1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo pháp luật việt nam

101 19 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam
Tác giả Trần Hữu Thu Trang
Người hướng dẫn Ts. Lê Vĩnh Châu
Trường học Trường đại học luật TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 5,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết, tác giả tập trung đánh giá các quy định về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ nhiều hơn so với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự và biện p

Trang 1

TRẦN HỮU THU TRANG

BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 2

BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự

Định hướng nghiên cứu

Mã số: 8380103

Người hướng dẫn khoa học : Ts Lê Vĩnh Châu

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2022

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ luật học “Biện pháp bảo đảm thi hành

án dân sự theo pháp luật Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi

dưới sự hướng dẫn khoa học của Ts Lê Vĩnh Châu Các nội dung được trình bày

trong luận văn hoàn toàn trung thực Nếu có sự gian dối, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Tác giả Luận văn

TRẦN HỮU THU TRANG

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

3 Lệnh bảo toàn tài khoản châu Âu

(European Account Preservation Order) EAPO

5 Luật Thi hành án dân sự (Luật số

4

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của

Luật Thi hành án dân sự (Luật số

của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 14

tháng 01 năm 2004 về thi hành án dân sự

Pháp lệnh THADS năm 2004

8

Regulation (EU) No 655/2014 of the

European Parliament and of the Council

of 15 May 2014 establishing a European

Account Preservation Order procedure to

facilitate cross-border debt recovery in

civil and commercial matters

Regulation (EU) No 655/2014

Trang 5

11

Thông tư liên tịch số

Bộ Tư Pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động

- Thương binh và Xã hội, Ngân hàng

Nhà nước Việt Nam ngày 14 tháng 01

năm 2014 hướng dẫn việc cung cấp

thông tin về tài khoản, thu nhập của

người phải thi hành án và thực hiện

phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự

TTLT số

02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 BIỆN PHÁP PHONG TỎA TÀI KHOẢN, TÀI SẢN Ở NƠI GỬI GIỮ 10

1.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 10

1.1.1 Khái niệm biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 10

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 12

1.2 Ý nghĩa của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 14

1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện 15

1.3.1 Hoạt động xác minh, thu thập thông tin về tài khoản, tài sản gửi giữ 15

1.3.2 Ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 19

1.3.3 Thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP TẠM GIỮ TÀI SẢN, GIẤY TỜ CỦA ĐƯƠNG SỰ 27

2.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự 27

2.1.1 Khái niệm biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự 27

2.1.2 Đặc điểm của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự 28

2.2 Ý nghĩa của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự 31

2.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện 32

2.3.1 Ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự 32

2.3.2 Hoạt động xác minh, thu thập thông tin về tài sản, giấy tờ của đương sự 34 2.3.3 Thực hiện quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự 40

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45

Trang 7

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP TẠM DỪNG VIỆC ĐĂNG KÝ, CHUYỂN QUYỀN

SỞ HỮU, SỬ DỤNG, THAY ĐỔI HIỆN TRẠNG TÀI SẢN 46

3.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản 46

3.1.1 Khái niệm biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản 46

3.1.2 Đặc điểm của biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản 48

3.2 Ý nghĩa của biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản 51

3.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện 52

3.3.1 Ra quyết định tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản 52

3.3.2 Hoạt động xác minh, thu thập thông tin về tài sản 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 67

KẾT LUẬN 69 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thi hành án dân sự là công đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng, bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được chấp hành nghiêm chỉnh, góp phần tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân và Nhà nước1 Bản án, quyết định của Tòa án là kết quả của quá trình nhân danh Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và các chủ thể liên quan, bảo đảm trật tự, kỷ cương xã hội “Quyền, lợi ích dân sự hợp pháp của đương sự được ghi nhận trong bản án, quyết định nếu không được tổ chức thi hành thì cũng chỉ là quyền, lợi ích trên giấy”2 Trên thực tế, hiệu quả thi hành các bản án, quyết định của Tòa án phụ thuộc vào điều kiện thi hành án của đương sự Tuy nhiên hiện nay tình trạng người phải thi hành án dù có điều kiện thi hành án nhưng cố ý không thi hành nghĩa vụ khá phổ biến Do đó, mặc dù đương sự có điều kiện thi hành án nhưng điều kiện đó chưa chắc được thi hành nếu không có các cơ chế đảm bảo thi hành án như biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự

Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự là biện pháp pháp lý mang tính quyền lực nhà nước được Chấp hành viên áp dụng trên tài sản của người phải thi hành án nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án của đương sự Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự, tài sản của người phải thi hành án bị đặt trong tình trạng bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt Có ba biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự gồm: Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản

ở nơi gửi giữ; biện pháp tạm giữ giấy tờ, tài sản của đương sự và biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản Căn

cứ vào nội dung bản án, quyết định; quyết định thi hành án; tính chất, mức độ, nghĩa

vụ thi hành án; điều kiện của người phải thi hành án; yêu cầu bằng văn bản của đương sự và tình hình thực tế của địa phương, Chấp hành viên lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự thích hợp

Trước đây, Pháp lệnh về Thi hành án dân sự năm 1989, 1993 và 2004 chưa quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự Sau một thời gian dài thi hành,

một số điều của Luật Thi hành án dân sự

số 19, tr 23

Trang 9

tồn tại thực tiễn người phải thi hành án cố gắng tìm cách trốn tránh việc thi hành án bằng các hành vi tẩu tán tài sản, hủy hoại tài sản Để khắc phục tình trạng này, lần đầu tiên chế định các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được quy định tại Luật THADS năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) Các quy định về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự đã hỗ trợ đắc lực trong việc ngăn ngừa người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án Từ đó, “có ý nghĩa đôn đốc người phải thi hành án tự nguyện thi hành nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc bảo đảm hiệu quả của việc thi hành án trong trường hợp người phải thi hành án dân sự không tự nguyện thi hành án”3 Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành

án cũng cho thấy một số hạn chế trong quy định pháp luật về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự và công tác tổ chức thi hành án như:

- Pháp luật không theo kịp thực tiễn, một số vấn đề pháp lý pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ ràng, chồng chéo Cụ thể, pháp luật chưa quy định

rõ ràng, thống nhất về chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong thi hành

án dân sự Đồng thời, thời hạn thực hiện quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được quy định chưa hợp lý Quy định của pháp luật về thẩm quyền

xử phạt các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có hành vi không phối hợp trong việc cung cấp thông tin theo yêu cầu của Chấp hành viên hoặc thực hiện quyết định

áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự không còn phù hợp và không đảm bảo tính răn đe;

- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên thi hành án còn hạn chế Trong thực tiễn thi hành án, nhiều trường hợp Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự không đúng, thậm chí thực hiện sai những quy định pháp luật đã được hướng dẫn khá cụ thể, rõ ràng Điều này dẫn đến việc tăng số lượng khiếu nại, tố cáo, gây phức tạp cho việc tổ chức thi hành án Nguyên nhân dẫn đến bất cập này là do trình độ chuyên môn của nhân viên thi hành án chưa vững, chưa được tập huấn đầy đủ, chất lượng;

- Công tác phối kết hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan còn chậm trễ Một số cơ quan, tổ chức, cá nhân còn chủ quan, chưa ý thức được tầm quan trọng của việc thi hành án dân sự và yêu cầu của Chấp hành viên Thêm vào đó, các quy định pháp luật về thời hạn cơ quan phải trả

dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu pháp luật, số 16, tr 50

Trang 10

lời yêu cầu phối hợp cung cấp thông tin của Chấp hành viên chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng chây ỳ, lúng túng trong thực hiện Có thể nói, nhận thức về công tác hỗ trợ việc áp dụng, thi hành biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự của một số cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan chưa đầy đủ dẫn đến quá trình thi hành án bị chậm trễ, ảnh hưởng quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự; tuy nhiên các tác phẩm chủ yếu đề cập đến một biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự hoặc một số vấn đề, khía cạnh pháp lý điển hình của biện pháp bảo đảm thi hành

án dân sự Do giới hạn của mục đích nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, có khá ít nghiên cứu tổng quan về các vấn đề pháp lý của ba biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự Trên cơ sở những nhu cầu nghiên cứu về mặt khoa học và thực tiễn trên, tác

giả chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự theo pháp

luật Việt Nam” nhằm làm rõ “vai trò pháp lý” của các biện pháp bảo đảm thi hành

án dân sự Từ đó rút ra những giá trị tiến bộ cần tham khảo đối với công tác thi hành

án dân sự hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đến nay, chế định BPBĐ THADS đã trải qua hơn mười năm áp dụng do đó

đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề pháp lý này trên nhiều phương diện, góc nhìn khác nhau Có thể kể đến một số nghiên cứu như sau:

2.1 Tài liệu trong nước

Giáo trình, sách, tài liệu chuyên khảo:

- Lê Thu Hà (2011), Một số vấn đề về hoàn thiện pháp luật thi hành án dân

sự Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật Trong cuốn sách này, tác giả nghiên

cứu quá trình hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật THADS qua từng giai đoạn Tác giả đã phân tích cụ thể những điểm mới và bất cập ở từng giai đoạn khác nhau để thấy sự thay đổi của hệ thống THADS Đồng thời, tác giả đề cập những nội dung cơ bản và quan điểm hoàn thiện hệ thống pháp luật THADS Trong đó, tác giả khẳng định việc BPBĐ lần đầu tiên được quy định trong Luật THADS năm 2008 là điều cần thiết, là công cụ quan trọng hỗ trợ và bảo đảm cho việc THA được thực hiện Tuy nhiên, nội dung về BPBĐ THADS chỉ chiếm phần nghiên cứu nhỏ trong sách nên những vấn đề chuyên sâu hơn về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng BPBĐ THADS chưa được đề cập

Trang 11

- Nguyễn Văn Lực (2018), “Chi cục trưởng trong áp dụng các biện pháp bảo

đảm và cưỡng chế thi hành án”, Tài liệu bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, quản lý cho Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư

pháp Bài viết quan tâm phân tích vai trò của Thủ trưởng cơ quan THADS trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THA, đồng thời nhắc nhở một số điểm cần lưu ý trong việc áp dụng BPBĐ THADS Từ đó cung cấp, trang bị cho CHV, cơ quan THADS các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản để áp dụng BPBĐ THADS chính xác, kịp thời: Kỹ năng xác minh, thu thập thông tin về tài sản của người phải THADS; kỹ năng trong việc ra quyết định, lập biên bản và giao biên bản áp dụng BPBĐ THADS… Tác giả đã cung cấp những thông tin trọng điểm và thực tế giúp các công trình nghiên cứu sau này phát triển đúng mục đích tăng cường hiệu quả áp dụng BPBĐ THADS và tổ chức THADS

- Trần Thị Lan Hương, “Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự”, Tài liệu Tập huấn Nghiệp vụ thi hành án dân sự, hành chính năm 2018, Tổng cục Thi

hành án dân sự - Bộ Tư pháp Trong bài viết, tác giả phân tích những điểm mới của quy định về BPBĐ THA theo Luật THADS năm 2014; qua đó tổng kết những điểm tiến bộ của pháp luật về THADS Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, tác giả chỉ ra một số sai sót trong quá trình áp dụng BPBĐ THADS và dành riêng một mục

để nhắc về một vấn đề cần lưu ý khi thực hiện BPBĐ THADS Đây là tư liệu thiết thực cho cơ quan THADS, CHV trong quá trình tổ chức thi hành BPBĐ THADS và

là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo có tính ứng dụng hơn

- Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Thi hành án dân sự Việt Nam, Nguyễn Công Bình, Bùi Thị Hiền, Nguyễn Thị Thu Hà, NXB Công an

Nhân dân Giáo trình trình bày các nội dung: Khái niệm, vai trò, nguyên tắc cơ bản của Luật THADS; cơ quan, tổ chức, cá nhân trong THADS; thời hiệu, thẩm quyền

và thủ tục THADS… Trong đó, tại Chương V của giáo trình cung cấp các kiến thức nền tảng về BPBĐ THADS Tuy nhiên, do mục đích phục vụ việc học tập, giảng dạy, nội dung này của giáo trình được đề cập khá tổng quan, hàn lâm Việc phân tích, đánh giá thực tiễn và chỉ ra các hạn chế, khó khăn chưa được đề cập đến Trong Luận văn, tác giả cần làm rõ hơn vấn đề này

- Trường Đại học Kinh tế - Luật (2015), Tài liệu học tập Thi hành án dân sự,

Huỳnh Thị Nam Hải, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh Tài liệu này phân tích khá cụ thể các điều kiện để áp dụng từng BPBĐ THADS trên thực tế về đối

Trang 12

tượng THA; mục đích áp dụng; hình thức… Bên cạnh đó, tác giả phân tích một cách hệ thống về trình tự, thủ tục áp dụng BPBĐ; đồng thời đưa ra những đánh giá sâu sắc về những điểm mới trong các quy định về BPBĐ THA của Luật THADS hiện hành Tuy nhiên, mục đích và đối tượng phục vụ của tài liệu này làm các vấn

đề về nghiên cứu thực tiễn chưa được làm rõ Do đó, tác giả cần tiếp thu các kiến thức cơ bản và làm rõ hơn vấn đề thực trạng pháp luật trong bài viết của mình

Tạp chí:

- Đặng Ngọc Dư (2016), “Một số vấn đề về các biện pháp bảo đảm thi hành

án dân sự”, Tạp chí Kiểm sát, số 19, tr 21-25 Tác giả đã trình bày khá toàn diện về

cơ sở pháp lý; ý nghĩa của BPBĐ THADS; và thời điểm áp dụng BPBĐ THADS Qua đó, người đọc thấu hiểu hơn về lý do tồn tại khách quan của các quy định BPBĐ THADS đối với đời sống pháp lý và đời sống xã hội Đây là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết để tác giả hoàn thiện, củng cố các kiến thức mang tính lý luận trong bài viết của mình

- Lê Thị Hương Giang (2010), “Những khó khăn trong thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ theo Luật THADS và các văn bản hướng dẫn thi hành

án và một số kiến nghị”, Tạp chí Nghề luật, số 6, tr 39-43 Trong bài viết này, tác

giả sử dụng rất nhiều các ví dụ thực tế làm chứng cứ chứng minh cho các luận điểm của mình về những khó khăn trong thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy

tờ theo pháp luật THADS Từ góc độ thực tiễn, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự Việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề đang được bàn luận trong bài viết trên là cần thiết để tác giả hoàn thiện tốt hơn nghiên cứu của mình

- Lê Vĩnh Châu (2015), “Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 hứa hẹn tháo gỡ nhiều vướng mắc trong hoạt động thi

hành án dân sự”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2, tr 69-74 Bài viết này đã đưa ra

những cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn cho thấy sự cần thiết của việc sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2008 Nội dung về BPBĐ THADS được tác giả nhắc đến khi trình bày những vấn đề sửa đổi, bổ sung cơ bản trong Luật THADS năm 2014 Tuy nhiên, bài viết mới bàn luận đến một điểm mới tiêu biểu về BPBĐ THADS

do giới hạn của đối tượng và phạm vi nghiên cứu bài viết Trong nghiên cứu của mình, tác giả cần phân tích sâu hơn vấn đề này để thấy được sự vận động của pháp luật THADS về BPBĐ THADS

Trang 13

- Vũ Hòa (2012), “Biện pháp bảo đảm thi hành án và thực tiễn áp dụng”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 9, tr 43-48 Tác giả đưa ra những phân tích trọng tâm

đối với các quy phạm pháp luật về BPBĐ THADS Theo đó, trên cơ sở đánh giá một số tình huống thực tế, tác giả chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong áp dụng BPBĐ THADS Trong bài viết, tác giả tập trung đánh giá các quy định về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ nhiều hơn so với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự và biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản Do đó, việc tiếp thu giá trị của bài viết trên

để nghiên cứu sâu hơn các vấn đề chưa được đề cập, bàn luận là cần thiết

- Vũ Chiến Hà (2011), “Những vướng mắc khi phong tỏa tài khoản để thi

hành án”, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật, số 7, tr 13-15 Tác giả tập trung làm rõ

vướng mắc trong thực tiễn áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản; cho nên các thông tin, vụ việc được dẫn chứng trong bài viết mang giá trị thực tiễn cao Từ thực tiễn đến lý luận, tác giả tiếp tục đưa ra các kiến nghị và đề xuất để tạo hành lang pháp lý cho CHV thực thi nhiệm vụ được thuận lợi, rõ ràng, minh bạch Nhận thấy giá trị tham khảo về lý luận và thực tiễn khá cao của tác phẩm, tác giả nên tiếp thu

và tiếp tục nghiên cứu phát triển đối tượng nghiên cứu của đề tài

2.2 Tài liệu nước ngoài

Trên thế giới, BPBĐ THADS có những tên gọi khác nhau nhưng về bản chất

có nhiều điểm giống nhau, đặc biệt về mục đích phòng ngừa việc tẩu tán, hủy hoại tài sản của người phải THA Có một số công trình nghiên cứu như sau:

- Roger Laville (2013), “Freezing orders and the corporate veil”, Butterworths journal of International Banking and Financial Law, p 565-567 Bài viết này xem

xét các tác động đối với các ngân hàng có khách hàng bị áp dụng “Lệnh đóng băng tài sản” ở Anh Tác giả đã chỉ ra vai trò đặc biệt khó khăn của ngân hàng cần phản ứng nhanh chóng và đưa ra các quyết định quan trọng trong vòng vài giờ đầu tiên sau khi được thông báo về Lệnh đóng băng, phải chú ý tuân thủ các điều khoản nghiêm ngặt của Lệnh; đồng thời đảm bảo giữ bí mật thông tin của khách hàng Ngân hàng bị ràng buộc bởi Lệnh đóng băng tài sản không phải vì họ là một bên trong tranh chấp,

mà bởi vì việc bất kỳ bên thứ ba nào cố ý thực hiện một việc ảnh hưởng đến mục đích của Lệnh là “sự khinh thường Tòa án”

- Denis S K Ong (2005), “Unsatisfactory Aspects of the Mareva order and

the Anton Piller Order”, Bond Law Review, Volume 17, Issue 1, p 92-112 Trong

Trang 14

bài viết, tác giả bàn luận về những khía cạnh chưa thỏa đáng của “Lệnh Mareva” (Lệnh đóng băng tài sản) ở Úc như: Hiểu sai về mục đích của Lệnh Mareva, sai sót trong tuân thủ Lệnh… Ngoài ra, tác giả dành phân lượng lớn trong bài để bàn về điều kiện ban hành Lệnh Mareva; hiệu lực của Lệnh; nghĩa vụ chứng minh tính cấp thiết của Lệnh Mareva… Đây là tư liệu cần thiết để tác giả có nghiên cứu sâu hơn đối với vấn đề cần nghiên cứu trong pháp luật Úc

Do giới hạn của mục đích nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, các công trình trên tập trung ở nghiên cứu một hoặc một số khía cạnh pháp lý nhất định Đây là nguồn tư liệu quý để tác giả nghiên cứu đề tài; từ đó có những đúc kết toàn diện hơn đối với quy định về các BPBĐ THADS và đưa ra các kiến nghị có cơ sở, phù hợp

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm làm rõ các khía cạnh pháp lý và thực tiễn áp dụng của BPBĐ THADS theo pháp luật Việt Nam Trên cơ sở đó, mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn hành lang pháp lý về BPBĐ THADS

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, Luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, làm rõ các vấn đề về mặt lý luận của BPBĐ THADS, bao gồm khái

niệm, đặc điểm, ý nghĩa của từng BPBĐ THADS

Thứ hai, làm rõ khía cạnh pháp lý của từng BPBĐ THADS thông qua việc

phân tích các quy định pháp luật

Thứ ba, tìm hiểu và đánh giá thực tiễn áp dụng BPBĐ THADS, chỉ ra bất

cập, vướng mắc

Thứ tư, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về BPBĐ THADS

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các quy định pháp luật về các BPBĐ THADS, bao gồm các quy định về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự và biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng về tài sản

Trang 15

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung, đề tài nghiên cứu các vấn đề về BPBĐ THADS theo pháp luật

Việt Nam Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, tác giả chú trọng nghiên cứu Luật THADS hiện hành và văn bản hướng dẫn thi hành Thêm nữa, tác giả viện dẫn pháp luật ngân hàng, đất đai… để củng cố cơ sở pháp lý cho chủ đề, luận điểm nghiên cứu

Về mặt thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan đến

BPBĐ THADS từ năm 2009 đến nay trên cơ sở việc BPBĐ THADS lần đầu tiên được luật hóa tại Luật THADS năm 2008 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2009) Trong

đó, số liệu thống kê thực tiễn áp dụng BPBĐ THADS được tổng hợp từ năm 2016 đến nay

Về mặt không gian, việc nghiên cứu được tiến hành trên phạm vi toàn quốc

và ở một số quốc gia, tổ chức quốc tế có quy phạm pháp luật hoặc cơ chế về thi hành các biện pháp nhằm bảo toàn tài sản THA, bảo đảm việc THA như: Hàn Quốc,

Úc, Anh, Liên minh châu Âu

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tác giả chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu tiêu biểu sau:

Phương pháp phân tích: được sử dụng xuyên suốt luận văn để làm rõ các vấn

đề lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn về mỗi BPBĐ THADS

Phương pháp lịch sử được tác giả vận dụng để trình bày về quy định của

pháp luật Việt Nam liên quan đến BPBĐ THADS trong một số giai đoạn lịch sử nhất định Theo đó, chỉ rõ sự thay đổi, tiến bộ hoặc những điểm còn hạn chế của các quy phạm pháp luật về BPBĐ THADS và cả hệ thống pháp luật BPBĐ THADS trong từng thời kỳ Có thể tìm thấy phương pháp này tại các mục 1.1.1, 1.3.3, 2.1.1, 2.1.2, 2.3.1, 2.3.3, 3.3.3

Phương pháp thu thập dữ liệu: nhằm thu thập các tài liệu về áp dụng biện

pháp THADS trên thực tế, các số liệu thống kê hiệu quả áp dụng BPBĐ THADS Phương pháp này được thể hiện ở phần phụ lục

Phương pháp bình luận án được sử dụng tại mục 1.3.1, 1.3.2, 1.3.3, 2.3.2,

3.3.1, 3.3.2 khi tác giả dẫn chứng các vụ việc thực tế nhằm đánh giá, nêu quan điểm

về tính hợp lý của việc thực hiện BPBĐ THADS

Trang 16

Phương pháp so sánh: được dùng để làm sáng tỏ tương quan giữa pháp luật

Việt Nam và pháp luật số quốc gia trên thế giới về BPBĐ THADS Từ đó làm cơ sở

để tác giả mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị, đề xuất hoàn thiện pháp luật Phương pháp này thể hiện rõ nét tại mục 1.3.1, 1.3.3, 2.3.2, 3.3.3

Phương pháp tổng hợp: được vận dụng tại phần kết luận của các chương và

kết luận của luận văn Mục đích sử dụng phương pháp này để hệ thống các luận điểm nghiên cứu, tổng kết vấn đề trọng tâm của luận văn và làm rõ quan điểm của tác giả trên cơ sở các thông tin, dữ liệu đã thu thập, phân tích

6 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Ý nghĩa khoa học: Luận văn giải quyết vấn đề cần nghiên cứu dưới khía cạnh

lý luận, khía cạnh pháp lý và thực tiễn; từ đó góp phần hoàn thiện pháp luật về BPBĐ THADS

Giá trị ứng dụng: Luận văn có giá trị tham khảo cho các công trình nghiên

cứu liên quan về BPBĐ THADS hoặc lĩnh vực THADS; có giá trị nghiên cứu cho CHV, Thẩm tra viên… trong cơ quan THADS trong việc tham khảo, bổ sung, rà soát nghiệp vụ

7 Bố cục của luận văn

Ngoài danh mục các từ viết tắt, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung và kết luận Trong đó, phần nội dung được chia thành ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Chương 2: Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Chương 3: Biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử

dụng, thay đổi hiện trạng tài sản

Trang 17

CHƯƠNG 1 BIỆN PHÁP PHONG TỎA TÀI KHOẢN, TÀI SẢN Ở NƠI GỬI GIỮ 1.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

1.1.1 Khái niệm biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa tài khoản là “số kế toán dùng để phản ánh tình

hình biến động của các loại vốn và nguồn vốn”4 Tài khoản gắn liền với hoạt động

kế toán nói chung, được phát hành phổ biến các tổ chức tín dụng Khi được tạo lập,

hệ thống quản lý của các tổ chức tín dụng sẽ thiết lập và quản trị nhiều trường dữ liệu liên quan như: tên chủ tài khoản, địa chỉ, số tiền gửi vào và rút ra, số tiền lãi được hưởng… Có thể hiểu, “tài khoản ngân hàng là một bảng mang tên họ của cá nhân hoặc tên giao dịch của tổ chức dưới những mã số do ngân hàng quy định, trong đó kê khai những khoản nợ và có của khách hàng, phản ánh tương quan tình hình tài chính giữa khách hàng và ngân hàng”5.Về mặt pháp lý, tài khoản là hình thức ghi nhận các giao dịch tiền tệ, liệt kê chi tiết các khoản nợ và có giữa các bên trên cơ sở một hợp đồng hay trên cơ sở quan hệ ủy quyền6

Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 (Luật số 91/2015/QH13) ngày 24/11/2015

quy định tài sản gồm: (i) Vật: một vật “được xem là tài sản nếu đáp ứng được các đặc

trưng cơ bản của tài sản gồm: có giá trị kinh tế, giá trị sử dụng, có thể được chiếm giữ, quản lý, kiểm soát bởi con người”7 Tùy thuộc thuộc tính pháp lý hoặc vai trò đối với đời sống xã hội, vật được phân loại thành: vật chính và vật phụ; vật chia được và vật không chia được; vật tiêu hao, vật không tiêu hao; vật cùng loại, vật đặc định; vật

đồng bộ; (ii) Tiền: “được coi là tài sản thuộc quyền sở hữu bởi nó là phương tiện

dùng để thanh toán, là đối tượng trong các quan hệ hợp đồng và bồi thường thiệt hại”8; (iii) Giấy tờ có giá: “chỉ được coi là tài sản khi chúng được phát hành hợp pháp

và ở thời điểm có hiệu lực”9, là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định,

Công an Nhân dân, tr 246

kế (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Lê Minh Hùng (chủ biên), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr 37

sản và quyền thừa kế, Lê Minh Hùng (chủ biên), NXB Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr 14

Trang 18

điều kiện trả lãi và các điều kiện khác10; (iv) Quyền tài sản: là quyền trị giá được

bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác11

Trước đây, Pháp lệnh THADS năm 2004 đề cập đến phong tỏa tài khoản là một biện pháp cưỡng chế THA12 Điều này không phản ánh đúng bản chất của việc phong tỏa tài khoản vì đây chỉ mới là BPBĐ THA, chưa phải là biện pháp xử lý tài sản để THA Hơn nữa, “về mặt pháp lý nó có sự mâu thuẫn, vì cùng một đối tượng

là khoản tiền trong tài khoản lại có thể bị áp dụng hai biện pháp cưỡng chế”13 là biện pháp phong tỏa tài khoản và biện pháp khấu trừ tài khoản Do đó, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) tách hai biện pháp này thành một BPBĐ và một biện pháp cưỡng chế là sự thay đổi hợp lý, tiến bộ Đồng thời, xuất phát từ thực tế THADS cho thấy nhiều trường hợp người phải THA có tài sản ngoài

là tiền còn có thể là các loại tài sản khác như kim khí quý, đá quý… đang gửi người khác giữ Do đó, Điều 67 Luật THADS năm 2014 đã bổ sung biện pháp phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ có cùng cách thức thực hiện với biện pháp phong tỏa tài khoản nhằm tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người được THA

Pháp luật hiện hành không có quy định về khái niệm biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Tuy nhiên, về mặt khoa học pháp lý, có quan điểm cho rằng đây là biện pháp pháp lý nhằm ngăn chặn các hoạt động tiền ra của chủ tài khoản mà không áp dụng với các dòng tiền chuyển vào tài khoản Quan điểm này là hợp lý bởi vì “có như vậy, tiền vào tài khoản vẫn hoạt động bình thường mới đủ điều kiện để khấu trừ số lượng tiền để THA, chỉ khi việc khấu trừ tiền THA đủ thì mới chấm dứt phong tỏa”14 Trong khi đó, quan điểm khác cho rằng BPBĐ THADS này sẽ làm ngừng các giao dịch chiều vào lẫn giao dịch chiều ra của tài khoản Quan điểm này không khả thi đối với tài khoản chưa đủ tiền cần khấu trừ Việc niêm phong cả chiều vào và chiều ra của tài khoản làm các nguồn

Điều 2 Thông tư số 01/2012/TT-NHNN ngày 16 tháng 02 năm 2012 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc chiết khấu giấy tờ có giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

gov.vn/noidung/tintuc/Lists/NghienCuuTraoDoi/View_Detail.aspx?ItemID=495, truy cập ngày 14/04/2021

https://thads.moj.gov.vn/thuathienhue/noidung/tintuc/lists/thongtinkhac/view_detail.aspx?itemid=29, truy cập ngày 01/10/2021

Trang 19

tiền chuyển vào tài khoản và hoạt động giải ngân không thể thực hiện, gây cản trở đương sự thực hiện nghĩa vụ

Từ những nội dung đã phân tích, theo tác giả, “biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ là biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự được áp dụng đối với người phải thi hành nghĩa vụ trả tiền, tài sản khi họ đang có tiền, tài sản gửi giữ tại cơ quan, tổ chức, cá nhân gửi giữ nhằm cô lập, đặt tài khoản, tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị phong tỏa, không thể sử dụng được nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án”

1.1.2 Đặc điểm của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Với tư cách là một trong ba BPBĐ THADS, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ mang những đặc điểm chung của BPBĐ THADS như: (i) được

áp dụng linh hoạt, tại nhiều thời điểm, địa điểm khác nhau trong quá trình THADS như tại thời điểm ra quyết định THA, khi thực hiện cưỡng chế THA…; (ii) khi được

áp dụng chưa làm thay đổi, chuyển dịch về quyền sở hữu, sử dụng tài sản của chủ

sở hữu, chủ sử dụng; (iii) không cần thông báo trước cho đương sự về việc áp dụng; (iv) chủ thể áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng BPBĐ THADS phải bồi thường nếu việc

áp dụng không đúng, gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPBĐ hoặc người thứ ba…

Bên cạnh đó, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ còn có những đặc trưng riêng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền và thực có tiền, tài sản đang gửi giữ tại các tổ chức tín dụng, người thứ ba khác

Trong lĩnh vực THADS, có hai loại nghĩa vụ chính: Một là, các nghĩa vụ

mang tính nhân thân như: Buộc công khai xin lỗi; buộc nhận người lao động trở lại làm việc; buộc thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định; giao con chưa

thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định Hai là, các

nghĩa vụ thanh toán tiền, tài sản; đây là loại nghĩa vụ rất phổ biến trong THADS

“Các nghĩa vụ thanh toán, có tính chất tài sản được thực hiện nếu người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ có tài sản để thi hành”15, theo đó, việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ chỉ được thực hiện trong trường hợp người phải THA

có tài khoản, tài sản gửi giữ Biện pháp này không thể áp dụng với việc thi hành

Trang 20

nghĩa vụ mang tính nhân thân Do đó, khi ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản

ở nơi gửi giữ, CHV cần kiểm tra quyết định THA phải có nội dung thi hành nghĩa

vụ trả tiền hoặc trả vật có giá trị

Thứ hai, đối tượng bị áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ là tài khoản, tài sản gửi giữ của người phải thi hành án

Tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế cùng sự phát triển của các dịch vụ gửi giữ tiền, thanh toán qua tài khoản, chuyển khoản dẫn đến hầu hết mọi cá nhân, tổ chức đều có tài khoản tại các, tổ chức tín dụng Có thể nói tài khoản tại ngân hàng,

tổ chức tín dụng khác là nơi chứa tiền, tài sản lớn, phổ biến nhất hiện nay Đây là cơ

sở cho sự tồn tại của quy phạm pháp luật về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ khi vấn đề bảo đảm việc THADS được đặt ra Thêm nữa, tiền trong tài khoản và tài sản gửi giữ là những tài sản có tính thanh khoản cao nên việc Luật THADS năm 2014 quan tâm dành riêng một điều luật để điều chỉnh là cần thiết

Thứ ba, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng khi đã có cơ sở xác định tài khoản, tài sản bị phong tỏa thuộc sở hữu của người phải thi hành án

Để quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phát huy tối đa chức năng bảo đảm nghĩa vụ THA thì tài khoản, tài sản gửi giữ là đối tượng của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải thuộc sở hữu của người phải THA Pháp luật THADS yêu cầu phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa trong quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; cho nên, để ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ đúng đối tượng, đúng nội dung, CHV cần xác định rõ các thông tin về tài khoản, tài sản cần phong tỏa Mặc dù có thể gặp nhiều khó khăn khi tiến hành nghiệp vụ trên do cản trở từ người phải THA hoặc bên thứ ba nhưng CHV phải cố gắng để đảm bảo được tính nhanh chóng, kịp thời và tính chính xác Bởi việc CHV vội vàng ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ mà thiếu thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, không chính xác có thể dẫn đến việc người phải THA có cơ hội kịp thời rút hết tiền, tẩu tán tài sản, gây cản trở quá trình THA

Thứ tư, việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ dẫn đến người có tài khoản, tài sản gửi giữ bị phong tỏa không thực hiện được hành vi chuyển dịch tài sản, chuyển tiền, rút tiền trong tài khoản

Trang 21

Mục đích của việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ là nhằm bảo toàn

số tiền trong tài khoản, tài sản gửi giữ của người phải THA Theo đó, phương thức tác động của BPBĐ THA này đối với người phải THA là yêu cầu tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản gửi giữ không cho phép hoạt động chuyển tiền, rút tiền hoặc giao dịch khác liên quan đến tài sản gửi giữ Do đó, việc người phải THA không thực hiện được hành vi chuyển tiền, rút tiền trong tài khoản bị phong tỏa là đương nhiên Tuy nhiên, số tiền, giá trị tài sản gửi giữ bị phong tỏa phải tương ứng với nghĩa

vụ phải thi hành và các chi phí THA theo quy định của pháp luật nên người phải THA vẫn có quyền giao dịch đối với phần tiền, tài sản gửi giữ không bị phong tỏa

1.2 Ý nghĩa của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ nói riêng và BPBĐ THADS nói chung đều đóng vai trò quan trọng ngăn chặn hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA của người phải THA Theo đó, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA, tạo lập, duy trì niềm tin của người dân cần được pháp luật, Nhà nước bảo vệ Đối với người phải THA, BPBĐ THADS giúp răn đe, thúc đẩy việc tự nguyện THA Từ đó, thúc đẩy nhanh quá tình THA, tiết kiệm chi phí, công sức tổ chức THA

Riêng đối với biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, tiền trong tài khoản và tài sản gửi giữ là những tài sản mang tính thanh khoản cao nên dễ dàng

bị tẩu tán trong thời gian rất ngắn qua vài nút lệnh giao dịch Bên cạnh đó, tài sản này được lưu giữ, quản lý bởi bên thứ ba hay các tổ chức tín dụng với cách thức lưu giữ đặc biệt nên CHV không thể trực tiếp thu giữ như các loại tài sản khác Do đó, cách thức tối ưu để CHV bảo toàn điều kiện THA đối với loại tài sản này là ra quyết định hay lập biên bản phong tỏa, yêu cầu người quản lý tài khoản, tài sản tạm ngừng hay hạn chế các giao dịch liên quan đến tài khoản, tài sản gửi giữ

Thêm nữa, việc bị phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ khiến người phải THA không thể thực hiện được hành vi chuyển tiền, rút tiền trong tài khoản Điều này ảnh hưởng lớn quyền lợi kinh tế của người phải THA, đặc biệt trong bối cảnh hiện đại hóa, hầu hết mọi hoạt động giao dịch đều liên quan đến tài khoản tín dụng Việc tài khoản, tài sản gửi giữ bị phong tỏa có thể làm nguồn tiền đảm bảo trong giao dịch, kinh doanh của người phải THA không đảm bảo Đồng thời, đối tác sẽ trở nên e ngại, thận trọng hơn trong việc giao dịch, ký kết hợp đồng với người phải THA là chủ tài khoản, tài sản gửi giữ đang bị nghi ngờ về uy tín, khả năng thanh

Trang 22

toán, giao dịch do có tranh chấp pháp lý chưa giải quyết Từ đó thúc đẩy người phải THA nhanh chóng tự nguyện thi hành nghĩa vụ của mình để hạn chế tối đa thiệt hại

có thể xảy ra BPBĐ THADS này được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực Nhà nước đã giúp CHV có cơ sở pháp lý vững chắc để tiến hành hiệu quả các bước tiếp theo của quá trình THA, đặc biệt là việc thi hành các biện pháp cưỡng chế THADS như: khấu trừ tiền trong tài khoản, trừ vào thu nhập của người phải THA… Có thể nói, quy định tại Điều 67 Luật THADS năm 2014 đã đáp ứng tốt hơn yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả của cưỡng chế THADS16

Như vậy, biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ là cơ chế giúp CHV kịp thời ngăn chặn người phải THA thực hiện hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA Nói cách khác, quy định biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản

ở nơi gửi giữ giúp bảo toàn được điều kiện THA, đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của đương sự, bảo đảm bản án, quyết định đã có hiệu lực được thi hành trên thực tế

1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện

1.3.1 Hoạt động xác minh, thu thập thông tin về tài khoản, tài sản gửi giữ

Pháp luật THADS không bắt buộc CHV tiến hành xác minh trước khi áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Tuy nhiên, để ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ đúng đối tượng, CHV cần nắm các thông tin cơ bản như: Số tài khoản, ngày mở tài khoản, người đứng tên tài khoản, tài sản, số dư, số nợ… được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau như: Hợp đồng với đối tác; phân tích, nghiên cứu bản án; hoặc được đương sự, người có quyền, nghĩa

vụ liên quan cung cấp thông tin…

Trên thực tế việc thu thập thông tin về tài khoản, tài sản gửi giữ của người phải THA gặp nhiều khó khăn như:

Thứ nhất, hoạt động phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan còn chậm trễ

Tình huống: Khi thi hành Bản án số 06/2018/KDTM-ST ngày 22/05/2018 và

Bản án số 03/2018/KDTM-PT ngày 02/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai về việc buộc bà Thanh (Giám đốc Công ty cổ phần Linh Anh Anh) và ông Thiện nộp án

noidung/hdnv/lists/traodoinghiepvu/view_detail.aspx?itemid=33, truy cập ngày 12/10/2021

Trang 23

phí, liên đới trả cho Công ty Chailease hơn 3,6 tỉ đồng và lãi suất do chậm THA Lúc

11 giờ 30 phút ngày 28/03/2019, đại diện Chi cục THADS thành phố Lào Cai đã giao văn bản số 169/CCTHADS-NV cho Phòng Giao dịch Kim Tân thuộc VietinBank Lào Cai yêu cầu cung cấp ngay thông tin tài khoản của bà Thanh, ông Thiện, Công ty cổ phần Linh Linh Anh và đề nghị không thực hiện bất kỳ giao dịch nào liên quan đến các tài khoản trên Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, đại diện Chi cục THADS thành phố Lào Cai tiếp tục đến trụ sở chính của Vietinbank Lào Cai làm việc trực tiếp với lãnh đạo Ngân hàng nhưng được trả lời rằng việc cung cấp thông tin phải mất 1 giờ 30 phút Đến 15 giờ 05 phút, Ngân hàng cung cấp thông tin tài khoản Tuy nhiên trước 15 giờ, ông Thiện đã rút 4,6 tỉ đồng, số dư tài khoản chỉ còn 127 triệu đồng Theo giải trình của Vietinbank Lào Cai, việc chậm cung cấp thông tin trên do tình hình khách hàng đông, phát sinh quá nhiều giao dịch trong khi để cung cấp thông tin theo yêu cầu của Chi cục THADS, Ngân hàng phải vấn tin, tra soát theo nội dung yêu cầu ngoài tài khoản thanh toán của ba khách hàng, và tra cứu các tài sản khác, các hợp đồng vay vốn, thế chấp (nếu có) của cả ba khách hàng Thêm nữa, cán bộ ngân hàng chưa hiểu rõ cần phải cung cấp ngay theo yêu cầu dẫn đến quá trình thực hiện bị kéo dài17

Việc Ngân hàng trên xem nhẹ yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan THADS và sự lỏng lẻo trong quản lý nhân viên dẫn tới người phải THA kịp thời tẩu tán tài sản Thậm chí trong vụ việc này, đại diện đương sự phải THA khẳng định sẽ không nộp lại số tiền phải THA theo quy định

Bên cạnh đó, vấn đề xác minh thông tin tài khoản, tài sản gửi giữ của người phải THA ở nước ngoài còn gặp nhiều khó khăn Theo khoản 1 Điều 181 Luật THADS năm

2014, việc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự trong THA được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp Tuy nhiên, phạm vi tương trợ tư pháp về THADS còn hẹp, chủ yếu giới hạn ở việc tống đạt văn bản, giấy tờ về THA18 Điều này gây cản trở quá trình THA Ở châu Âu, khoảng một triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt với vấn đề thu hồi các khoản nợ xuyên biên giới, gây thất thoát đến 600 triệu Euro mỗi năm cho các công ty này19 Vì vậy, các quốc gia châu Âu (trừ Vương quốc Anh và Đan Mạch) đã cùng ban hành Regulation (EU) No 655/2014 of the European Parliament and of the Council of 15 May 2014

vietinbank-lao-cai-bi-to-tiep-tay-cho-tau-tan-tai-san-thi-hanh-an-21218.html, truy cập ngày 04/06/2022

truy cập ngày 03/01/2022

Trang 24

establishing a European Account Preservation Order procedure to facilitate border debt recovery in civil and commercial matters (Quy tắc EU số 655/2014 ngày

cross-15 tháng 05 năm 2014 của Nghị viện châu Âu và Hội đồng Liên minh châu Âu về thủ tục ban hành Lệnh bảo toàn tài khoản châu Âu phục vụ việc thu hồi nợ xuyên biên giới trong các vấn đề dân sự và thương mại) Theo đó, các quy định về Lệnh bảo toàn tài khoản châu Âu (EAPO - European Account Preservation Order) cho phép phong tỏa tài khoản ngân hàng của con nợ (người phải THA) theo các điều kiện giống nhau ở tất

cả các nước châu Âu Điều này có ý nghĩa quan trọng trong thủ tục thu hồi nợ vì giúp ngăn cản con nợ di chuyển tài sản của họ trong khi việc THA đang chờ xử lý20 Tuy nhiên, để tránh lạm dụng EAPO, trong mọi tình huống, chủ nợ (người được THA) phải chứng minh rằng cần áp dụng EAPO vì đang tồn tại rủi ro việc THA sẽ bị cản trở do con nợ có nguy cơ cất giấu hoặc tiêu hủy tài sản của mình Tòa án sẽ đánh giá các bằng chứng do chủ nợ cung cấp về các rủi ro trên dựa theo các tiêu chí như: Các hành vi của con nợ đối với yêu cầu của chủ nợ hoặc trong tranh chấp trước đó giữa các bên; lịch sử tín dụng của con nợ; bản chất tài sản của con nợ và bất kỳ hành động nào gần đây của con nợ liên quan đến đối với tài sản của mình… Mặc dù chủ nợ bị áp đặt trách nhiệm cung cấp số nhận dạng ngân hàng như số tài khoản quốc tế IBAN hoặc mã định dạng ngân hàng BIC), tên và địa chỉ ngân hàng, số tài khoản của con nợ (nếu có)21…; tuy nhiên , EAPO vẫn tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các chủ nợ thu thập thông tin Cụ thể nếu không thu thập được các thông tin trên, chủ nợ có thể yêu cầu Tòa án nơi nộp đơn yêu cầu cơ quan quản lý thông tin của Quốc gia Thành viên nơi có tài khoản thu thập thông tin cần thiết để xác định các ngân hàng và tài khoản của con nợ Ngay sau khi cơ quan quản lý thông tin của Quốc gia Thành viên có được thông tin tài khoản, cơ quan này sẽ chuyển thông tin đó đến Tòa án yêu cầu22 Thậm chí, khi EAPO được ban hành mà không nêu rõ số tài khoản của con nợ mà chỉ cung cấp tên và các chi tiết liên quan khác đến con nợ, ngân hàng hoặc đơn vị khác chịu trách nhiệm thi hành Lệnh sẽ xác thực các thông tin này23

Việc EAPO được cấp ở một Quốc gia Thành viên EU sẽ được công nhận ở tất cả các Quốc gia Thành viên khác24 và các quy chế chuyên môn chỉ để phục vụ việc phong tỏa tài khoản xuyên biên giới đã góp phần đơn giản hóa thủ tục, giúp các

https://ec.europa.eu/info/law/cross-border-cases/procedures-simplify-cross-border-cases/late-or-non-payment-debts/freezing-debtors-bank-account_en, truy cập ngày 03/01/2022

Trang 25

doanh nghiệp và công dân EU có thể thu hồi hàng triệu khoản nợ xuyên biên giới Hiện nay pháp luật Việt Nam sử dụng thủ tục ủy thác tư pháp để giải quyết các trường hợp này; tuy nhiên trình tự, thủ tục ủy thác tư pháp khá phức tạp và mất nhiều thời gian, không đảm bảo yêu cầu nhanh chóng, kịp thời của BPBĐ THADS

Thứ hai, khó khăn do các quy định về bảo mật thông tin khách hàng của các

tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà nước

Để bảo đảm quyền lợi của khách hàng, Luật Các Tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tại Điều 14 đã quy định trách nhiệm bảo mật thông tin của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; hoặc Nghị định số 117/2018/NĐ-CP cũng quy định cụ thể về trình tự, thủ tục cung cấp thông tin khách hàng (Điều 8), hồ

sơ yêu cầu cung cấp thông tin khách hàng (Điều 9), đồng thời quy định trách nhiệm bảo mật thông tin của các cơ quan Nhà nước, tổ chức khác, cá nhân (Điều 15) Đây là tín hiệu đáng mừng về tính chặt chẽ, mức độ tin cậy cao của hệ thống pháp luật ngân hàng Tuy nhiên, thực tế tồn tại nhiều trường hợp các tổ chức tín dụng lấy lý do có nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng về số dư tài khoản nên không phối hợp khi CHV yêu cầu xác minh thông tin, mặc dù Luật THADS năm 2014 tại Điều 176, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017) tại Điều 10 hoặc Nghị định số 117/2018/NĐ-CP tại Điều 10 đã quy định về trách nhiệm cung cấp thông tin khi được CHV, cơ quan THADS yêu cầu Thậm chí ở góc độ tiêu cực hơn, có trường hợp cán

bộ của các tổ chức tín dụng lạm dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc cung cấp thông tin Để hạn chế tình trạng này, cần tăng cường tập huấn cho nhân viên, cán bộ ngân hàng về tính khẩn cấp, quan trọng của yêu cầu cung cấp thông tin của CHV và trách nhiệm của bản thân

Thứ ba, chưa quy định thống nhất về chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin

Thủ trưởng cơ quan THADS, CHV có quyền yêu các cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản gửi giữ của người phải THA cung cấp thông tin và

có trách nhiệm bảo mật thông tin này Tuy nhiên, đối với quyền yêu cầu cung cấp thông tin của người được THA hiện nay chưa được quy định rõ ràng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và văn bản hướng dẫn thi hành25không đề cập đến quyền này trong khi Luật THADS năm 2014 quy định người được

02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN

Trang 26

THA có quyền yêu cầu xác minh điều kiện THA26; đồng thời, ràng buộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người được THA khi yêu cầu áp dụng BPBĐ không đúng, gây thiệt hại cho người phải THA Điều này gây khó khăn cho người được THA khi yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin tài khoản, tài sản gửi giữ của người phải THA

Tóm lại, việc xác minh thông tin trước khi áp dụng BPBĐ THADS là cần thiết, trong đó chất lượng phối hợp giữa cơ quan THADS và cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan là yếu tố quyết định hiệu quả áp dụng BPBĐ THADS Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp áp dụng BPBĐ đều cần xác minh, thu thập thông tin mà tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi BPBĐ và hoàn cảnh thực tế, CHV cân nhắc để quyết định có cần tiến hành công tác xác minh hay không, hoặc mức độ thông tin cần thu thập

Kiến nghị hoàn thiện

Thứ nhất, cần bổ sung quy định của Luật THADS năm 2014 và Luật Các tổ

chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để thống nhất về đối tượng yêu cầu cung cấp thông tin về tài khoản, tài sản của người phải THA theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người được THA khi tiến hành xác minh tài khoản, tài sản

Thứ hai, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế ủy thác tư pháp về THADS, đặc

biệt trong lĩnh vực cung cấp thông tin tài khoản, tài sản để nâng cao hiệu quả thi hành bản án, quyết định có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài

1.3.2 Ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Về hình thức,

Việc phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ được thể hiện dưới hình thức quyết định27 Đối với CHV và cơ quan THADS, đây là cơ sở quy kết trách nhiệm nếu việc áp dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản không đúng hoặc vượt mức, gây thiệt hại cho người phải THA hoặc người thứ ba Ở góc độ của đương sự, quyết định hành chính là đối tượng khiếu nại khi có căn cứ xác định quyết định đó không đúng

Tuy nhiên, “trong xu thế phát triển nền kinh tế thị trường có sự hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, các giao dịch thương mại, dân sự ngày càng đa dạng

và sôi động ở nước ta, có thể nói quá trình chuyển dịch tài sản diễn ra rất nhanh,

Trang 27

không bó hẹp trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; do đó, để giám sát được quá trình này là vấn đề khá phức tạp”28 Để hỗ trợ hoạt động THA kịp thời, khoản 2 Điều 67 Luật THADS năm 2014 cho phép CHV lập biên bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản của người phải THA phong tỏa tài khoản, tài sản đó trong trường hợp cần phong tỏa ngay mà chưa ban hành quyết định phong tỏa “Quy định này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người được THA, hạn chế tình trạng tẩu tán tài sản, nâng cao trách nhiệm của tổ chức đang nắm giữ tài sản của người phải THA”29 Tuy nhiên, để tránh tình trạng CHV lạm quyền, cố ý trì hoãn việc THA, khoản 2 Điều 67 Luật THADS năm 2014 quy định CHV phải ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản

Về nội dung,

Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa và phải tương ứng với nghĩa vụ của người phải THA và các chi phí THA30 Trường hợp người phải THA có nhiều tài khoản thì CHV căn cứ số dư tài khoản để quyết định áp dụng biện pháp phong tỏa đối với một hoặc nhiều tài khoản Việc giới hạn số tiền, tài sản bị phong tỏa giúp “tránh tình trạng tùy tiện phong tỏa toàn bộ tài khoản, tài sản làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, giao dịch bình thường của chủ tài khoản, tài sản”31 và giúp các cá nhân, tổ chức trực tiếp thực hiện quyết định có thể thực hiện chính xác, đúng đối tượng, đảm bảo sự thống nhất trong công tác tổ chức thực thi Mặc dù pháp luật quy định khá rõ, nhưng thực tiễn vẫn tồn tại sai phạm Chẳng hạn:

Tình huống: Ngày 17/01/2018 Chi cục THADS quận Hải Châu thành phố Đà

Nẵng ra Quyết định THA số 674/QĐ-CCTHADS và Quyết định THA số THADS tổ chức thi hành Bản án số 27/KDTM-PT ngày 25/12/2017 của Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng buộc Công ty cổ phần Tư vấn thiết kế và xây dựng Phúc Hoàng Ngọc (Công ty Phúc Hoàng Ngọc) phải trả cho ông Thắng và bà Nga

Luật Thi hành án dân sự (Bộ Tư pháp) ngày 08/05/2014 về Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự

33/2020/NĐ-CP; Khoản 1 Điều 10 TTLT số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN

án dân sự (Bộ Tư pháp) ngày 08/05/2014 về Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự

Trang 28

hơn số tiền 790.141.300 đồng, nộp án phí do bác yêu cầu phản tố là 44.980.652 đồng Ngày 01/10/2018, tiếp tục ra Quyết định THA số 21/QĐ-CCTHADS tổ chức THA đối với Bản án số 10/2018/KDTM-ST ngày 17/04/2018 của Tòa án Nhân dân quận Hải Châu buộc Công ty Phúc Hoàng Ngọc trả nợ cho Công ty cổ phần Xây dựng đầu tư bất động sản An Quốc số tiền 208.300.000 đồng Số tiền Công ty Phúc Hoàng Ngọc phải thi hành hai bản án trên gồm tiền lãi chậm THA tạm tính đến ngày 04/10/2018 là hơn 1.075.486.181 đồng

Ngày 25/09/2018, CHV đã gửi công văn số 637/CV-CCTHADS đến Ngân hàng Á Châu (ACB) - Phòng giao dịch Hòa Khánh chi nhánh Đà Nẵng yêu cầu phong tỏa tài khoản của Công ty Phúc Hoàng Ngọc Hành vi này vi phạm quy định về việc CHV phải ban hành quyết định khi phong tỏa tài khoản của người phải THA

Ngày 04/10/2018, CHV tiếp tục ban hành Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS phong tỏa 1.075.486.181 đồng trong tài khoản của Công ty Phúc Hoàng Ngọc tại Ngân hàng An Bình - Chi nhánh Đà Nẵng32 Cùng ngày, Quyết định số 02/QĐ-CCTHADS được tống đạt tới Ngân hàng An Bình - Chi nhánh Đà Nẵng để thực hiện Tuy nhiên, tại thời điểm CHV ban hành Quyết định phong tài khoản trên, số

dư trong tài khoản được nêu trong Quyết định chỉ có 779.904 đồng Như vậy, CHV

đã vi phạm khoản 2 Điều 67 Luật THADS năm 2014 về việc quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ phải xác định rõ số tiền, tài sản bị phong tỏa

1.3.3 Thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ

Sau khi lập biên bản hoặc ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, CHV phải giao quyết định, biên bản trên cho người đang quản lý tài khoản, tài sản gửi giữ Chủ thể được giao quyết định phong tỏa là người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cơ quan, cá nhân đang quản lý tài khoản, tài sản gửi giữ hoặc người có trách nhiệm nhận văn bản của tổ chức đó Trình tự, thủ tục giao, nhận quyết định phong tỏa được quy định khá chặt chẽ tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) Tuy nhiên, sự chặt chẽ này đôi khi khá rườm rà, đặc biệt trong bối cảnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, dẫn tới người phải THA kịp thời tẩu tán tài sản

Châu thành phố Đà Nẵng ngày 04/10/2018 về việc phong tỏa tài khoản; Công văn số 24/CV-CCTHADS của Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng về khiếu nại của Công ty cổ phần Tư vấn thiết kế và Xây dựng Phúc Hoàng Ngọc

Trang 29

Pháp luật Anh quy định khá linh hoạt, tinh gọn trong công tác chuyển giao và tiếp nhận Lệnh đóng băng tài sản (Freezing Order/ Freezing Injunction)33 Điều này

thể hiện rõ trong vụ kiện Her Majesty's Commissioners of Customs and Excise

này, Cơ quan Hải quan và Thuế (Customs and Excise) khởi kiện yêu cầu Ngân hàng Barclays bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm Lệnh đóng băng tài sản Trước đó,

Cơ quan Hải quan và Thuế đã xin được hai Lệnh đóng băng tài khoản tại Ngân hàng Barclays của hai công ty Brightstar Systems Ltd (Brightstar) và Doveblue Ltd (Doveblue) để ngăn ngừa việc tẩu tán khoản nợ là khoản thuế giá trị gia tăng Đối với Brightstar, Lệnh đóng băng tài khoản được ban hành với nội dung: Bị đơn không được đưa ra khỏi Anh và xứ Wales hoặc theo bất kỳ cách nào khác để xử lý hay làm giảm giá trị của bất kỳ tài sản nào của mình ở Anh và xứ Wales, cho dù đứng tên riêng hay không và thuộc sở hữu duy nhất hay đồng sở hữu với giá trị 1,8 triệu bảng Anh Lệnh cấm này áp dụng trên tài sản cụ thể là bất kỳ khoản tiền nào trong tài khoản có số 01311633 tại Ngân hàng HSBC và số tài khoản 70845302 tại Ngân hàng Barclays Đồng thời Lệnh cũng ghi rõ: Việc bất kỳ người nào được thông báo về Lệnh này cố ý hỗ trợ hoặc cho phép vi phạm Lệnh là một “sự khinh thường Tòa án” (a Contempt of Court) Bất kỳ người nào làm như vậy đều có thể bị phạt tù, phạt tiền hoặc bị tịch thu tài sản Với nội dung tương tự, Lệnh đóng băng tài khoản đối với Doveblue được đưa ra với số tiền 4 triệu bảng Anh Điều đáng chú ý

là cả hai Lệnh đóng băng tài khoản trên đã được gửi cho Ngân hàng bằng fax Phương thức tống đạt này giúp đảm bảo Lệnh đóng băng tài khoản của Tòa án được ngân hàng tiếp nhận kịp thời và thực hiện hiệu quả Điều này có giá trị tham khảo cao cho pháp luật Việt Nam, không phải mọi quy trình thực hiện bằng văn bản, nghiêm ngặt đều tối ưu

Bên cạnh đó, về thời hạn phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, để việc THA được xuyên suốt, khoản 3 Điều 67 Luật THADS năm 2014 quy định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ, CHV phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong

bên loại bỏ tài sản khỏi nơi hiện diện, (ii) ngăn chặn một bên giao dịch bất kỳ tài sản nào cho dù có nằm trong phạm vi quyền hạn hay không

[2006] UKHL 28, https://publications.parliament.uk/pa/ld200506/ldjudgmt/jd060621/custom.pdf, truy cập ngày 11/12/2021

Trang 30

tỏa Việc chấm dứt phong tỏa được thực hiện khi người phải THA đã thi hành xong nghĩa vụ THA; hoặc cơ quan, tổ chức đã thực hiện xong yêu cầu của CHV về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải THA; hoặc có quyết định đình chỉ THA35 Đối với trường hợp cưỡng chế THA, CHV có thể kê biên tài sản của người phải THA đang do người thứ ba giữ theo Điều 91 Luật THADS năm 2014 hoặc khấu trừ tiền trong tài khoản của người THA theo Điều 76 Luật này miễn rằng số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ THA và chi phí quá trình tổ chức THA Trường hợp số dư không đủ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ, CHV có thể khấu trừ số dư đang có trong tài khoản đồng thời áp dụng kèm biện pháp cưỡng chế khác Ngoài ra cần lưu ý trong trường hợp áp dụng biện pháp cưỡng chế THA, việc giải tỏa quyết định phong tỏa tài khoản được thực hiện sau khi đã thực hiện xong quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản hoặc quyết định trừ vào thu nhập của người phải THA Chẳng hạn, đối với các khoản cưỡng chế trừ vào thu nhập theo tỷ lệ nhất định như: Tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập khác thì chưa thể giải tỏa việc phong tỏa tài khoản ngay sau 10 ngày, để hàng tháng yêu cầu tổ chức, người quản lý tài khoản thực hiện việc trừ vào thu nhập của người phải THA theo Quyết định của CHV Như vậy, CHV cho dù không áp dụng biện pháp cưỡng chế THA vẫn phải ra quyết định chấm dứt phong tỏa tài khoản, tài sản

ở nơi gửi giữ để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Đây là hành vi pháp lý thể hiện sự chấm dứt điều chỉnh của cơ quan THADS đối với tài khoản, tài sản gửi giữ của đương sự

Trước đây, Luật THADS năm 2008 khống chế thời hạn này trong 05 ngày làm việc nhưng tồn tại vướng mắc như sau: Điều 45 Luật này quy định thời hạn tự nguyện THA là 15 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA Vấn đề đặt ra là trong thời hạn 05 ngày làm việc, người phải THA chưa hết quyền thỏa thuận THA theo khoản 1 Điều 6 và thời gian

tự nguyện THA Điều này dẫn đến việc CHV áp dụng biện pháp cưỡng chế THA khi người phải THA đang trong thời gian tự nguyện THA, vi phạm nghiêm trọng quyền của người phải THA “Các nhà làm luật đã đưa ra những quy định thiếu rõ ràng, và để an toàn nếu có áp dụng biện pháp này, CHV đều phải vượt rào - vi phạm thời hạn 05 ngày để đảm bảo đúng trình tự, thủ tục cưỡng chế THA”36 Do

& Pháp luật, số 2, tr 12

Trang 31

đó, Luật THADS năm 2014 đã kéo dài thời hạn để thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ từ 05 ngày làm việc lên 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Đồng thời, điều chỉnh thời hạn tự nguyện THA còn 10 ngày, kể từ ngày người phải THA nhận được quyết định THA hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA Tuy nhiên, vẫn tồn tại mâu thuẫn giữa thời hạn phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ và thời hạn tự nguyện THA trong quy định hiện hành Đặt trường hợp người phải THADS nhận được quyết định THA (hoặc được thông báo hợp lệ quyết định THA) cùng là ngày CHV ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Khi đó, hai thời hạn này trùng nhau nhưng CHV phải áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS trong khoảng thời gian người phải THA được quyền tự nguyện THA do hết thời hạn áp dụng BPBĐ THADS mà đương sự không thi hành nghĩa vụ của mình Lúc này, quyền tự nguyện THA của người phải THA vô hình trung bị triệt tiêu Nhưng ngược lại, nếu CHV không thực hiện trong thời gian đó thì vi phạm thời hạn áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS trong trường hợp đã ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ37

Ngoài ra, mặc dù luật quy định khá rõ nhưng thực tế vẫn có trường hợp chưa hiểu đúng về cách tính thời hạn trên Chẳng hạn:

Tình huống: Ngày 02/07/2021, CHV thuộc Chi cục THADS quận Liên Chiểu

thành phố Đà Nẵng ra Quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ số 01/QĐ-CCTHADS để phong tỏa tài sản, tài sản đối với số tiền bị phong tỏa: 11.000.000 đồng của Công ty cổ phần LILAMA7 tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng38 Tuy nhiên, sau đó Công ty cổ phần LILAMA7 không tự nguyện THA mặc dù có tiền tại ngân hàng Đến ngày 12/07/2021, CHV trên đã ban hành Quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản số 06/QĐ-CCTHADS đề nghị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng khấu trừ số tiền 11.000.000 đồng trong tài khoản của Công

ty cổ phần LILAMA739 Theo khoản 3 Điều 67 Luật THADS năm 2014 CHV trên cần ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản vào ngày 11/07/2012, nhưng CHV

đã không tính ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ vào thời

Chiểu thành phố Đà Nẵng ngày 02/07/2021 về việc phong tỏa tài khoản, tài sản

Chiểu thành phố Đà Nẵng ngày 12/07/2021 về việc khấu trừ tiền trong tài khoản để thi hành án

Trang 32

hạn thực hiện quyết định phong tỏa Do đó, việc đào tạo nghiệp vụ cho cán bộ THA rất quan trọng; ảnh hưởng đến tính thống nhất của hoạt động THADS

Kiến nghị hoàn thiện

Nhằm tránh xâm phạm thời gian tự nguyện THA của đương sự, đồng thời giới hạn thời gian phải ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế để tránh CHV trì hoãn quá trình THA, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 67 Luật THADS năm 2014 theo hướng:

“Hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản

ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định của Luật này, nhưng không quá 01 ngày kể từ khi hết thời hạn trên”

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của Luận văn đã làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa pháp

lý của biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Trên nền tảng kiến thức này, tác giả đi sâu làm rõ quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ trên các phương diện chính như sau: (i) Hoạt động xác minh, thu thập thông tin về tài khoản, tài sản gửi giữ; (ii) Ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ; (iii) Thực hiện quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Đồng thời, việc tìm hiểu pháp luật Anh và các quy định của Liên minh châu Âu giúp thấy được tương quan pháp luật nổi bật với Việt Nam trong bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau về vấn đề nghiên cứu

Bên cạnh đó, tác giả lồng ghép các vụ việc thực tiễn nhằm làm nổi bật hơn các ưu điểm và bất cập của quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ Từ đó học hỏi, rút kinh nghiệm vào các kiến nghị hoàn thiện pháp luật như sau:

Một là, cần bổ sung quy định của Luật THADS năm 2014 và Luật Các tổ

chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để thống nhất về đối tượng yêu cầu cung cấp thông tin về tài khoản, tài sản của người phải THA theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người được THA khi tiến hành xác minh tài khoản, tài sản

Hai là, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế ủy thác tư pháp về THADS, đặc

biệt trong lĩnh vực cung cấp thông tin tài khoản, tài sản để nâng cao hiệu quả thi hành bản án, quyết định có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài

Ba là, nhằm tránh xâm phạm thời gian tự nguyện THA của đương sự, đồng

thời giới hạn thời gian phải ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa hoặc áp dụng biện pháp cưỡng chế để tránh CHV trì hoãn quá trình THA, tác giả kiến nghị sửa đổi khoản 3 Điều 67 Luật THADS năm 2014 theo hướng:

“Hết thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ra quyết định phong tỏa tài khoản, tài sản

ở nơi gửi giữ, Chấp hành viên phải áp dụng biện pháp cưỡng chế hoặc ra quyết định chấm dứt việc phong tỏa theo quy định của Luật này, nhưng không quá 01 ngày kể từ khi hết thời hạn trên”

Trang 34

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP TẠM GIỮ TÀI SẢN, GIẤY TỜ CỦA ĐƯƠNG SỰ

2.1 Khái niệm, đặc điểm của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Pháp luật THADS không quy định khái niệm giấy tờ hay nêu rõ các loại giấy tờ là đối tượng của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự Nội hàm khái niệm giấy tờ trong biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự khá rộng, gồm các tài liệu, giấy tờ liên quan đến việc THA Giấy tờ bị tạm giữ để bảo đảm THADS là giấy tờ có giá trị liên quan đến việc THA như: Giấy chứng nhận đăng

ký xe mô tô, xe máy; Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất… hoặc các tài sản có thể xử lý được để THA Như vậy, đối tượng bị tạm giữ

có hình thức vật lý là giấy tờ, tài liệu; đồng thời nội dung giấy tờ có giá trị để bảo đảm việc THA

Đương sự trong THADS đóng vai trò là chủ thể nòng cốt tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình THADS nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo bản án, quyết định của Tòa án “Khi tham gia vào quá trình THA, các đương sự có quyền tự định đoạt quyền lợi của mình Do đó, hoạt động tố tụng của họ có thể làm phát sinh, thay đổi, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THA”40 Khái niệm đương sự trong THADS lần đầu tiên được ghi nhận trong Pháp lệnh THADS năm 200441, bao gồm người được THA, người phải THA và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc THADS Đến Điều 3 Luật THADS năm 2014, đương sự chỉ bao gồm người được THA và người phải THA Trong khi đó, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quy định tại khoản 4 Điều này là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ THA của đương sự, không phải là người được hưởng quyền, lợi ích hoặc phải thực hiện nghĩa vụ xác định trong bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS như người được THA hoặc người phải THA Về nguyên tắc, đương sự trong THADS phải là người

có tên trong bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục THADS Tuy nhiên trong

Bùi Thị Huyền, NXB Công an Nhân dân, tr 100

Trang 35

trường hợp chuyển giao quyền, nghĩa vụ THA hoặc thực hiện ủy quyền theo quy định của pháp luật thì đương sự trong THADS có thể không phải là người có tên trong bản án, quyết định42

Khái niệm biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự không được quy định cụ thể trong pháp luật THADS Tuy nhiên, từ bản chất biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự “là một trong những chế định cho phép người

có thẩm quyền thực hiện việc chiếm hữu tài sản trong một thời hạn nhất định, nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ khi phát sinh nghĩa vụ về tài sản của chủ

sở hữu và chịu trách nhiệm với việc tạm giữ của mình”43, có thể rút ra khái niệm như sau:

“Tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự là biện pháp bảo đảm thi hành án dân

sự được thực hiện bằng phương thức tạm giữ đối với động sản hoặc các giấy tờ liên quan đến tài sản thi hành án mà đương sự, bên thứ ba khác đang quản lý, sử dụng nhằm ngăn chặn việc người phải thi hành án tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án”

Bên cạnh những điểm tương đồng với biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản

ở nơi gửi giữ và biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản đã được phân tích tại Mục 1.1.2 Chương 1, biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự có các đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương

sự tài sản, giấy tờ là tài sản, giấy tờ do đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản

lý, sử dụng

Tài sản, giấy tờ bị tạm giữ để bảo đảm THA có thể là: (i) tài sản, giấy tờ là đối tượng của nghĩa vụ THA, đã được xác định rõ trong bản án, quyết định được thi hành; (ii) tài sản, giấy tờ đã được bản án, quyết định tuyên kê biên, tạm giữ để bảo đảm thi hành một nghĩa vụ khác Tài sản, giấy tờ này sẽ bị xử lý để bảo đảm thi hành nghĩa vụ đã tuyên nếu người phải THA không tự nguyện THA; hoặc (iii) tài sản, giấy tờ không được xác định trong bản án, quyết định được thi hành nhưng

hoidap/Pages/hoi-dap-phap-luat.aspx?ItemID=56, truy cập ngày 06/03/2022

Dân chủ & Pháp luật, số 3, tr 17-18

Trang 36

có căn cứ xác định tài sản, giấy tờ trên đủ điều kiện để bảo đảm nghĩa vụ cần thi hành nếu người phải THA không tự nguyện THA Tài sản có giấy tờ bị tạm giữ thường là các bất động sản hoặc các động sản phải đăng ký quyền sở hữu Đặc biệt, CHV cần lưu ý các tài sản không được kê biên theo quy định tại Điều 87 Luật THADS năm 2014 để quyết định khi tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự Một mặt để hạn chế ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, kinh doanh của đương sự khi áp dụng biện pháp này; mặt khác do biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương tự là tiền đề để áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS trong trường hợp người phải THA không tự nguyện THA Do đó, không thể cưỡng chế THA đối với tài sản thuộc danh mục Điều 87

Các giấy tờ, tài sản là đối tượng bị tạm giữ để bảo đảm nghĩa vụ THA có thể đang được quản lý, sử dụng bởi đương sự hoặc tổ chức, cá nhân khác Đây là điểm mới của Luật THADS năm 2014 Bằng việc thay từ “đương sự” bởi từ “người đang quản lý, sử dụng tài sản, giấy tờ” tại Điều 68, Luật THADS năm 2014 đã mở rộng đối tượng áp dụng BPBĐ THADS này phù hợp với thực tiễn THA hơn so với Luật THADS năm 200844

Thứ hai, Chấp hành viên có thể áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự ngay cả khi chưa xác định được quyền sở hữu đối với tài sản, giấy tờ

bị tạm giữ

Khác với biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ nếu không có thông tin chính xác về tài khoản, tài sản gửi giữ thì không thể ra quyết định phong tỏa, riêng đối với biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự CHV vẫn có thể thực hiện việc tạm giữ mà không cần nắm giữ đầy đủ thông tin về tài sản, giấy tờ Hơn nữa, việc tạm giữ được thực hiện khi CHV đang thực hiện nhiệm vụ THA nên không phải lúc nào cũng có đủ điều kiện để xác minh quyền sở hữu tài sản, giấy tờ Lúc này, sự linh hoạt, khéo léo là cần thiết để kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh nghĩa vụ THA Thậm chí, cho dù tạm giữ sai đối tượng, CHV vẫn có thể khắc phục bằng việc trả lại tài sản, giấy tờ cho người có quyền sở hữu, sử dụng nên việc xác minh quyền sở hữu tài sản, giấy tờ trước khi tạm giữ để bảo đảm THA tạm thời chưa cấp thiết tại thời điểm tạm giữ

Nam”, Tài liệu hội thảo: “Thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành: Định hướng hoàn thiện”, 2019, tr 34

Trang 37

Thứ ba, biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được tiến hành bằng cách tác động trực tiếp lên tài sản, giấy tờ

Trong khi biện pháp phong tỏa tài khoản, tài sản ở nơi gửi giữ và biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản tác động lên hành vi của chủ thể thực hiện quyết định phong tỏa, cụ thể là hành vi của người đang quản lý tài khoản, tài sản gửi giữ của đương sự hoặc hành vi của cơ quan đăng ký quyền sử dụng tài sản, cơ quan cấp giấy phép xây dựng… Biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự được thực hiện bằng cách trực tiếp thu giữ tài sản, giấy

tờ đó Tài sản, giấy tờ bị tạm giữ sẽ được giao cho người phải THA, người thân thích của người phải THA hoặc người đang sử dụng, bảo quản, cá nhân, tổ chức có điều kiện bảo quản để bảo quản hoặc bảo quản tại kho của cơ quan THADS

Thứ tư, chỉ những giấy tờ có giá trị để bảo đảm việc THA mới là đối tượng của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Không phải giấy tờ nào cũng bị tạm giữ, chỉ những giấy tờ có giá trị để bảo đảm nghĩa vụ THA mới là đối tượng bị áp dụng biện pháp này Biện pháp này hay BPBĐ THADS nói chung đều nhằm đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ thanh toán, có tính chất tài sản Do đó, giấy tờ bị tạm giữ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này phải là giấy tờ có giá trị liên quan như: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Giấy chứng nhận đăng ký xe

mô tô, xe máy… Các giấy tờ khác không có giá trị bảo đảm nghĩa vụ THA mang tính chất tài sản không là đối tượng bị tạm giữ

Thứ năm, việc áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự làm hạn chế việc sử dụng tài sản, giấy tờ của đương sự, người quản lý tài sản, giấy tờ đó

Xuất phát từ mục đích ngăn chặn người phải THA thực hiện hành vi tẩu tán, thay đổi hiện trạng hoặc hủy hoại tài sản và nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi bản

án, quyết định có hiệu lực pháp luật nên biện pháp này chưa làm mất đi quyền sở hữu, sử dụng tài sản của chủ sở hữu, chủ sử dụng mà chỉ mới làm hạn chế quyền

sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó của chủ sở hữu, chủ sử dụng tài sản Theo đó, khi bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ, người phải THA không chiếm hữu được tài sản, giấy tờ nên họ bị hạn chế quyền sử dụng, định đoạt đối với tài sản, giấy tờ

Trang 38

2.2 Ý nghĩa của biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Bên cạnh các ý nghĩa chung với tư cách là một trong ba BPBĐ THADS đã được phân tích tại Mục 1.2 Chương 1, biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự nổi bật lên những vai trò riêng biệt như sau:

Đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự là các tài sản, giấy tờ liên quan đến việc THA và có thể trực tiếp nắm giữ được Do đó, thay vì chỉ có thể tác động bằng cách yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan phối hợp hỗ trợ như các BPBĐ THADS khác, đối với biện pháp này, CHV có thể trực tiếp thu giữ tài sản, giấy tờ Có thể nói, biện pháp trực tiếp thu giữ này là giải pháp tối ưu để ngăn chặn hiệu quả các hành vi che giấu, tẩu tán, hủy hoại tài sản, giấy tờ Thêm nữa, tài sản, giấy tờ tạm giữ được chiếm giữ, quản lý bởi chính người phải THA hoặc người thứ ba khác nên việc trực tiếp tạm giữ tài sản, giấy tờ là cách thức tối ưu và hợp lý để bảo toàn điều kiện THA Bởi vì giấy tờ hay tài sản là động sản tạm giữ là những vật hữu hình dễ dàng di chuyển, cất giấu và thêm việc đương

sự hay người thứ ba đang trực tiếp nắm giữ, quản lý tài sản nên càng tạo điều kiện thuận lợi cho những chủ thể này chủ động cất giấu, tẩu tán, hủy hoại tài sản Như vậy, quy định tại Điều 68 Luật THADS năm 2014 là cơ sở pháp lý vững chắc để CHV và người được THA ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc THA của người phải THA

Bên cạnh đó, việc tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự giúp CHV hạn chế và kiểm soát được quyền sử dụng, định đoạt đối với tài sản, giấy tờ tạm giữ Đặc biệt, thông thường các tài sản, giấy tờ tạm giữ phải có giá trị bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ THA, đồng thời các tài sản này có thể là công cụ, phương tiện lao động, kinh doanh cho nên việc bị tạm giữ tài sản, giấy tờ gây tác động tiêu cực đến cuộc sống, công việc của người phải THA, người đang quản lý tài sản, giấy tờ Do đó, để giảm thiểu thiệt hại và tránh mất uy tín, danh dự trong cộng đồng dân cư nơi sinh sống, người phải THA càng có động lực chủ động hoàn thành nghĩa vụ của mình Như vậy, BPBĐ THADS này đóng vai tròng quan trọng hỗ trợ thúc đẩy việc chủ động hoàn thành nghĩa vụ của người phải THA Bên cạnh đó, ở khía cạnh khác, trong trường hợp người phải THA vẫn không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ THA, BPBĐ này là cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS ở giai đoạn THA tiếp theo

Tóm lại, các quy định về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự cho phép CHV có thể tác động đến tài sản, giấy tờ của đương sự; từ đó hạn chế quyền

Trang 39

sử dụng, định đoạt tài sản của đương sự mà không cần trải qua trình tự, thủ tục nghiêm ngặt như biện pháp cưỡng chế THA Có thể nói, đây là một trong những chế định giúp cơ quan THADS, CHV thực thi nhiệm vụ “bảo đảm các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được đi vào thực tế trong đời sống xã hội, trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự khi họ tham gia quan hệ pháp luật THA”45

2.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về biện pháp tạm giữ tài sản, giấy

tờ của đương sự, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện

2.3.1 Ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự

Về hình thức,

Trước đây, Luật THADS năm 2008 quy định việc tạm giữ tài sản, giấy tờ phải lập biên bản, có chữ ký của CHV và đương sự; trường hợp đương sự không ký thì phải có chữ ký của người làm chứng Tuy nhiên, tồn tại sự không thống nhất giữa Luật THADS năm 2008 và văn bản hướng dẫn thi hành Cụ thể, khoản 2 Điều

68 Luật THADS năm 2008 và Điều 9 Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng

07 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự quy định CHV chỉ cần lập biên bản khi tạm giữ tài sản, giấy tờ của đương sự Trong khi đó, tại Mẫu số 06/QĐADBPBĐ/TPL - Phụ lục 3 Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30 tháng 09 năm 2009 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 07 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh quy định khi tạm giữ tài sản, giấy tờ thì Thừa phát lại phải ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ

Từ vướng mắc của thực tiễn THA, Luật THADS năm 2014 đã quy định rõ hơn việc tạm giữ tài sản, giấy tờ phải bằng hình thức quyết định Theo đó, sau khi ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ, CHV phải giao quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ cho đương sự hoặc tổ chức, cá nhân đang quản lý, sử dụng Quy định này giúp khắc phục tình trạng thiếu rõ ràng, không thống nhất của Luật THADS năm 2008 vì chỉ yêu cầu lập biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ thay vì quy định CHV phải ban hành quyết định46 Việc khẳng định hình thức áp dụng BPBĐ THADS bằng quyết định

sự 2014”, https://vksndtc.gov.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx?UrlListProcess=

Trang 40

trong trường hợp này tạo điều kiện pháp lý vững chắc hơn cho CHV thực hiện nhiệm vụ47, đồng thời là cơ sở để giải quyết khiếu nại, tố cáo, xác định trách nhiệm khi có sai phạm

Bên cạnh đó, Luật THADS năm 2014 bổ sung cách thức thực hiện tạm giữ tài sản, giấy tờ trong trường hợp chưa ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ Cụ thể, trong trường hợp CHV chưa kịp ra quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ, để có thể tạm giữ ngay tài sản, giấy tờ, CHV có thể yêu cầu đương sự, tổ chức, cá nhân khác đang quản lý, sử dụng giao tài sản, giấy tờ và lập biên bản về việc tạm giữ Tuy nhiên để đảm bảo sự thống nhất về thủ tục và cơ sở khiếu nại, tố cáo của đương sự, CHV phải ban hành quyết định tạm giữ tài sản, giấy tờ trong thời hạn 24 giờ kể từ khi lập biên bản Đồng thời, biên bản, quyết định tạm giữ tài sản phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp để đảm bảo hoạt động kiểm sát đối với quá trình THA đạt hiệu quả

Về nội dung,

Thứ nhất, theo khoản 2 Điều 68 Luật THADS năm 2014, quyết định tạm giữ

tài sản, giấy tờ của đương sự phải xác định rõ loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ Ngoài

ra, tại khoản 2 Điều 18 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 33/2020/NĐ-CP) hướng dẫn khá cụ thể như sau: Biên bản tạm giữ tài sản, giấy tờ phải ghi rõ tên người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ; loại tài sản, giấy tờ bị tạm giữ; số lượng, khối lượng, kích thước và các đặc điểm khác của tài sản, giấy tờ bị tạm giữ

Thứ hai, riêng đối với tài sản tạm giữ là tiền mặt thì phải ghi rõ số lượng tờ,

mệnh giá các loại tiền, nếu là ngoại tệ thì phải ghi là tiền nước nào và trong trường hợp cần thiết còn phải ghi cả số sê ri trên tiền Đối với tài sản tạm giữ là kim khí quý, đá quý phải niêm phong trước mặt người bị tạm giữ tài sản hoặc thân nhân của

họ Trường hợp người bị tạm giữ tài sản, giấy tờ hoặc thân nhân của họ không đồng

ý chứng kiến việc niêm phong thì phải có mặt của người làm chứng Trên niêm phong phải ghi rõ loại tài sản, số lượng, khối lượng và các đặc điểm khác của tài sản

22D48E3E00E317DB107E3706F225B1CE22F006B7C704FC8B6894F6ABCA85660A&ItemID=3496&we bP=portal, truy cập ngày 03/07/2021

hành án”, Tài liệu Tập huấn - Triển khai các nội dung mới của Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành và kỹ năng rà soát, chỉ đạo, giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự, Tổng cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp, 2015, tr 127

Ngày đăng: 26/12/2022, 23:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w