Trước tình hình này, Bộ luật Hình sự BLHS năm 2015 được ban hành đã có những sửa đổi, bổ sung đối với nhóm tội phạm về ma túy so với quy định của BLHS năm 1999 nhưng thực tiễn xét xử cho
Trang 1VÕ THỊ NGỌC DIỄM
ĐỊNH TỘI DANH TỘI TỔ CHỨC
SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022
Trang 2ĐỊNH TỘI DANH TỘI TỔ CHỨC
SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy theo Luật hình sự Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học do
chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Phan Anh Tuấn Các nội
dung, thông tin được trình bày trong luận văn là chính xác và trung thực
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên của mình
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2022
Tác giả
Võ Thị Ngọc Diễm
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS : Bộ Luật Hình sự BLTTHS : Bộ Luật Tố tụng hình sự CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng HĐTP : Hội đồng Thẩm phán HSPT : Hình sự phúc thẩm HSST : Hình sự sơ thẩm TAND : Tòa án nhân dân TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TNHS : Trách nhiệm hình sự VKSND : Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM 7 1.1 Quy định của pháp luật hình sự liên quan đến định tội danh tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm 7 1.2 Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm 9 1.3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm 20 Kết luận Chương 1 23 CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU HÀNH VI PHẠM TỘI
VỀ MA TÚY 24 2.1 Quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy 24 2.2 Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy 26 2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy 36 Kết luận Chương 2 38 KẾT LUẬN 39 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Trong những năm qua, mặc dù công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy đã đạt được những thành tựu to lớn, nhưng nhìn chung tình hình tội phạm về ma túy ở nước ta vẫn đang diễn biến phức tạp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội ngày càng tăng Trước tình hình này, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 được ban hành
đã có những sửa đổi, bổ sung đối với nhóm tội phạm về ma túy so với quy định của BLHS năm 1999 nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, việc định tội danh đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) vẫn còn có nhiều
vướng mắc, hạn chế như sau:
Thứ nhất, quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy còn có một số hạn chế như chưa có văn bản hướng dẫn trong trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý, không những không ngăn cản việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà còn có hành vi cung cấp bộ dụng cụ để cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc còn có hành vi cung cấp chất ma túy để cho người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì trong trường hợp này sẽ bị xử lý hình sự về tội danh nào; trường hợp một người biết người khác đang
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã cùng người tổ chức sử dụng ma túy và có hành vi lấy chất ma túy của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đưa cho người khác sử dụng và/hoặc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc có hành
vi nhờ người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy rủ rê người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì có bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không; hoặc trong trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội
về ma túy, trong đó có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà các hành
vi này liên quan chặt chẽ với nhau thì xử lý hình sự về tội danh nào hoặc trường hợp một người vừa có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vừa có hành vi tàng
trữ chất trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng riêng cho bản thân…
Thứ hai, thực tiễn định tội danh đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy cho thấy do chưa có văn bản hướng đầy đủ như đã nêu trên nên trong một số trường hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa có sự thống nhất trong việc xác
Trang 7định tội danh đối với người có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Điều này có thể dẫn đến tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng đối với người có hành vi vi phạm, từ đó, có thể dẫn đến tình trạng kết án oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm và chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu
của công cuộc đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy
Xuất phát từ các vướng mắc, bất cập nêu trên cho nên việc nghiên cứu để khắc phục các hạn chế, vướng mắc; từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc định tội danh đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vấn đề mang tính cấp thiết Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn vấn đề:
“Định tội danh Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo luật hình sự Việt Nam” để làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Cao học luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Liên quan đến đề tài “Định tội danh Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy theo luật hình sự Việt Nam”, có các công trình nghiên cứu như sau:
1) Các giáo trình có thể kể đến như: PGS TS Lê Thị Sơn (2003); “Chương X:
Các tội phạm về ma túy” trong sách: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội
phạm) do GS TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội; TS
Phạm Văn Beo (2010), “Bài 10: Các tội phạm về ma túy”, trong sách: Luật hình sự
Việt Nam (Quyển 2, phần các tội phạm), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trường Đại
học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Tập 2, NXB Công an nhân dân; GS.TS Võ Khánh Vinh (2005), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần
các tội phạm), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; Trường Đại học Luật TP Hồ Chí
Minh (2021), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần Các tội phạm – Quyển 1), (Tái
bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức Các giáo trình này là tài
liệu tham khảo quan trọng cho tác giả nghiên cứu về lý luận cũng như quy định về
các dấu hiệu pháp lý của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
2) Các sách chuyên khảo, tham khảo: Trần Văn Luyện (1998), Trách nhiệm
hình sự đối với các tội phạm về ma túy, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Trần Văn
Luyện cùng tập thể tác giả (2001), “Chương XVIII: Các tội phạm về ma túy”, trong
sách Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999, Nxb Công an nhân dân,
Hà Nội; PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm, TS Trần Văn Luyện (2002), Hiểm họa ma túy
và cuộc chiến mới, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; ThS Đinh Văn Quế (2006), Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (Phần tội phạm, Tập IV: Các tội phạm về ma túy), Nxb thành phố Hồ Chí Minh; Vũ Hùng Vương (chủ biên) (2007), Phòng, chống
Trang 8ma túy - cuộc chiến cấp bách của toàn xã hội, Nxb Lao động, Hà Nội; PGS.TS
Nguyễn Thị Phương Hoa – TS Phan Anh Tuấn – Đồng chủ biên (2017), Bình luận
khoa học những điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), NXB
Hồng Đức; Trịnh Thị Vân (chủ biên) (2018), Công tác đấu tranh phòng, chống ma
túy theo yêu cầu của đạo luật mới về tư pháp, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,… Các
tài liệu này là tài liệu tham khảo để tác giả nghiên cứu các quan điểm khác nhau về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy để từ đó gợi ý các giải pháp để áp dụng
thống nhất quy định của pháp luật hình sự về tội danh này
3) Các đề tài khoa học, luận án Tiến sĩ luật học, luận văn Thạc sĩ luật học
như: Đề tài cấp Bộ (2002), Những giải pháp nâng cao chất lượng xét xử các vụ án
về ma túy - Cơ sở lý luận và thực tiễn, của Tòa án nhân dân tối cao do Thạc sĩ
Nguyễn Quang Lộc làm chủ nhiệm đề tài; Vũ Quang Vinh (2003), Hoạt động
phòng ngừa các tội phạm về ma túy của lực lượng cảnh sát nhân dân, Luận án Tiến
sĩ luật học, Học viện Cảnh sát nhân dân; Nguyễn Lương Hòa (2004), Đấu tranh
phòng chống các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ
luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Phạm Tiến Quang (2006), Đấu tranh phòng,
chống tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội; Huỳnh Cao Minh (2007), Đấu tranh phòng chống tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Tp Hồ Chí Minh trong thời gian từ năm
2000 đến nay, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh…
4) Các bài báo đăng trên các Tạp chí chuyên ngành như: Lê Đăng Doanh
(1999), “Về hành vi phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Luật học, Số 2,
tr.3-5;12; Trần Đức Thìn (2002), “Những dạng hành vi của tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy”, Nhà nước và Pháp luật, Số 10(174), tr.46-52; Phạm Duy Trường (2013), “Một số ý kiến về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Kiểm sát, Số
12, tr.39-42;48; Phạm Minh Tuyên (2015), “Bàn về hành vi tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”, Tòa án nhân dân, số
16, tr.33-36,43; Dương Văn Thịnh (2019), “Bàn về việc áp dụng tình tiết phạm tội 02
lần trở lên và đối với 02 người trở lên trong các tội phạm về ma túy”, Tạp chí Kiểm
sát, số 22 (tháng 11/2019), tr.52-55; Nguyễn An Bình (2019), “Vướng mắc, bất cập
khi áp dụng quy định về tội phạm ma túy trong BLHS năm 2015 và hướng hoàn
thiện”, Tạp chí Kiểm sát, số 11 (tháng 6/2019), tr.28-32; Nguyễn Minh Đức (2015),
“Những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật để giải
quyết các vụ án ma túy”, Tạp chí Kiểm sát, số 20 (tháng 10/2015), tr.7-11; Vũ Đức
Trang 9Thành (2015), “Những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn giải quyết một số vụ án ma túy
lớn ở tỉnh Quảng Ninh”, Tạp chí Kiểm sát, số 20 (tháng 10/2015), tr.28-33… Nội
dung của các bài viết này đã phân tích dấu hiệu định tội của các tội phạm về ma túy nói chung, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nói riêng, trên cơ sở đó, nêu ra
các hạn chế còn tồn tại và đưa ra kiến nghị hoàn thiện
Những công trình khoa học trên đây đều có phạm vi nghiên cứu rộng hoặc nghiên cứu chuyên sâu theo một vài góc độ, phương diện nhất định Trong đó, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chỉ là một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của các tác giả Về mặt lý luận và thực tiễn, các tác giả vẫn chưa đi sâu vào phân tích các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
và chưa làm rõ sự khác biệt cơ bản cũng như mức độ nguy hiểm của từng hành vi phạm tội cụ thể trong số các hành vi “chứa chấp”, hành vi “tổ chức” và hành vi
“tàng trữ” trái phép chất ma túy
Tóm lại, các công trình nghiên cứu về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay tương đối nhiều Riêng với công trình nghiên cứu này của tác giả, tác giả sẽ đi sâu vào nghiên cứu những vướng mắc, khó khăn trong việc định tội danh đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên cơ sở thực tiễn các vụ án hình sự mà Tòa án đã xét xử để trên cơ sở
đó, phân tích những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế, từ đó, đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về vấn đề này
Do nghiên cứu theo định hướng ứng dụng từ những vụ án điển hình trong thực tiễn xét xử để đưa ra kiến nghị hoàn thiện cho nên đây là định hướng nghiên cứu mới
trong Luận văn Thạc sĩ của tác giả
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
đối với tội phạm này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, Luận văn xác định các nhiệm vụ:
- Phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến việc định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm và
Trang 10các quy định liên quan đến việc định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 BLHS năm
2015 Trên cơ sở đó, phân tích, đánh giá những vướng mắc, bất cập còn tồn tại trên
thực tế và nêu ra nguyên nhân của những vướng mắc đó
- Đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam đối với
tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là quy định của Điều 255 BLHS năm
2015 về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thực tiễn áp dụng quy định
của BLHS năm 2015 về việc xác định tội danh đối với tội phạm này
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận văn
để phân tích các nội dung cần nghiên cứu và nhận thức một cách khái quát các nội dung nghiên cứu, khái quát kết quả nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp nghiên cứu án điển hình được sử dụng để phân tích các vấn đề thực tiễn khi định tội danh đối với các hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được áp dụng trong một số vụ án hình sự cụ thể
- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu các điểm tương đồng và khác biệt trong quá trình truy tố, xét xử giữa các bản án về việc xác định tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết luật học được sử dụng để hệ thống hóa, phân tích các công trình nghiên cứu đã được công bố trước đó
6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của Luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo luật hình sự Việt Nam; từ đó, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự có liên quan đến tội phạm này
Trang 11Mặc dù còn có nhiều hạn chế nhưng tác giả hi vọng Luận văn sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, những người làm thực tiễn
và những người có quan tâm về vấn đề định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Luật Hình sự Việt Nam
Trong hoạt động thực tiễn, Luận văn có thể góp phần vào việc nâng cao nhận thức của những người tiến hành tố tụng khi định tội danh đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Trong hoạt động lập pháp, nếu những kiến nghị nêu ra Luận văn được tham khảo trong hoạt động lập pháp thì tác giả hi vọng có thể góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về việc định tội danh đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 02 chương:
Chương 1 Định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong
trường hợp đồng phạm
Chương 2 Định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong
trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy
Trang 12CHƯƠNG 1 ĐỊNH TỘI DANH TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TRONG TRƯỜNG HỢP ĐỒNG PHẠM 1.1 Quy định của pháp luật hình sự liên quan đến định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm
Khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015 quy định: “Người nào tổ chức sử dụng
trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị…” cho thấy, tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành tội phạm hình thức, mặt khách quan chỉ quy định duy nhất dấu hiệu hành vi khách quan là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Khoản 1 Điều 17 BLHS năm 2015 quy định: “Đồng phạm là trường hợp có
hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Với tư cách là một trong các
hình thức của tội phạm, hành vi phạm tội trong trường hợp đồng phạm cũng phải thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tương tự như trong trường hợp phạm tội đơn lẻ Tuy nhiên, đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt nên cũng có các dấu hiệu riêng biệt nhất định so với phạm tội đơn lẻ Do đó, khi định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm ngoài yếu tố khách thể, đối tượng tác động như trường hợp phạm tội đơn lẻ thì cần xem xét, kiểm tra các dấu hiệu riêng biệt mang tính đặc thù của trường hợp đồng phạm sau đây:
Thứ nhất, dấu hiệu về số lượng người tham gia: Khi định tội danh tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người trở lên cùng tham gia vào việc thực hiện tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Những người này phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về chủ thể của tội phạm Theo đó, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có dấu hiệu chủ thể thường cho nên từ hai người trở lên này chỉ cần có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 và không rơi vào tình trạng không có năng lực TNHS theo quy định tại Điều 21 BLHS năm 2015.1
Thứ hai, dấu hiệu hành vi phạm tội: Các chủ thể của tội phạm trong trường
hợp đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy phải có hành vi “cùng
thực hiện một tội phạm” Điều này có nghĩa là các chủ thể của tội phạm phải có
hoạt động chung, hành vi của mỗi người đồng phạm phải được thực hiện trong sự
lực TNHS”
Trang 13liên kết, hỗ trợ, bổ sung, tạo điều kiện thuận lợi cho hành vi của người đồng phạm khác Hành vi của mỗi người đồng phạm là một khâu cần thiết cho hoạt động phạm tội chung và luôn có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau, làm cho hoạt động phạm tội chung hiệu quả hơn và nguy hiểm hơn
Trong quá trình thực hiện tội phạm, tùy từng trường hợp cụ thể mà người đồng phạm có thể thực hiện ít nhất một trong bốn loại hành vi phạm tội là trực tiếp thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm, tổ chức việc thực hiện tội phạm, xúi giục người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và giúp sức người khác tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy Điều này cũng có nghĩa là, trong vụ án đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, có thể có nhiều loại người đồng phạm khác nhau, gồm người
tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức.2 Trong đó, người thực hành là bắt buộc, luôn luôn phải có
Thứ ba, dấu hiệu lỗi: Những người đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy phải có sự “cố ý cùng thực hiện một tội phạm” Điều này có nghĩa
là khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không những nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, mà còn biết được mình đang hoạt động chung với người khác, đồng thời, mỗi người đồng phạm cũng nhận thức được hành vi của những người đồng phạm khác cũng nguy hiểm cho xã hội Đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, lỗi của những người đồng phạm phải là lỗi cố ý trực tiếp
Liên quan đến vấn đề định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm, pháp luật hình sự Việt Nam có các quy định như sau:
- Tiểu mục 6.1 mục 6 phần II Thông tư liên tịch số VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của BLHS năm 1999 hướng dẫn về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại Điều 255 BLHS năm 2015 như sau:3
17/2007/TTLT-BCA-“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây: a) Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác;
Trang 14
b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người
sử dụng chất ma túy
Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất…) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác); chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ”
- Mục 1 Phần I Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của TANDTC
về thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử hướng dẫn:
“Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không đồng nhất với khái niệm
“phạm tội có tổ chức” Theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự thì “Phạm tội
có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm” Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm Còn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được hiểu là thực hiện một trong các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện; cung cấp ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy Trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cũng có đồng phạm nhưng đồng phạm ở đây được hiểu là thực hiện theo sự chỉ huy, phân công điều hành (không có
sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, không bắt buộc phải
có sự phân công, chỉ đạo, điều hành chặt chẽ trong các đồng phạm)”
1.2 Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm
Như trên đã phân tích, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm phải có từ hai người trở lên cùng cố ý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Nếu người phạm tội không nhằm mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà nhằm mục đích khác như chứa chấp, lôi kéo hay tàng trữ trái phép
Trang 15chất ma túy thì sẽ bị xử lý hình sự về các tội phạm tương ứng như: tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy hay tội tàng trữ trái phép chất ma túy Tuy nhiên, thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm vẫn còn có những vướng mắc dẫn đến giảm hiệu quả đấu tranh phòng chống loại tội phạm này Các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm được thể hiện thông qua nội dung các bản án sau:
Thứ nhất, trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý, không những không ngăn cản việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà còn có hành vi cung cấp bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy để cho nhiều người sử dụng trái phép chất
ma túy
Vụ án thứ nhất: 4
Bản án hình sự sơ thẩm (HSST) số 111/2020/HS-ST ngày 17/7/2020 của Tòa
án nhân dân (TAND) thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Nội dung vụ án:
Trần Như Q là chủ cơ sở và quản lý kinh doanh quán karaoke Nice Vào tối ngày 01/01/2020, Trần Hữu T cùng với một số người tổ chức ăn liên hoan xong, cả nhóm rủ nhau đi hát Karaoke, thì Trần Hữu T bảo mọi người đến quán Karaoke Nice
và được bố trí phòng hát tại tầng 2 Karaoke Nice Khi vào phòng thấy có bàn đánh nhạc DJ thì Trần Hữu T nảy sinh ý định mua ma túy về cho mọi người sử dụng nên Trần Hữu T gọi điện thoại mua 10 viên ma túy loại MDMA với giá 350.000 đồng/1 viên và 5.000.000 đồng ma túy loại Ketamine Sau khi mua được ma túy, Trần Hữu T bảo Trần Như Q đổi nhạc mạnh, lấy cho 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa cứng, 01 ống hút để Trần Hữu T sử dụng ma túy trong phòng hát Trần Như Q đã lấy đưa cho Trần Hữu
T Lúc này, Trần Hữu T bẻ đôi các viên MDMA ra để vào đĩa, xong Trần Hữu T sử dụng 1/2 viên với nước lọc, rồi Trần Hữu T bảo mọi người trong phòng đến lấy ma túy sử dụng Sau đó, Trần Hữu T gọi điện thoại bảo Phạm Chí T2 đến quán đánh nhạc DJ cho mọi người nghe Khi Phạm Chí T2 vào phòng hát thì Trần Hữu T cũng mời và chỉ cho Phạm Chí T2 chỗ để chiếc đĩa sứ đựng ma túy để Phạm Chí T2 lấy sử dụng Khoảng 30 phút sau, Trần Hữu T thấy MDMA trong đĩa sứ đã hết nên Trần Hữu T đổ 2 túi ma túy Ketamine ra đĩa sứ rồi dùng thẻ nhựa cứng đánh mịn ra, dùng ống hút nhựa hít 02 lần, rồi tiếp tục mời mọi người trong phòng sử dụng
Trang 16
Đến khoảng 00 giờ 30, ngày 02/01/2020, Q thấy Công an đến kiểm tra nên thông báo cho mọi người biết và bảo mọi người có đồ gì thì vứt đi Nghe Q thông báo, Trần Hữu T cầm đĩa sứ còn một ít ma túy Ketamine và thẻ nhựa vào phòng vệ sinh rửa sạch và để ở trong đó, rồi ra ngoài thì Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện
có tất cả là 18 người (gồm: Trần Hữu T, Phạm Chí T2, C1, V, T1, TA, H, H4, Hoàng Văn P, Nguyễn Văn P, H1, H2, U, T3, Nguyễn Thị H3, T4, Đỗ Thị H3, T5) đang nghe, nhảy với nhạc có công suất lớn và có biểu hiện sử dụng trái phép chất
ma túy Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại nền nhà ngay gần cửa vệ sinh 02 mẫu viên nén màu hồng; thu ở dưới nền nhà ngay chân bàn 02 túi nilon kích thước (3x3) cm miệng túi viền màu xanh bên trong có dính chất tinh thể màu trắng, 1 đoạn ống hút nhựa màu trắng; thu ở dưới nền trong nhà vệ sinh: 1 đĩa sứ màu trắng, 1 thẻ nhựa cứng và 2 bình khí màu vàng; thu ở khe ghế trong phòng hát 1 túi nilon bên trong có thực vật khô thái nhỏ; thu ở trên ghế 2 quả bóng bay
Tại bản kết luận giám định số 23/GĐMT ngày 07/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: 02 mẫu viên nén màu hồng gửi giám định
là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng là 0,289g; chất tinh thể trong 02 túi nilon kích thước (3x3) cm là chất ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng là: 0,014 gam; thực vật khô thái nhỏ trong 01 túi nilon gửi giám định không phải là ma túy
Tại bản kết luận giám định số 24/GĐMT ngày 08/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Tìm thấy trong nước tiểu của C1; Trần Hữu T; V; T1; H; Hoàng Văn P; Phạm Chí T2; T3; Nguyễn Thị H3 có chất ma túy, sản phẩm chuyển hóa chất ma túy trong nước tiểu: MDMA, Dehydronorketamine Trần Hữu T tìm thấy MDMA, Ketamine; H4, Nguyễn Văn P tìm thấy MDMA; H1 tìm thấy MDMA, Ketamine; Đỗ Thị H3 tìm thấy Ketamine; T5 tìm thấy Dehydronorketamine (là sản phẩm chuyển hóa của Ketamine trong nước tiểu)
Quan điểm của các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) về việc xác định tội danh đối với hành vi của Trần Như Q:
- Tại bản cáo trạng số 94/CT-VKSCP ngày 1/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) thành phố Cẩm Phả truy tố Trần Hữu T về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS năm 2015; truy tố Trần Như Q về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm d khoản 2 Điều 256 BLHS năm 2015
- Tại bản án HSST số 111/2020/HS-ST ngày 17/7/2020, TAND thành phố Cẩm Phả áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm
Trang 172015 xử phạt Trần Hữu T 7 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 xử phạt Trần Như Q 7 năm tù về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
Trong vụ án này, Trần Hữu T sau khi thuê địa điểm hát Karaoke đã có hành
vi mua ma túy về rồi tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy loại Ketammine và MDMA Hành vi này của T có đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)
Trần Như Q là chủ quán, kiêm quản lý quán karaoke NICE Trần Như Q mặc
dù không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước với Trần Hữu T nhưng khi biết Trần Hữu T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nơi Trần Như Q có trách nhiệm quản
lý, Trần Như Q không sử dụng ma túy, không có hành vi ngăn cản, vẫn cho thuê địa điểm và còn có hành vi cung cấp dụng cụ là đĩa sứ, thẻ nhựa, ống hút để Trần Hữu T
tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy Theo quan điểm của tác giả, hành vi này của Trần Như Q là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vì Q đã giúp sức cho Trần Hữu T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Cụ thể, theo hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 6.1, mục 6 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-
BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP thì Trần Như Q đã có hành vi: “Người nào thực
hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy:… chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác…” Hành vi Q cung cấp đĩa sứ, thẻ nhựa và ống hút bằng nhựa để T
tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi của người đồng phạm trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Thế nhưng, trong vụ án này, Trần Hữu T bị xử lý về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy còn Trần Như Q thì lại bị xử lý về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Theo tác giả, Trần Như Q bị xử lý hình sự về tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS năm 2015) như kết luận của VKSND và TAND thành phố Cẩm Phả là chưa chính xác, chưa phù hợp với lý luận và hướng dẫn về định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm
Từ vụ án này cho thấy vướng mắc được đặt ra là cần có văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm
Trang 18quản lý, không những không ngăn cản việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
mà còn có hành vi cung cấp bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy để cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy thì có bị xử lý hình sự với vai trò đồng phạm
về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không
Thứ hai, trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý, không những không ngăn cản việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà còn có hành vi cung cấp chất ma túy để cho người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; hoặc trường hợp một người lấy chất ma túy của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đưa cho người khác sử dụng và/hoặc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm đưa chất ma túy cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ xác định tội danh như thế nào
Vụ án thứ hai:5
Bản án hình sự phúc thẩm (HSPT) số 157/2019/HS-PT ngày 08/7/2019 của TAND tỉnh Thanh Hóa
Sau đó, Nguyễn Trọng D xuống phòng lễ tân gặp M nói “Hôm nay, sinh nhật bạn em, bọn em muốn sử dụng MDMA cho vui, anh lấy giúp em 25 viên, khi nào hát xong em thanh toán tiền luôn”, M đồng ý Sau đó, Nguyễn Trọng D lên phòng hát rồi gọi điện thoại rủ Lê Đình Q đến hát và sử dụng MDMA, khoảng mấy phút sau thì Q đến Sau đó, M gọi điện cho Nguyễn Trọng D xuống phòng lễ tân nói
“mới lấy được 15 viên thôi”, Nguyễn Trọng D cầm số thuốc lắc M mang lên phòng hát rồi đưa cho mọi người để cùng sử dụng; số còn lại Nguyễn Trọng D để trên bàn trong phòng hát Một lúc sau, Q lấy 3 viên MDMA trên bàn đưa cho H, H và Th mỗi người một viên và bảo họ sử dụng cho vui Do phòng 202 hẹp mà đông người đến hát nên Nguyễn Trọng D bảo Lê Trọng M cho đổi phòng khác rộng hơn
Trang 19
M đồng ý, bảo Nguyễn Trọng D và những người khác chuyển xuống phòng hát Vip 1 ở tầng 1 để hát Sau khi mọi người xuống phòng hát tầng 1, M lên dọn dẹp phòng 202 thì thấy trên bàn có 04 viên MDMA nên M mang xuống phòng lễ tân Một lúc sau, Việt A đến quán karaoke gặp Nguyễn Trọng D tại phòng lễ tân, lúc này Nguyễn Trọng D nói với M đưa cho 01 viên MDMA, M lấy đưa cho Nguyễn Trọng
D một viên MDMA; rồi Nguyễn Trọng D cầm viên MDMA đó đưa cho Việt A để sử dụng, sau đó Nguyễn Trọng D và Việt A đi vào phòng Vip 1 để hát cùng mọi người
Lúc này, Q muốn sử dụng thêm nên hỏi Nguyễn Trọng D “thuốc lắc để đâu
để chơi tiếp?”; Nguyễn Trọng D bảo Q ra hỏi M Sau đó, Q đến phòng lễ tân gặp
M để lấy số MDMA còn lại, M đã đưa 03 viên MDMA cho Q Q cầm số MDMA trên đi vào phòng hát lấy ra 01 viên, bẻ làm đôi sử dụng nửa viên, còn nửa viên đưa cho Th sử dụng nhưng Th không sử dụng nên Q sử dụng luôn, hai viên còn lại
Q cất vào túi quần nếu có ai cần đưa sử dụng tiếp Đến 23 giờ 30 cùng ngày, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thanh Hoá kiểm tra phòng hát Vip 1 quán Karaoke Ngọc Ly phát hiện Nguyễn Trọng D,
Lê Đình Q và nhiều người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa hai viên nén màu xanh do Q
tự giác giao nộp
Qua xét nghiêm nước tiểu các đối tượng: Nguyễn Trọng D, Việt A, Lê Đình Q và các đối tượng khá cùng sử dụng trái phép chất ma túy là T, T1, Đào Tiến D, Kh, Đào Thị
H, Ch, Hà Thị H, Tr, Vi Thị H và Lê A Thư tất cả đều dương tính với MDMA
Tại bản giám định số 3382/C54 ngày 29/6/2018 của Viện khoa học hình sự - Tổng cục cảnh sát kết luận: Mẫu viên nén màu xanh gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,773 gam, loại MDMA
Quan điểm của các CQTHTT về việc xác định tội danh đối với hành vi của Nguyễn Trọng D, Lê Trọng M và Lê Đình Q:
- Tại bản án HSST số 68/2018/HS-ST ngày 7/3/2019, TAND thành phố Thanh Hóa căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; khoản 2 Điều 51 (áp dụng thêm đối với bị cáo M); điểm t khoản
1 Điều 51 BLHS năm 2015 (áp dụng thêm đối với bị cáo Q) xử phạt Nguyễn Trọng
D 8 năm tù, Lê Trọng M 7 năm 9 tháng tù, Lê Đình Q 7 năm 6 tháng tù cùng về tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Sau đó, Lê Trọng M và Nguyễn Trọng D có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt
Trang 20- Tại Bản án HSPT số 157/2019/HS-PT ngày 08/7/2019, TAND tỉnh Thanh Hóa áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS năm 2015, chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Trọng D và xử phạt Nguyễn Trọng D 7 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của
Lê Trọng M, xử phạt Lê Trọng M 7 năm 9 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
- Đối với hành vi của Lê Trọng M: Trong vụ án này, bị cáo Lê Trọng M (là
nhân viên lễ tân quản lý quán) mặc dù không có sự bàn bạc, thống nhất từ trước nhưng khi biết Nguyễn Trọng D thuê địa điểm nơi M có trách nhiệm quản lý để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, M không sử dụng ma túy, không có hành vi ngăn cản, vẫn cho thuê địa điểm Ngoài ra, M còn có hành vi cung cấp chất ma túy
để Nguyễn Trọng D tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy tại quán thuộc quyền quản lý của mình Hành vi này của M đã giúp sức cho Nguyễn Trọng
D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Do đó, trong vụ án này, M vừa có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy vừa có hành vi cung cấp chất ma túy cho Nguyễn Trọng D nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác Do đó, căn cứ vào điểm b tiểu lục 6.1 mục 6 phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, M đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Tòa án cấp sơ thẩm và tòa án cấp phúc thẩm xử phạt M về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) là phù hợp
- Đối với hành vi của Lê Đình Q: Q được Nguyễn Trọng D rủ đến sử dụng ma
túy Khi đến nơi, Q ngoài việc sử dụng ma túy còn lấy ma túy của Nguyễn Trọng D đưa cho mọi người cùng sử dụng ma túy thông qua hành vi Q lấy 3 viên MDMA đưa cho H, H và Th mỗi người 1 viên và bảo họ sử dụng cho vui và H, H, Th đã sử dụng
ma túy Ngoài ra, Q còn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để đưa cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy Cụ thể, khi M đã đưa 03 viên MDMA cho Q, Q cầm số MDMA trên đi vào phòng hát lấy ra 01 viên, bẻ làm đôi sử dụng nửa viên, còn nửa viên đưa cho Th sử dụng nhưng Th không sử dụng nên Q sử dụng luôn, hai viên còn lại (loại MDMA, có trọng lượng 0,773 gam) Q cất vào túi quần để nếu có ai cần thì đưa để họ sử dụng tiếp Do đó, Q đã có hành vi cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác sử dụng và cất giấu trái phép chất ma túy để cho người khác sử dụng
Trang 21nên đây là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm với Nguyễn Trọng D theo hướng dẫn tại điểm b tiểu lục 6.1 mục 6 phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP
Như vậy, Q mặc dù không có sự bàn bạc trước với Nguyễn Trọng D, khi đến nơi biết Nguyễn Trọng D đang tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy, không có hành vi ngăn cản mà còn sử dụng ma túy mà còn có hành vi đưa và cất giấu trái phép chất ma túy cho những người khác cùng sử dụng Tác giả cho rằng hành vi này của Q đã giúp sức cho Nguyễn Trọng D nên bị Tòa án xử lý hình
sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) là phù hợp với quy định của pháp luật
Từ vụ án này cho thấy vướng mắc được đặt ra là cần có văn bản hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp: (1) Một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý, không những không ngăn cản việc tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy mà còn có hành vi cung cấp chất ma túy để cho người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; (2) Trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã có hành vi lấy chất ma túy của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đưa cho người khác sử dụng và/hoặc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm đưa chất ma túy cho người khác sử dụng thì sẽ xác định tội danh như thế nào
Thứ ba, trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng ma túy
đã cùng sử dụng ma túy và có hành vi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của người khác đưa cho người tổ chức sử dụng ma túy và/hoặc nhờ người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy rủ rê người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì có bị coi
là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không
Trang 22Tại đây, A và M gặp B và N, N là bạn trai của B đang nằm trên giường A lấy túi
ma túy đá ra cho B xem và hỏi B: “Có bộ dụng cụ sử dụng ma túy không”, B trả lời
có “ở dưới gầm giường” và đi xuống dưới nhà N lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra
để dưới nền nhà A rủ M, B và N cùng sử dụng ma túy, tất cả đều đồng ý A lấy túi
ma túy ra sẻ ma túy vào bộ dụng cụ rồi dùng bật lửa ga châm lửa đốt cho khói bay lên A hút trước rồi châm lửa cầm bộ dụng cụ cho B, N và M hút ma túy vào cơ thể, sau đó mỗi người tự châm lửa hút Khi mọi người đang sử dụng ma túy, N nói với
A có O là bạn cùng đi bộ đội với A và O đang ở thị trấn D, gọi O đến sử dụng ma túy A đồng ý A sẻ một nửa số ma túy đang sử dụng cất đi đồng thời gọi điện cho
O đến nhà B cùng sử dụng ma túy O đồng ý
Khoảng 15 giờ 30 cùng ngày, N đi bộ ra khu vực Ngân hàng Agribank chi nhánh D đón O đến nhà B để sử dụng ma túy A lấy gói ma túy ra cho vào bộ dụng
cụ sử dụng ma túy châm lửa hút trước và châm lửa cầm bộ dụng cụ cho O, N, B và
M cùng sử dụng, sau đó mọi người tự hút Đến khoảng 16 giờ cùng ngày khi mọi người đang sử dụng ma túy thì bị Công an huyện Cát Hải bắt quả tang
Xét nghiệm mẫu nước tiểu của A, M, B, N và O đều dương tính với chất Methamphetamine Kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy tất cả các đối tượng
có tên trên đều không phải là người nghiện ma túy
Quan điểm của các CQTHTT và người tham gia tố tụng về việc xác định tội danh đối với hành vi của A và B:
- Tại bản án HSST số 15/2017/HSST ngày 28/7/2017, TAND huyện Cát Hải
áp dụng điểm b khoản 2 Điều 197, điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46, Điều
20, Điều 53 (B được áp dụng thêm Điều 47) BLHS năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017; khoản 3 Điều 7, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm
2015 xử phạt A 7 năm tù, xử phạt B 6 năm 6 tháng tù cùng về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.7
- Ngày 2/8/2017, A và B làm đơn kháng cáo với nội dung các bị cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là không đúng Bị cáo B cho rằng mình chỉ phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo A cho rằng mình chỉ phạm tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
- Quan điểm của luật sư bào chữa cho các bị cáo A và B cho rằng: Hành vi của A, B không có sự bàn bạc, phân công, chuẩn bị ma túy với mục đích đưa trái
Trang 23phép chất ma túy vào cơ thể của người khác A không chỉ huy, phân công, điều hành đối với B về việc chuẩn bị địa điểm, công cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy A chỉ là người rủ rê, lôi kéo M, B, N và O sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của A phạm vào tội “Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất
ma túy” Hành vi của B là người cho mượn địa điểm để A, M, N và O sử dụng ma túy, do đó B phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”
- Tại bản án HSPT số 69/2019/HS-PT ngày 25/9/2017, TAND thành phố Hải Phòng không chấp nhận kháng cáo của bị cáo A; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo B Tuyên bố các bị cáo A, B phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 197; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 20, Điều 53; Điều 33; Điều 47 BLHS năm 1999 xử phạt B 6 năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
- Đối với A: Trong vụ án này, có đủ căn cứ xác định A là người chủ mưu, đã
chuẩn bị ma túy, rủ rê và cung cấp chất ma túy cho B, M, N, O sử dụng Do đó, tòa
án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm kết luận A phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy là đúng với quy định của pháp luật
- Đối với hành vi của B: Khi biết A muốn tổ chức cho những người khác sử
dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình, B đã đồng ý Đồng thời, khi biết A đến nhà
B có mang theo chất ma túy để sử dụng nên khi A hỏi bộ dụng cụ để sử dụng ma túy thì B đã chỉ chỗ cất giấu bộ dụng cụ ở nhà B, sau đó A bỏ ma túy vào bộ dụng
cụ cùng mọi người sử dụng ma túy Hành vi này của B đã giúp sức cho A trong việc cung cấp địa điểm, cung cấp dụng cụ để cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của mình Do đó, B đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy nên đây là hành vi đồng phạm với A về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo hướng dẫn tại điểm b tiểu lục 6.1 mục 6 phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP Do đó, B bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều
255 BLHS năm 2015) là đúng với quy định của pháp luật
Có thể thấy, hành vi của B trong vụ án thứ ba này tương tự với hành vi của Trần Như Q trong vụ án thứ nhất Theo đó, cả B và Q đều có hành vi cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm thuộc quyền quản lý của mình và còn có hành vi cung cấp bộ dụng cụ cho những người này sử dụng trái phép chất ma túy Tuy nhiên, trong vụ án thứ nhất, Trần Như Q bị xử lý về tội chứa chấp việc sử
Trang 24dụng trái phép chất ma túy còn trong vụ án thứ ba, B lại bị xử lý về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Điều này cho thấy có sự không thống nhất giữa các CQTHTT trong việc xác định tội danh đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
- Đối với hành vi của N: N biết A có mang theo chất ma túy đến nhà B để sử
dụng, khi A hỏi B bộ dụng cụ để sử dụng ma túy thì B nói chỗ cất giấu bộ dụng cụ
và chính N là người đã lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra đưa cho A để A bỏ chất
ma túy vào bộ dụng cụ để cùng mọi người sử dụng ma túy Hơn nữa, lúc đang sử dụng ma túy, N nói A gọi O đến để cùng sử dụng ma túy, A đồng ý Sau khi A gọi
O thì N đã đi đón O đến nhà B để cùng sử dụng trái phép chất ma túy Các hành vi này của N đã giúp sức cho A tổ chức cho nhiều người sử dụng ma túy tại nhà B Hành vi này của N chính là hành vi chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy theo sự chỉ huy, điều hành của A và hành vi tìm người
sử dụng chất ma túy theo hướng dẫn tại điểm b tiểu lục 6.1 mục 6 phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP Các hành vi này có dấu hiệu của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng N không bị xử lý hình sự với vai trò đồng phạm với A và B là bỏ lọt tội phạm
So sánh với vụ thứ hai có thể thấy, trong vụ án thứ ba này bị cáo N có hành
vi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của B đưa cho A để A bỏ ma túy vào để tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy, rồi N nhờ A rủ O đến sử dụng ma túy, sau đó N đi đón O đến nhà B để cùng A tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà B thì không bị xử lý hình sự, còn hành vi Lê Đình Q trong vụ án thứ hai nêu trên thì Lê Đình Q có hành vi lấy ma túy của Nguyễn Trọng D mời mọi người sử dụng và cất giấu ma túy của Nguyễn Trọng D vào trong túi quần, để sẵn để ai có nhu cầu dùng thì lấy thì lại bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò là đồng phạm với Nguyễn Trọng D
Từ sự khác nhau trong việc xác định tội danh trong các vụ án nêu trên, vấn đề vướng mắc được đặt ra là cần phải có văn bản hướng dẫn thống nhất định tội danh trong trường hợp một người biết người khác đang sử dụng ma túy tuy không cung cấp chất ma túy, không cung cấp địa điểm nhưng đã cùng sử dụng ma túy và có hành vi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của người khác đưa cho người tổ chức sử dụng ma túy hoặc/và nhờ người tổ chức sử dụng ma túy rủ rê người khác cùng sử dụng ma túy thì trong trường hợp nào sẽ bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò là người đồng phạm
Trang 251.3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm
Từ các bản án nêu tại Mục 1.2 của Luận văn cho thấy một số vướng mắc trong thực tiễn khi định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm Cụ thể:
Thứ nhất, trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý, không những không ngăn cản việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà còn có hành vi cung cấp bộ dụng cụ để cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc còn có hành vi cung cấp chất ma túy để cho người khác tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì trong trường hợp nào bị xử lý hình sự về tội chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy (Điều
256 BLHS năm 2015) và trong trường hợp nào thì bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò đồng phạm
Thứ hai, trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy đã cùng người tổ chức sử dụng ma túy và có hành vi lấy chất ma túy của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đưa cho người khác sử dụng và/hoặc có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm đưa chất ma túy cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy thì sẽ xác định tội danh như thế nào
Thứ ba, trường hợp một người biết người khác đang sử dụng ma túy đã cùng
sử dụng ma túy và có hành vi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của người khác đưa cho người tổ chức sử dụng ma túy và/hoặc nhờ người tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy rủ rê người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì có bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hay không
Nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên xuất phát từ các lý do sau đây: Cấu thành tội phạm cơ bản của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy,8 cụ thể là
khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015 chỉ quy định: “Người nào tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị…” mà không mô tả cụ thể về
hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Đồng thời, TTLT số BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP và Công văn số 89/TANDTC-PC chưa có hướng dẫn về các vướng mắc này
phép phân biệt tội phạm này với tội phạm khác
Xem: Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Phần Chung (Tái bản lần thứ nhất, có sửa đổi, bổ sung), NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.98
Trang 26Trên cơ sở các vướng mắc và nguyên nhân của các vướng mắc nêu trên, để việc định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm được chính xác và thống nhất, tác giả kiến nghị TANDTC cần ban hành Nghị quyết để hướng dẫn các vướng mắc nêu trên với các nội dung như sau:
Thứ nhất, hướng dẫn: “Trường hợp một người biết người khác đang tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý đã cung cấp bộ dụng cụ hoặc cung cấp chất ma túy cho người đó để họ tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì không xử lý hình sự tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất
ma túy mà xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò là người đồng phạm”
Cơ sở của kiến nghị trên xuất phát từ lý do: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được nhà làm luật quy định trong một tội danh cụ thể (Điều 255 BLHS năm 2015), do đó các trường hợp tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như cung cấp bộ dụng cụ hoặc cung cấp chất ma túy cho người khác để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy lúc này trở thành hành vi giúp sức cho hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Trong trường trường hợp có
sự cạnh tranh giữa tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 256 BLHS năm 2015) và tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) thì việc định tội danh theo tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy – là tội phạm thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hơn so với tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy Hơn nữa, ngay trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy tại khoản 1 Điều
256 BLHS năm 2015 đã quy định loại trừ trường hợp một người vừa có hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy vừa có hành vi tổ chức sử dụng trái
phép chất ma túy với quy định: “Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có
bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì…”
Thứ hai, hướng dẫn: “Trường hợp mặc dù không có sự chỉ huy, phân công, điều hành từ trước nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, khi biết người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy nên cùng tham gia sử dụng ma túy và có những hành vi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của người khác để đưa cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hoặc lấy chất ma túy của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đưa cho người khác sử dụng thì bị xử lý hình sự
về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò
là người đồng phạm”
Trang 27Cơ sở của kiến nghị nêu trên đó là các trường hợp tạo điều kiện thuận lợi cho
việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như có những hành vi lấy bộ dụng cụ sử
dụng ma túy của người khác đưa cho người tổ chức hoặc lấy chất ma túy của người
tổ chức đưa cho người khác sử dụng lúc này trở thành hành vi giúp sức cho hành vi
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Do đó, dù mục đích của người phạm tội chỉ
để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nhưng phải xử lý về tội tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm thì mới phản ánh đúng bản chất của hành vi phạm tội
Thứ ba, hướng dẫn: “Trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã cùng người tổ chức sử dụng ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm đưa chất ma túy đó cho người khác sử dụng ngay khi họ có nhu cầu thì bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò là người đồng phạm mà không xử lý về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (trong trường hợp có đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 BLHS năm 2015)”
Các kiến nghị này của tác giả đã giải quyết được các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm như đã phân tích tại Mục 1.2 của Luận văn, bổ sung thêm trường hợp xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm
mà TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP và Công văn số 89/TANDTC-PC chưa hướng dẫn nhưng vẫn đảm bảo lý luận về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Trang 28Kết luận Chương 1
Trong Chương 1 của Luận văn, tác giả đã phân tích được quy định của pháp luật hình sự Việt Nam liên quan đến vấn đề định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm và một số vướng mắc trong thực tiễn Việc phân tích này cho phép chúng ta nhận thức rõ và đầy đủ hơn về tính nguy hiểm cũng như hành vi của những người đồng phạm trong việc định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra nguyên nhân của các vướng mắc, hạn chế và kiến nghị TANDTC cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp đồng phạm với các nội dung như sau:
- Trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy tại địa điểm do mình có trách nhiệm quản lý đã cung cấp bộ dụng cụ hoặc cung cấp chất ma túy cho người khác để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì phải xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò là người đồng phạm
- Trường hợp mặc dù không có sự chỉ huy, phân công, điều hành từ trước nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, khi biết người khác đang sử dụng trái phép chất ma túy nên cùng tham gia sử dụng ma túy và có những hành vi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của người khác để đưa cho người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy hoặc lấy chất ma túy của người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đưa cho người khác sử dụng thì bị xử lý hình sự về tội
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò là người đồng phạm
- Trường hợp một người biết người khác đang tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy đã cùng người tổ chức sử dụng ma túy và có hành vi tàng trữ trái phép chất
ma túy nhằm đưa chất ma túy đó cho người khác sử dụng ngay khi họ có nhu cầu thì bị xử lý hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) với vai trò là người đồng phạm
Trang 29CHƯƠNG 2 ĐỊNH TỘI DANH TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ NHIỀU HÀNH VI PHẠM TỘI VỀ MA TÚY 2.1 Quy định của pháp luật hình sự về định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015 Theo quy định tại Điều 255 BLHS, tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi chỉ huy, phân công, điều hành việc sử dụng trái phép chất ma túy.9
Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cũng tương tự như một số hành vi tổ chức phạm tội trong các tội danh như: Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183 BLHS năm 2015), tội tổ chức đánh bạc (Điều 322 BLHS năm 2015), tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước người hoặc ở lại nước ngoài trái phép (Điều
349 BLHS năm 2015) …
Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là tội phạm có cấu thành hình thức,
mặt khách quan chỉ quy định duy nhất một hành vi khách quan là “hành vi tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy” Do cấu thành tội phạm cơ bản của tội tổ chức sử
dụng trái phép chất ma túy (khoản 1 Điều 255 BLHS năm 2015) là loại quy định giản đơn,10 không mô tả dấu hiệu hành vi khách quan của tội phạm này cho nên, hiện nay hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được xác định theo hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 mục 6 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP như sau:
“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây: a) Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác
b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người
sử dụng chất ma túy
Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất
ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy
(Tái bản lần thứ nhất, có sửa chữa, bổ sung), NXB Hồng Đức, tr.489
Xem: Trường Đại học Luật TP.HCM (2019), tlđd (8), tr.54
Trang 30dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất…) nhằm đưa trái phép chất
ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác); chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ
Liên quan đến việc định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, pháp luật hình sự Việt Nam
có các hướng dẫn như sau:
- Tiểu mục 6.2 mục 6 Phần II TTLT số TANDTC-BTP hướng dẫn: Khi truy cứu TNHS đối với người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cần phân biệt:
17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-+ Người nghiện ma túy có chất ma túy (không phân biệt nguồn gốc ma túy do đâu mà có) cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép thì không bị truy cứu TNHS về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà tùy từng trường hợp có thể bị truy cứu TNHS về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
+ Người nào thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mà còn
thực hiện một hay nhiều hành vi phạm tội khác về ma túy quy định tại các điều luật tương ứng của BLHS, thì ngoài việc bị truy cứu TNHS về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tùy từng trường hợp còn có thể bị truy cứu TNHS về tội phạm khác đã thực hiện quy định tại các điều luật tương ứng của BLHS
- Điểm d mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS hướng
dẫn: “Người nào nghiện ma tuý có chất ma tuý hoặc bỏ tiền mua chất ma tuý cho
những người nghiện ma tuý khác cùng sử dụng và bị bắt giữ nếu trọng lượng chất ma tuý đến mức phải chịu TNHS về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý, thì người đó phải chịu TNHS về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý”
- Tiểu mục 16.2 mục 16 Phần I Công văn số 5442/VKSTC-V14 ngày 30/11/2020 của VKSNDTC về việc giải đáp một số khó khăn, vướng mắc liên quan
đến quy định của BLHS, BLTTHS năm 2015 và thi hành án hình sự hướng dẫn: “…
Người nghiện ma tuý có hành vi cung cấp chất ma tuý cho người nghiện ma tuý khác sử dụng tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình thì
có thể bị truy cứu TNHS về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
Trang 31- Mục 7 Phần I Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 2/8/2021 của TANDTC
về việc giải đáp một số vướng mắc trong xét xử hướng dẫn: “A là người đi mua ma
tuý về (B không biết A mua ma tuý) Sau đó A và B đến nhà C chơi Khi đến nhà C,
A mới bỏ ma tuý ra và bảo “ai chơi thì chơi” Lúc này cả 03 người cùng sử dụng
ma tuý, sau đó D đến nhà C và thấy ma tuý trên bàn nên đã tự lấy sử dụng A, B, C,
D đều là người nghiện ma tuý Vậy A có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý hay không… Trong trường hợp này, A là người cung cấp ma tuý cho B, C, D để họ thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma tuý…
Do đó, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 255 BLHS năm 2015”
Như vậy, có thể thấy, liên quan đến việc xác định người nghiện ma túy có chất ma túy cho người nghiện ma túy khác chất ma túy để cùng sử dụng trái phép có
bị truy cứu TNHS về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) hay không hiện nay vẫn còn chưa có sự thống nhất giữa các văn bản hướng dẫn Tuy nhiên, theo tác giả, các văn bản đơn ngành của TANDTC và VKSNDTC chỉ là các văn bản giải đáp vướng mắc mang tính chất nội bộ Ngành
Do vậy, tác giả cho rằng trong trường hợp này cần áp dụng tinh thần hướng dẫn tại tiểu mục 6.2 mục 6 Phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP và điểm d mục 2 Phần II Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP
2.2 Một số vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy
Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chỉ là một trong các loại hành vi phạm tội về ma túy và hành vi này có liên quan chặt chẽ với các loại hành vi phạm tội khác về ma túy như hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy Do đó, trong trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội về ma túy khác nhau, trong đó có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì việc định tội danh trong các trường hợp này còn có nhiều vướng mắc Các vướng mắc trong thực tiễn định tội danh tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội về ma túy được thể hiện thông qua nội dung các bản án sau:
Thứ nhất, trong trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội về ma túy,
trong đó có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà các hành vi này liên quan chặt chẽ với nhau cho thấy việc xác định tội danh giữa các CQTHTT vẫn chưa
có sự thống nhất
Trang 32Khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, Thuận nói Lộc lấy khách sạn để sử dụng
ma túy và nghỉ ngơi thì Lộc đồng ý Lộc nói Ngân và Mến ở lại quán dọn dẹp xong thì ra khách sạn sử dụng ma túy Mến, Ngân đồng ý và nói “Lát sau ra” Sau đó, Lộc chở Thuận đến thuê phòng 302 khách sạn King Hotel, Lộc hỏi chị Trần Thị Thân (nhân viên khách sạn) mượn loa nghe nhạc, rồi Lộc điện thoại rủ Trần Thị Ngân, Nguyễn Trung Thuyên; Thuyên rủ thêm bạn gái Lê Thị Mộng Thu; Mến điện thoại rủ thêm Lê Thị Bảo Quỳnh đến phòng 302 khách sạn King Hotel để chơi Khi vào phòng, Lộc hỏi Thuận “hàng đâu”, Thuận lấy hộp kẹo Xylitol bên trong chứa
ma túy, Thuận lấy một phần viên thuốc lắc màu nâu gói vào tờ giấy bạc cho vào trong bao thuốc lá hiệu Manboro để Thuận sử dụng, số còn lại Thuận quăng lên nệm cho Lộc, Mến, Ngân, Trần Thị Ngân và Quỳnh sử dụng, còn 02 gói cần sa Thuận để gần bộ loa nghe nhạc Sau đó, Thuận nằm lên nệm và để bao thuốc lá Manboro chứa thuốc lắc dưới nền nhà phía trên đầu Thuận rồi nằm ngủ, Lộc lấy ma túy ra cho bản thân và những người còn lại cùng sử dụng
Lúc 08 giờ 30 phút cùng ngày Lộc, Ngân, Mến, Thuyên, Thu, Quỳnh và Trần Thị Ngân đang ở trong phòng 302 sử dụng ma túy thì Công an thành phố Tuy Hòa kiểm tra phát hiện trên nệm có 01 gói nilon chứa các hạt viên nén màu xanh; 01 phần viên nén màu nâu gói trong giấy bạc để trong hộp thuốc lá Marlboro, 02 gói nilon trong suốt hàn kín hai đầu bên trong có chứa thực vật khô được cắt nhỏ để trong hộp kẹo Xilytol, 01 bì nilon bên trong chứa nhiều chất bột dạng viên nén màu vàng bị vỡ nhỏ, 01 viên nén màu hồng; 01 đèn hình bán cầu phía trên màu trắng, đế nhựa màu đen, 01 tờ giấy bạc; kết quả thử test nhanh bằng que thử xác định Lộc, Mến, Thuyên, Thu, Quỳnh và Ngân dương tính với Methamphetamine
Trang 33
Kết luận giám định số 288/GĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận số mẫu vật thu giữ của Lưu Ngọc Thuận gồm 0,378 gam Methamphetamine; 2,621 gam cần sa; 0,198 gam Ketamine
Quan điểm của các CQTHTT về việc xác định tội danh trong vụ án này:
- Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 24/5/2019, VKSND thành phố Tuy Hòa truy tố bị cáo Lưu Ngọc Thuận về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c, i khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015
- Tại bản án HSST số 36/2019/HS-ST ngày 16/7/2019, TAND thành phố Tuy Hòa áp dụng điểm c, i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 BLHS năm 2015 xử phạt Lưu Ngọc Thuận 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 03 năm
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
- Đối với hành vi của Lưu Ngọc Thuận: Trong vụ án này, Lưu Ngọc Thuận
có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, trong đó có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Cụ thể:
+ Thuận có hành vi được một thanh niên cho một bịch ma túy nên Thuận mang theo người để sử dụng Số ma túy này sau khi đã sử dụng còn lại là 0,378 gam Methamphetamine; 2,621 gam cần sa; 0,198 gam Ketamine Đồng thời, Thuận cũng
có hành vi lấy một phần ma túy gói vào tờ bạc để trong hộp thuốc lá Marlboro để sử dụng cho cá nhân có khối lượng 0,306 gam Methamphetamine Các hành vi này của Thuận có dấu hiệu của tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015)
+ Thuận lấy ra trong túi xách một hộp kẹo Xilytol bên trong có ma túy giơ lên cho Lộc xem thì Lộc, Ngân, Mến đều nhìn thấy Hành vi này của Thuận có tính chất khêu gợi sự ham muốn của Lộc, Ngân, Mến để họ sử dụng trái phép chất ma túy là có dấu hiệu của tội Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều
258 BLHS năm 2015)
+ Thuận nói Lộc lấy khách sạn để sử dụng ma túy và nghỉ ngơi Sau đó, Lộc
và Thuận đến thuê phòng 302 khách sạn King Hotel để cho những người khác cùng đến để sử dụng trái phép chất ma túy Đây là hành vi chuẩn bị địa điểm dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy Thuận muốn cho những người khác cùng sử dụng ma túy tại khách sạn với mình Hành vi này của Thuận có dấu hiệu của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)
+ Sau khi thuê được phòng và vào trong phòng, Thuận lấy hộp kẹo Xylitol bên trong chứa ma túy rồi quăng xuống nệm cho Lộc, Mến, Ngân, Trần Thị Ngân
Trang 34và Quỳnh sử dụng Đây là hành vi cung cấp ma túy cho nhiều người cùng sử dụng Hành vi này của Thuận có dấu hiệu của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)
Với nhiều hành vi phạm tội như trên, trong đó có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp chất ma túy cho nhiều đối tượng cùng sử dụng (tức là có hành vi tổ chức
sử dụng trái phép chất ma túy) nhưng Lưu Ngọc Thuận chỉ bị xử lý hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015) như kết luận của VKSND và TAND thành phố Tuy Hòa là không đúng tội danh và không phù hợp với quy định của pháp luật Theo tác giả, trong trường hợp này, Thuận có các hành
vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và các hành vi này có liên quan với nhau nên cần xử lý Thuận về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)
- Đối với hành vi của Trần Lộc: Trong vụ án này, Trần Lộc là người tiếp nhận
ý định tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trên của Thuận Lộc đã chủ động liên hệ đặt phòng tạị khách sạn King Hotel, đồng thời chuẩn bị loa nghe nhạc đưa lên phòng
đã thuê để phục vụ cho việc sử dụng ma túy Lộc cũng là người rủ Nguyễn Văn Ngân, Phan Văn Mến, Nguyễn Trung Thuyên, Lê Thị Bảo Quỳnh và Trần Thị Ngân đến khách sạn King Hotel cùng sử dụng ma túy Như vậy, Trần Lộc đã có hành vi chuẩn bị địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy
và rủ rê, tìm người sử dụng trái phép chất ma túy Do đó, theo tiểu mục 6.1 mục 6 Phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP thì Trần lộc đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Theo tác giả, VKSND và TAND thành phố Tuy Hòa không xử lý hình sự đối với Trần Lộc về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là bỏ lọt tội phạm
Từ vụ án này đã đặt ra vướng mắc cần được giải quyết là trong trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, trong đó có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà các hành vi này liên quan chặt chẽ với nhau thì sẽ xử
lý hình sự về tội tội chức sử dụng trái phép chất ma túy hay tội tàng trữ trái phép chất ma túy như kết luận của VKSND và TAND thành phố Tuy Hòa
Trang 35Ngày 03/4/2019, Trần Đình Kỳ gọi điện thoại cho Nguyễn Hà Huy nói khi nào về mang một ít ma túy đá về sử dụng, Huy đồng ý Khoảng 09 giờ ngày 04/4/2019, Kỳ, Trần Quốc Quỳnh, Phan Tuyết Ngân (12 tuổi 10 tháng 25 ngày), Hồ Thị Hồng Hạ đang ở quán Thanh Lệ thuộc Thôn Phước Lộc, xã Xuân Quang 3 thì Huy gọi điện thoại cho Kỳ Biết Kỳ đang ngồi với Quỳnh nên Huy bảo đưa máy để nói chuyện với Quỳnh Trong lúc nói chuyện, Quỳnh bảo Huy khi nào về quê nhớ mua ít ma túy mang về để anh em sử dụng, Huy đồng ý, nói “Để anh kiếm, mai anh về” Nghe vậy, Quỳnh nói lại cho Kỳ biết mai Huy sẽ mang ma túy đá về sử dụng Lúc 04 giờ ngày 05/4/2019, Huy gọi điện thông báo cho Kỳ biết đã về gần đến nhà,
có mang theo ma túy đá Khoảng 07 giờ cùng ngày, Quỳnh, Kỳ và Lê Đức Anh uống cà phê thì Quỳnh điện thoại bảo Huy đến quán cà phê Một lúc sau, Huy đến bảo Quỳnh “Anh về có cầm theo một ít đồ (ma túy đá), còn thiếu cái nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) em kiếm đem tới, em coi chỗ nào để chơi, anh cầm đồ xuống và rủ thêm một đến hai đứa nữa đến chơi cho vui” Sau đó, Quỳnh nhờ Anh chở đến nhà nghỉ Hải Hoa, trên đường đi Quỳnh bảo Anh dừng xe gần bờ rào nhà Kỳ rồi xuống
xe lấy nỏ thủy tinh cất dấu trước đó Khi đến nhà nghỉ Hải Hoa, Quỳnh mượn Giấy chứng minh nhân dân của Anh thuê phòng 105, Anh quay lại quán cà phê Lê Na Quá trình chở Quỳnh đi, Quỳnh không nói cho Anh biết việc chuẩn bị địa điểm, công cụ để sử dụng ma túy Quỳnh điện thoại báo cho Huy biết đã thuê phòng 105 nhà nghỉ Hải Hoa, sau đó nhận được tin nhắn của Ngân hỏi đang ở đâu, Quỳnh nhắn lại đang sử dụng ma túy đá ở nhà nghỉ Hải Hoa và bảo Ngân rủ thêm Hạ đến sử dụng ma túy Ngân đang ngồi uống cà phê với Nguyễn Thị Thu Thúy tại quán Ti Gôn liền nhắn tin rủ Hạ đến nhà nghỉ Hải Hoa chơi với Quỳnh nhưng Hạ không đi nên Ngân rủ Thúy đi, không nói cho Thúy biết đến để sử dụng ma túy
Sau khi biết Quỳnh đã chuẩn bị địa điểm, Huy gọi điện cho Kỳ bảo đến trước cổng UBND xã Xuân Quang 3 chở Huy đi sử dụng ma túy Kỳ đang ngồi uống cà phê với Anh nên rủ Anh đi sử dụng ma túy, Anh đồng ý nhưng nói chơi chút xíu về chiều còn đi Sài Gòn Kỳ điều khiển xe mô tô chở Anh đến cửa UBND
xã Xuân Quang 3 để đón Huy cùng đến nhà nghỉ Hải Hoa Khoảng 09 giờ cùng ngày tại phòng 105 nhà nghỉ Hải Hoa có Quỳnh, Huy, Kỳ, Anh, Ngân, Thúy Huy đưa cho Quỳnh một lọ nhựa hiệu Xilytol và gói ma túy đá; Quỳnh lấy nỏ thủy tinh, ống hút ra lắp ráp thành một bộ dụng cụ rồi cho ma túy đá vào nỏ Thấy vậy, Thúy hỏi Ngân mới biết cả nhóm chuẩn bị sử dụng ma túy đá Kỳ cầm bộ dụng cụ
sử dụng ma túy ngồi xuống sàn nhà, nói ai sử dụng ma túy lại đây, cả nhóm đến
Trang 36ngồi xung quanh trừ Thúy Quỳnh châm lửa hút trước rồi lần lượt đến Huy, Kỳ, Ngân, Anh hút Thấy Thúy không tham gia nên Ngân bảo lại chơi chứ không sao đâu, thì Quỳnh nói: “Lại đây chơi, chứ con Ngân dẫn đến đây để làm gì”, Thúy lại ngồi gần Ngân và Quỳnh đưa ma túy cho Thúy hút Mỗi người hút được 04 đến 05 lượt thì hết ma túy
Khoảng 20 giờ cùng ngày, tại phòng 105 còn lại Quỳnh, Huy, Kỳ, Ngân, Thúy (Anh đã đi về), Quỳnh hỏi cả nhóm có sử dụng ma túy nữa không, tất cả đồng
ý Quỳnh bảo Kỳ và Huy đưa tiền cho Quỳnh đi mua ma túy về sử dụng tiếp Huy đưa 400.000 đồng, Kỳ đưa 100.000 đồng, Quỳnh mượn xe máy 78A-01360 của Thúy chở Kỳ vào TP Tuy Hòa mua ma túy Khi đến gần Trung tâm thương mại Vincom thuộc Phường 7, TP Tuy Hòa, Quỳnh bảo Kỳ đứng chờ, Quỳnh chạy xe đến khu vực chợ Phường 7 gọi điện thoại cho một nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mà Quỳnh đã quen trước đó mua gói ma túy giá 500.000 đồng Khoảng 22 giờ cùng ngày, Quỳnh và Kỳ về lại phòng 105 nhà nghỉ Hải Hoa tiếp tục cùng với Huy, Ngân, Thúy sử dụng hết số ma túy mới mua
Khoảng 12 giờ ngày 06/4/2019, Hạ đến phòng 105 nhà nghỉ Hải Hoa để lấy Giấy chứng minh thư của Hạ do Ngân giữ trước đó Lúc này, Thúy về trước còn lại gồm Quỳnh, Huy, Kỳ, Ngân, Hạ thì Quỳnh hỏi: “Bây giờ Hạ đến chơi mà hết đồ rồi, mọi người chơi nữa không” Không ai có ý kiến gì nên Kỳ đưa cho Quỳnh 500.000 đồng để vào TP Tuy Hòa mua ma túy đá Do không có phương tiện nên Quỳnh gọi điện thoại cho Huỳnh Thanh Tú đến nhà nghỉ Hải Hoa chở Quỳnh đi Tuy Hòa Khi đến gần Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên, Quỳnh bảo Tú đứng chờ còn Quỳnh lấy xe của Tú đến cổng trường Đinh Tiên Hoàng, Phường 9, TP Tuy Hòa mua của thanh niên đã quen trước đó một gói ma túy giá 500.000 đồng Khoảng 17 giờ cùng ngày, Quỳnh và Tú về đến phòng 105 nhà nghỉ Hải Hoa tiếp tục cùng với Huy, Kỳ, Ngân,
Hạ sử dụng hết số ma túy mới mua, riêng Tú không sử dụng
Kết quả test ma túy đối với Trần Quốc Quỳnh, Nguyễn Hà Huy, Trần Đinh
Kỳ, Phan Tuyết Ngân, Nguyễn Thị Thu Thúy đều dương tính với chất ma túy tổng hợp (ma túy đá)
Bản kết luận giám định số 63/GĐ-PC09 và số 64/ GĐ-PC09 ngày 11/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận: Chất lỏng trong lọ nhựa XILITOL có Methamphetamine; Chất lỏng màu vàng trong 05 lọ nhựa thu nước tiểu của Trần Quốc Quỳnh, Nguyễn Hà Huy, Trần Đinh Kỳ, Phan Tuyết Ngân, Nguyễn Thị Thu Thúy đều có Methamphetamine
Trang 37Quan điểm của các CQTHTT về việc xác định tội danh đối với hành vi của Trần Quốc Quỳnh:
- Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-P1 của VKSND tỉnh Phú Yên truy tố Trần Quốc Quỳnh về tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 258 BLHS năm 2015
- Tại bản án HSST số 05/2020/HS-ST ngày 25/02/2020, TAND tỉnh Phú Yên
áp dụng điểm c khoản 3 Điều 258; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52
và khoản 1 Điều 56 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Quốc Quỳnh 12 năm tù về tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
Nhận xét, đánh giá và vướng mắc đặt ra từ vụ án:
Trong vụ án này, bị cáo Trần Quốc Quỳnh có nhiều hành vi phạm tội về ma
túy, trong đó có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Cụ thể:
- Trần Quốc Quỳnh có hành vi nói Huy mua ma túy mang về để anh em sử dụng, nói cho Kỳ biết mai Huy sẽ mang ma túy về sử dụng, nhắn bảo Ngân rủ thêm
Hạ đến nhà nghỉ Hải Hoa để sử dụng ma túy, rủ rê, lôi kéo Phan Tuyết Ngân, Nguyễn Thị Thu Thúy, Lê Đức Anh, Hồ Thị Hồng Hạ sử dụng ma túy trái phép 03 lần Ngoài ra, ngày 31/3/2019, bị cáo Quỳnh còn rủ Quân, Tín, Ngân, Hạ đến nhà nghỉ Hưng Nguyên để sử dụng ma túy đá Đây là các hành vi có dấu hiệu của tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258 BLHS năm 2015)
- Trần Quốc Quỳnh thuê nhà nghỉ Hải Hoa; lấy nỏ thủy tinh, ống hút ra lắp ráp thành một bộ dụng cụ rồi cho ma túy đá vào nỏ, châm lửa hút trước rồi lần lượt đến Huy, Kỳ, Ngân, Anh hút; đưa ma túy cho Thúy hút; nhiều lần vào thành phố Tuy Hòa mua ma túy mang về để cho nhiều người cùng sử dụng Các hành vi này có dấu hiệu của tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)
Với nhiều hành vi phạm tội như trên, trong vụ án này bị cáo Trần Quốc Quỳnh
bị xử lý hình sự về tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258 BLHS năm 2015) là không phù hợp với quy định của pháp luật Bởi bên cạnh hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, Quỳnh còn có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Hơn nữa, ngay trong hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 mục 6 Phần II TTLT số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP thì trong hành vi
tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đã có hành vi tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ Do đó, theo tác giả, trong vụ án này cần phải xử lý Trần Quốc Quỳnh về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) thì mới phù hợp với quy định của pháp luật
Trang 38Từ vụ án này đã đặt ra vướng mắc cần được giải quyết là trong trường hợp một người có nhiều hành vi phạm tội về ma túy, trong đó có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy mà các hành vi này liên quan chặt chẽ với nhau thì sẽ xác định tội danh như thế nào
Thứ hai, trong trường hợp một người có hành vi tổ chức sử dụng trái phép
chất ma túy mà còn có hành vi tàng trữ chất trái phép chất ma túy nhằm mục đích
sử dụng riêng cho bản thân thì cần phải xử lý hình sự về tội danh nào
ma túy tổng hợp với giá 300.000đ Mua xong, Quỳnh bỏ số ma túy vào túi quần bên phải phía trước mang về nhà cất giữ (đựng trong đoạn ống hút nhựa bịt kín
sử dụng chất ma túy và mang vào phòng để cả 03 cùng sử dụng ma túy bằng hình thức hút Nhân lúc Quân và Hóa không để ý, Quỳnh bỏ ống nhựa đựng 04 viên ma túy giấu tại khung cửa sổ phòng ngủ của nhà Quân nhằm mục đích cất giữ riêng cho bản thân mà không đưa vào sử dụng chung
Trong lúc Quỳnh, Quân, Hóa đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ Quỳnh tự nguyện giao nộp đoạn ống nhựa chứa 04 viên ma túy, qua giám định kết luận 0,3867 gam chất bột màu hồng gửi trưng cầu là ma túy, loại Methamphetamine Kết quả thử test nhanh đối với Phạm Đình Quân và Nguyễn Văn Hóa có dương tính với ma túy
Xem: Phụ lục số 06
Trang 39Quan điểm của các CQTHTT về việc xác định tội danh đối với hành vi của Phan Xuân Quỳnh:
- Tại bản án HSST số 14/2020/HSST ngày 30/6/2020, TAND huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Phan Xuân Quỳnh 12 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Ngày 19/11/2020, Viện trưởng VKSND cấp cao tại Đà Nẵng kháng nghị theo thủ tục giám đốc thấm đối với bản án HSST số 14/2020/HSST ngày 30/6/2020, TAND huyện Vĩnh Linh nêu trên, đề nghị hủy án để điều tra lại
- Tại Quyết định giám đốc thẩm số 09/2021/HS-GĐT ngày 26/3/2021, TAND cấp cao tại Đà Nẵng đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, tuyên hủy bản án HSST số 14/2020/HSST ngày 30/6/2020 của TAND huyện Vĩnh Linh
để điều tra lại đối với bị cáo Phan Xuân Quỳnh về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Khi đến chơi nhà Phạm Đình Quân, Quỳnh đã chủ động rủ Quân và Nguyễn Văn Hóa cùng sử dụng ma túy với mình Hành vi này của Quỳnh có dấu hiệu của tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258 BLHS năm 2015)
- Quỳnh có hành vi bỏ tiền mua ma túy về sử dụng, khi đến chơi nhà Phạm Đình Quân, Quỳnh đã chủ động rủ Quân và Nguyễn Văn Hóa cùng sử dụng ma túy với mình, đồng thời Quỳnh cũng chuẩn bị chai nhựa khoét lỗ và 01 tờ tiền giấy để làm dụng sử dụng ma túy và cung cấp ma túy cho Quân, Hóa sử dụng Hành vi của Quỳnh có đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)
- Trong lúc Quỳnh, Quân, Hóa đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ Quỳnh tự nguyện giao nộp đoạn ống nhựa chứa 04 viên ma túy, qua giám định kết luận 0,3867 gam chất bột màu hồng gửi trưng cầu là ma túy, loại Methamphetamine Quỳnh khai đây là số ma túy bị cáo cất giữ nhằm mục đích sử
Trang 40dụng riêng cho bản thân mà không đưa vào sử dụng chung nên hành vi này có dấu hiệu của tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015)
Như vậy, trong vụ án trên, Quỳnh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất
ma túy Tuy nhiên, Quỳnh chỉ bị TAND huyện Vĩnh Linh xử lý về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 là chưa đúng với quy định của pháp luật Quan điểm của tác giả cho rằng:
- Đối với hành vi Quỳnh bỏ tiền mua ma túy về sử dụng, khi đến chơi nhà Phạm Đình Quân, Quỳnh đã chủ động rủ Quân và Nguyễn Văn Hóa cùng sử dụng
ma túy với mình, đồng thời Quỳnh cũng chuẩn bị chai nhựa khoét lỗ và 01 tờ tiền giấy để làm dụng sử dụng ma túy và cung cấp ma túy cho Quân, Hóa sử dụng Đây chính là các hành vi chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy nên đây là hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Với các hành vi này, cần phải xử lý Quỳnh về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015)
- Đối với hành vi trong lúc Quỳnh, Quân, Hóa đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ Quỳnh tự nguyện giao nộp đoạn ống nhựa chứa 04 viên ma túy, qua giám định kết luận 0,3867 gam chất bột màu hồng gửi trưng cầu là ma túy, loại Methamphetamine Quỳnh khai đây là số ma túy bị cáo cất giữ nhằm mục đích sử dụng riêng cho bản thân mà không đưa vào sử dụng chung Vì Quỳnh là người tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, lượng ma túy còn lại thu giữ được tại hiện trường có đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy và có căn cứ xác định đây là số ma túy Quỳnh cất giữ nhằm mục đích
sử dụng riêng cho bản thân mà không đưa vào sử dụng chung Do đó, đối với hành
vi này cần phải xử lý Quỳnh về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015)
Như vậy, theo quan điểm của tác giả, trong vụ án trên, cần phải xử lý Quỳnh
về cả hai tội là tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 BLHS năm 2015) và tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS năm 2015)
Từ vụ án này đã đặt ra vướng mắc cần được giải quyết là trong trường hợp một người có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy mà còn có hành vi tàng trữ chất trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng riêng cho bản thân thì cần phải xử lý hình sự về tội danh nào