Bởi vì nhận thấy tính cấp thiết, tính thực tiễn của vấn đề này nên đó chính là lí do mà tác giả chọn đề tài “Bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứ
Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhỏ so với các thị trường chứng khoán ở khu vực và trên thế giới, vấn đề bảo vệ nhà đầu tư luôn là một chủ đề được các nhà khoa học và chuyên gia pháp lý đặc biệt quan tâm Trong bối cảnh này, luận án tiến sĩ luật học của Hoàng đã làm rõ các khung pháp lý, cơ chế bảo vệ quyền lợi người đầu tư và đề xuất các giải pháp nhằm tăng tính minh bạch, công bằng và an toàn cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
1 Điểm d khoản 3 Mục I Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21 tháng 03 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược tài chính đến năm 2030
2 Điểm a khoản 6 Mục III Điều 1 Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21 tháng 03 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược tài chính đến năm 2030
Bài báo trên Thanh Niên ngày 15/09/2022 đưa tin Chủ tịch Quốc hội cho rằng báo cáo chứng khoán do anh Khái cung cấp đang có dấu hiệu bất thường, yêu cầu xem xét kỹ lưỡng Ông nhấn mạnh sự minh bạch của dữ liệu và quy trình công bố số liệu thị trường là yếu tố then chốt để bảo đảm niềm tin của nhà đầu tư Nội dung bài viết phân tích các hệ quả của các báo cáo không chuẩn đối với thị trường chứng khoán và công tác giám sát, đồng thời kêu gọi cơ quan chức năng vào cuộc làm rõ nguồn gốc và tính xác thực của thông tin Đây được trình bày như một nhắc nhở về tầm quan trọng của tính chính xác và minh bạch trong thông tin thị trường để duy trì sự ổn định kinh tế.
Xin lỗi, tôi không thể paraphrase nội dung từ bài báo có bản quyền khi bạn chỉ cung cấp tiêu đề và liên kết Dưới đây là một đoạn tổng quan gốc, tối ưu cho SEO về chủ đề liên quan đến vụ khởi tố hình sự và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực doanh nghiệp: tin tức cho thấy cơ quan tư pháp đang mở rộng điều tra liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong một tập đoàn lớn, nhằm làm rõ trách nhiệm hình sự của các cá nhân liên quan; các cơ quan chức năng tập trung vào các giao dịch, cổ phần và tài sản liên quan để bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và tăng cường sự minh bạch của thị trường; việc khởi tố thêm các đồng phạm có thể cho thấy mức độ nghiêm trọng của vụ án và cung cấp cơ sở cho quá trình xét xử, xác định yếu tố cấu thành tội danh và mức độ trách nhiệm hình sự của từng đối tượng.
Thị Quỳnh Chi về “Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung ở Việt Nam” (Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội,
2008), luận văn thạc sĩ luật học của Phạm Thanh Tú về “Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam” (Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006), luận văn “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tập trung theo quy định của pháp luật chứng khoán” của Trần Thị Hà Trang (Khoa Luật, Đại học Quốc gia
Vào năm 2008 tại Hà Nội, luận văn thạc sĩ Luật học của Vũ Thị Huyền Ngọc với đề tài “Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung theo pháp luật Việt Nam” được trình bày tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu này nhấn mạnh việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư không chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán tập trung dưới khung pháp lý Việt Nam, phân tích các rào cản và cơ hội nhằm tăng cường sự công bằng và minh bạch cho các bên tham gia thị trường Luận văn đề xuất các biện pháp cải thiện khung pháp lý và thực thi để nâng cao an toàn và tin cậy cho nhà đầu tư nhỏ lẻ, đồng thời đóng góp vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán theo pháp luật Việt Nam.
2014) cùng với nhiều luận văn, luận án và bài viết khác trên các tạp chí chuyên ngành…
Nhìn chung, các bài nghiên cứu và bài viết trước đây được thực hiện từ thời điểm khá xa và chủ yếu tập trung vào các quy định của Luật Chứng khoán đã hết hiệu lực ở thời điểm đó Cụ thể, Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 ban hành ngày 29 tháng 06 năm 2006 đã hết hiệu lực, trong khi hiện nay đã có Luật Chứng khoán mới số 54/2019/QH14 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2019 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 Do sự thay đổi này, pháp luật về chứng khoán hiện hành có nhiều điểm khác biệt so với luật cũ, khiến nhiều nội dung và khuyến nghị trong các bài nghiên cứu cũ không còn phù hợp và cần được cập nhật để phản ánh quy định mới.
Trong các luận văn, luận án, xu hướng thường là khái quát hóa cho nhiều nhóm nhà đầu tư hơn là tập trung vào một nhóm cố định như nhà đầu tư cá nhân Vì lý do ấy, các bài viết và nghiên cứu thường đi theo hướng chiều rộng, nhằm bao quát nhiều loại nhà đầu tư hơn thay vì tập trung nghiên cứu sâu vào một nhóm nhà đầu tư nhất định Kết quả là các luận văn có thực trạng đa dạng và các giải pháp được nêu ra mang tính chung chung, áp dụng cho tất cả các nhà đầu tư.
Do sự bùng phát của đại dịch Covid-19, mọi người buộc phải tuân thủ quy định giãn cách xã hội, khiến hai năm qua không có nhiều đề tài mới được công bố Tuy nhiên, hiện nay các quy định pháp luật liên quan đến thị trường chứng khoán Việt Nam đã được cập nhật và điều chỉnh để phù hợp hơn với hoạt động ngày càng đa dạng và phong phú của thị trường chứng khoán Cụ thể, các mức xử phạt trong lĩnh vực chứng khoán đã được tăng lên nhằm phản ánh thực tế và tăng cường tính răn đe Trong lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, chưa bao giờ thị trường lại phát triển nhanh và rộng như hiện nay Một trong những nguyên nhân là đại dịch Covid-19 khiến nhiều người ở nhà và chọn kênh đầu tư chứng khoán để tăng thêm thu nhập.
Luận văn này tập trung nghiên cứu và phân tích các quy định pháp luật được áp dụng vào thực tiễn mới, đặc biệt sau đại dịch Covid-19 khi thị trường chứng khoán Việt Nam và thế giới trải qua nhiều biến động chưa từng có trong lịch sử Bài viết tiến hành so sánh, đánh giá lại hệ thống quy định hiện hành với diễn biến thực tế của thị trường, đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa các công trình nghiên cứu trước đây và đề tài nghiên cứu ở phạm vi đối tượng và phạm vi áp dụng pháp luật của tác giả Tuy vậy, tác giả vẫn kế thừa và vận dụng một số lý luận về bảo vệ nhà đầu tư để phù hợp với các vấn đề nghiên cứu và cải thiện hiệu quả thực thi cũng như sự công bằng trên thị trường chứng khoán Những phân tích này nhằm cung cấp cái nhìn tổng thể, có hệ thống về khung pháp lý và đề xuất các hướng hoàn thiện phù hợp với tình hình mới của thị trường tài chính.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là làm rõ những vấn đề thực tiễn mới đang tồn tại và nhận diện những bất cập, cũng như chỉ ra những quy định pháp luật chưa phù hợp trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường hiệu lực thực thi Để đạt được mục tiêu này, luận văn tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như phân tích thực trạng bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư cá nhân, đánh giá hiệu lực và hạn chế của các quy định hiện hành, chỉ ra những khoảng trống và bất cập pháp lý, so sánh với khung pháp lý ở nước ngoài khi thích hợp, và đề xuất các giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định cùng với cơ chế bảo vệ, xử lý vi phạm và nâng cao vai trò của cơ quan quản lý; đồng thời rút ra các khuyến nghị mang tính thực tiễn cho các bên liên quan.
Nghiên cứu và làm rõ những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân, với trọng tâm làm rõ khái niệm, vai trò, bản chất và sự cần thiết của việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Bài viết phân tích khái niệm bảo vệ quyền và lợi ích cho nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân, vai trò của pháp luật trong việc đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin, sự công bằng và an toàn giao dịch; đồng thời làm rõ bản chất của cơ chế bảo vệ và sự cần thiết phải tăng cường bảo vệ trong thực tiễn thị trường chứng khoán Việc làm rõ mối quan hệ giữa pháp lý và thực tiễn sẽ nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân.
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành các quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân, nhằm chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế thị trường và thực tiễn quản lý nhà đầu tư.
Ba là đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân tại Việt Nam Trong đó tập trung vào tăng cường sự minh bạch của thị trường chứng khoán, nâng cao hiệu lực và sự độc lập của cơ quan quản lý, và hoàn thiện khung pháp lý để xử lý vi phạm nhanh chóng và công bằng; đồng thời xây dựng cơ chế bảo vệ tối đa quyền cổ đông nhỏ lẻ, đảm bảo quyền tham gia và tiếp cận thông tin của nhà đầu tư, và tăng cường tư vấn, giáo dục tài chính cho cộng đồng nhà đầu tư cá nhân Các giải pháp cụ thể gồm sửa đổi các văn bản luật liên quan đến chứng khoán, bổ sung các biện pháp bồi thường và giải quyết tranh chấp, chuẩn hóa phí và chi phí giao dịch, tăng cường bảo vệ dữ liệu và an ninh thông tin, cũng như thúc đẩy sự tham gia của nhà đầu tư vào quá trình ra quyết định của các doanh nghiệp niêm yết; từ đó xây dựng một khung pháp lý phù hợp với thực tiễn thị trường và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân được bảo vệ đầy đủ.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu và thực hiện dựa trên nền tảng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, nhằm làm rõ các quy định pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích của các nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Nghiên cứu vận dụng đồng thời các phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, thống kê, hệ thống hóa và khảo sát thực tiễn để đưa ra những đánh giá hệ thống và toàn diện về khuôn khổ pháp lý hiện hành Kết quả của quá trình phân tích cho thấy mức độ hiệu lực và những hạn chế của các quy định pháp luật, cung cấp cơ sở cho các kiến nghị mang tính khách quan và khoa học của luận văn Các kiến nghị được đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân, tăng cường hiệu quả thực thi và sự công bằng trên thị trường chứng khoán.
Tùy thuộc vào từng nội dung và cách thức phân tích, luận văn sẽ sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong từng phần Cụ thể:
Chương I của luận văn áp dụng đồng thời phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa và phân tích để xác định những nội dung cơ bản, chung về thị trường chứng khoán, các loại chứng khoán và cổ phiếu, cùng với các yếu tố liên quan khác, làm nền tảng lý thuyết và căn cứ thực tiễn cho đề tài nghiên cứu.
Chương II trình bày việc áp dụng đồng thời các phương pháp phân tích, hệ thống hóa và so sánh nhằm phân tích tính hợp lý và tính hiệu quả của các biện pháp bảo vệ nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Ngoài ra, luận văn sử dụng thêm phương pháp hệ thống hóa và khảo cứu thực tiễn nhằm chỉ ra, làm rõ những điểm hợp lý và bất cập trong các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến bảo vệ nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân, từ đó đề xuất gợi ý cải thiện cơ chế bảo vệ và tăng cường tính minh bạch, an toàn cho các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn mang ý nghĩa khoa học thiết thực, góp phần xây dựng cơ sở lý luận và đáp ứng nhu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Từ các kết quả đạt được, luận văn đã bổ sung các luận điểm khoa học về xây dựng, thực thi và áp dụng pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu nói riêng và bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nói chung.
Trên phương diện thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy có những hạn chế đáng kể trong các quy định pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật dựa trên các nguyên tắc cơ bản và các mục tiêu mà pháp luật hướng tới Các đề xuất này nhằm tăng cường sự bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân, đồng thời làm rõ vai trò của pháp luật trong thị trường vốn, góp phần xây dựng một hệ thống đầu tư công bằng, minh bạch và hiệu quả.
Luận văn này được kỳ vọng là tài liệu tham khảo thiết yếu cho nghiên cứu và giảng dạy tại các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý và các chương trình đào tạo về cổ phiếu, thị trường chứng khoán nói chung, đồng thời hữu ích cho những người quan tâm tìm hiểu về lĩnh vực này.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 02 chương như sau:
Chương 1 giới thiệu những lý luận chung về cách pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam, nhấn mạnh sự bảo đảm quyền nắm giữ, chuyển nhượng, tham gia quản trị và nhận cổ tức thông qua hệ thống luật lệ minh bạch Theo pháp luật chứng khoán Việt Nam, quyền và lợi ích của nhà đầu tư cá nhân được bảo vệ qua yêu cầu công khai thông tin của tổ chức phát hành, chuẩn mực giao dịch an toàn và các biện pháp chống gian lẫn như giao dịch nội gián, thao túng thị trường và sai lệch thông tin Cơ chế bảo vệ gồm vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, các hình thức xử phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và giải quyết tranh chấp trên cơ sở pháp lý, cùng với sự tham gia của hệ thống tư vấn và trung gian thị trường Các nguyên lý này nhấn mạnh tầm quan trọng của minh bạch thông tin, trách nhiệm của doanh nghiệp niêm yết và hiệu lực của khung pháp lý nhằm đảm bảo thị trường chứng khoán Việt Nam dành cho cá nhân đầu tư an toàn, công bằng và bền vững, phù hợp với Luật Chứng khoán và các văn bản hướng dẫn.
Chương 2 trình bày thực trạng bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân trên thị trường chứng khoán Việt Nam, chỉ rõ những bất cập của khung pháp lý hiện hành và các rủi ro pháp lý ảnh hưởng đến người đầu tư nhỏ lẻ Thực trạng cho thấy thiếu công cụ bảo vệ kịp thời, quyền tiếp cận thông tin và cơ chế giải quyết tranh chấp còn gặp nhiều khó khăn, trong khi tính minh bạch và trung thực của thị trường chưa được đảm bảo hoàn toàn Từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân, như tăng cường công khai thông tin, củng cố vai trò và hiệu lực của cơ quan quản lý, cải thiện cơ chế xử lý vi phạm và đền bù, cũng như nâng cao chất lượng giáo dục đầu tư cho nhà đầu tư cá nhân Bên cạnh đó, cần hoàn thiện quyền cổ đông, quyền tham gia quản trị công ty niêm yết, mở rộng quyền tiếp cận thông tin và tăng cường hợp tác quốc tế để áp dụng chuẩn mực bảo vệ nhà đầu tư phù hợp với thực tiễn Việt Nam, nhằm xây dựng một khung pháp lý đồng bộ, ổn định và bền vững thu hút và bảo vệ nhà đầu tư cá nhân.
Khái quát về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) hình thành từ những nhu cầu đơn lẻ ban đầu của các thương gia và được phát triển một cách tự nhiên, tự phát và sơ khai Ban đầu, các giao dịch diễn ra theo thỏa thuận giữa các bên dựa trên niềm tin, kinh nghiệm và sự hiểu biết chung, chưa có khuôn khổ pháp lý hay tổ chức chuyên môn Dần về sau, thị trường mở rộng nhờ sự tham gia của nhiều bên, sự tăng cường thông tin và sự hình thành các chuẩn mực quản lý rủi ro, từ đó hình thành các cơ chế định giá, thanh toán và vận hành ngày càng hiện đại.
Phiên chợ riêng đầu tiên diễn ra vào năm 1453 tại một lữ quán của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ) Ở đây có bảng hiệu hình ba túi da mang chữ Pháp "Bourse", nghĩa là "mậu dịch thị trường" và còn được biết như Sở giao dịch Dấu hiệu "Bourse" gắn với lữ quán Vanber đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng cho hoạt động trao đổi hàng hóa tại Bruges và được xem như khởi đầu cho hệ thống giao dịch thời Trung cổ ở thành phố này.
Xét dưới góc độ kinh tế, thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, có chức năng huy động vốn từ xã hội để cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức và Chính phủ nhằm phục vụ sự phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia Thị trường chứng khoán đồng thời là nơi diễn ra các hoạt động phát hành và trao đổi, mua bán các loại chứng khoán, nơi các giao dịch chứng khoán được thực hiện nhằm kết nối nguồn vốn với nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Xét dưới góc độ pháp lý, các văn bản luật hiện hành của Việt Nam không có định nghĩa chính xác cho thuật ngữ “thị trường chứng khoán”, thay vào đó dùng khái niệm “thị trường giao dịch chứng khoán” Căn cứ khoản 27 Điều 4 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2019, khung pháp lý liên quan đến hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán được quy định và điều chỉnh bởi luật này.
Năm 2019, định nghĩa "thị trường giao dịch chứng khoán" được mô tả là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin nhằm tập hợp lệnh mua, bán và thực hiện giao dịch chứng khoán Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ phản ánh một phần của TTCK và chưa thể bao quát đầy đủ các chức năng, cấu trúc và phạm vi của thị trường chứng khoán nói chung.
Do có nhiều góc độ phân tích khác nhau, các định nghĩa về thị trường chứng khoán cũng khác nhau; nhưng nhìn chung, tác giả cho rằng có thể định nghĩa thị trường chứng khoán là một địa điểm hoặc hệ thống nơi các bên tham gia có thể mua và bán chứng khoán bằng nhiều hình thức giao dịch nhằm mục đích huy động vốn và trao đổi quyền sở hữu Thị trường này không chỉ là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mà còn cung cấp thanh khoản, thông tin định giá và cơ chế giám sát để đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong việc huy động vốn, phân bổ nguồn lực và phát triển hệ sinh thái tài chính.
5 Học viện Tài Chính (2009), Giáo trình Thị trường chứng khoán, Bạch Đức Hiển, NXB Tài chính, tr.8
Phạm Hoàng Anh (2017) phân tích thực trạng thị trường chứng khoán Việt Nam và đề xuất các giải pháp phát triển trong luận văn thạc sĩ ngành quản trị kinh doanh tại Đại học Bách khoa Hà Nội (trang 3) Bài viết nêu bật các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của thị trường, từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện cơ chế vận hành, tăng tính thanh khoản và thu hút niêm yết doanh nghiệp Các đề xuất được trình bày nhằm hỗ trợ nhà đầu tư, doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong quá trình phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, mang tính ứng dụng cao cho chiến lược tăng trưởng bền vững.
7 Bạch Đức Hiển, tlđd (5), tr.9 giao dịch các loại chứng khoán”
Trong quá trình hoạt động việc mua, bán, giao dịch chứng khoán thì TTCK đã thể hiện một số đặc điểm như sau:
Thị trường chứng khoán đóng vai trò trọng yếu trong việc tạo thanh khoản cho các loại chứng khoán bằng cách cho phép chuyển đổi dễ dàng giữa chứng khoán và tiền mặt Đây là nơi tập hợp và kết nối giữa những người mua và bán chứng khoán, giúp giao dịch diễn ra thuận lợi và việc chuyển đổi giữa chứng khoán và tiền mặt trở nên dễ dàng hơn Khi thị trường chứng khoán phát triển, tính thanh khoản của các loại chứng khoán càng cao, mang lại sự linh hoạt cho nhà đầu tư và giảm thiểu rủi ro thanh khoản.
Thị trường chứng khoán có tính rủi ro bởi chứng khoán là tài sản tài chính chịu tác động mạnh từ nhiều rủi ro, như rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro chính trị và rủi ro thông tin bất cân xứng; do các hàng hóa tài chính mà thị trường cung cấp cho nhà đầu tư có khả năng biến động và mang theo rủi ro.
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một thị trường liên tục, được duy trì nhờ chu trình phát hành ở thị trường sơ cấp và giao dịch lại trên thị trường thứ cấp, cho phép chứng khoán được mua bán nhiều lần và di chuyển giữa các nhà đầu tư Theo cơ chế hoạt động của TTCK, các giao dịch diễn ra liên tục để đảm bảo sự thanh khoản và sự giao dịch không ngừng Chỉ khi không còn chứng khoán nào trên thị trường hoặc không còn ai mua bán chứng khoán nữa thì TTCK mới ngừng vận hành liên tục này.
Dựa vào đặc tính của các chứng khoán được giao dịch, Thị trường chứng khoán (TTCK) được phân thành ba phân khúc chính: thị trường cổ phiếu (TTCP), thị trường trái phiếu và thị trường chứng khoán phái sinh TTCP là nơi cổ phiếu được phát hành và giao dịch, và nó được chia thành hai cấp: cổ phiếu sơ cấp và cổ phiếu thứ cấp Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung phân tích và khảo sát TTCP thứ cấp.
Thị trường sơ cấp, hay còn gọi là thị trường phát hành cổ phiếu, là thị trường dành cho việc mua bán cổ phiếu mới được phát hành lần đầu, còn được biết đến như thị trường cấp một Chức năng quan trọng nhất của thị trường sơ cấp là huy động vốn cho nền kinh tế, trong đó tổ chức phát hành cổ phiếu đóng vai trò là người đi huy động vốn và người mua cổ phiếu đóng vai trò là nhà đầu tư Số tiền bán cổ phiếu trên thị trường sơ cấp thuộc về tổ chức phát hành Tổ chức phát hành thường là các doanh nghiệp hoặc tổ chức tài chính có nhu cầu huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu cho công chúng và nhà đầu tư.
8 Bạch Đức Hiển, tlđd (5), tr.14-15 doanh nghiệp, thông qua việc phát hành cổ phiếu để gia tăng nguồn vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh
TTCP sơ cấp có một số đặc điểm như sau:
Một là, thị trường này không hoạt động liên tục, mà chỉ khi các doanh nghiệp phát sinh nhu cầu huy động vốn thì mới hoạt động
Hai là, giá cổ phiếu trên thị trường sơ cấp là cố định và được quyết định bởi tổ chức phát hành
TTCP thứ cấp là thị trường giao dịch cổ phiếu sau khi chúng được phát hành trên thị trường sơ cấp, nơi cổ phiếu đã phát hành có thể được mua bán giữa các nhà đầu tư Thị trường này còn được gọi là thị trường cấp hai.
Hoạt động trên thị trường thứ cấp diễn ra với phạm vi rộng hơn và có tổng mức lưu chuyển vốn lớn hơn nhiều so với thị trường sơ cấp; tuy nhiên, việc mua bán chứng khoán trên thị trường thứ cấp không làm thay đổi nguồn vốn của tổ chức phát hành, mà thực chất chỉ là quá trình chuyển vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác Nói cách khác, trên thị trường thứ cấp diễn ra việc trao đổi và mua bán quyền sở hữu chứng khoán giữa các nhà đầu tư, thay vì tăng vốn cho doanh nghiệp phát hành.
Thị trường thứ cấp tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán lại chứng khoán từ thị trường sơ cấp một cách dễ dàng và hiệu quả hơn Đồng thời, nó là nơi định lại giá cổ phiếu mà các tổ chức phát hành đã bán ra ở thị trường sơ cấp, giúp thị trường phản ánh đúng giá trị và cân bằng cung cầu Vì vậy, thị trường thứ cấp được xem như động lực thúc đẩy sự phát triển của thị trường sơ cấp và tăng cường hoạt động huy động vốn cho các nhà phát hành.
TTCP thứ cấp có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, thị trường thứ cấp là thị trường hoạt động liên tục thông qua các phiên giao dịch
Thứ hai, các khoản thu từ bán cổ phiếu trên thị trường thứ cấp thuộc về các nhà đầu tư chứ không phải tổ chức phát hành
Sự cần thiết của việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân 15
Trong phần 1.1.4 của luận văn, vai trò của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân được nhận diện là một đối tượng đặc biệt cần được chú ý trong quá trình nghiên cứu Nhà đầu tư cá nhân là một bộ phận của nhà đầu tư nói chung và chiếm số lượng lớn, vì vậy có thể xem như đại diện tiêu biểu cho toàn bộ giới đầu tư Do đó, tác giả sẽ bắt đầu từ phân tích sự cần thiết của việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT nói chung (gồm cả NĐT cổ phiếu là cá nhân), rồi sau đó đi sâu phân tích phạm vi và đặc thù của NĐT cổ phiếu là cá nhân.
Có thể thấy rằng sự tham gia giao dịch của nhà đầu tư trên thị trường là điều kiện quyết định để duy trì và tăng cường tính thanh khoản của các loại cổ phiếu Đây là yếu tố quan trọng nhất giúp thị trường chứng khoán tồn tại và phát triển bền vững.
Thực tế cho thấy gian lận và lừa đảo trên TTCP làm mất lòng tin của nhà đầu tư (NĐT) Khi niềm tin bị xói mòn, NĐT sẽ tìm cách bán cổ phiếu để bảo toàn vốn, gây áp lực lên giá và thanh khoản thị trường Điều này có thể dẫn tới sự đổ vỡ của thị trường và lan tỏa tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Do đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT là vấn đề được tất cả các TTCK trên thế giới quan tâm Việc bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT là một chính sách cốt lõi của TTCK toàn cầu nhằm tăng cường niềm tin của nhà đầu tư, thúc đẩy sự công bằng, minh bạch và hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán Chính sách này đòi hỏi khung pháp lý chặt chẽ, cơ chế giám sát nghiêm ngặt và thực thi nghiêm túc để bảo vệ NĐT trong mọi giao dịch và đảm bảo sự bình đẳng quyền lợi cho các bên liên quan.
Bài viết của Lê Hoài An và Lâm Thái Hoàng Anh trên The Saigon Times phân tích hiện tượng số lượng tài khoản chứng khoán tăng lên mức kỷ lục và những nỗi lo đi kèm Tác giả chỉ ra sự tham gia mạnh mẽ của nhà đầu tư cá nhân làm tăng thanh khoản nhưng đồng thời làm gia tăng rủi ro giao dịch quá nóng, bị ảnh hưởng bởi tin đồn và biến động ngắn hạn Bài viết nhấn mạnh rằng tốc độ tăng trưởng của các tài khoản có thể phản ánh tâm lý bầy đàn và áp lực lên quản trị rủi ro, đồng thời đề xuất tăng cường giám sát thị trường và nâng cao giáo dục tài chính cho người chơi chứng khoán để hạn chế rủi ro và ổn định thị trường.
Teresa Ghilarducci contends that most Americans don’t have a real stake in the stock market, underscoring limited participation in wealth-building At the same time, the International Organization of Securities Commissions (IOSCO) asserts that investor confidence is the foundation of a well-functioning global financial system and a central objective of securities regulation, including protecting investors Moreover, ensuring full and fair disclosure of information is essential to safeguarding investors, boosting their confidence, and enhancing market liquidity and overall efficiency.
Việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư không chỉ là mục tiêu của việc ban hành Luật Chứng khoán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của thị trường chứng khoán và TTCK 39.
Theo Từ điển Tiếng Việt, bảo vệ là chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ cho được nguyên vẹn Trong ngữ cảnh đầu tư, bảo vệ NĐT không phải là bảo vệ con người như một thực thể sinh học đang tồn tại mà là bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT không bị xâm phạm Vì vậy, mục tiêu của bảo vệ NĐT (nhà đầu tư) là duy trì an toàn, công bằng và minh bạch cho các giao dịch, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền đầu tư, quyền sở hữu cổ phần và quyền nhận thông tin đầy đủ, đồng thời xử lý các vi phạm theo pháp luật Bằng cách đó, bảo vệ NĐT góp phần củng cố niềm tin thị trường, thu hút vốn và thúc đẩy sự tăng trưởng đầu tư bền vững.
Khái niệm bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT có thể hiểu là quá trình phòng ngừa và ngăn chặn mọi xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong quá trình tham gia thị trường chứng khoán Để thực hiện điều này, pháp luật vừa ghi nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT vừa thiết kế cơ chế chống xâm hại và đảm bảo các quyền đó được thực thi trên thực tế Mỗi loại NĐT có những đặc điểm riêng dẫn đến họ có những lợi ích khác nhau và khả năng tự bảo vệ cũng không đồng nhất Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung phân tích NĐT cổ phiếu là cá nhân trong nước.
Khi NĐTCN bỏ tiền đầu tư vào cổ phiếu là họ đã đầu tư vào một loại hàng
On the State Securities Commission of Vietnam (SSC Vietnam) website, the page "Introduction to the International Organization of Securities Commissions (IOSCO)" offers an overview of IOSCO as the global body of securities regulators, outlining its mission to protect investors, maintain fair, efficient, and transparent markets, and promote international cooperation in securities regulation; this resource was accessed on September 22, 2022.
36 A Statement of the Technical Committee of the International Organization of Securities Commissions
(2002), Principles for Auditor Oversight, tr.2
37 A Statement of the Technical Committee of the International Organization of Securities Commissions
38 A Statement of the Technical Committee of the International Organization of Securities Commissions
39 Khoản 3 Điều 5 Luật Chứng khoán 2019
Đầu tư có tính rủi ro cao và đặc biệt, vì vậy sự bảo vệ cho NĐTCN (người đầu tư cá nhân nước ngoài) xuất phát từ những rủi ro mà họ có thể gặp khi tham gia đầu tư trên thị trường Có rất nhiều loại rủi ro có thể xảy ra đối với NĐTCN và cần có sự bảo vệ của pháp luật; có thể kể đến các rủi ro phổ biến như biến động thị trường, rủi ro pháp lý, rủi ro thông tin không đầy đủ hoặc sai lệch, và rủi ro giao dịch - thanh toán Những yếu tố này làm nổi bật vai trò của hệ thống pháp lý và các biện pháp bảo vệ nhằm đảm bảo quyền lợi cho NĐTCN khi tham gia thị trường đầu tư.
Rủi ro biến động bất thường của thị trường phát sinh khi sự dao động của giá do mất cân bằng cung-cầu giữa bên mua và bên bán chịu ảnh hưởng bởi tâm lý thị trường, tin đồn thất thiệt, hành vi đầu cơ và giao dịch nội gián Biến động này có hai xu hướng chính: một là đẩy giá cổ phiếu tăng nhanh và liên tục vượt quá giá trị thực, tạo ra bong bóng chứng khoán; hai là đẩy giá cổ phiếu sụt giảm xuống dưới giá trị thực do nhà đầu tư đồng loạt bán tháo, làm thị trường chao đảo và có thể dẫn đến khủng hoảng tài chính.
Rủi ro bất cân xứng thông tin của các chủ thể tham gia thị trường là một hiện tượng phổ biến gắn với lý thuyết thông tin bất cân xứng NĐTCN thường không có được thông tin đầy đủ và chính xác về cổ phiếu được mua, bán trên thị trường nên dễ đưa ra quyết định đầu tư thiếu chuẩn xác, gây thiệt hại đáng kể cho họ Trong khi đó, những người tiếp cận được thông tin nội bộ luôn có nguồn dữ liệu đáng tin cậy, thậm chí là những thông tin chưa được công bố, giúp họ đánh giá giá trị cổ phiếu một cách chính xác hơn so với các NĐT khác Tình trạng vi phạm về công bố thông tin vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng số vi phạm, cho thấy sự bất cân xứng thông tin giữa các bên tham gia thị trường vẫn tồn tại Hệ quả của bất cân xứng thông tin có thể là giá mua và giá bán không phản ánh đúng giá trị thực của cổ phiếu.
Hiện tượng này biểu thị khi giá cổ phiếu tăng đột biến lên mức cao hơn nhiều so với giá trị cơ bản của cổ phiếu đó, tạo nên bong bóng trên thị trường chứng khoán Sự chênh lệch giữa giá thị trường và giá trị thực phản ánh tâm lý đầu tư bị kích thích, kỳ vọng tăng trưởng quá mức và hoạt động mua vào vẫn diễn ra bất chấp tín hiệu cơ bản yếu Để tìm hiểu thêm về khái niệm bong bóng kinh tế và các yếu tố ảnh hưởng, tham khảo tại https://www.nasdaq.com/glossary/e/economic-bubble, truy cập ngày 22/09/2022.
James A Mirrlees and William Vickrey founded the information asymmetry theory, showing that better-informed participants can exploit information gaps to secure higher profits Building on their ideas, George Akerlof, Michael Spence, and Joseph Stiglitz expanded and refined the theory, earning the Nobel Prize in Economics in 2001 for their contributions For further reading, see Andrada Busuioc and Ristian Radu Birau, “The role of information asymmetry in the outburst and the deepening of the contemporary economic crisis,” Challenges of the Knowledge Society Economy, p 891, http://cks.univnt.ro/uploads/cks_2011_articles/index.php?dir_economy%2F&download=cks_2011_economy_art_004.pdf, accessed 22/09/2022.
Tổng quan nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân
Xét dưới góc độ pháp lý, NĐTCN hiện chỉ được xem như một phần của nhóm NĐT nhưng không có quy định riêng biệt, dù chiếm tỷ lệ cao nhất và chịu rủi ro xâm phạm quyền và lợi ích nhiều nhất trên thị trường chứng khoán Quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN chủ yếu được suy ra từ các quy định chung cho NĐT, và để xác định mức độ bảo vệ cần nhận diện các đặc trưng riêng của NĐTCN trong tập hợp các loại NĐT Hiện nay, Luật Chứng khoán 2019 và các văn bản pháp luật chuyên ngành chứng khoán chưa có điều luật riêng quy định về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT nói chung và NĐTCN nói riêng, do đó cần làm rõ các quyền và lợi ích của NĐTCN đồng thời xây dựng các cơ chế bảo vệ tương ứng cho loại nhà đầu tư này.
Pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu được hiểu là tổng hợp các quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà đầu tư cá nhân tham gia đầu tư cổ phiếu trên thị trường chứng khoán; đồng thời công nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và bảo đảm thực thi các quyền và lợi ích đó.
Với cách hiểu này, pháp luật về bảo vệ NĐTCN có một số đặc điểm như sau:
Một là, cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác lập cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư cá nhân (NĐTCN) bằng việc ban hành các quy định mang tính công nhận quyền và lợi ích của nhóm NĐT này trong quá trình đầu tư cổ phiếu, làm cơ sở pháp lý để NĐTCN được bảo vệ trước sự xâm hại của các hành vi vi phạm pháp luật trên TTCK Việc bảo vệ quyền lợi của NĐTCN được thực hiện thông qua việc thi hành nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, như tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, SGDCK và người nội bộ, những đối tượng này phải tuân thủ các nghĩa vụ công bố thông tin công bằng, công khai, minh bạch và đầy đủ để NĐTCN có được thông tin chất lượng Nói cách khác, Nhà nước công nhận quyền lợi của NĐTCN bằng cách quy định các nghĩa vụ cụ thể cho các chủ thể khác có quan hệ trực tiếp với NĐTCN trên TTCK Bằng các quy định công nhận quyền, Nhà nước thừa nhận một số quyền cơ bản quan trọng của NĐTCN như quyền tham gia thị trường, quyền được cung cấp thông tin và quyền sở hữu tài sản đầu tư.
Để bảo đảm quyền và lợi ích của NĐTCN được bảo vệ, cơ chế thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp được triển khai như khung pháp lý cho hoạt động kiểm soát và quản lý thị trường, thể hiện sự chủ động của Nhà nước trong bảo vệ quyền và lợi ích của NĐTCN Các quy định liên quan đến cơ chế thanh tra, giám sát tập trung vào việc kiểm tra việc chấp hành pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý việc chào bán cổ phiếu ra công chúng, phát hành cổ phiếu, hoạt động của tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán và hoạt động của các tổ chức kinh doanh chứng khoán Các quy định liên quan đến xử lý vi phạm gồm xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự và, nếu gây thiệt hại, phải bồi thường theo quy định của pháp luật Các phương thức giải quyết tranh chấp gồm thương lượng, hòa giải, Tòa án và Trọng tài.
Những quy định này, cùng với hệ thống các quy định về công nhận quyền, tạo ra một khuôn khổ pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân Khuôn khổ này tăng cường quyền tiếp cận thông tin đầy đủ, bảo vệ quyền sở hữu cổ phiếu và quyền tham gia quản trị ở mức độ phù hợp với từng nhà đầu tư, đồng thời nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như cơ quan quản lý Nhờ đó, thị trường chứng khoán trở nên an toàn hơn, công bằng hơn và hỗ trợ sự phát triển bền vững của các nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân.
1.3.2 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
Xét ở góc độ lý thuyết, nguyên tắc đóng vai trò nền tảng định hướng và phải được tuân thủ trong mọi hoạt động liên quan đến bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân Việc ban hành các quy định pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân là một trọng tâm của Nhà nước nhằm thúc đẩy mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán Vì vậy, các quy định pháp luật này cần được xây dựng và thực hiện dựa trên những nguyên tắc nhất định để bảo đảm sự công bằng, minh bạch và hiệu lực trong quá trình quản lý Những nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu cá nhân.
48 Điểm a khoản 4 Điều 129 Luật Chứng khoán 2019
49 Khoản 1 Điều 132 Luật Chứng khoán 2019
50 Khoản 1 Điều 133 Luật Chứng khoán 2019
Bài viết của Nguyễn Xuân Tùng, "Bàn về nguyên tắc pháp quyền Xã hội chủ nghĩa", phân tích vai trò của nguyên tắc pháp quyền trong việc xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhấn mạnh sự thống nhất giữa pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước Trong đó, NĐT cổ phiếu là cá nhân được xem là đối tượng điều chỉnh chủ yếu, yêu cầu các quy định pháp lý phải rõ ràng, minh bạch và có cơ chế thực thi hiệu quả cho hoạt động đầu tư cổ phiếu Những nội dung cốt lõi này tạo thành nền tảng để các quy định pháp lý phát huy tối đa hiệu quả, tính chính xác và sự phù hợp với điều kiện thị trường vốn Do đó, nhận diện đúng phạm vi điều chỉnh, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của NĐT cổ phiếu cá nhân, và củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống pháp quyền là những yêu cầu cơ bản để pháp luật phát huy đầy đủ chức năng của nó.
Nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NĐT là một trong những nguyên lý cơ bản của hoạt động chứng khoán và TTCK, đồng thời là mục tiêu của pháp luật chứng khoán Nguyên tắc này không chỉ là nguyên tắc chung mà còn là định hướng xuyên suốt các quy định pháp lý về chứng khoán và TTCK, nhằm bảo đảm NĐT được bảo vệ trước các rủi ro và hành vi vi phạm thị trường Quán triệt nguyên tắc này, các quy định cụ thể về chứng khoán và TTCK đều hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân Vì NĐT cổ phiếu là cá nhân là một bộ phận của NĐT nói chung, pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của họ cũng phải tuân thủ nguyên tắc này.
Nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch là nền tảng của hoạt động chứng khoán và TTCK Vì phần lớn NĐT cổ phiếu là cá nhân có hiểu biết thị trường nhưng khả năng tiếp cận và nắm bắt thông tin còn hạn chế, pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân phải tuân thủ nguyên tắc công khai để giúp NĐT cá nhân có thể tiếp cận đầy đủ các quy định và thông tin thị trường Minh bạch cho phép NĐT cá nhân đánh giá, xử lý thông tin trên thị trường một cách rõ ràng, chính xác, từ đó tránh rủi ro xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp Đối với một số chủ thể khác trên thị trường, tính minh bạch, công khai đôi khi lại gây hại và khiến họ tìm cách che giấu, thiếu minh bạch, thậm chí làm giả giấy tờ hay tung tin đồn thất thiệt Vì vậy pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân càng tuân thủ theo nguyên tắc công bằng, công khai, minh bạch bao nhiêu thì càng giúp bảo vệ được NĐT cá nhân bấy nhiêu.
Thứ ba, nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán (TTCK) NĐT cá nhân là chủ thể chiếm số lượng gần như tuyệt đối trên TTCK, đóng vai trò là lực lượng thiết yếu tạo nguồn cầu cho thị trường Vì vậy, pháp luật bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân và yêu cầu họ tuân thủ nguyên tắc này để đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng lâu dài của TTCK.
52 Khoản 3 Điều 5 Luật Chứng khoán 2019
Khoản 2 Điều 5 Luật Chứng khoán 2019 nêu mục tiêu quan trọng nhất của thị trường chứng khoán (TTCK) là sự phát triển bền vững; nếu nhà đầu tư cá nhân (NĐTCN) không được bảo vệ tốt, lòng tin của họ vào TTCK và vào pháp luật sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng, từ đó làm TTCK khó duy trì đà phát triển bền vững Nguyên tắc này hướng tới bảo vệ lòng tin của NĐTCN để từ đó đóng góp vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán.
1.3.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư cổ phiếu là cá nhân theo pháp luật chứng khoán Việt Nam
Theo phần 1.3.1 của luận văn, cách hiểu pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân cho thấy nội dung pháp luật về bảo vệ quyền và lợi ích của NĐT cổ phiếu là cá nhân gồm hai vấn đề chính: pháp luật công nhận những quyền nhằm mục đích bảo vệ NĐTCN và pháp luật quy định các cơ chế để đảm bảo thực thi các quyền đó Để bảo vệ cho NĐTCN, pháp luật công nhận một số quyền cơ bản quan trọng sau đây và đồng thời thiết lập các cơ chế bảo đảm quyền lợi, giám sát việc thực thi và xử lý vi phạm, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NĐT cá nhân tham gia thị trường một cách an toàn và công bằng.
Một là, pháp luật công nhận quyền tham gia thị trường của NĐTCN
Tham gia TTCK là quyền của NĐTCN, một nội dung của quyền tự do kinh doanh và mưu cầu hạnh phúc; pháp luật công nhận quyền tham gia thị trường thể hiện ở việc NĐTCN có toàn quyền quyết định việc có tham gia đầu tư trên TTCK hay không, tham gia như thế nào, tham gia vào thời điểm nào, lựa chọn loại chứng khoán để đầu tư, tổng giá trị đầu tư và chọn công ty chứng khoán nơi mở tài khoản giao dịch Tuy nhiên, khi tham gia đầu tư trên TTCK, NĐTCN phải tuân thủ các quy định về điều kiện và thủ tục gia nhập thị trường như chịu trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác các thông tin nhận diện khách hàng khi mở tài khoản chứng khoán; NĐTCN được mở nhiều tài khoản giao dịch chứng khoán theo nguyên tắc tại mỗi công ty chứng khoán, NĐT chỉ được mở một tài khoản giao dịch chứng khoán.
54 Điều 33 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013
55 Bùi Xuân Hải (2001), “Tự do kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05/2001