Baigiang Co Mục Lục Chương 1 Cơ sở lý luận về tài chính đất đâi 3 1 1 Vai trò của đất đai và quản lý tài chính đất đai đối với phát triển kinh tế 3 1 1 1 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh t.
Cơ sở lý luận về tài chính đất đâi
Vai trò của đất đai và quản lý tài chính đất đai đối với phát triển kinh tế 3 1 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế 3 2 Đất đai - nguồn nội lực, nguồn vốn của đất nước
1.1.1 Đất đai đối với sự phát triển các ngành kinh tế Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác ở trên trái đất.
Đất đai đóng vai trò then chốt đối với nền sản xuất xã hội và là điều kiện vật chất thiết yếu cho mọi ngành sản xuất; theo Các Mác, lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ—như William Petty nói—lao động là cha, đất là mẹ của cải vật chất Tuy đất đai là nguồn lực chung cho toàn bộ nền kinh tế, vai trò của nó lại khác nhau ở từng ngành trong nền kinh tế quốc dân, phụ thuộc đặc thù sản xuất và mức độ sử dụng đất để tối ưu hóa hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
Trong các ngành công nghiệp chế tạo và chế biến, đất được xem là cơ sở không gian, nền tảng và vị trí để thực hiện quá trình sản xuất Ở đó, quá trình sản xuất và hình thành sản phẩm không phụ thuộc vào tính chất và độ màu mỡ của đất.
Trong ngành công nghiệp khai khoáng, ngoài vai trò cơ sở không gian, đất còn là kho tàng cung cấp các nguyên liệu quý giá cho con người
Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt quan trọng; nó không chỉ là cơ sở không gian mà còn là yếu tố vật chất và tích cực của quá trình sản xuất Quá trình tác động của con người lên ruộng đất bằng các hoạt động như cày, bừa, bón phân biến đất kém màu mỡ thành đất màu mỡ hơn, lúc này ruộng đất đóng vai trò là đối tượng lao động; đồng thời đất được xem như một công cụ để tác động lên cây trồng, cung cấp nước, không khí và các chất dinh dưỡng thiết yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng Trong quá trình đó, đất vừa là tư liệu lao động vừa là điều kiện để cây trồng sinh trưởng, góp phần nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
1.1.2 Đất đai là nguồn vốn, nguồn nội lực của đất nước
Trong mọi nền kinh tế, đất đai là một trong ba nguồn lực đầu vào (lao động, tài chính, đất đai) và cùng với các yếu tố khác phối hợp tạo nên cơ cấu kinh tế hợp lý, quyết định hiệu quả phát triển Ở nền kinh tế thị trường, tích lũy tài sản cố định chủ yếu tập trung vào đất đai, và bất động sản, trong đó đất đai là yếu tố cơ bản, vừa là hàng hóa lưu thông trên thị trường vừa là thành tố quan trọng của GDP Quy mô đóng góp của bất động sản đối với GDP ở các nền kinh tế có tích lũy thấp thường dao động khoảng 5-10%, còn ở các nền kinh tế tích lũy cao có thể lên tới 15-20% Với vai trò là bất động sản và tài sản cố định, đất đai có thể tham gia thị trường tài chính và tín dụng, cho phép các tổ chức kinh tế, hộ gia đình và cá nhân sở hữu quyền sử dụng đất huy động vốn lớn để đầu tư sản xuất và đáp ứng các nhu cầu đa dạng.
1.1.3 Vai trò của công cụ quản lý tài chính đất đai đối với phát triển kinh tế
Vai trò của công cụ tài chính đất đai:
Là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều tiết nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai, trong đó bao gồm định giá đất, thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất và thuế sử dụng đất Những chính sách này nhằm phát triển kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, phát triển thị trường bất động sản và khuyến khích đầu tư phát triển quỹ đất.
• Là công cụ quan trọng để điều tiết mối quan hệ cung - cầu về đất đai trong cơ chế thị trường và giải quyết các mối quan hệ kinh tế về đất đai
1.2 Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai
Quyền sở hữu đất đai là quyền được ghi nhận và bảo vệ của pháp luật đối với một chủ thể được tự do chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. Trong đó quyền chiếm hữu là quyền được nắm giữ vật sở hữu trong tay, quyền sử dụng là quyền được khai thác các đặc tính hữu ích của đất đai và sử dụng nó, quyền định đoạt là quyền quyết định số phận pháp lý của đất đai.
Trong lịch sử quản lý đất đai thế giới, từ thế kỷ V trước Công nguyên, Nhà nước La Mã đã có các điều khoản cho phép tách quyền sử dụng đất khỏi quyền sở hữu trong một số trường hợp cụ thể, được gọi là servitus Những quy định này cho thấy quyền sử dụng đất có thể gắn với người khác hoặc phục vụ cho lợi ích công cộng mà vẫn duy trì quyền sở hữu gốc của chủ đất Sự phân tách này hình thành nền tảng cho khái niệm quyền hạn trên đất và các loại servitutes trong hệ thống pháp lý La Mã, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến cách các nền văn minh sau này quản lý đất đai và quyền sử dụng đất Việc hiểu các quy định cổ đại về tách rời quyền sử dụng đất và quyền sở hữu giúp làm rõ sự phát triển của pháp lý đất đai và các nguyên tắc quản lý đất đai hiện đại.
Trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, sự tách biệt giữa quyền sở hữu đất và quyền sử dụng đất ngày càng rõ ràng khi một số chủ đất cho thuê đất để người khác sản xuất kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả Trong nông nghiệp, bên cạnh nhóm nông dân tự canh tác trên đất đai của mình, còn xuất hiện lớp nông dân thuê đất để sản xuất kinh doanh hoặc có người sản xuất kinh doanh hoàn toàn trên đất thuê, khiến nền sản xuất nông nghiệp mất hẳn tính tự cấp, tự túc và chuyển sang sản xuất hàng hóa hoàn toàn.
Ngày nay, mức độ gắn quyền sử dụng đất với quyền sở hữu khác nhau tùy theo truyền thống và hệ thống chính trị của từng quốc gia Ví dụ, ở Đài Loan diện tích đất đai có quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng chỉ chiếm khoảng 40%; ở Nhật Bản con số này là khoảng 60%, còn ở Pháp, Anh và Mỹ chỉ quanh mức 40% Số diện tích còn lại ở các nước này chủ yếu dành cho các chủ sử dụng khác thuê; tại Thụy Điển, tỷ lệ đất đai cho thuê lên tới khoảng 70%.
Để tăng hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất và thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá, một yếu tố then chốt là tách quyền sử dụng đất khỏi quyền sở hữu Việc phân tách này cho phép người thuê hay người sử dụng đất khai thác tiềm năng kinh tế của đất đai mà không bị ràng buộc bởi quyền sở hữu, từ đó tăng động lực đầu tư và khuyến khích đổi mới công nghệ Nhờ đó, phân bổ đất đai được tối ưu hơn, thị trường quyền sử dụng được mở rộng và cạnh tranh trong sản xuất hàng hoá được đẩy mạnh, góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai ở nước ta: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Vai trò của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu:
Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đối với đất đai thông qua các cơ chế quyết định mục đích sử dụng đất, thiết lập hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất, đồng thời ra quyết định giao đất hoặc cho thuê đất Bên cạnh đó, quyền thu hồi đất, việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và định giá đất được áp dụng để quản lý và phát triển nguồn lực đất đai một cách có hệ thống.
Nhà nước thực hiện quyền điều tiết nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai, bao gồm thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử dụng đất và thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất Đồng thời, nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất qua các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định, tạo cơ sở pháp lý cho việc khai thác và quản lý đất đai Đồng thời quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp, trách nhiệm sử dụng đất đúng mục đích và tuân thủ các quy định của pháp luật.
Đặc điểm hệ thống tài chính đất đai trong điều kiện nền kinh tế theo cơ chế thị trường ở Việt Nam…………………………………………………… 11 1.6 Kinh nghiệm của nước ngoài trong quản lý tài chính đất đai
2.1 Thời kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1975)
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước tập trung điều chỉnh chính sách tài chính đất đai bằng cách giảm tô cho dân và khuyến khích sản xuất lương thực Mục tiêu là đẩy lùi nạn đói và cung cấp nguồn lực cho kháng chiến, đồng thời củng cố đời sống nông dân và nền tự chủ của đất nước.
- Ngày 20/10/1945, Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25% cho nông dân canh tác trên ruộng đất của địa chủ.
Năm 1946, Hiến pháp lần thứ nhất được ban hành, thừa nhận quyền sở hữu đất đai tư nhân và thiết lập khuôn khổ cho các chính sách sử dụng đất nhằm phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Tháng 5/1950, Chính phủ ban hành sắc lệnh về sử dụng diện tích bỏ hoang ruộng đất tư của thực dân Pháp và của địa chủ chạy ra vùng địch kiểm soát Đến cuối năm 1951 đã tịch thu được 258 863 ha đất, tặng và cấp cho 500 nghìn nhân khẩu nông dân.
Vào ngày 14/12/1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật cải cách ruộng đất, đặt nền tảng cho việc xóa bỏ chế độ địa chủ và phân chia lại ruộng đất cho nông dân Luật cho phép thực hiện các hình thức tịch thu, trưng thu và trưng mua ruộng đất tùy theo đối tượng địa chủ nhằm chuyển giao đất đai cho người lao động ở nông thôn Qua đó, đất đai được chia lại cho các hộ nông dân, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất nông nghiệp và công bằng xã hội ở vùng nông thôn Việc thi hành Luật cải cách ruộng đất 1953 đã mở đường cho các bước cải cách kinh tế và xã hội tiếp theo trong nước.
Đến tháng 7/1956, cuộc cải cách ruộng đất ở Miền Bắc cơ bản đã hoàn tất, với tổng diện tích đất nông nghiệp được cấp cho nông dân là 810.000 ha, phân bổ cho khoảng 2,1 triệu hộ nông dân, tương đương trung bình khoảng 3.843 m² mỗi hộ.
- Ngày 24/3/1956, Chính phủ ban hành Điều lệ thuế nông nghiệp: là thứ thuế duy nhất đánh vào hoa lợi ruộng đất.
Trong ba năm khôi phục kinh tế (1955-1957), Quốc hội ban hành hệ thống 8 chính sách khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp, tập trung vào các biện pháp liên quan đến tài chính đất đai Trong đó, khai hoang và phục hóa được khuyến khích bằng chế độ miễn thuế: khai hoang miễn thuế 5 năm và phục hóa miễn thuế 3 năm Đồng thời, phần sản phẩm tăng thêm do tăng vụ và tăng năng suất được hưởng ưu đãi không phải đóng thuế Những chính sách này nhằm khuyến khích người dân mở rộng diện tích canh tác và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
- Từ năm 1957, Miền Bắc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp Năm 1957 có 47 hợp tác xã, cuối năm 1958 đã xây dựng được 1723 hợp tác xã và đến cuối
Khái quát các chính sách và tình hình quản lý tài chính đất đai của Nhà nước ta qua các thời kỳ 18 2.1 Thời kỳ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (từ 1945 đến 1975) 18 2.2 Thời kỳ nước CHXHCN Việt Nam (từ năm 1975 đến nay)
2.1 Thời kỳ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1945-1975)
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước tập trung điều chỉnh chính sách tài chính đất đai nhằm giảm tô thuế cho dân và thúc đẩy sản xuất lương thực Chính sách này vừa giảm gánh nặng kinh tế cho người dân, vừa khuyến khích nông dân mở rộng canh tác để chống nạn đói và phục vụ cho kháng chiến.
- Ngày 20/10/1945, Chính phủ ra sắc lệnh giảm tô 25% cho nông dân canh tác trên ruộng đất của địa chủ.
Hiến pháp lần thứ nhất được ban hành năm 1946, công nhận quyền sở hữu đất đai tư nhân và đặt nền tảng cho các chính sách của Nhà nước về tận dụng đất đai để sản xuất nông nghiệp.
Vào tháng 5 năm 1950, Chính phủ ban hành sắc lệnh về việc khai thác diện tích bỏ hoang ruộng đất tư của thực dân Pháp và của các địa chủ chạy ra vùng địch kiểm soát Đến cuối năm 1951, 258.863 ha đất đã bị tịch thu và được tặng, cấp cho 500 nghìn nhân khẩu nông dân.
Ngày 14/12/1953, Quốc hội nước Việt Nam thông qua Luật cải cách ruộng đất, đặt nền tảng cho việc phân chia lại đất đai từ địa chủ cho nông dân Luật cho phép thực hiện các hình thức tịch thu, trưng thu và trưng mua ruộng đất dựa trên đối tượng địa chủ, nhằm chia ruộng cho nông dân và thực hiện quyền lợi của người lao động trong nông nghiệp.
Tháng 7/1956, cuộc cải cách ruộng đất ở Miền Bắc đã cơ bản hoàn thành, đánh dấu bước tiến quan trọng trong phân phối đất đai và quyền làm nông của các hộ dân Tổng diện tích đất nông nghiệp được chia cấp cho nông dân là 810.000 ha, được phân bổ cho khoảng 2,1 triệu hộ nông dân, tương đương bình quân 3.843 m² mỗi hộ.
- Ngày 24/3/1956, Chính phủ ban hành Điều lệ thuế nông nghiệp: là thứ thuế duy nhất đánh vào hoa lợi ruộng đất.
Trong ba năm phục hồi kinh tế (1955-1957), Quốc hội đã ban hành hệ thống 8 chính sách khuyến khích sử dụng đất nông nghiệp, nổi bật là các biện pháp liên quan đến tài chính đất đai nhằm thúc đẩy khai hoang phục hóa: khai hoang miễn thuế 5 năm, phục hóa miễn thuế 3 năm; phần sản phẩm tăng lên do tăng vụ và tăng năng suất được miễn thuế, không phải đóng thuế.
- Từ năm 1957, Miền Bắc tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp Năm 1957 có 47 hợp tác xã, cuối năm 1958 đã xây dựng được 1723 hợp tác xã và đến cuối
1960 trên toàn Miền Bắc đã cơ bản hoàn thành hợp tác hóa với gần 41.000 hợp tác xã.
- Tháng 7/1958, Sở Địa chính được thành lập trực thuộc Bộ Tài chính, chức năng chủ yếu là quản lý ruộng đất để thu thuế nông nghiệp.
- Năm 1959, Hiến pháp lần thứ 2 ban hành, xác định ba hình thức sở hữu đất đai: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu cá thể.
Sở hữu nhà nước được ưu tiên.
Sở hữu tập thể được khuyến khích.
Sở hữu của người lao động riêng lẻ bị hạn chế.
Phấn đấu đẩy mạnh phong trào xây dựng hợp tác xã bậc cao, đến năm 1965 toàn miền Bắc đã hình thành 18.566 hợp tác xã bậc cao, cơ bản hoàn tất nhiệm vụ tập thể hóa nông nghiệp.
Ngày 9/12/1960, Hội đồng Chính phủ ra quyết định chuyển ngành Địa chính từ Bộ Tài chính sang Bộ Nông nghiệp và đổi tên thành ngành Quản lý ruộng đất, với nhiệm vụ chủ yếu là quản lý việc mở mang, sử dụng và cải tạo ruộng đất trong nông nghiệp.
Trong giai đoạn này vẫn áp dụng một loại thuế với ruộng đất: thuế nông nghiệp Năm 1964, Nhà nước ban hành chính sách thuế nông nghiệp đối với đồng bào đi khai hoang: khai phá đất hoang thì miễn thuế 7 năm, còn cày cấy ruộng hoang thì miễn thuế từ 3 đến 5 năm.
Thông tư 1792 của Phủ Thủ tướng ban hành năm 1970 quy định tạm thời về đền bù nhà cửa, đất đai, cây lâu năm và hoa màu cho người dân ở vùng xây dựng kinh tế mới và mở rộng thành phố Nguyên tắc đền bù được nêu rõ là đảm bảo thỏa đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và người dân khi thực hiện dự án, đồng thời bảo vệ đời sống và sản xuất của cộng đồng địa phương Về đất đai, vùng đồng bằng được phân thành 4 loại và vùng trung du, miền núi 5 loại; mỗi loại có mức giá đền bù tối đa và tối thiểu được quy định rõ ràng Các quy định này nhằm điều chỉnh công tác đền bù và bảo đảm công bằng trong công tác giải phóng mặt bằng và mở rộng khu vực phát triển kinh tế mới.
2.2 Chính sách tài chính đất đai thời kỳ nước CHXHCN Việt Nam
Sau khi đất nước thống nhất và đi lên CNXH, phong trào cải tạo nông nghiệp ở miền Nam diễn ra theo hướng tập thể hóa tương tự như mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc Quá trình này tập trung cải tạo ruộng đất, hình thành các hợp tác xã để tổ chức sản xuất và phân phối nông sản, từ đó tăng năng suất và ổn định đời sống nông dân Mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc được áp dụng làm khuôn mẫu nhằm chuyển đổi cơ cấu đất đai và củng cố nền sản xuất tập thể trên toàn miền Nam Nhờ sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng thuận của người nông dân, phong trào cải tạo góp phần xây dựng nền nông nghiệp hiện đại hơn và thúc đẩy quá trình quá độ lên xã hội chủ nghĩa.
Miền Bắc Đến 1980, toàn Miền Nam đã xây dựng 1518 Hợp tác xã trong đó có
1005 Hợp tác xã bậc cao và 9350 Tập đoàn sản xuất nông nghiệp.
Trong giai đoạn từ năm 1976 đến 1980, nền nông nghiệp cả nước rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng Sản lượng lương thực trung bình trong 5 năm chỉ đạt 13,3 triệu tấn mỗi năm, và lương thực bình quân trên đầu người chỉ khoảng 259 kg/người.
- Năm 1976, Phủ Thủ tướng ban hành nghị định 185 CP về Điều lệ thuế nông nghiệp thi hành thống nhất ở các tỉnh phía nam
Ngày 09/11/1979, Chính phủ ban hành Nghị định 404CP về việc thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất trực thuộc Hội đồng Chính phủ, nhằm tạo ra một tổ chức độc lập thay mặt Nhà nước, quản lý toàn bộ đất đai trên toàn quốc và chấm dứt tình trạng phân tán trong quản lý đất đai Việc thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất tập trung quyền quản lý đất đai về một đầu mối, tăng cường tính thống nhất và hiệu quả trong công tác quản lý đất đai trên khắp đất nước.
- Năm 1980, Hiến pháp lần thứ 3 được ban hành đã xác định duy nhất một chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
Vào năm 1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị 100 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động trong hợp tác xã của Nhà nước Chính sách này đã tạo điều kiện cho người sử dụng đất gắn bó hơn với đất đai, từ đó tăng hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp.
Vào ngày 18/01/1984, Ban Bí thư Trung ương ban hành Chỉ thị 35 về khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, cho phép các gia đình nông dân tận dụng nguồn đất đai mà các hợp tác xã, nông - lâm trường chưa sử dụng hết để đưa vào sản xuất Chỉ thị nhấn mạnh vai trò của kinh tế hộ gia đình như một động lực phát triển kinh tế, đồng thời khẳng định Nhà nước không đánh thuế sản xuất kinh doanh đối với kinh tế hộ gia đình, chỉ áp dụng thuế sát sinh và thuế công thương nghiệp. -**Support Pollinations.AI:**🌸 **Quảng cáo** 🌸 Nhận ngay ý tưởng nội dung chuẩn SEO với Pollinations.AI miễn phí! [Ủng hộ dự án](https://pollinations.ai/redirect/kofi) để giúp AI tiếp cận tới mọi người.