Nguyễn Đức T:

Tại bản cáo trạng số 88/CT-VKS ngày 30/11/2019, VKSND huyện Thuận Thành truy tố Nguyễn Đức T về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS năm 2015.

- Tại bản án HSST số 01/2020/HS-ST ngày 07/01/2020, TAND huyện Thuận Thành áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

38, Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 329 BLTTHS năm 2015 tuyên phạt Nguyễn Đức T 7 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Đức Văn T bị cáo buộc nhiều hành vi phạm tội về ma túy, trong đó nổi bật là hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Cụ thể, hồ sơ cho thấy bị cáo đã dung túng và tạo điều kiện cho người khác sử dụng chất ma túy trái phép, đồng thời liên quan đến các hành vi phạm tội về ma túy được nêu rõ trong vụ án.

Nguyễn Đức T đã cất giấu trong một túi nilon màu trắng chứa ma túy đá và ma túy tổng hợp (methamphetamine), được đặt trong cốc trên bàn trước phòng ngủ nhằm mục đích sử dụng cá nhân, không có ý định mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy; khi bị phát hiện, lực lượng chức năng thu giữ được tổng khối lượng ma túy 0,1358 gam còn lại sau khi sử dụng; căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, hành vi của T có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma túy.

Nguyễn Đức T bị cáo buộc đã cho phép T và M cùng sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ của mình Hành vi này được cho là có dấu hiệu của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 256 BLHS năm 2015.

- Nguyễn Đức T có hành vi chuẩn bị 01 bộ dụng cụ gồm: 01 ống nhựa màu vàng, 01 ống nhựa màu hồng có gắn giấy bạc ở đầu; 01 chai nhựa đựng nước màu trắng có các hạt xanh, đỏ, vàng bên trong; nắp chai nhựa màu vàng có đục 02 lỗ để cắm 02 ống hút màu vàng và màu hồng; 01 bật lửa ga màu trắng và chuẩn bị sẵn ma túy Sau đó, T cho 1 viên ma túy ngựa và ma túy đá vào tờ giấy bạc rồi quấn vào đầu ống hút màu hồng Sau khi chuẩn bị xong, T dùng bật lửa đốt phần giấy bạc rồi rồi rủ V và M cùng sử dụng bằng cách hít khói từ đầu ống hút màu vàng vào cơ thể tại phòng ngủ của T Hành vi này của T có dấu hiệu của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)

Nguyễn Đức T bị cáo về nhiều hành vi phạm tội ma túy, gồm tàng trữ trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Các hành vi này liên quan chặt chẽ với nhau: tàng trữ ma túy và chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy nhằm mục đích rủ bạn đến nhà anh ta để cùng sử dụng trái phép chất ma túy Với những hành vi phạm tội như trên, theo tác giả, vụ án này cho thấy bị cáo có vai trò quan trọng trong chuỗi hoạt động phạm tội ma túy.

Nguyễn Đức T không phải là người nghiện ma túy, nên việc TAND huyện Thuận Thành xử lý về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) là phù hợp Căn cứ khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015 quy định: nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255, thì áp dụng các quy định liên quan; dựa trên hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 Phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đây là một trong các hành vi sau đây: a) chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa ma túy vào cơ thể người khác; b) chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy và tìm người sử dụng chất ma túy.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các hành vi liên quan đến ma túy như tàng trữ trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và nhìn chung đều là một dạng của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS 2015).

Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về định tội

Từ các bản án được phân tích tại Mục 2.2 của Luận văn cho thấy thực tiễn định tội danh chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy khi có nhiều hành vi phạm tội về ma túy trên thực tế gặp một số vướng mắc đáng kể Cụ thể, việc xác định phạm vi chứa chấp và mức độ liên quan giữa hành vi chứa chấp với các hành vi phạm tội ma túy khác chưa được làm rõ đầy đủ trong thực tiễn tố tụng, dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng đúng chuẩn mực pháp lý và mức hình phạt phù hợp Bên cạnh đó, sự đồng thời diễn ra của các hành vi phạm tội ma túy làm phức tạp việc chứng minh yếu tố chứa chấp và vai trò tham gia của người bị cáo, đồng thời đặt ra thách thức về chứng cứ và mối quan hệ nhân quả Các tiêu chuẩn xác định ý thức chủ quan, mức độ tham gia và sự liên kết giữa hành vi chứa chấp với hành vi phạm tội chính còn thiếu sự nhất quán giữa các cấp xét xử, gây ra bất cập trong quyết định tuyên án Những vướng mắc này cho thấy cần bổ sung cơ sở pháp lý và hướng dẫn cụ thể để nâng cao tính nhất quán và hiệu lực của tội danh chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong bối cảnh nhiều hành vi phạm tội ma túy.

Trong trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội về ma túy có sự liên quan chặt chẽ với nhau, bao gồm hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội danh của người phạm sẽ được xác định dựa trên mức độ tham gia, tính chất của từng hành vi và mối quan hệ giữa chúng; các hành vi này có thể được xem là một tập hợp tội phạm liên quan và được đánh giá để xác định tội danh chính cùng các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ theo quy định của pháp luật; quyết định cuối cùng về tội danh cần cân nhắc vai trò của người phạm, sự liên kết giữa các hành vi và hậu quả gây ra nhằm áp dụng hình phạt phù hợp cho toàn bộ chuỗi hành vi liên quan.

Trong trường hợp một người vừa có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tội danh phù hợp cần được xác định dựa trên quy định của Bộ luật hình sự về cả hai tội danh này Hành vi chứa chấp liên quan tới việc người phạm tạo điều kiện cho người khác sử dụng ma túy trái phép, trong khi hành vi tàng trữ thể hiện ở việc nắm giữ, lưu giữ hoặc vận chuyển ma túy trái phép Vì vậy, cần xem xét mức độ liên hệ giữa hai hành vi, vai trò của người phạm và bằng chứng để quyết định tội danh chính và các tội danh đồng phạm hoặc để ghép các tình tiết phạm tội phù hợp, chứ không tự động ghép hai tội danh thành một.

Nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên xuất phát từ các lý do sau:

Thứ nhất, cấu thành tội phạm cơ bản của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại khoản 1 Điều 256 BLHS năm 2015: người cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255.

Quy định trong bộ luật này có thể dẫn đến quan điểm trái chiều trong việc xác định tội danh chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, đặc biệt khi có nhiều hành vi phạm tội về ma túy liên quan đến tội danh này và không có văn bản hướng dẫn cụ thể.

Thứ hai, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-

BTP hiện chưa có đầy đủ hướng dẫn xác định tội danh trong các trường hợp phức tạp liên quan đến ma túy, như người vừa có hành vi mua bán trái phép chất ma túy vừa chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy hoặc vừa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Trong trường hợp một người cho người khác thuê, mượn địa điểm để họ dùng và đưa chất ma túy trái phép vào cơ thể người khác, hiện vẫn chưa có hướng dẫn liên quan đến việc giải quyết cạnh tranh về tội danh Điều này dẫn đến sự không thống nhất trong thực tiễn định tội đối với các hành vi ma túy như chứa chấp việc sử dụng và tàng trữ, hoặc tổ chức sử dụng Thiếu hướng dẫn khiến nhiều hành vi phạm tội ma túy bị tranh chấp về cách xếp loại tội danh, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật.

Trên cơ sở các vướng mắc và nguyên nhân của chúng, tác giả đề xuất giải pháp cụ thể để xác định đúng tội danh chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, bằng cách kiến nghị TANDTC ban hành nghị quyết hướng dẫn với nội dung sau: làm rõ tiêu chí xác định tội danh chứa chấp và phạm vi trách nhiệm của người liên quan, thống nhất cách áp dụng pháp luật đối với nhiều hành vi phạm tội về ma túy, và xác định trình tự, căn cứ pháp lý cần áp dụng để bảo đảm xét xử công bằng và nhất quán giữa các cấp tòa và các cơ quan tố tụng.

Trong trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, trong đó có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, cần phân biệt rõ giữa các tội danh và mức độ trách nhiệm để xác định khung hình phạt phù hợp Câu chuyện pháp lý này đòi hỏi xem xét kỹ từng hành vi riêng biệt: hành vi chứa chấp có vai trò đồng lõa hay tiếp tay cho việc sử dụng trái phép chất ma túy, và hành vi sử dụng ma túy trực tiếp hoặc tàng trữ, buôn bán ma túy Việc đánh giá vai trò của người phạm, tính chất và khối lượng của chất ma túy, cùng với yếu tố địa bàn và tình tiết tăng nặng, sẽ ảnh hưởng đến mức án và quyết định của tòa Do đó, cần áp dụng nguyên tắc phân biệt giữa từng hành vi và tổng hợp các yếu tố nguy hiểm để đảm bảo công bằng trong xử lý các hành vi phạm tội về ma túy.

Trong các trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội về ma túy được quy định tại các điều luật khác nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau, người đó chỉ bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) và không bị xử lý về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS năm 2015); ví dụ, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015) và/hoặc chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy sẽ dẫn tới xử lý hình sự chỉ về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255).

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khi một người thực hiện đồng thời nhiều hành vi phạm tội về ma túy theo các điều luật khác nhau nhưng không liên quan trực tiếp với nhau, họ có thể bị xử lý hình sự về nhiều tội Ví dụ: A mua hộ ma túy cho B, mang về nhà cho B đến lấy, và khi B đến nhà A thì A cho B sử dụng ma túy ngay tại nhà; nếu đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015, thì A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256) và tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249).

Cơ sở của kiến nghị nêu trên là nguyên tắc định tội danh trong trường hợp các hành vi phạm tội liên quan với nhau, đặc biệt khi có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Các hành vi này được xem là độc lập và có mức độ nguy hiểm tương đương nhau, nên có thể định tội danh cho nhiều tội danh dựa trên các hành vi thực tế (tổng hợp thực tế) để phản ánh đúng bản chất và tính nguy hiểm của từng hành vi.

Trong trường hợp một người chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy và đồng thời có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, người đó sẽ bị xem xét trách nhiệm hình sự cho hai hành vi vi phạm riêng biệt Hành vi chứa chấp được xem là tiếp tay cho việc sử dụng ma túy trái phép, trong khi hành vi tàng trữ là hành vi cất giữ ma túy trái phép; tùy thuộc vào tính chất, khối lượng và hoàn cảnh phạm tội, hai hành vi này có thể bị xử lý hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành Kết quả, người phạm có thể bị xử phạt tù hoặc phạt tiền, và tang vật có thể bị tịch thu theo quy định.

Trong trường hợp một người vừa chứa chấp cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy, vừa tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân, nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người đó có thể bị xử lý hình sự về nhiều tội danh cùng lúc, chủ yếu là tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy và tội tàng trữ trái phép chất ma túy Việc xác định trách nhiệm hình sự dựa trên yếu tố cấu thành và mức độ phạm tội, qua đó cơ quan tố tụng áp dụng khung hình phạt và biện pháp ngăn chặn phù hợp.

Trong vụ việc này, B cho người khác mượn căn nhà của mình để sử dụng trái phép chất ma túy Khi cơ quan chức năng kiểm tra, A bị phát hiện tàng trữ 0,25 gram heroin trong chính căn nhà ấy để dùng khi có nhu cầu Như vậy, A đã phạm hai tội theo BLHS năm 2015: tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256) và tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249).

Trong trường hợp người đó chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời có hành vi cung cấp và tàng trữ ma túy để đưa chất ma túy đó cho người khác sử dụng tại địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, quản lý của mình, họ sẽ bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) và sẽ không bị xử lý hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015) hoặc tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS năm 2015).

Ngày đăng: 26/12/2022, 23:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w